Với mong muốn góp phần làm sáng tỏ thêm những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kinh tế, đánh giá quá trình vận dụng tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam nên
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
Hà Nội –T11/2021
Trang 2MỤC LỤC
Chương 1: NGUỒN GỐC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 6
1.1 Cơ sở khách quan 6
1.2 Nhân tố chủ quan 9
Chương 2: NGHIÊN CỨU TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THỜI KỲ QUÁ
2.1 Quan niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 10
2.2 Bước đi và các phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta 15
Chương 3: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 17
3.1 Giữ vững mục tiêu của chủ nghĩa xã hội 17
3.2 Kết hợp sức mạnh dân tộc 18
3.3 Nhiệm vụ, quan điểm, chính kiến 19
KẾT LUẬN 23
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, nhà văn hóa kiệt xuất Cùng với sự nghiệp của Đảng ta, dân tộc ta, Hồ Chí Minh đã
để lại cho hậu thế một tài sản tinh thần vô giá Trong hệ thống tư tưởng của Người, tư tưởng kinh tế là mẫu mực của sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và những quy luật kinh tế khách quan vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam Những tư tưởng đó đã chỉ đạo cho Đảng ta hoạch định đường lối, chính sách kinh tế trong từng thời kỳ, từng giai đoạn của cách mạng nhằm đảm bảo kháng chiến thắng lợi và kiến quốc thành công
Ngày nay, đã có những biến đổi sâu sắc về các kinh tế, chính trị, xã hội của nước
ta và các nước trên thế giới nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng kinh
tế Hồ Chí Minh nói riêng vẫn có ý nghĩa lớn lao
Nền kinh tế Việt Nam ngày nay đã và đang đạt được những thành tựu quan trọng
và cũng đã có những bước tiến phát triển rõ rệt song vẫn tồn tại không ít khó khăn và
Trang 3thách thức Thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải đi sâu nghiên cứu tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh nhằm rút ra những bài học và vận dụng những tư tưởng đó phù hợp với bối cảnh mới để góp phần đắc lực vào việc phát triển nền kinh tế nói chung, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thành công nói riêng
Với mong muốn góp phần làm sáng tỏ thêm những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về kinh tế, đánh giá quá trình vận dụng tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam nên bản thân chọn đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về thời
kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, làm đề tài nghiên cứu cho báo cáo chuyên đề của mình
Nghiên cứu một cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam, đánh giá thực trạng nền kinh tế đất nước hiện nay, từ đó đưa ra một số phương hướng cần thiết trong quá trình vận dụng tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh nhằm phát triển nền kinh tế nước nhà đạt hiệu quả cao, bền vững theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, chuyên đề có nhiệm vụ sau:
+ Phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển kinh tế trong thời
kỳ quá độ
+ Đánh giá sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế ở Việt Nam trong quá trình đổi mới
Tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề rộng Trong phạm vi của chuyên đề, bản thân chỉ nghiên cứu một số nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ
ở Việt Nam và khảo sát sự quán triệt, vận dụng và phát triển tư tưởng đó giai đoạn từ
1986 đến nay
Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam là cơ sở phương pháp luận định hướng nghiên cứu Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu bao gồm phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp cụ thể, logic, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê
và phương pháp khảo sát, tổng kết thực tiễn, …
Trang 4Chuyên đề làm sáng tỏ những ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
1 NGUỒN GỐC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Chủ nghĩa tư bản đã phát triển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Chỉ chín nước đế quốc (1)
đã chi phối toàn bộ tình hình thế giới Phần lớn các nước châu Á, châu Phi và châu
Mỹ Latinh đã trở thành thuộc địa hoặc phụ thuộc của chúng Nhân dân các nước thuộc địa bị chủ nghĩa thực dân trước hết những giá trị văn hoá, tinh thần, quyền lợi kinh tế
và địa vị xã hội… Mạng sống của người dân thuộc địa “không đáng một trinh” (2) Cùng với mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản - mâu thuẫn giữa vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh một mâu thuẫn mới - mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân Mâu thuẫn này ngày càng gay gắt Vì vậy,
từ đầu thế kỷ XX phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa ngày càng phát triển, nhưng chưa ở đâu giành được thắng lợi
Trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc, Lênin đã phát triển chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Mác - Lênin Sự xuất hiện chủ nghĩa Lênin là một nhân tố đặc biệt quan trọng đối với việc ra đời và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh
Chủ nghĩa đế quốc và sự tranh chấp thuộc địa giữa chúng là nguyên nhân gây ra cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) Cuộc chiến tranh hao người tốn của ấy đã khơi sâu, làm gay gắt thêm mâu thuẫn giữa các nước tư bản chủ nghĩa, làm cho chủ nghĩa tư bản thế giới suy yếu, tạo điều kiện cho Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga giành được thắng lợi Cách mạng Tháng Mười thắng lợi, mở ra thời đại mới của lịch sử loài người - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Đồng thời, Nhà nước Xô Viết ra đời làm nảy sinh một mâu thuẫn mới mang tính thời đại - mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản
Những nhân tố quốc tế nêu trên đã tạo những tiền đề và điều kiện cơ bản thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, trong đó có Việt Nam phát triển với xu hướng và tính chất mới
Giữa thế kỷ XIX (1858), Việt Nam từ một quốc gia phong kiến độc lập đã bị chủ nghĩa tư bản Pháp xâm lược, trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, bị mất độc lập tự do, nhân dân ta không ngừng nổi lên chống lại chúng
Kể từ khi triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước Patơnốt (6-6-1884) chịu sự bảo hộ của đế quốc Pháp, trừ một số ít người cam tâm làm tay sai cho giặc, còn đại đa số
Trang 5nhân dân vẫn nung nấu ý chí căm thù và chờ thời cơ vùng lên tự giải phóng Lớp lớp
sĩ phu và đồng bào yêu nước đã liên tục đứng lên chiến đấu giành lại độc lập Song, những kinh nghiệm lịch sử chống ngoại xâm không phát huy được tác dụng trước một
kẻ thù mới - chủ nghĩa đế quốc Các phong trào kháng chiến đều bị dìm trong máu, lửa Sau thất bại của phong trào Cần Vương và các phong trào cứu nước theo hệ tư tưởng tư sản, đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng đường lối Cả dân tộc chìm đắm trong đêm dài nô lệ, tưởng chừng như không có đường ra
Từ những bối cảnh quốc tế và trong nước nêu trên, Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và từng bước hình thành tư tưởng của mình, đáp ứng đòi hỏi bức thiết của dân tộc và thời đại
Việt Nam
Tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống cần cù lao động, anh dũng chiến đấu trong dựng nước và giữ nước, truyền thống đoàn kết, sống có tình, có nghĩa, nhân
ái Việt Nam Trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam thì chủ nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu xuyên suốt lịch sử dân tộc
Chủ nghĩa yêu nước đã trở thành động lực, sức mạnh truyền thống, đạo lý làm người, niềm tự hào và là nhân tố hàng đầu trong bảng giá trị tinh thần của con người Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước
Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” (3)
Chính sức mạnh truyền thống ấy đã thúc giục Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh)
đi tìm đường cứu nước, cứu dân Đó là động lực chi phối mọi suy nghĩ, hành động của Người trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng Đó cũng chính là cơ sở tư tưởng đã dẫn dắt Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Hồ Chí Minh viết: “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba” (4)
Cùng với chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Đông Người cũng đã tiếp thu và kế thừa có phê phán tư tưởng dân chủ, nhân văn của văn hoá Phục hưng, thế kỷ Ánh sáng, của cách mạng tư sản phương Tây và cách mạng Trung Quốc
Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh được theo học chữ Nho với các thầy vốn là những nhà Nho yêu nước Đạo đức Nho giáo thấm vào tư tưởng tình cảm của Người không phải là những giáo điều “tam cương”, “ngũ thường” nhằm bảo vệ tôn ti trật tự phong kiến, mà tinh thần “nhân nghĩa”, đạo “tu thân”, sự ham học hỏi, đức “khiêm tốn”, tính “hoà nhã”, cách đối nhân xử thế “có lý, có tình” Những mệnh đề “trung hiếu”, “nhân nghĩa”, “tứ hải giai huynh đệ”, “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, phương châm “khắc kỷ phục lễ”, của các nhà hiền triết phương Đông được
Hồ Chí Minh hết sức trân trọng Trong khi tiếp thu, vận dụng những yếu tố tích cực
Trang 6của Nho giáo, Người cũng đồng thời phê phán loại bỏ những yếu tố thủ cựu, tiêu cực của nó
Trước khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu tư tưởng dân chủ tư sản Pháp, Mỹ, đặc biệt là tư tưởng Tự do, Bình đẳng, Bác ái, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn (Trung Quốc) Người đã vận dụng
và phát triển các trào lưu tư tưởng học thuyết ấy lên một trình độ mới phù hợp với dân tộc và thời đại mới
Như vậy, trong quá trình hình thành phát triển tư tưởng của mình, Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc tinh hoa văn hoá phương Đông phương Tây, nâng lên một trình độ mới trên cơ sở phương pháp luận mácxít - lêninnít
Từ khi rời Tổ quốc (1911) cho đến năm 1917, Hồ Chí Minh đã đến nhiều nước thuộc địa và nhiều nước tư bản đế quốc Trong khoảng thời gian đó, Hồ Chí Minh được bổ sung thêm những nhận thức mới về những gì ẩn dấu đằng sau các từ Tự do, Bình đẳng, Bác ái mà vào trạc tuổi 13, lần đầu tiên Người đã nghe Khoảng cuối năm
1917, khi trở lại Pari, Hồ Chí Minh đã làm quen với nhiều nhà hoạt động chính trị, xã hội của nước Pháp và nhiều nước trên thế giới Năm 1919, Hồ Chí Minh tham gia Đảng Xã hội Pháp (SFIO), một đảng tiến bộ lúc bấy giờ thuộc Quốc tế II
Việc Hồ Chí Minh tiếp thu bản Luận cương của Lênin tháng 7-1920 và trở thành người cộng sản vào cuối năm đó đã tạo nên bước ngoặt căn bản trong tư tưởng của Người Thế giới quan và phương pháp luận Mác - Lênin đã giúp Hồ Chí Minh nhìn nhận, đánh giá phân tích tổng kết các học thuyết, tư tưởng, đường lối các cuộc cách mạng một cách khoa học; cùng với kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của mình để đề
ra con dường cách mạng giải phóng dân tộc đứng đắn
Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận cơ sở chủ yếu nhất của sự hình thành phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh
trái tim nhiệt thành cách mạng
Lý luận tư tưởng bao giờ cũng là sản phẩm của con người, do con người sáng tạo
ra trên cơ sở nhận thức các nhân tố khách quan
Ngay từ khi còn trẻ, Hồ Chí Minh đã có hoài bão lớn, có bản lĩnh kiên định, giàu lòng nhân ái và sớm có chí cứu nước, tự tin vào mình
Tư chất thông minh, tư duy độc lập, sáng tạo tính ham hiểu biết và nhạy bén với cái mới là những đức tính dễ thấy ở người thanh niên Nguyễn Tất Thành Phẩm chất
đó được rèn luyện, phát huy trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người Nhờ vậy, giữa thực tiễn phong phú và sinh động, giữa nhiều học thuyết, quan điểm khác nhau, giữa biết bao tình huống phức tạp, Hồ Chí Minh đã tìm hiểu, phân tích tổng hợp, khái quát hình thành những luận điểm đúng đắn và sáng tạo, hình thành nên
Trang 7tư tưởng Hồ Chí Minh Cũng như môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh mới chỉ được bắt đầu nghiên cứu, tuy vậy, đến nay đã có tới mấy chục khái niệm về tư tưởng Hồ Chí Minh Kế thừa thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học căn cứ vào các văn kiện của Đảng thì tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước lao kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại
2 NGHIÊN CỨU TƯ TƯ TƯỞNGHỒCHÍMINH VỀ THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘIỞ VIỆT NAM
ở Việt Nam
1.1 Đặc điểm, nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Thực chất, loại hình và đặc điểm của thời kỳ quá độ
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin: C Mác, Ph Ăngghen, V.I Lenin đều khẳng định tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và chỉ
rõ vị trí lịch sử, nhiệm vụ đặc thù của nó trong quá trình vận động, phát triển hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa
Theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin, có hai con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội Con đường thứ nhất là quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội từ những nước tư bản chủ nghĩa phát triển ở trình độ cao Con đường thứ hai là quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội ở những nước chủ nghĩa tư bản phát triển còn thấp, hoặc như V.I Lenin cho rằng, những nước có nền kinh tế lạc hậu, chưa trải qua thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản cũng có thể đi lên chủ nghĩa xã hội được trong điều kiện cụ thể nào đó, nhất là trong điều kiện đảng kiểu mới của giai cấp vô sản nắm quyền lãnh đạo (trở thành đảng cầm quyền) và được một hay nhiều nước tiên tiến giúp đỡ
Quan niệm của chủ tịch Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là
sự tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mac-Lenin vào Việt Nam.Trên cơ sở vận dụng lý luận về cách mạng không ngừng, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác- Lênin và xuất phát từ đặc điểm tình hình thực tế Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định:” Con đường cách mạng Việt Nam là tiến hành giải phóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội.” Như vậy, quan niệm Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
là quan niệm về một hình thái quá độ gián tiếp cụ thể -quá độ từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu sau khi giành được độc lập dân tộc đi lên chủ
Trang 8nghĩa xã hội Chính ở nội dung cụ thể này, Hồ Chí Minh đã cụ thể và làm phong phú thêm lý luận Mác-Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Đi vào thời kỳ quá độ ở Việt Nam, Hồ Chí Minh đã chỉ ra đặc điểm và mâu thuẫn của xã hội Việt Nam Theo Hồ Chí Minh, khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, nước ta có đặc điểm lớn nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Đặc điểm này
sẽ chi phối, quy định nội dung con đường, những hình thức và bước đi, cách làm chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Chúng ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước phong kiến, một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, trong điều kiện đất nước vừa có chiến tranh vừa có hòa bình, miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội khi miền Nam tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân Chúng ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội khi các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới đang phát triển ở thời kỳ cao trào Đặc điểm này chi phối đặc điểm khác, thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và làm cơ sở nảy sinh nhiều mâu thuẫn Trong đó Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý đến mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ, đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển cao của đất nước theo xu hướng tiến bộ và thực trạng kinh tế- xã hội quá thấp kém của nước
ta Do đó, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài chứ không thể một sớm một chiều Bởi vì,’’Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ hàng ngàn năm…biến nước ta từ một nước nông nghiệp thành một nước công nghiệp’’ Tuy nhiên muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì không phải cứ ngồi mà chờ là sẽ có được chủ nghĩa xã hội Nếu nhân dân ta mọi người cố gắng, phấn khởi thi đua xây dựng thì thời kỳ quá độ có thể rút ngắn hơn
Nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Theo Hồ Chí Minh, thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
là quá trình cải biến nền sản xuất lạc hậu thành nền sản xuất tiên tiến, hiện đại Thực chất của quá trình cải tạo và phát triển nền kinh tế quốc dân cũng là cuộc đấu tranh giai cấp gay go, phức tạp trong điều kiện mới, khi mà nhân dân ta hoàn thành cơ bản cách mạng dân tộc dân chủ, so sánh lực lượng trong nước và quốc tế đã có những biến đổi Điều này đòi hỏi phải áp dụng toàn diện các hình thức đấu tranh cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm chống lại các thế lực đi ngược lại con đường xã hội chủ nghĩa
Theo Hồ Chí Minh, do những đặc điểm và tính chất quy định, con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một quá trình dần dần, phức tạp, khó khăn và lâu dài Nhiệm vụ của thời kỳ quá độ là đấu tranh cải tạo, xóa bỏ tàn tích của chế độ xã hội cũ, xây dựng các yếu tố mới phù hợp với quy luật tiến lên chủ nghĩa xã hội trên tất cả các lĩnh vực của đời sống Nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam bao gồm hai nội dung lớn:
Một là, xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, xây dựng các tiền đề về kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng cho chủ nghĩa xã hội
Hai là, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo và xây dựng, trong
đó lấy xây dựng làm trọng tâm, làm nội dung cốt yếu nhất, chủ chốt, lâu dài
Trang 9Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến tính chất tuần tự, dần dần của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Tính chất phức tạp và khó khăn của nó được Người lý giải trên các đặc điểm sau:
Thứ nhất, đây thực sự là một cuộc cách mạng Nó làm đảo lộn mọi mặt của đời sống xã hội, cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Nó đặt ra và đòi hỏi đồng thời giải quyết hàng loạt mâu thuẫn khác nhau Trong Di chúc, Bác đã coi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc chiến đấu khổng lồ của toàn Đảng, toàn dân Việt Nam
Thứ hai, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước và nhân dân
ta chưa có kinh nghiệm, nhất là trên lĩnh vực về kinh tế Chính vì vậy, đây là một công việc vô cùng mới mẻ đối với Đảng ta nên phải vừa làm, vừa học và có thể có những vấp váp, thiếu sót Việc xây dựng xã hội mới bao giờ cũng khó khăn, phức tạp hơn đánh đổ xã hội cũ đã lỗi thời
Thứ ba, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta luôn luôn bị các thế lực phản động trong và ngoài nước tìm cách chống phá
Từ việc chỉ rõ tính chất của thời kỳ quá độ, Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở cán
bộ, đảng viên trong xây dựng chủ nghĩa xã hội phải thận trọng, tránh nôn nóng đặc biệt là tránh chủ quan, đốt cháy giai đoạn Vấn đề cơ bản là phải xác định đúng bước
đi và hình thức phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất, biết kết hợp các khâu trung gian, quá độ, tuần tự từng bước từ thấp đến cao Vì vậy, xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi một năng lực lãnh đạo mang tính khoa học, vừa hiểu biết các quy luật vận động xã hội, lại phải có nghệ thuật khôn khéo cho thật sát với tình hình thực tế Ta xây dựng chủ nghĩa xã hội từ hai bàn tay trắng đi lên thì khó khăn còn nhiều và lâu dài Phải làm dần dần, không thể một sớm một chiều, ai nói dễ là chủ quan và sẽ thất bại
1.2 Về nội dung xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong thời kỳ quá độ
Đề cập các nhiệm vụ nói trên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Người đã viết: “ phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ, xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt lâu dài”
Theo Hồ Chí Minh, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một sự nghiệp cách mạng mang tính toàn diện, với nội dung nhiệm vụ cụ thể trên những lĩnh vực chủ yếu sau:
Trong lĩnh vực chính trị: Nội dung quan trọng nhất là phải giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Trong điều kiện Đảng cầm quyền, mối quan tâm hàng đầu của Người là làm sao cho Đảng không bị các bệnh quan liêu, xa dân, thoái hoá biến chất làm mất lòng tin của dân, làm suy giảm năng lực lãnh đạo của Đảng Đồng thời phải chú trọng xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng trong sạch, vững mạnh và hoạt động hiệu quả, thực sự là nhà nước của dân, do dân,
vì dân
Một nội dung quan trọng khác trong lĩnh vực chính trị mà Hồ Chí Minh hết sức quan tâm là củng cố mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất với nòng cốt là liên minh
Trang 10công nhân - nông dân - trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản nhằm không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Nội dung kinh tế trong xây dựng chủ nghĩa xã hội được Hồ Chí Minh đề cập trên các mặt: Lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý kinh tế Người nhấn mạnh vấn đề tăng năng suất lao động trên cơ sở công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa Về
cơ cấu kinh tế Người đã đề cập cả cơ cấu ngành, cơ cấu các thành phần kinh tế và cơ cấu kinh tế vùng, lãnh thổ
Hồ Chí Minh có quan niệm độc đáo về cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp với tư tưởng lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, củng cố hệ thống thương nghiệp làm cầu nối giữa các ngành sản xuất xã hội, thoả mãn nhu cầu thiết yếu của nhân dân Người nêu yêu cầu phát triển đồng đều giữa các vùng kinh tế, đặc biệt phải chú trọng phát triển kinh tế miền núi, hải đảo, biên giới Người chủ trương phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ Đặc biệt cần ưu tiên phát triển kinh tế quốc doanh, tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội; Khuyến khích, hướng dẫn, giúp đỡ cho hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động phát triển; Trong tổ chức hợp tác xã, Người nhấn mạnh nguyên tắc dần dần, từ thấp đến cao, tự nguyện cùng có lợi; Khuyến khích những người lao động thủ công cá thể đi vào con đường hợp tác; Hướng dẫn giúp đỡ các nhà tư sản công thương cải tạo theo chủ nghĩa xã hội bằng hình thức tư bản nhà nước, góp phần xây dựng nước nhà
Hồ Chí Minh rất coi trọng quan hệ phân phối và quản lý kinh tế Theo Người, quản lý kinh tế phải dựa trên cơ sở hạch toán, đem lại hiệu quả cao, sử dụng tốt các đòn bẩy để phát triển sản xuất Người khẳng định chủ trương thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động: làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng Đồng thời Hồ Chí Minh bước đầu đề cập vấn đề khoán trong sản xuất Theo Người, “chế độ khoán là một điều kiện của chủ nghĩa xã hội làm khoán là ích chung
và lợi riêng làm khoán tốt, thích hợp và công bằng dưới chế độ ta hiện nay”
Trong lĩnh vực văn hoá - xã hội: Hồ Chí Minh khẳng định phải triệt để xoá bỏ nền văn hoá nô dịch lạc hậu, xây dựng nền văn hoá mới xã hội chủ nghĩa, xây dựng lối sống mới Người đặc biệt nhấn mạnh nội dung xây dựng con người mới, đồng thời Người đề cao vai trò của văn hoá, giáo dục và khoa học kỹ thuật; Người luôn coi trọng việc nâng cao dân trí, đào tạo sử dụng nhân tài trong xây dựng chủ nghĩa xã hội
Hồ Chí Minh xác định rõ nhiệm vụ lịch sử, nội dung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Điều trăn trở khôn nguôi của Người là tìm ra hình thức, bước đi, biện pháp tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội biến nhận thức lý luận thành chương trình hành động, thành hoạt động thực tiễn hằng ngày
Để xác định bước đi và tìm cách làm phù hợp với Việt Nam, Hồ Chí Minh đề ra hai nguyên tắc có tính chất phương pháp luận:
Một là, xây dựng chủ nghĩa xã hội là một hiện tượng phổ biến mang tính quốc tế cần quán triệt các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng chế độ