Bắc Kạn là một tỉnh vùng núi phía Bắc nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, trong đó dân tộc Tày chiếm số lượng đông đảo nhất (54% dân số), vì thế mà văn hóa nơi đây in đậm màu sắc văn hóa của đồng bào dân tộc Tày. Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử cùng với quá trình lao động sản xuất, cộng đồng dân tộc Tày Bắc Kạn đã hình thành và gìn giữ được nhiều giá trị văn hóa quý báu, trong đó có nhiều di sản văn hóa phi vật thể đến nay trở thành di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của quốc gia như: Hát then, chữ Nôm người Tày, lễ hội Lồng Tồng, nghi lễ cấp sắc Tào... Cũng như các hoạt động kinh tế, xã hội khác, các hoạt động về di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày ở tỉnh Bắc Kạn cũng cần đến sự quản lý của nhà nước nhằm đưa các hoạt động đó phát triển đúng định hướng mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra. Việc quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày ở tỉnh Bắc Kạn là một trong những nhiệm vụ cấp thiết xuất phát từ nhiều lý do: Thứ nhất, xuất phát từ vai trò giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng dân cư và đồng bào dân tộc Tày. Các giá trị di sản văn hóa phi vật thể được coi là món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng nói chung và đồng bào dân tộc Tày nói riêng. Trong đời sống tinh thần, các giá trị di sản văn hóa phi vật thể đóng vai trò quan trọng trong việc gắn kết cộng đồng dân cư, cộng đồng các dân tộc anh em với nhau; vai trò trong giải tỏa tâm linh, thỏa mãn nhu cầu tinh thần, vui chơi, giải trí; vai trò giáo dục con người về đạo đức và lối sống và gìn giữ phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Các di sản văn hóa phi vật thể như: Hát then, hát lượn, lễ hội Lồng Tồng, lễ Cấp sắc Tào… là món ăn tinh thần, là truyền thống văn hóa gắn liền với đời sống sinh hoạt hàng ngày, là hoạt động văn hóa không thể thiếu của đồng bào dân tộc Tày nơi đây. Những giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày nếu được bảo tồn và phát huy sẽ góp phần làm đa dạng và phong phú thêm kho tàng văn hóa của dân tộc. Thứ hai, tác động tiêu cực của cơ chế thị trường và giao lưu, hội nhập quốc tế đã kéo theo sự tiếp biến và du nhập giữa các luồng văn hóa, phần nào làm biến dạng các giá trị văn hóa phi vật thể vốn có của nó. Sự du nhập các luồng văn hóa mới đã bóp méo các giá trị di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng dân tộc Tày nơi đây. Các loại hình nghệ thuật như: Hát then; hát lượn được thay bằng những bài nhạc trẻ, thế hệ trẻ ít biết đến cây đàn tính và các làn điệu hát then, hát lượn của dân tộc. Lễ hội được tổ chức bị biến dạng khi phần “lễ” bị cắt bỏ và chỉ còn phần “hội”, lễ hội trở thành nơi buôn bán tấp nập các loại hàng hóa, là nơi diễn ra trò bói toán, mê tín dị đoan… Thực trạng tiêu cực trên đang trở thành vấn đề đáng báo động cần thiết phải xem xét, phân tích và có các giải pháp quản lý, bảo tồn, phát huy hữu hiệu để đưa các di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày trở lại đúng với ý nghĩa và giá trị truyền thống vốn có của nó. Thứ ba, bản thân di sản văn hóa phi vật thể nói chung và di sản văn hóa phi vật thể của đồng bào dân tộc Tày nói riêng chứa đựng giá trị về mặt kinh tế. Thực tế cho thấy, phát huy và khai thác các giá trị của di sản văn hóa phi vật thể đem lại lợi ích to lớn về kinh tế, xã hội. Cụ thể, tỉnh Quảng Ninh đã khai thác được giá trị di sản văn hóa phi vật thể như: Lễ hội đình Lục Nà của đồng bào Tày; lễ hội Xuống đồng ở Hà Nam; lễ hội Lồng Tồng ở Thanh Lâm (Ba Chẽ) qua phát triển du lịch văn hóa gắn với du lịch sinh thái và đã đem lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội cho địa phương. Bắc Kạn cũng là một địa phương giàu tiềm năng văn hóa. Đồng bào dân tộc Tày nơi đây đã cống hiến nhiều di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có năm di sản văn hóa phi vật thể quốc gia như: Lễ Cấp sắc Tào, hát Lượn SLương, nghề dệt thủ công truyền thống, chữ Nôm và lễ hội Lồng Tồng. Các di sản văn hóa phi vật thể của đồng bào dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn nếu được bảo tồn, phát huy và khai thác đúng mức sẽ mang lại nhiều giá trị kinh tế, góp phần nâng cao đời sống vật chất của đồng bào dân tộc thiểu số và phát triển kinh tế xã hội địa phương. Chính vì vậy, nghiên cứu giá trị các di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh và đưa ra giải pháp bảo tồn, phát huy và khai thác hiệu quả chính là tìm ra bài toán kinh tế, xã hội của địa phương. Thứ tư, xuất phát từ thực trạng quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể dân tộc Tày của các cấp chính quyền địa phương Bắc Kạn. Bắc Kạn là một tỉnh miền núi tập trung rất nhiều các di sản văn hóa phi vật thể, trong đó di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày chiếm số lượng khá lớn. Hàng năm, các hoạt động như: Lễ hội, các tín ngưỡng, nghi lễ của đồng bào dân tộc Tày đều được diễn ra trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, trong đời sống xã hội hiện đại, ý thức người dân và sự quản lý của các cấp chính quyền địa phương hiện nay còn hạn chế, công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể chưa được quan tâm đúng mức nên nhiều di sản văn hóa phi vật thể đang đứng trước nguy cơ bị mai một, biến dạng. Vì vậy, việc tìm hiểu thực trạng công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể dân tộc Tày ở Bắc Kạn nhằm tìm ra giải pháp bảo tồn, quản lý và phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp vốn có của nó. Thứ năm, xuất phát từ lý do chủ quan. Bản thân em là một người con dân tộc Tày, sinh ra và lớn lên trong cái nôi văn hóa dân tộc Tày ở Bắc Kạn, được thụ hưởng các di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc nên em rất mong muốn được chia sẻ các di sản văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Mặt khác, là sinh viên khoa Quản lí nhà nước về Xã hội Học viện Hành chính Quốc gia, em đã được trang bị những kiến thức quản lý nhà nước về văn hóa, trong đó di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày là một lĩnh vực cụ thể thuộc đối tượng quản lý nhà nước. Em mong muốn rằng, quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này sẽ giúp em thấy rõ hơn thực tế công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể địa phương mình, từ đó đóng góp ý kiến nhằm hoàn thiện hơn công tác quản lý, bảo tồn và phát huy trong lĩnh vực này. Với những lý do trên, em chọn đề tài: “Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn” làm đề tài khóa luận với mục đích sẽ tìm ra các giải pháp quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày ở địa phương được tốt hơn.
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt/
CNH – HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DSVHPVT Di sản văn hóa phi vật thể
PCGDMNNT Phổ cập giáo dục miền núi nông thôn
PCGDTH Phổ cập giáo dục trung học
UNESCO Tổ chức giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
VHTT&DL Văn hóa Thể thao và Du lịch
VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6
5.1 Phương pháp luận 6
5.2 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Ý nghĩa khóa luận 7
6.1 Ý nghĩa về mặt lý luận 7
7 Kết cấu khóa luận 8
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 9
1.1 Một số khái niệm 9
1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể 9
1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước 11
1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể 12
1.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể 13
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể 15 1.3.1 Yếu tố khách quan 15
1.3.2 Yếu tố chủ quan 16
1.4 Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể 17
1.4.1 Ban hành và tổ chức thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa phi vật thể 18
1.4.2 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể 19
1.4.3 Tổ chức hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể 21
1.4.4 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể 22
Trang 41.4.5 Thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm các hoạt động về di sản văn hóa phi vật thể
24
1.5 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể của thế giới và Việt Nam 25
1.5.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể của thế giới 25
1.5.2 Kinh nghiệm quản lí nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam 26
1.5.3 Bài học kinh nghiệm về quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể cho địa phương 28
Tiểu kết chương 1 30
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA DÂN TỘC TÀY TỈNH BẮC KẠN 31
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội – văn hóa tỉnh Bắc Kạn 31
2.1.1 Vị trí địa lý 31
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội tỉnh Bắc Kạn 31
2.1.3 Tình hình phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội dân tộc Tày tỉnh Bắc Kạn 33
2.2 Thực trạng về di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày tỉnh Bắc Kạn 35
2.2.1 Lễ hội cổ truyền 35
2.2.2 Trò chơi dân gian 36
2.2.3 Nghề truyền thống 36
2.2.4 Nghệ thuật cổ truyền 37
2.2.5 Tín ngưỡng cổ truyền 38
2.2.6 Văn hóa ẩm thực 39
2.2.7 Tri thức dân gian 39
2.3.Thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày tỉnh Bắc Kạn 40
2.3.1 Ban hành và tổ chức thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa phi vật thể 40
2.3.2 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể 42
2.3.3 Tổ chức hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể 46
2.3.4 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể 48
2.3.5 Thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm các hoạt động về di sản văn hóa phi vật thể 50
2.4 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày tỉnh Bắc Kạn 51
Trang 52.4.1 Những ưu điểm trong công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật
thể của dân tộc Tày tỉnh Bắc Kạn 51
2.4.2 Những hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày tỉnh Bắc Kạn 54
2.4.3 Nguyên nhân 56
2.4.4 Một số vấn đề đặt ra trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày tỉnh Bắc Kạn 58
Tiểu kết chương 2 60
Chương 3 GIẢI PHÁP BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA DÂN TỘC TÀY VÀ TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ TỈNH BẮC KẠN 61
3.1 Quan điểm, định hướng bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của Đảng và Nhà nước 61
3.2 Phương hướng, mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của địa phương 62
3.2.1 Phương hướng 62
3.2.2 Mục tiêu 64
3.3 Một số giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày tỉnh Bắc Kạn 65
3.3.1 Xây dựng và ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật cho công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể 65
3.3.2 Xây dựng kế hoạch, chương trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể 66
3.3.3 Xây dựng cơ chế, chính sách cho công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể 68
3.3.4 Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, quảng bá di sản 69
3.3.5 Kiện toàn bộ máy quản lý ở địa phương 70
3.3.6 Tăng cường đầu tư tài chính, đẩy mạnh hoạt động xã hội hóa 72
3.3.7 Đào tạo thế hệ trẻ lưu giữ truyền thống dân tộc 73
3.3.8 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong tổ chức và quản lí các di sản văn hóa phi vật thể 74
3.3.9 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học về di sản văn hóa phi vật thể của địa phương 74
Tiểu kết chương 3 76
KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bắc Kạn là một tỉnh vùng núi phía Bắc nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, trong đó dân tộc Tày chiếm số lượng đông đảo nhất (54% dân số), vì thế mà văn hóa nơi đây in đậm màu sắc văn hóa của đồng bào dân tộc Tày Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử cùng với quá trình lao động sản xuất, cộng đồng dân tộc Tày Bắc Kạn đã hình thành và gìn giữ được nhiều giá trị văn hóa quý báu, trong đó có nhiều di sản văn hóa phi vật thể đến nay trở thành di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của quốc gia như: Hát then, chữ Nôm người Tày, lễ hội Lồng Tồng, nghi lễ cấp sắc Tào
Cũng như các hoạt động kinh tế, xã hội khác, các hoạt động về di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày ở tỉnh Bắc Kạn cũng cần đến sự quản lý của nhà nước nhằm đưa các hoạt động đó phát triển đúng định hướng mà Đảng và Nhà nước đã đặt
ra Việc quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày
ở tỉnh Bắc Kạn là một trong những nhiệm vụ cấp thiết xuất phát từ nhiều lý do:
Thứ nhất, xuất phát từ vai trò giá trị di sản văn hóa phi vật thể trong đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng dân cư và đồng bào dân tộc Tày Các giá trị di sản
văn hóa phi vật thể được coi là món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng nói chung và đồng bào dân tộc Tày nói riêng Trong đời sống tinh thần, các giá trị di sản văn hóa phi vật thể đóng vai trò quan trọng trong việc gắn kết cộng đồng dân cư, cộng đồng các dân tộc anh em với nhau; vai trò trong giải tỏa tâm linh, thỏa mãn nhu cầu tinh thần, vui chơi, giải trí; vai trò giáo dục con người
về đạo đức và lối sống và gìn giữ phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Các di sản văn hóa phi vật thể như: Hát then, hát lượn, lễ hội Lồng Tồng, lễ Cấp sắc Tào… là món ăn tinh thần, là truyền thống văn hóa gắn liền với đời sống sinh hoạt hàng ngày, là hoạt động văn hóa không thể thiếu của đồng bào dân tộc Tày nơi đây Những giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày nếu được bảo tồn và phát huy sẽ góp phần làm đa dạng
và phong phú thêm kho tàng văn hóa của dân tộc
Thứ hai, tác động tiêu cực của cơ chế thị trường và giao lưu, hội nhập quốc tế
đã kéo theo sự tiếp biến và du nhập giữa các luồng văn hóa, phần nào làm biến dạng các giá trị văn hóa phi vật thể vốn có của nó Sự du nhập các luồng văn hóa mới đã bóp méo các giá trị di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng dân tộc Tày nơi đây Các loại hình nghệ thuật như: Hát then; hát lượn được thay bằng những bài nhạc trẻ, thế hệ trẻ ít
Trang 7biết đến cây đàn tính và các làn điệu hát then, hát lượn của dân tộc Lễ hội được tổ chức bị biến dạng khi phần “lễ” bị cắt bỏ và chỉ còn phần “hội”, lễ hội trở thành nơi buôn bán tấp nập các loại hàng hóa, là nơi diễn ra trò bói toán, mê tín dị đoan… Thực trạng tiêu cực trên đang trở thành vấn đề đáng báo động cần thiết phải xem xét, phân tích và có các giải pháp quản lý, bảo tồn, phát huy hữu hiệu để đưa các di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày trở lại đúng với ý nghĩa và giá trị truyền thống vốn có của
lễ hội Lồng Tồng ở Thanh Lâm (Ba Chẽ) qua phát triển du lịch văn hóa gắn với du lịch sinh thái và đã đem lại nhiều lợi ích kinh tế - xã hội cho địa phương Bắc Kạn cũng là một địa phương giàu tiềm năng văn hóa Đồng bào dân tộc Tày nơi đây đã cống hiến nhiều di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có năm di sản văn hóa phi vật thể quốc gia như: Lễ Cấp sắc Tào, hát Lượn SLương, nghề dệt thủ công truyền thống, chữ Nôm và lễ hội Lồng Tồng Các di sản văn hóa phi vật thể của đồng bào dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn nếu được bảo tồn, phát huy và khai thác đúng mức sẽ mang lại nhiều giá trị kinh tế, góp phần nâng cao đời sống vật chất của đồng bào dân tộc thiểu số và phát triển kinh tế xã hội địa phương Chính vì vậy, nghiên cứu giá trị các di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh và đưa ra giải pháp bảo tồn, phát huy và khai thác hiệu quả chính là tìm ra bài toán kinh tế, xã hội của địa phương
Thứ tư, xuất phát từ thực trạng quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể dân tộc Tày của các cấp chính quyền địa phương Bắc Kạn Bắc Kạn là
một tỉnh miền núi tập trung rất nhiều các di sản văn hóa phi vật thể, trong đó di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày chiếm số lượng khá lớn Hàng năm, các hoạt động như:
Lễ hội, các tín ngưỡng, nghi lễ của đồng bào dân tộc Tày đều được diễn ra trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, trong đời sống xã hội hiện đại, ý thức người dân và sự quản lý của các cấp chính quyền địa phương hiện nay còn hạn chế, công tác bảo tồn và phát huy giá trị
di sản văn hóa phi vật thể chưa được quan tâm đúng mức nên nhiều di sản văn hóa phi
Trang 8vật thể đang đứng trước nguy cơ bị mai một, biến dạng Vì vậy, việc tìm hiểu thực trạng công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể dân tộc Tày ở Bắc Kạn nhằm tìm ra giải pháp bảo tồn, quản lý và phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp vốn có của nó
Thứ năm, xuất phát từ lý do chủ quan Bản thân em là một người con dân tộc
Tày, sinh ra và lớn lên trong cái nôi văn hóa dân tộc Tày ở Bắc Kạn, được thụ hưởng các di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc nên em rất mong muốn được chia sẻ các di sản văn hóa truyền thống của dân tộc mình Mặt khác, là sinh viên khoa Quản lí nhà nước về Xã hội Học viện Hành chính Quốc gia, em đã được trang bị những kiến thức quản lý nhà nước về văn hóa, trong đó di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày là một lĩnh vực cụ thể thuộc đối tượng quản lý nhà nước Em mong muốn rằng, quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này sẽ giúp em thấy rõ hơn thực tế công tác quản lý, bảo tồn
và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể địa phương mình, từ đó đóng góp ý kiến nhằm hoàn thiện hơn công tác quản lý, bảo tồn và phát huy trong lĩnh vực này
Với những lý do trên, em chọn đề tài: “Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn” làm đề tài khóa
luận với mục đích sẽ tìm ra các giải pháp quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày ở địa phương được tốt hơn
2 Tình hình nghiên cứu
Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể và văn hóa truyền thống của dân tộc, cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày như:
- Cuốn sách “Lễ hội nông nghiệp Việt Nam” của tác giả Lê Văn Kỳ
Lễ hội nông nghiệp Việt Nam là cuốn sách viết về lễ hội Lồng Tồng của người
Tày, Nùng ở vùng núi phía Bắc Việt Nam Trong cuốn sách này, tác giả đã trình bày cụ thể về địa điểm, thời gian mở lễ hội, cách thức mở lễ hội, những nghi lễ và trò chơi dân gian được diễn ra trong lễ hội Lồng Tồng [10, tr.161 – 167]
- Cuốn sách “Lễ hội cầu mùa của các dân tộc Việt Nam” của tác giả Phan Hữu Dật, Lê
Ngọc Thắng, Lê Sĩ giáo và Lâm Bá Nam
Cuốn sách là một cuốn phim thu nhỏ về các lễ hội mang tính chất cầu mùa của các dân tộc Việt Nam, trong đó có lễ hội Lồng Tồng của đồng bào dân tộc Tày – một lễ hội truyền thống của dân cư nông nghiệp Trong cuốn sách, các tác giả đã viết đề cập
Trang 9đến mục đích, ý nghĩa của lễ hội Lồng Tồng, khái quát được kết cấu lễ hội bao gồm phần “lễ” và phần “hội”, trong đó phần lễ là những nghi lễ mang tính chất tâm linh thể hiện cái tinh thần còn phần hội thể hiện cái tinh hoa [4, tr.42 – 50]
- Tác phẩm “Lễ hội dân gian dân tộc Tày” của tác giả Hoàng Văn Páo, Cao Thị Hải
Phần II của cuốn sách nghiên cứu giới thiệu về Lễ cấp sắc của Pụt Tày ở vùng
Ba Bể, Bắc Kạn, được nhà nghiên cứu văn hóa Cao Thị Hải khảo sát qua lễ cấp sắc ở bản Pyàn, xã Quảng Khê, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Tác giả đã giới thiệu về cách thức tổ chức, mục đích, ý nghĩa của lễ cấp sắc Tào; khái quát cả quá trình làm thầy của một con người, từ quá trình vào nghề đến học nghề và nhận thầy và đưa ra những trường hợp cụ thể để củng cố những nhận định của mình, đó là những ông thầy Pụt như: Nông Văn Bỉnh (nhân vật được khảo sát chính trong lễ cấp sắc thầy Pụt), Nông Văn Ninh, thôn Chợ Lèng, Quảng Khê, Ba Bể giới thiệu về dòng cúng, trình độ và cấp bậc làm nghề, các việc liên quan đến nghề [17, tr.196 – 389]
- Dự án “Tổng điều tra di sản văn hóa phi vật thể các dân tộc thuộc ngữ hệ Tày – Thái tại Bắc Kạn” của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Kạn năm 2005
Trong đó, dự án đã tiến hành điều tra, khảo sát các di sản văn hóa phi vật thể như: Chữ Nôm; nghệ thuật truyền thống như hát then, hát lượn, hát ví ; các ngày lễ tết trong năm; các lễ hội như lễ hội Lồng Tồng, lễ hội được tổ chức tại các đình, đền, miếu; các trò chơi dân gian; nghề truyền thống; phong tục cổ truyền; văn hóa ẩm thực
và tri thức dân gian của đồng bào dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn Dự án tiến hành đánh giá phân tích thực trạng di sản, đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày (Phụ lục 1)
- Luận văn thạc sĩ của Lê Thị Phương Thảo, “Hát Lượn SLương của dân tộc Tày qua khảo sát ở xã Yên Cư, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn”
Khóa luận đã chi tiết hóa các hình thức, không gian diễn xướng, nguồn gốc hát Lượn SLương, vai trò, ý nghĩa của Lượn Slương trong đời sống sinh hoạt của đồng bào dân tộc Tày [35]
- Khóa luận tốt nghiệp của Nông Thị Hậu “Quản lý nhà nước về lễ hội Lồng Tồng xã Lam Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”
Khóa luận đã trình bày về mục đích, ý nghĩa lễ hội Lồng Tồng, phân tích, đánh
giá thực trạng QLNN và đề xuất giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả QLNN đối
với lễ hội Lồng Tồng của người Tày ở xã Lam Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn [6]
Trang 10Ngoài các tác phẩm và công trình nghiên cứu nêu trên, còn rất nhiều cuốn sách
và công trình khác nghiên cứu về di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày nói chung
và dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn nói riêng Tuy nhiên, trong khuôn khổ khóa luận này, em xin được tìm hiểu về di sản văn hóa phi vật thể dưới góc độ quản lý nhà nước với mong muốn hiểu thêm về thực tiễn quản lý di sản văn hóa phi vật thể ở địa phương, chia sẻ những nét đẹp trong các di sản văn hóa phi vật thể người Tày, đồng thời đóng góp ý kiến góp phần cho công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày ở địa phương được tốt hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Khóa luận được nghiên cứu nhằm mục đích đề xuất các giải pháp quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày tỉnh Bắc Kạn trên cơ
sở nghiên cứu thực trạng DSVHPVT và thực trạng QLNN về di sản văn hóa phi vật thể
ở địa phương, đồng thời đúc rút bài học kinh nghiệm quản lý di sản văn hóa phi vật thể cho tỉnh Bắc Kạn thông qua nghiên cứu kinh nghiệm quản lý di sản văn hóa phi vật thể của một số quốc gia trên thế giới và một số địa phương ở Việt Nam
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn QLNN về di sản văn hóa và di sản văn hóa phi vật thể;
+ Phân tích về thực trạng các di sản văn hóa phi vật thể, thực trạng QLNN, công tác bảo tồn và phát huy các DSVHPVT của dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn để làm rõ những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế trong công tác quản
lý, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN, hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn;
+ Nghiên cứu kinh nghiệm QLNN về di sản văn hóa phi vật thể của một số quốc gia trên thế giới và một số địa phương ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu về các hoạt động QLNN đối với các di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, cụ thể như
Trang 11sau:
+ Thời gian: Thời gian nghiên cứu về các hoạt động QLNN về di sản văn hóa chủ yếu từ năm 2010 đến nay (2010 – 2017) Tuy nhiên, để làm rõ hơn nội dung khóa luận, em xin được đề cập thêm một số hoạt động điển hình liên quan đến hoạt động quản lý di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh của những năm trước đó (từ năm 2005 đến 2009);
+ Không gian: Các hoạt động quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, Khóa luận sử dụng chủ yếu các phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận được sử dụng trong nghiên cứu, thực hiện khóa luận này dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của học thuyết Mác LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng nền văn hóa tiến tiến và đậm đà bản sắc dân tộc
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát: Quá trình quan sát, người viết đã tận mắt chứng kiến và tham gia một số hoạt động về DSVHPVT của dân tộc Tày diễn tại địa phương như: Lễ hội Lồng Tồng; trò chơi tung còn, kéo co; hát then, hát lượn, phong thư… Từ việc quan sát
đó đã giúp người viết hiểu rõ hơn về DSVHPVT của dân tộc Tày, thấy được thực trạng
tổ chức các hoạt động của địa phương, góp phần bổ sung kiến thức thực tế cho khóa luận;
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Trên cơ sở những tài liệu, tư liệu và các công trình nghiên cứu khoa học về DSVHPVT dân tộc Tày nói chung và DSVHPVT của dân tộc Tày ở tỉnh Bắc Kạn nói riêng; những Đề án, chính sách, Kế hoạch, Quyết định, Chỉ thị, Nghị quyết trong công tác QLNN về di sản văn hóa phi vật của dân tộc Tày ở tỉnh Bắc Kạn, trực tiếp là Sở VHTT&DL, người viết có cơ sở để nghiên cứu và đi sâu vào nghiên cứu thực trạng QLNN về di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày ở địa
phương và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý về DSVHPVT;
- Phương pháp phỏng vấn: Qua các buổi gặp gỡ, trao đổi với cán bộ quản lý DHPVT
tại Sở VHTT&DL và các cán bộ, công chức của UBND tỉnh Bắc Kạn, người viết đã
Trang 12thu thập được những thông tin, kiến thức về công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị DSVHPVT của dân tộc Tày tại tỉnh, tạo điều kiện cho quá trình nghiên cứu và hoàn
thành khóa luận;
- Phương pháp phân tích: Dựa trên những thông tin đã thu thập được thông qua phương
pháp quan sát, phỏng vấn, nghiên cứu tài liệu, người viết sẽ phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, những khó khăn, hạn chế trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy
giá trị DSVHPVT, từ đó đưa ra hướng khắc phục;
- Phương pháp so sánh: Quá trình nghiên cứu thực trạng QLNN về di sản văn hóa phi
vật của dân tộc Tày tại tỉnh Bắc Kạn, người viết sử dụng phương pháp so sánh với một
số địa phương trong nước và một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới để từ đó đúc rút
kinh nghiệm trong công tác QLNN về di sản văn hóa phi vật thể cho địa phương;
- Phương pháp tổng hợp: Những thông tin cũng như tài liệu thu thập được, người viết
sẽ tiến hành tổng hợp và đánh giá thực trạng QLNN về di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày tại địa phương, từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục, tháo gỡ khó khăn;
- Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng trong việc thống kê các di sản văn hóa trên địa bàn: Bao nhiêu di sản đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; bao nhiêu loại hình đã được sưu tầm, khảo sát; bao nhiêu di sản đã bị thất
Kết quả nghiên cứu lý luận về DSVHPVT và quản lý nhà nước đối với DSVHPVT có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, các nhà khoa học, các giảng viên, sinh viên muốn nghiên cứu, tìm hiểu về công tác QLNN về di sản văn hóa phi vật thể nói chung
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 13Khóa luận đã trình bày thực trạng công tác QLNN về di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày tỉnh Bắc Kạn, đồng thời phân tích những mặt tích cực, hạn chế, những mặt làm được và những mặt chưa làm được, làm rõ nguyên nhân của những hạn chế
đó, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
Do vậy, kết quả khóa luận phần nào giúp các nhà quản lý ở địa phương có thể xây dựng các biện pháp quản lý, bảo tồn và phát huy tối đa giá trị di sản văn hóa dân tộc Tày, đồng thời khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu
về di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
7 Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày tỉnh Bắc Kạn
Chương 3: Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày và tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể tỉnh Bắc Kạn
Trang 14Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể
Di sản văn hóa phi vật thể là một hợp phần của di sản văn hóa nói chung bên cạnh di sản văn hóa vật thể Hai loại hình di sản văn hóa này có mối quan hệ mật thiết với nhau, tôn vinh nhau tạo nên sự đa dạng của kho tàng văn hóa nhân loại, tuy nhiên giữa chúng có sự độc lập tương đối:
Di sản văn hóa vật thể là cái hữu hình, tồn tại dưới dạng vật chất có thể nhìn thấy, sờ thấy được và chúng chứa đựng nhũng hồi ức sống động của loài người, là bằng chứng vật chất của các nền văn hóa, văn minh nhân loại
Di sản văn hóa phi vật thể là cái vô hình, được lưu truyền và biểu hiện bằng hình thức truyền miệng, truyền nghề và các dạng bí quyết nghề nghiệp khác Trên thực
tế, thuật ngữ “di sản văn hóa phi vật thể” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau
1.1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể trên thế giới
Tại khoản 1, Điều 2, Mục I của Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của
UNESCO (2003): “Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kĩ năng và kèm theo đó là những công cụ đồ vật, đồ tạo tác
và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng, các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan
hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hinh thành trong
họ ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người Vì những mục đích của Công ước này, chỉ xét đến những di sản văn hóa phi vật thể phù hợp với các văn kiện quốc tế hiện hành về quyền con người, cũng như những yêu cầu về sự tôn trọng lẫn nhau giữa các cộng đồng, các nhóm người và cá nhân, và về phát triển bền vững” [2]
Như vậy theo UNESCO thì di sản văn hóa phi vậ thể được thể hiện qua:
- Các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể;
Trang 15- Nghệ thuật trình diễn;
- Tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội;
- Tri thức, kinh nghiệm và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ;
- Nghề thủ công truyền thống và một số lĩnh vực khác
Tại Nhật Bản, Điều 2 của Luật bảo vệ tài sản Văn hóa đã đưa ra định nghĩa di
sản văn hóa phi vật thể là “nghệ thuật, kĩ năng thu nhận được từ các vở kịch, âm nhạc
và nghệ thuật ứng dụng và những sản phẩm văn hóa phi vật thể khác sở hữu giá trị lớn
về lịch sử và nghệ thuật đối với một đất nước”
Còn tại Croatia - một đất nước ở châu Âu thì quan niệm rằng di sản văn hóa phi vật thể có thể bao trùm các dạng đặc biệt và các hiện tượng của hoạt động sáng tạo trí
óc được truyền từ đời này sang đời khác bằng bất kì cách thức nào, và đặc biệt là “ngôn ngữ, thổ ngữ, tiếng bản địa và tất cả các loại văn học truyền thống; sáng tạo dân tộc trong những lĩnh vực của nhạc, múa, truyền thuyết, trò chơi, lễ hội, phong tục cũng như các giá trị dân tộc truyền thống khác; kĩ năng truyền thống và nghề thủ công” 1.1.1.2 Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam
Trên cơ sở tiếp thu những quan điểm của UNESCO và các nước, Việt Nam cũng
đã đưa ra quan niệm riêng về di sản văn hóa phi vật thể
Tại khoản 1, Điều 4, Luật Di sản văn hóa hợp nhất năm 2013 số
10/VBHN-VPQH quy định: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [11]
Từ các khái niệm đã trình bày ở trên có thể thấy hầu hết các khái niệm đều liệt
kê ra các dạng của di sản văn hóa phi vật thể như nghệ thuật múa, nhạc, ngôn ngữ, nghề thủ công truyền thống… xác định các giá trị nổi bật của di sản văn hóa phi vật thể Đó là giá trị lịch sử, giá trị nghệ thuật, giá trị học thuật Những giá trị ấy là cốt lõi của vấn đề bảo vệ di sản văn hóa
Việc cụ thể hóa di sản văn hóa phi vật thể là một điều khó khăn bởi những di sản này không hiện hữu một cách rõ ràng như một ngôi chùa, hay một công trình kiến trúc mà cần có con người sử dụng, truyền tải thì người khác mới biết đến sự tồn tại của
nó Nếu những người cuối cùng lưu giữ di sản đó mất đi thì những di sản ấy cũng sẽ biến mất Vì vậy, con người là trung tâm của di sản văn hóa phi vật thể
Trang 161.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học
tự nhiên, mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình Dưới góc độ quản lý nhà nước, khái niệm quản lý nhà nước cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy vào cách tiếp cận của người nghiên cứu
“Quản lý nhà nước là hoạt động có tổ chức bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước (công quyền) để điều chỉnh các quá trình của xã hội, hành vi của công dân và mọi
tổ chức xã hội, chính trị, khoa học, văn hóa – xã hội nhằm giữ gìn thể chế chính trị, trật
tự xã hội và phát triển xã hội theo đúng mục tiêu đã định” [7, tr.14]
“QLNN là hoạt động của nhà nước trên tất cả các lĩnh vực lập pháp, hành pháp
và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước” [8, tr.58]
“QLNN là thuật ngữ chỉ sự tác động của chủ thể mang tính quyền lực nhà nước, bằng nhiều biện pháp tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển của xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước” [7, tr.261]
Có thể thấy, dù tiếp cận ở góc độ nào thì thuật ngữ QLNN về bản chất vẫn có những điểm cơ bản giống nhau phản ánh bản chất của quản lý nhà nước:
- Chủ thể quản lý nhà nước bao gồm: Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong đó bao gồm các cơ quan hành pháp, lập pháp, tư pháp và các tổ chức, cá nhân được nhà nước ủy quyền thực hiện hoạt động quản lý nhà nước
- Khách thể quản lý nhà nước là trật tự quản lý nhà nước, trật tự quản lý xã hội
do pháp luật quy định Chúng vừa chứa đựng lợi ích tập thể, lợi ích cá nhân, vừa bao hàm mục đích mà bên quan hệ quản lý cùng hướng tới bảo vệ
Có thể hiểu QLNN theo nghĩa bao quát là nói tới chức năng tổng thể của bộ máy nhà nước với tư cách là một tổ chức quyền lực và mang tính pháp quyền, là tổ chức công quyền quản lý toàn xã hội bằng các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp
Như vậy, quản lý và quản lý nhà nước là một hoạt động xã hội đặc trưng QLNN luôn mang tính quyền lực, mọi quyết định quản lý luôn mang tính đơn phương một chiều, bắt buộc thực hiện và khi cần các chủ thể quản lý có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành QLNN là hoạt động có mục tiêu rõ ràng, có chiến lược và kế hoạch thực hiện, đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải xác định rõ mục tiêu, xây dựng chiến lược và kế hoạch hoạt động của mình nhằm đạt được mục tiêu đã xác định
Trang 17QLNN cần đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ trong hoạt động thể hiện tinh thần tôn trọng nhân dân, biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến của nhân dân Quản lý nhà nước đúng luật sẽ góp phần tích cực vào việc lập lại kỉ cương, trật tự, đặc biệt trong quá trình tăng cường hội nhập quốc tế, ứng dụng rộng rãi của CNTT làm phong phú những ảnh hưởng qua lại giữa các nền văn hóa
1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể
Hoạt động QLNN về di sản văn hóa phi vật thể muốn đạt được hiệu quả cao, trước hết các cơ quan quản lý nhà nước cần phải hiểu QLNN về di sản văn hóa phi vật thể là gì, xác định rõ chủ thể, khách thể, mục đích, công cụ và đối tượng quản lý làm cơ
sở kiện toàn bộ máy, phân công chức năng, nhiệm vụ và hoạch định chính sách về DSVHPVT phù hợp
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa là quá trình tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước của các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa từ trung ương đến địa phương đối với các di sản văn hóa, các cơ quan này sử dụng các phương pháp, công cụ quản lý thích hợp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước
Từ khái niệm trên, khái niệm QLNN về di sản văn hóa phi vật thể có thể trình bày như sau:
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể là quá trình tác động có tổ chức
và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước về văn hóa từ trung ương đến địa phương đối với di sản văn hóa phi vật thể, các cơ quan này sử dụng các phương pháp, công cụ quản lý thích hợp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa phi vật thể theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước
Khái niệm QLNN về di sản văn hóa phi vật thể có thể được diễn giải như sau:
- Chủ thể QLNN về di sản văn hóa phi vật thể là Nhà nước với hệ thống cơ quan, tổ chức, cá nhân được nhà nước ủy quyền thực hiện chức năng QLNN về di sản văn hóa phi vật thể (Chính phủ, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, UBND các cấp, Sở VHTT&DL, phòng văn hóa và cấp cơ sở có công chức Văn hóa – Thông tin )
- Đối tượng quản lý về di sản văn hóa phi vật thể bao gồm các hoạt động của con người
và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể trong các hoạt động quản lý, sáng tạo và hưởng thụ
- Khách thể quản lý là trật tự quản lý mà các chủ thể quản lý về di sản văn hóa phi vật
Trang 18thể tác động lên các đối tượng quản lý bằng các phương pháp và công cụ quản lý nhất định nhằm thực hiện các mục tiêu đã đặt ra, là hệ thống các hành vi, hoạt động của con người gắn với các tổ chức liên quan đến lĩnh vực DSVHPVT
- Công cụ quản lý là các văn bản quy phạm pháp luật, thể chế, chính sách của Nhà nước;
- Mục tiêu quản lý: Quản lý nhằm bảo tồn và phát huy được những giá trị tốt đẹp của di sản văn hóa phi vật thể, hình thành các giá trị mới phù hợp với thời đại và đúng với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước đề ra
1.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể
Nhà nước là chủ thể quản lý các hoạt động của đời sống xã hội, tất cả các hoạt động xã hội như kinh tế, giáo dục, y tế hay an ninh quốc phòng đều cần đến sự quản
lý của nhà nước Đối với di sản văn hóa phi vật thể thì sự quản lý của nhà nước lại càng trở nên cần thiết hơn, xuất phát từ các lý do sau:
Thứ nhất, xuất phát từ vai trò của nhà nước
+ Vai trò định hướng:
Bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc là nhiệm vụ hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát triển văn hóa – xã hội đất nước nhất, đặc biệt trong bối cảnh những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, đô thị hóa, toàn cầu hóa đang làm mai một những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Vì vậy, nhà nước đóng vai trò định hướng cho các di sản văn hóa phi vật thể được gìn giữ và phát huy đúng giá trị và đúng với định hướng, mục tiêu của Đảng và Nhà nước đã đặt ra Vai trò định hướng ở đây chính là việc nhà nước hướng cho những giá trị nào là tốt đẹp, là tích cực, có vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng thì sẽ được bảo tồn và phát huy đồng thời xác định những cái nào đã lạc hậu, không có lợi và không còn phù hợp với
xu thế hiện tại thì sẽ có những biện pháp loại bỏ hoặc thay thế cho phù hợp với thực tế
Để các di sản văn hóa phi vật thể được gìn giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp vốn có thì cần thiết phải có sự định hướng của nhà nước thông qua các quy định pháp luật, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
+ Vai trò hỗ trợ:
Nhà nước không chỉ có vai trò định hướng mà còn đóng vai trò là lực lượng hỗ trợ quan trọng để các di sản văn hóa phi vật thể có thể được bảo tồn và phát huy đúng giá trị và đúng với định hướng, mục tiêu của Đảng và Nhà nước đã đặt ra Vai trò hỗ
Trang 19trợ của nhà nước đối với các di sản văn hóa là hết sức cần thiết, đặc biệt là đối với di sản văn hóa phi vật thể là thứ vô hình, rất dễ bị mai một và thậm chí có những giá trị di sản văn hóa phi vật thể đã mất đi mà chúng ta không hay biết Nhà nước với vai trò là
“bà đỡ” sẽ thực hiện vai trò hỗ trợ của mình thông qua các hình thức như: Hỗ trợ về mặt tài chính để tổ chức phục dựng, để bảo tồn và phát huy giá trị các di sản; hỗ trợ quảng bá các di sản văn hóa phi vật thể; hỗ trợ về mặt pháp lý, hỗ trợ về mặt chuyên môn nghiệp vụ…
Thứ hai, xuất phát từ vai trò của các di sản văn hóa phi vật thể trong đời sống
xã hội
Di sản văn hóa phi vật thể có vị trí hết sức quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân, là món ăn tinh thần không thể thiếu trong cộng đồng dân cư Di sản văn hóa phi vật thể còn là nhu cầu hưởng thụ các giá trị văn hóa của nhân dân, phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng Vì vậy, cần có sự quản lý của nhà nước để đảm bảo tất cả mọi người đều có quyền được hưởng thụ những giá trị của di sản văn hóa phi vật thể ngang nhau Đồng thời nhà nước cũng đưa ra các quy định, khuyến khích mỗi người dân đều phải có trách nhiệm bảo vệ và lưu giữ các giá trị văn hóa đó
Thứ ba, xuất phát từ thực trạng di sản văn hóa phi vật thể hiện nay
+ Di sản văn hóa phi vật thể tuy là cái vô hình nhưng lại hết sức nhạy cảm khi
nó liên quan trực tiếp đến tín ngưỡng, tôn giáo, dễ bị các phần tử xấu âm mưu lợi dụng hòng quấy rối an ninh trật tự, làm ảnh hưởng đến an ninh, chính trị của quốc gia đặc biệt là những vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, trình độ nhận thức còn hạn chế Do đó, nhà nước cần phải tiến hành quản lý, ngăn chặn những âm mưu lợi dụng di sản văn hóa phi vật thể để thực hiện âm mưu phá hoại nhà nước đặc biệt là tín ngưỡng
và tôn giáo nhằm mục đích đảm bảo sự ổn định của xã hội
+ Những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, CNH – HĐH đã khiến cho nhiều di sản văn hóa phi vật đã bị mai một, biến dạng và dần mất đi giá trị tốt đẹp của
nó Thực tế hiện nay cho thấy, các lễ hội truyền thống bị thương mại hóa, trở thành nơi
tụ tập bán hàng, nơi diễn ra các tệ nạn xã hội như đá gà bằng tiền, cờ bạc, ô nhiễm môi trường Các nghề truyền thống bị mất dần khi sản phẩm không có thị trường tiêu thụ, người ta chuộng sản phẩm công nghiệp hơn vì giá thành rẻ và tiện dụng; âm nhạc hiện đại dần thế chỗ cho âm nhạc truyền thống khi giới trẻ không còn đam mê với dân ca truyền thống; ngôn ngữ, chữ viết dân tộc bị mất dần, lai tạp và rất nhiều câu chuyện
Trang 20khác về di sản văn hóa phi vật thể bị mai một, tiêu biến Thực trạng tiêu cực trên đòi hỏi phải có sự quản lý của nhà nước trong việc gìn giữ, phát huy và xử lý nghiêm các
vi phạm đối với các di sản văn hóa phi vật thể
Di sản văn hóa nói chung và di sản văn hoá phi vật thể nói riêng là nền tảng tinh thần của xã hội, là đối tượng, là động lực và mục tiêu xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Do vậy, cần có sự của lý của nhà nước
để đảm bảo các di sản văn hóa phi vật thể phát triển đúng định hướng, mục tiêu của Đảng và Nhà nước đặt ra theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị tốt đẹp và loại bỏ những yếu tố tiêu cực làm ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục của dân tộc
Như vậy, hoạt động quản lý nhà nước về DSVHPVT là rất cần thiết, góp phần đảm bảo định hướng lớn của Đảng trong việc “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, đảm bảo các giá trị truyền thống tốt đẹp được bảo tồn và phát huy, bản sắc văn hóa dân tộc không bị mai một, hòa tan trong quá trình hội nhập và toàn cầu hóa Hoạt động quản lý của nhà nước cũng làm cho di sản văn hóa phi vật thể trở thành tác nhân kích thích sự phát triển kinh tế - xã hội góp phần hiện thực hóa quan điểm của Đảng “Văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể
Hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó có cả yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan Việc xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động QLNN về di sản văn hóa phi vật thể là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước có các biện pháp phát huy đối với những yếu tố tích cực và hạn chế, loại bỏ đối với những yếu tố tiêu cực, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể
1.3.1 Yếu tố khách quan
Thứ nhất, quá trình toàn cầu hóa đã làm cho nền kinh tế chuyển biến tích cực,
kéo theo các luồng văn hóa mới tạo điều kiện tốt hơn cho nhu cầu hưởng thụ văn hóa
và đa dạng hóa nền văn hóa nước nhà Tuy nhiên, quá trình này có nguy cơ dẫn đến xung đột với việc bảo tồn bản sắc văn hóa và tiếp biến văn hóa trên phạm vi toàn thế giới Trong bối cảnh đó, văn hóa đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể sẽ bị tổn thương hơn cả Do đó, việc xử lý hợp lý mối quan hệ giữa bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc và
Trang 21tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, chống lại những yếu tố tiêu cực từ bên ngoài, đón lấy thời cơ thuận lợi thúc đẩy văn hóa phát triển là một yêu cầu cấp bách đối với công tác QLNN về di sản văn hóa dân tộc
Thứ hai, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và sự phát triển mạnh mẽ của viễn
thông, internet tạo nên sự thay đổi lớn trong tiếp cận thông tin trong dân chúng CNTT phát triển tạo điều kiện cho tất cả mọi người, mọi tổ chức có sự liên kết với nhau và liên lạc với xã hội Nhiều quốc gia trên thế giới đã sử dụng CNTT như một phương tiện quảng bá và quản lý văn hóa hiệu quả CNTT đã hình thành một phương thức liên kết mới: Liên kết xã hội qua môi trường mạng Điều đó đã đặt ra những vấn đề mới cho công tác QLNN về di sản văn hóa phi vật thể của nước ta
Thứ ba, “công nghiệp văn hóa” đang trở thành một xu thế mới trong phát triển
di sản văn hóa Nhiều quốc gia đi đầu trong lĩnh vực này như Hoa Kì, Hàn Quốc, đã chứng minh minh sức mạnh của “công nghiệp văn hóa” gấp nhiều lần so với công nghiệp khai thác Công nghiệp văn hóa sẽ là một ngành công nghiệp có tiềm lực trong tương lai và trở thành xu thế của các nước trên thế giới
Thứ tư, nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân ngày càng cao và xu hướng
sử dụng hữu ích thời gian nhàn rỗi đang trở nên phổ biến Xu hướng này đặt ra yêu cầu mới trong công tác quy hoạch, kế hoạch và xây dựng các dự án phát triển văn hóa đặc biệt là ngành du lịch văn hóa đáp ứng với nhu cầu hưởng thụ ngày càng cao của xã hội
Thứ năm, CNH – HĐH và kinh tế thị trường là mảnh đất màu mỡ cho sự đổi
mới và sáng tạo văn hóa nhưng cũng tạo ra thách thức rất lớn Đó là sự mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại, là sự đấu tranh giữa cái lạc hậu và cái tiến bộ, giữa bảo thủ và đổi mới Kinh tế thị trường cùng với quá trình đô thị hóa đã làm thay đổi sâu sắc đến phong tục, tập quán sinh hoạt cùng với các văn hóa truyền thống, đòi hỏi phải có sự đổi mới trong công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể, tạo hành lang pháp
lý đảm bảo cho sự phát triển văn hóa theo đúng định hướng và mục tiêu của Đảng và nhà nước trong cơ chế thị trường
1.3.2 Yếu tố chủ quan
Thứ nhất, di sản văn hóa phi vật thể do con người sáng tạo ra, tồn tại và phát
triển phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức và ý chí chủ quan của con người, đặc biệt là chủ thể sáng tạo và chủ thể sở hữu di sản Ý chí, nhu cầu, nguyện vọng và nhận thức của con người có ảnh hưởng đến tự tồn tại hay tiêu vong của di sản văn hóa trong đó có
Trang 22di sản văn hóa phi vật thể và chính họ là nhân tố quyết định sự tồn vong hay sự phát triển của những di sản văn hóa Hoạt động quản lý nhà nước cần có những cơ chế chính sách thích hợp nhằm nâng cao nhận thức cá nhân và cộng đồng trong bảo tồn, sáng tạo
và phát huy giá trị di sản văn hóa
Thứ hai, bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa chưa được tổ chức hợp lý, bộ máy
ở trung ương đông đảo nhưng lại ít việc, trong khi địa phương nhiều nhiệm vụ và trực tiếp quản lý các hoạt động văn hóa thì lại thiếu nhân sự Bộ máy QLNN về văn hóa còn cồng kềnh, nhiều chức danh, vị trí nên việc phân định chức năng nhiệm vụ chưa rõ ràng đôi lúc bị chồng chéo giữa các cơ quan dẫn đến hiệu quả QLNN về văn hóa nói chung và QLNN về di sản văn hóa phi vật thể chưa cao
Thứ ba, hệ thống các văn bản QPPL, các chủ trương, chính sách có ảnh hưởng
đến hoạt động QLNN về di sản văn hóa phi vật thể Các văn bản pháp luật tạo nên hành lang pháp lý cho công tác quản lý, các chính sách có nhiệm vụ tạo điều kiện cho các giá trị di sản văn hóa phi vật thể được bảo tồn và phát huy đồng thời hỗ trợ cho công tác quản lý Các văn bản, chính sách được ban hành, đảm bảo tính thống nhất và được thực hiện một cách đầy đủ, nhất quán thì hiệu quả quản lý nhà nước sẽ được nâng cao
Thứ tư, đội ngũ cán bộ, công chức chuyên môn là một yếu tố quan trọng ảnh
hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói:
“Cán bộ là gốc của công việc, gốc có tốt thì ngọn mới tốt”, hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý phụ thuộc rất nhiều vào năng lực chuyên môn, tinh thần, thái độ làm việc
và phẩm chất của mỗi cán bộ, công chức
Thứ năm, tài chính là vấn đề có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động quản lý nhà
nước về văn hóa Hàng năm nhà nước luôn dành một khoản từ ngân sách nhà nước cho công tác văn hóa Là một quốc gia có nền kinh tế chưa phát triển nhưng rất đa dạng phong phú về di sản văn hóa, ngoài việc trích từ ngân sách cho công tác văn hóa thì nhà nước cần có cơ chế, chính sách đẩy mạnh xã hội hóa về công tác văn hóa trong đó
có di sản văn hóa phi vật thể
1.4 Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể
Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể là cơ sở để các cơ quan Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ liên quan đến các hoạt động quản lý di sản văn hóa phi vật thể Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể là một nội dung lớn, bao gồm các hoạt động sau:
Trang 231.4.1 Ban hành và tổ chức thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa phi vật thể
Việc bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa phi vật thể là một trong những nội dung cơ bản để gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc Việt Nam Quản lý nhà nước về DSVHPVT trước hết cần xây dựng, ban hành và tổ chức thực thi các văn bản quy phạm pháp luật về công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Các VBQPPL phải quán triệt quan điểm của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương
5 khóa VIII “về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” trong đó có di sản văn hóa phi vật thể và phù hợp với công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công tác quản lý di sản văn hóa phi vật thể ở nước ta hiện nay bao gồm: Hiến pháp, luật, các văn bản dưới luật
Hiến pháp năm 2013 đã có những quy định chung cho công tác quản lý văn
hóa Tại khoản 1 Điều 60 Hiến pháp 2013 quy định: “Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”
Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa số 32/2009/QH12 năm 2009; Luật Di sản văn hóa hợp nhất số 10/VBHN-VPQH năm 2013
Tại Điều 20, Luật Di sản văn hóa hợp nhất số 10/VBHN-VPQH năm 2013 quy định:
“Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể ngăn chặn nguy cơ làm sai lệch, bị mai một hoặc thất truyền” [11]
Luật Di sản văn hóa đã có những quy định riêng đối với di sản văn hóa phi vật thể trong đó có đề cập đến khái niệm di sản văn hóa phi vật thể, quyền và các nghĩa vụ
cá nhân đối với các di sản văn hóa phi vật thể đặc biệt còn có quy định riêng đối với việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Bên cạnh Luật Di sản văn hóa, hệ thống VBQPPL về di sản văn hóa phi vật thể còn có những văn bản sau:
- Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Di sản văn hóa;
- Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020, (Ban hành kèm theo Quyết định số 581/QĐ-Ttg ngày 06 tháng 5 năm 2009 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn
Trang 24hóa đến năm 2020);
- Quyết định 36/2005/QĐ – Ttg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24 tháng 5 năm 2005
về việc lấy ngày 23 tháng 11 hàng năm là “Ngày di sản văn hóa Việt Nam” Nội dung quyết định đã phần nào khẳng định giá trị của di sản văn hóa, giúp cho người dân tôn vinh và quan tâm hơn đến các di sản văn hóa, trong đó có di sản văn hóa phi vật thể;
- Quyết định số 3465/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ngày 13 tháng 10 năm 2015 về việc công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Quyết định đã công bố 17 di sản văn hóa phi vật thể nằm trong Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, trong đó có tới 13 di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số (dân tộc Tày có nghi lễ hát then ở tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Thái Nguyên)
- Quyết định số 3247/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ngày 16 tháng 09 năm 2016 về việc công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Theo Quyết định này, 7 di sản văn hóa phi vật thể đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, trong đó có Tết cá của người Tày ở tỉnh Hà Giang
- Quyết định số 4036/QĐ-BVHTTDL của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch ngày 21 tháng 11 năm 2016 về việc công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Quyết định đã công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia bao gồm 17 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó tỉnh Bắc Kạn có 2 di sản văn hóa được công nhận là
di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
1.4.2 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể
Di sản văn hóa phi vật thể từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần và tâm linh của nhân dân Do đó việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể là điều cần thiết Để hoạt động này diễn ra hiệu quả cần có sự chỉ đạo, tổ chức của các cơ quan nhà nước
Điều 17 Luật Di sản văn hóa hợp nhất năm 2013 quy định:
“Nhà nước bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể thông qua các biện pháp sau đây:
1 Tổ chức nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, phân loại di sản văn hóa phi vật thể
2 Tổ chức truyền dạy, phổ biến, xuất bản, trình diễn và phục dựng các loại hình di sản văn hóa phi vật thể
3 Khuyến khích và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ,
Trang 25truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể
4 Hướng dẫn nghiệp vụ bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể theo đề nghị của tổ chức, cá nhân nắm giữ di sản văn hóa phi vật thể
5 Đầu tư kinh phí cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, ngăn ngừa nguy cơ làm mai một, thất truyền di sản văn hóa phi vật thể” [11]
Trên cơ sở các quy định của Luật Di sản văn hóa, Bộ VHTT&DL đã ban hành Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL quy định về việc kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Thông tư đã cụ thể rõ các quy định đối với công tác kiểm kê và lập hồ sơ khoa học đối với những di sản văn hóa phi vật thể đủ điều kiện theo quy định
Cụ thể:
Điều 4, Thông tư số 04/2010/TT-BVHTTDL quy định:
“ Đối tượng kiểm kê
1 Đối tượng kiểm kê là di sản văn hóa phi vật thể đang tồn tại, bao gồm các loại hình sau đây:
a) Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam;
b) Ngữ văn dân gian, bao gồm sử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu đố, truyện cổ tích, truyện trạng, truyện cười, truyện ngụ ngôn, hát ru và các biểu đạt khác được chuyển tải bằng lời nói hoặc ghi chép bằng chữ viết;
c) Nghệ thuật trình diễn dân gian, bao gồm âm nhạc, múa, hát, sân khấu và các hình thức trình diễn dân gian khác;
d) Tập quán xã hội, bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ và các phong tục khác;
đ) Lễ hội truyền thống;
e) Nghề thủ công truyền thống;
f) Tri thức dân gian, bao gồm tri thức về thiên nhiên, đời sống con người, lao động sản xuất, y, dược học cổ truyền, ẩm thực, trang phục và các tri thức dân gian khác
2 Ưu tiên kiểm kê di sản văn hoá phi vật thể đang bị mai một cần bảo vệ khẩn cấp” [36]
Trên cở sở các VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên, chính quyền địa phương tiến hành các hoạt động quản lý giá trị di sản văn hóa phi vật thể, tổ chức các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản Tùy vào từng loại hình di sản, điều kiện kinh tế, xã hội địa phương lựa chọn các biện pháp bảo tồn thích hợp Cơ quan quản lý
Trang 26nhà nước có thể sáng tạo, học hỏi kinh nghiệm của các địa phương xây dựng mô hình bảo tồn và phát huy giá trị di sản phù hợp, phát huy được hiệu quả tối ưu
1.4.3 Tổ chức hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể
Để thực hiện tốt công tác quản lý di sản văn hóa phi vật thể, Nhà nước đã hình thành một hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương được quy định trong Luật Di sản văn hóa hợp nhất số 10/VBHN-VPQH năm 2013, cụ thể như sau:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về
di sản văn hóa
- Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước
về di sản văn hóa theo phân công của Chính phủ
- Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ [11]
Sơ đồ hệ thống quản lý nhà nước về văn hóa – di sản văn hóa phi vật thể
Phòng Văn hóa – Thông tin
UBND cấp huyện Công chức Văn
hóa – Xã hội UBND cấp xã
Trang 27Như vậy, công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể cấp tỉnh đã được cụ thể hóa về tổ chức bộ máy và chức năng nhiệm vụ Hoạt động QLNN về di sản văn hóa phi vật thể cấp tỉnh sẽ chịu sự quản lý và phân cấp của cơ quan QLNN cấp trên (Chính phủ, Bộ VHTT&DL)
1.4.4 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể
Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể là một trong những yêu cầu cấp thiết xuất phát từ thực trạng các di sản văn hóa phi vật thể ngày càng bị mai một, mất dần đi giá trị truyền thống tốt đẹp mà ông cha ta đã tạo dựng, hun đúc từ ngàn đời nay Thực trạng trên đòi hỏi Nhà nước phải vào cuộc huy động, quản
lý và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả để thực hiện công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể
Trước tiên là về nhân lực, nhân lực hay con người là yếu tố quyết định đến hiệu quả công tác quản lý cũng như hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản Nhân lực ở đây bao gồm: Các cán bộ, công chức thực hiện chức năng QLNN về di sản văn hóa phi vật thể; các nghệ nhân, những người đang nắm giữ, sở hữu di sản văn hóa phi vật thể; nhân dân, những người hưởng thụ văn hóa tinh thần
Đối với cán bộ, công chức, để hoạt động quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa có hiệu quả, cơ quan quản lý nhà nước cần xây dựng chính sách nguồn nhân lực phù hợp trong đó có chính sách thu hút nhân tài, tiếp nhận và có cơ chế ưu đãi đối với công chức có trình độ chuyên môn cao, sử dụng con người đúng với trình độ chuyên môn và vị trí công việc, xây dựng cơ chế khen thưởng phù hợp thúc đẩy động lực làm việc đồng thời cần có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ công chức, cử cán bộ công chức xang học hỏi kinh nghiệm từ địa phương và các nước bạn Có cơ chế sử dụng nhân lực đúng người, đúng việc, giao việc đồng thời giao quyền tự chủ gắn trách nhiệm công việc
Đối với nghệ nhân, những người đang nắm giữ và sở hữu di sản văn hóa phi vật thể, cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường các chính sách hỗ trợ các nghệ nhân, đặc biệt là các nghệ nhân có hoàn cảnh khó khăn Ngoài ra, cơ quan quản lý nhà nước cần
có các cơ chế chính sách khuyến khích, động viên các nghệ nhân, những người đang nắm giữ di sản tham gia vào các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể như: Hoạt động truyền dạy, tham gia biểu diễn
Trang 28Đối với nhân dân, những người hưởng thụ văn hóa, nhà nước cần có biện pháp tuyên truyền, nâng cao nhận thức của họ về văn hóa truyền thống của dân tộc, đồng thời phát huy vai trò của nhân dân trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị di sản văn hóa phi vật thể
Về mặt tài chính, hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản cần có sự đầu tư
về tài chính, trước tiên là sự đầu tư từ phía nhà nước Tuy nhiên, tài chính từ phía ngân sách nhà nước là có hạn trong khi rất nhiều các di sản cần được khôi phục Trong điều kiện đó đòi hỏi Nhà nước cần có chính sách xã hội hóa huy động xã hội cùng tham gia bao tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Huy động, kêu gọi các cá nhân, tổ chức đóng góp kinh phí, xây dựng nguồn vốn, cùng nhau chung tay góp sức vào công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản, chuyển giao quản lý một phần sang các doanh nghiệp tư nhân, kêu gọi sự đầu tư từ các doanh nghiệp Đồng thời nhà nước cần có kế hoạch sử dụng các nguồn vốn một cách hiệu quả, tránh lãng phí
Cơ sở vật chất, hạ tầng là yếu tố quan trọng trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Hệ thống cơ sở vật chất, hạ tầng cần được xây dựng đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát huy giá trị di sản như: Hệ thống bảo tàng, thư viện; thiết chế văn hóa cơ sở như nhà văn hóa, trung tâm văn hóa; hệ thống đường giao thông đặc biệt tại các khu du lịch văn hóa; hệ thống dịch vụ vui chơi, nghỉ dưỡng tập trung tại các khu du lịch văn hóa Để hoàn thiện và nâng cao chất lượng hệ thống cơ
sở vật chất, hạ tầng phục vụ cho hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, bên cạnh nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, Nhà nước cần có cơ chế thoáng
và chính sách thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, khuyến khích các doanh nghiệp ở địa phương đầu tư xây dựng cơ cở hạ tầng Hệ thống cơ sở vật chất, hạ tầng đồng bộ và chất lượng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể
Như vậy, việc huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể là một trong những chức năng, nhiệm vụ của
cơ quan quản lý nhà nước Huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể có hiệu quả sẽ góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa văn hóa của Đảng và Nhà nước, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của địa phương
Trang 291.4.5 Thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm các hoạt động về di sản văn hóa phi vật thể
Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm các hoạt động về di sản văn hóa phi vật thể
là một một nhiệm vụ quan trọng trong quản lý nhà nước, đặc biệt là đối với bộ máy thực hiện chức năng thanh tra của ngành văn hóa Hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử
lý nghiêm các vi phạm về di sản văn hóa phi vật thể trở nên cấp thiết trước thực trạng nhiều di sản văn hóa phi vật thể ngày càng mai một, bị lợi dụng bởi mục đích thương mại hay gây hấn an ninh, trật tự xã hội
Đối với hoạt động thanh tra, hoạt động này được tiến hành bởi cơ quan quản lý hành chính nhà nước như: Chính phủ, UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện trong thực hiện thanh tra hành chính; Thanh tra về ngành, lĩnh vực: Thanh tra BVHTT&DL, Thanh tra Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch trong thanh tra ngành văn hóa Hoạt động thanh tra được tiến hành dưới nhiều cách thức như thanh tra thường xuyên, định kì hoặc đột xuất
Hoạt động kiểm tra có thể được tiến hành bởi các cơ quan, chủ thể quản lý khác nhau như Bộ văn hóa, UBND các cấp, HĐND các cấp hay các cơ quan chức năng khác Hoạt động kiểm tra cũng được tiến hành dưới nhiều hình thức như: Kiểm tra thường xuyên, kiểm tra đột xuất, kiểm tra theo kế hoạch
Những vi phạm được phát hiện trong quá trình thanh tra, kiểm tra cần phải kịp thời xử lý Cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt động thanh tra, kiểm tra cần thực hiện tốt Nghị định số 28/2017/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 20 tháng 3 năm 2017 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan và Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo
Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm cần được tiến hành thường xuyên
và thực hiện theo phương châm phòng ngừa, ngăn chặn hơn là để sự việc xảy ra rồi mới xử lý, nhằm đảm bảo cho hoạt động các di sản văn hóa phi vật thể được diễn ra đúng với quy định của pháp luật, đảm bảo tính nguyên vẹn giá trị truyền thống tốt đẹp của các di sản văn hóa Mặt khác, văn hóa là một lĩnh vực nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa phi vật thể dân tộc, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm cần giải thích và làm cho người dân hiểu luật góp phần nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật cũng như chịu hợp tác trong quá trình này
Trang 301.5 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể của thế giới và Việt Nam
1.5.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể của thế giới
1.5.1.1 Kinh nghiệm quản lý di sản văn hóa phi vật thể của Hàn Quốc
Tại Hàn Quốc cách đây khoảng 40 – 50 năm, khi tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng, kéo theo nhiều di sản văn hóa bị biến mất, trong đó có di sản văn hóa phi vật thể Chính phủ Hàn Quốc sớm nhận ra tầm quan trọng và ý nghĩa của các di sản văn hóa phi vật thể Từ năm 1962, Chính Phủ Hàn Quốc đã ban hành Luật Di sản văn hóa
để bảo tồn cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, ngay sau đó Hàn Quốc đã có sự đầu tư về tài chính để bảo vệ di sản của mình Luật Di sản được đề ra vẫn được tiếp tục
có hiệu lực đến bây giờ và luôn được điều chỉnh để cập nhật với thực tiễn Bên cạnh
đó, Hàn Quốc còn có một hệ thống các chính sách bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể Với các chính sách cụ thể này, từng địa phương phải có trách nhiệm quan tâm bảo vệ di sản ở nơi đó Mỗi địa phương, khu vực đều có cách bảo vệ riêng để thu hút khách du lịch, người dân Hàn Quốc ý thức được và biết cách bảo vệ di sản Chính phủ Hàn Quốc còn có chính sách đào tạo nguồn nhân lực để bảo vệ di sản văn hóa Nhiều viện nghiên cứu, trung tâm thực hành, trường đại học, trường dạy nghề được thành lập trong mấy chục năm qua Ngoài ra, Hàn Quốc đã quay phim, chụp ảnh để giữ lại nguồn gốc, hiện trạng di sản Cơ quan nghiên cứu sẽ chịu trách nhiệm ghi chép các hoạt động công tác
và kiểm tra giám sát sự thay đổi của từng di sản văn hóa phi vật thể Mặt khác lại có các cơ quan, tổ chức luôn theo sát nghệ nhân, chủ nhân của di sản văn hóa giúp họ thực hành, để họ thấy có trách nhiệm hơn với di sản mình đang nắm giữ
1.5.1.2 Kinh nghiệm quản lý di sản văn hóa phi vật thể của Tây Ban Nha
Khác với các phương pháp bảo tồn chủ đạo trên thế giới là giữ tính nguyên gốc,
đề cao sự xác thực của di sản Tây Ban Nha không có chủ trương quản lý di sản văn hóa – trong đó có di sản văn hó phi vật thể một cách cứng nhắc dễ khiến cho các di sản chỉ nằm trong bảo tàng Đất nước này bảo tồn theo nguyên tắc phù hợp với các giá trị
di sản nhưng vẫn coi chúng là thực thể sống động và luôn biến đối trong cuộc sống đương đại
Tại Tây Ban Nha bảo tồn di sản văn hóa là trách nhiệm của Nhà nước và chính quyền địa phương Ngoài kỹ thuật bảo tồn, Tây Ban Nha còn chú trọng giáo dục nhận thức về bảo vệ di sản và còn có sự tham gia của một số tổ chức, doanh nghiệp Năm
Trang 311984, Tây Ban Nha đã khởi động một chương trình nhằm khôi phục những ngôi làng bị
bỏ hoang thành các trại hè để sinh viên, học sinh có thể tham quan và nâng cao nhận thức của giới trẻ về giá trị truyền thống Họ cũng khôi phục một số ngành nghề đã bị thất truyền do quá trình hiện đại hóa ngành sản xuất công nghiệp Gần đây, một số trường đại học ở Tây Ban Nha đã có bộ môn “Bảo tồn di sản văn hóa Tây Ban Nha” trong đó bao gồm cả di sản văn hóa phi vật thể được đưa vào chương trình giảng dạy
Do vậy, việc quản lý các di sản văn hóa của đất nước này đem lại nhiều kết quả tích cực Kinh nghiệm quản lý di sản văn hóa được một số quốc gia châu Âu như Đức, Pháp áp dụng
1.5.2 Kinh nghiệm quản lí nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam
1.5.2.1 Kinh nghiệm quản lý di sản văn hóa phi vật thể của Lạng Sơn
Lạng Sơn là một tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc của Tổ quốc có tới 83% đồng bào dân tộc trong đó người Tày chiếm 35,92% dân số toàn tỉnh Những năm qua, việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá phi vật thể của các dân tộc được tích cực triển khai trên địa bàn toàn tỉnh Tỉnh đã triển khai các dự án nghiên cứu, sưu tầm, tổ chức ghi hình để phát hành đĩa CD, VCD, phát sóng tuyên truyền, giới thiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng; duy trì tổ chức các Lễ hội xuân hàng năm Lạng Sơn đã triển khai, tổ chức mở các lớp truyền dạy; khuyến khích xã hội hóa các câu lạc bộ hát then đàn tính, các nghệ nhân tại cơ sở tham gia truyền dạy cho hội viên Các chủ thể sáng tạo nên những giá trị văn hóa đó cũng được tôn vinh một cách xứng đáng, thực hiện chủ trương của Bộ VHTT&DL, tỉnh đã xét tặng danh hiệu nghệ nhân ưu tú trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể và có các chính sách ưu đãi hỗ trợ kèm theo; phát triển các câu lạc
bộ hát then đàn tính và thành lập Hội bảo tồn dân ca các dân tộc tỉnh Lạng Sơn hoạt động hoàn toàn theo chủ trương xã hội hóa Ngoài ra, tỉnh đã chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp bảo tồn như tổ chức các khóa học tiếng dân tộc ngoài giờ hành chính cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp tỉnh, mở chuyên mục phát sóng các bản tin, các chương trình ca nhạc bằng tiếng Tày - Nùng trên sóng phát thanh và truyền hình; chỉ đạo sử dụng tiếng dân tộc trong sáng tác văn học nghệ thuật hoặc dịch các tác phẩm sang tiếng Tày phục vụ độc giả Bảo tồn nghề thủ công truyền thống được quan tâm bằng việc chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển làng nghề truyền thống như làng nghề thuộc Khu du lịch sinh thái Hồ Nà Tâm; làng nghề thổ cẩm xã Hòa Cư, nghề làm ngói (âm dương) xã Quỳnh Sơn, nghề nấu rượu ở xã Công Sơn, Mẫu Sơn; thực hiện phong trào
Trang 32“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, nhiều tập quán xã hội tốt đẹp được nhân dân bảo tồn và phát huy
1.5.2.2 Kinh nghiệm quản lý di sản văn hóa phi vật thể của Quảng Ninh
Thực hiện Nghị quyết Trung ương V (Khóa VIII) về “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, Quảng Ninh đã dành nhiều nguồn lực cho việc bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa trên địa bàn Bên cạnh ngân sách Nhà nước, các di sản được bảo tồn, tôn tạo bởi nguồn xã hội hóa rất lớn Tiêu biểu như phục hồi lại đình và lễ hội đình Lục Nà của đồng bào Tày (xã Lục Hồn, Bình Liêu, lễ hội Xuống đồng ở Hà Nam (Quảng Yên), lễ hội Lồng Tồng ở Thanh Lâm (Ba Chẽ) Đáng chú ý, một số lễ hội mang màu sắc mới lần đầu tiên được tổ chức như
Lễ hội Carnaval Hạ Long, lễ hội Hoa sở (Bình Liêu), lễ hội Trà hoa vàng (Ba Chẽ)… nhưng thực chất ở đó giới thiệu rất nhiều các giá trị văn hóa truyền thống, trò chơi dân gian của cộng đồng các dân tộc ở Quảng Ninh, quảng bá đến bạn bè trong nước và quốc tế
Quảng Ninh tăng cường chính sách đầu tư cho việc bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa, xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích và giám sát các nguồn lực từ cộng đồng; đầu tư cho việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa; có chính sách trợ cấp cho người trực tiếp trông coi, quản lý di tích; tôn vinh, ưu đãi những người có công bảo vệ, truyền dạy và phát huy giá trị của di tích; bồi dưỡng các kiến thức chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lý ở các cấp; lập kế hoạch tổ chức các lớp tập huấn theo từng địa bàn cụ thể, trang bị kiến thức cho những người đang trực tiếp gìn giữ, bảo vệ các di tích; cử cán bộ đi học tập, tham quan nghiên cứu kinh nghiệm quản lý ở các nước trong khu vực
Đáng chú ý, Quảng Ninh đã có sự kết hợp rất tốt giữa du lịch và văn hóa trong
đó lấy du lịch làm cơ sở quảng bá, giới thiệu đến khách du lịch và bạn bè quốc tế về các di sản văn hóa phi vật thể đồng thời phát triển du lịch văn hóa như lễ hội Yên Tử, kết hợp các loại hình diễn xướng, nghệ thuật dân tộc vào các tour du lịch vịnh Hạ Long, Vân Đồn du lịch văn hóa đã sự đóng góp mạnh mẽ cho sự tăng trưởng kinh tế
xã hội của tỉnh Chính văn hóa đã góp phần làm nên bản sắc riêng của nhiều loại hình
du lịch hấp dẫn tại Quảng Ninh, trong đó có du lịch văn hóa lễ hội, tâm linh đang rất phát triển trên địa bàn tỉnh
Trang 331.5.3 Bài học kinh nghiệm về quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể cho địa phương
Trong công tác QLNN về di sản văn hóa luôn có một thách thức là mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển Đối với di sản văn hóa phi vật thể thì thách thức này còn lớn hơn, bởi di sản văn hóa phi vật thể là vô hình, không thể nhìn thấy, nhiều khi bị mai một và mất đi mà không biết Trước thực trạng nhiều di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày trên địa bàn đang đứng trước nguy cơ bị mai một và biến đổi về giá trị, đòi hỏi chính quyền địa phương tỉnh cần có biện pháp quản lý, bảo tồn và phát huy hiệu quả Kinh nghiệm trong công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể trên thế giới và các địa phương khác của Việt Nam sẽ là bài học kinh nghiệm quý giá cho công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh Bắc Kạn
Công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể cần tập trung đầu tư hơn nữa cho hoạt động sưu tầm, nghiên cứu, khảo sát và tổ chức phục dựng, đặc biệt là đối với với di sản có nguy cơ bị thất truyền và mai một Để bảo tồn một cách bền vững thì công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức người dân bao gồm cả cán bộ lãnh đạo quản lý về vai trò và giá trị của các di sản văn hóa, nâng cao ý thức tự giác tộc người trong cộng đồng dân tộc, có chính sách ưu đãi hợp lý đối với nghệ nhân, người nắm giữ và quyết định đến sự tồn vong hay phát triển của di sản Đồng thời chính quyền cần phát huy thể mạnh của địa phương trong công tác phát triển
du lịch văn hóa, kết hợp du lịch Hồ Ba Bể với du lịch văn hóa, tiến hành quảng bá, giới thiệu các di sản văn hóa phi vật thể đến du khách trong và ngoài nước
Địa phương cần học hỏi cách quản lý của Hàn Quốc thông qua giám sát sự thay đổi của từng di sản trên cơ sở có cơ quan nghiên cứu riêng và ghi chép sự thay đổi đó
để kịp thời có biện pháp quản lý Triển khai các biện pháp quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản khác nhau phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương (huyện, xã)
Biện pháp bảo tồn phải phù hợp với từng di sản, coi di sản văn hóa là một thực thể sống động luôn biến đổi trong cuộc sống đương đại, chú trọng giáo dục nhận thức
về bảo vệ di sản, tận dụng các làng bản người Tày trên địa bàn nơi có di sản phát triển
nó thành nơi tham quan là bài học kinh nghiệm quý giá mà địa phương cần phải học hỏi từ quốc gia Tây Ban Nha
Địa phương cần quán triệt nhận thức bảo tồn di sản – nhất là di sản văn hóa phi vật thể không thể bảo tồn bằng cách “đóng gói” mà cần làm cho di sản vận động, thích
Trang 34ứng cùng nhịp vận động của thời đại Bảo tồn kết hợp với phát huy giá trị di sản luôn đi liền song song, bảo tồn mà không có phát huy có nghĩa là chúng ta đem cất giấu chúng
đi, làm cho chúng không phát huy được giá trị, ngược lại nếu chỉ có phát huy mà không
có bảo tồn thì còn nguy hiểm hơn cả vì sẽ khiến cho di sản có nguy cơ bị mất đi và khó
có thể khôi phục
Một điều nữa, việc học hỏi kinh nghiệm quản lý các di sản văn hóa phi vật thể
từ các nước trên thế giới như Hàn Quốc và Tây Ban Nha hay các địa phương khác trong nước đòi hỏi địa phương phải linh hoạt, sáng tạo, cần phải so sánh và thấy được đâu là sự tương đồng và đâu là sự khác biệt về kinh tế - văn hóa- xã hội, tránh tình trạng bê nguyên mô hình, cách thức quản lý
Để quản lý di sản văn hóa phi vật thể có hiệu quả, cần học hỏi kinh nghiệm từ thế giới và các địa phương khác trong việc phát huy những gì có lợi, tránh những gì có hại và “vết xe đổ” cho giá trị văn hóa truyền thống Qua đó xác định được các định hướng mang tính chiến lược của các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu văn hóa để cùng với địa phương xác định bảo tồn cái gì? Bảo tồn như thế nào? Để gìn giữ cho thế hệ mai sau các các báu vật di sản văn hóa
Trang 35Tiểu kết chương 1
Để làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trong công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể, chương 1 đã làm rõ một số khái niệm như: Khái niệm về di sản văn hóa phi vật thể, khái niệm QLNN, quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể, phân tích và làm rõ nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể Đồng thời chương 1 cũng đã đi tìm hiểu kinh nghiệm quản lý về di sản văn hóa của một số quốc gia trên thế giới và một số địa phương trong cả nước, từ đó đúc kết bài học kinh nghiệm quản lý di sản văn hóa phi vật thể cho địa phương Đảng và Nhà nước luôn coi trọng sự nghiệp xây dựng và quản lý văn hóa, xác định văn hóa vừa là động lực vừa là mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đất nước Do vậy tăng cường công tác quản lý nhà nước về di sản cần quan tâm đên các yếu tố ảnh hưởng sẽ tạo ra nhiều thời cơ thuận lợi lớn cho sự nghiệp văn hóa nước nhà
Quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản có hiệu quả chính là vượt qua thách thức mà toàn cầu hóa, CNH – HĐH đất nước mang lại Toàn cầu hóa và hội nhập quốc
tế cũng là thách thức mới đối với việc quản lý di sản văn hóa phi vật thể, tuy nhiên cũng cần nhận thấy vai trò tích cực của nó trong đổi mới và tăng trưởng kinh tế - xã hội
và nếu chúng ta biết vận dụng và nắm lấy thời cơ thì sẽ mang lại hiệu quả cao trong công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản
Trang 36
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI
VẬT THỂ CỦA DÂN TỘC TÀY TỈNH BẮC KẠN
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội – văn hóa tỉnh Bắc Kạn
2.1.1 Vị trí địa lý
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa vùng Đông Bắc, Phía Đông giáp Lạng Sơn, phía Tây giáp Tuyên Quang, phía Nam giáp Thái Nguyên, phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng Tỉnh có vị trí quan trọng về mặt kinh tế và an ninh quốc phòng Bắc Kạn nằm trẻn quốc lộ 3 đi từ Hà Nội lên Cao Bằng – trục quốc lộ quan trọng của tỉnh Đông Bắc, đồng thời nằm giữa các tỉnh có tiền năng phát triển kinh tế lớn Với diện tích 4,868,41 km2 và có quốc lộ 3 chia lãnh thổ thành hai phần bằng nhau theo hướng Nam – Bắc, là vị trí thuận lợi để Bắc Kạn thể giao lưu với tỉnh Cao Bằng và các tỉnh Trung Quốc ở phía Bắc, với tỉnh Thái Nguyên, Hà Nội cũng như các tỉnh của vùng Đồng bằng Sông Hồng ở phía Nam
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội tỉnh Bắc Kạn
Bắc Kạn có 8 đơn vị hành chính, trong đó có 1 thành phố (thành phố Bắc Kạn)
và 7 huyện (Ba Bể, Bạch Thông, Chợ Đồn, Chợ Mới, Na Rì, Ngân Sơn, Pác Nặm) với
122 xã, phường, thị trấn Dân số Bắc Kạn hiện có trên 308.300 người, gồm 7 dân tộc: Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông, Hoa, Sán Chay trong đó dân tộc Tày chiếm đông nhất là 54% và dân tộc Sán Chay ít nhất là 0,3% Những năm qua, tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tỉnh Bắc Kạn đã có nhiều thay đổi
Thứ nhất, về kinh tế
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi có địa hình phức tạp, cơ sở vật chất và kinh tế chưa phát triển Tuy nhiên nhờ sự nỗ lực, cố gắng của chính quyền địa phương, những năm gần đây, Bắc Kạn đã có một số bước phát triển đáng kể Một số chỉ tiêu kinh tế của tỉnh năm 2016: Tổng giá trị gia tăng trên địa bàn (theo giá so sánh năm 2010) ước đạt 5.753.185 triệu đồng, tăng 5,74% so với cùng kỳ năm 2015 trong đó: Khu vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản ước đạt 1.890.180 triệu đồng, đạt 103,3% kế hoạch, tăng trưởng 2,08% (năm 2015 tăng 8,01%, kế hoạch 4,5%); khu vực Công nghiệp – Xây dựng ước đạt 766.307 triệu đồng, đạt 88,3% kế hoạch, tăng trưởng 2,31% (năm 2015 tăng trưởng âm 2,89%, kế hoạch tăng 3,5%); khu vực Dịch vụ ước đạt 2.940.263 triệu đồng, đạt 104% kế hoạch, tăng trưởng 9,1% (năm 2015 tăng trưởng 4,9%, kế hoạch
Trang 37tăng 7,5%); thuế sản phẩm ước đạt 161.435 triệu đồng, đạt 78% kế hoạch, tăng trưởng 11,09% (năm 2015 tăng trưởng âm 0,46%) [38]
Cơ cấu kinh tế năm 2016 của tỉnh: Khu vực Nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 34,26%, giảm 0,71% so với năm 2015; Khu vực Công nghiệp – Xây dựng chiếm 13,21%, giảm 0,86 %; Khu vực Dịch vụ chiếm 50,18%, tăng 1,56% GRDP bình quân đầu người năm 2016 ước đạt 26,5 triệu đồng, tăng 1,9 triệu đồng so với năm 2015, đạt 100% kế hoạch [38]
Thứ hai, về Văn hóa - Xã hội
Đối với lĩnh vực xã hội, kết quả thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới: Hiện nay các địa phương đang khẩn trương triển khai thực hiện Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo 04 xã hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới trong năm 2016 (Quân Bình, Cẩm Giàng, Cao Trĩ, Cường Lợi); xây dựng danh mục và kế hoạch thực hiện 26 xã điểm dự kiến đạt chuẩn nông thôn mới trong giai đoạn 2016-2020 [38]
Các lĩnh vực xã hội khác đạt được nhiều thành tích mới: Trong năm 2016, tỉnh Bắc Kạn đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; Tỉnh đã tổ chức chức tốt kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2015-2016, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp 95,89%, cao hơn so với năm 2015 Công tác phổ cập giáo dục các cấp đạt kế hoạch đề ra: 8/8 huyện, thành phố đạt chuẩn PCGDMNNT; 8/8 huyện, thành phố đạt chuẩn PCGDTH mức độ 2 Công tác khám chữa bệnh trên địa bàn tiếp tục được duy trì đặc biệt khám chữa bệnh cho người nghèo
và trẻ em dưới 6 tuổi Các hoạt động y tế dự phòng, tuyên truyền phòng chống dịch bệnh được thực hiện thường xuyên, đến nay trên địa bàn tỉnh không có dịch bệnh lớn xảy ra Mạng lưới thông tin - truyền thông đã phản ánh, tuyên truyền kịp thời, chính xác các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, những sự kiện chính trị, văn hóa quan trọng, các vấn đề thời sự trong nước và quốc tế đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân [38]
Đối với lĩnh vực văn hóa, Bắc Kạn là một tỉnh có nền văn hóa đặc sắc và phong
phú với nhiều dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó dân tộc Tày chiếm 54%, dân tộc Dao chiếm 16,8% còn lại là các dân tộc Nùng, Kinh, Hmông, Sán Chay Chính quyền địa phương tỉnh Bắc Kạn đã có nhiều cố gắng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa trên địa bàn Một số kết quả đạt được có thể kể đến như: Năm 2015, tỉnh đã phối hợp với các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên quang, Lào Cai,
Trang 38Thái Nguyên, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc tổ chức ngày hội Văn hóa Thể thao và Du lịch các dân tộc vùng Đông Bắc nhằm bảo tồn, giới thiệu và quảng bá các di sản văn hóa đến với công chúng; xây dựng và thực hiện đề án “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số”; xây dựng hồ sơ quốc gia “Then Tày, Nùng, Thái tỉnh Bắc Kạn” đề nghị UNESCO đưa vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại Ngoài ra, tỉnh đã lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể gửi Bộ VHTT&DL, đến nay đã có 10 di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia như: Lễ cấp sắc người Dao; chữ viết người Dao; lễ cầu năm mới, cầu mùa người Dao; lễ cấp sắc Tào người Tày; chữ Nôm người Tày; Nghề dệt truyền thống người Tày; hát Lượn Slương; múa khèn Hmông; lễ hội Lồng Tồng Ba Bể; nghi lễ hát Khoăn người Nùng Ban Kiểm
kê di sản văn hóa phi vật thể Bắc Kạn đã hoàn thành công tác kiểm kê di sản văn hóa
phi vật thể [27]
Năm 2016, các chỉ tiêu về văn hóa dự kiến đều đạt kế hoạch đề ra: Tỷ lệ làng, thôn, tổ dân phố đạt “Làng Văn hóa” ước đạt 62%, đạt kế hoạch; Tỷ lệ số hộ gia đình đạt “Gia đình văn hóa” ước đạt 81%, đạt kế hoạch Ngoài ra tỉnh đã thực hiện thành công phong trào “toàn dân xấy dựng nếp sống khu dân cư” [27]
2.1.3 Tình hình phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội dân tộc Tày tỉnh Bắc Kạn
Đồng bào dân tộc Tày có thời gian sinh sống lâu đời tại vùng núi Bắc Kạn Trước đây, người Tày chủ yếu sống tập trung thành các làng, bản ở vùng núi cao Kinh
tế chủ yếu dựa vào kinh tế nông nghiệp chăn nuôi trồng trọt lạc hậu nên đời sống kinh
tế xã hội trước đây của đồng bào gặp rất nhiều khó khăn, ít được tiếp cận với thông tin,
các dịch vụ xã hội, tỉ lệ mù chữ và tỉ lệ hộ nghèo rất cao Tuy nhiên, trong thập niên trở
lại đây, nhờ chủ trương, đường đối và chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa của người Tày trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đã có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống của người dân được nâng cao, kinh tế gia đình có nhiều thay đổi tích cực, cụ thể như:
Về kinh tế, tỉnh đã triển khai thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 26/4/2016
của Tỉnh ủy về phát triển nông, lâm nghiệp theo hướng hàng hóa, tạo ra sản phẩm có thương hiệu, sức cạnh tranh trên thị trường giai đoạn 2016-2020, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 851/QĐ-UBND ngày 14/6/2016 về việc phê duyệt đề án phát triển nông lâm nghiệp theo hướng hàng hóa, tạo ra sản phẩm có thương hiệu, sức cạnh tranh trên thị trường, tập trung trồng rừng gắn với công nghiệp chế biến gỗ để nâng cao giá
Trang 39trị kinh tế rừng tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2016-2020, qua đó tập trung phát triển lĩnh vực nông, lâm nghiệp
Đối với nông - lâm nghiệp, tỉnh đã tiến hành cung cấp cây giống và phân bón cho bà con, khuyến khích người dân trồng rừng và khai thác có hiệu quả các nguồn lợi
từ rừng, hướng dẫn bà con cách trồng và chăm sóc cây, sử dụng các loại cây trồng có năng suất và chịu sâu bệnh hại cao Đối với chăn nuôi, bà con chủ yếu chăn nuôi gia súc, gia cầm, nhiều hộ gia đình đầu tư mở trang trại nuôi lợn, gà, đàn trâu, đàn bò tăng lên về số lượng Tỉnh mở nhiều lớp tập huấn về kĩ thuật chăn nuôi cho bà con Ngoài
ra, với sự phát triển kinh tế của địa phương, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư vào địa phương như nhà máy chế biến miến rong, nhà máy chế biến tre gỗ là thị trường đầu
ra cho lâm sản và tạo được nhiều công ăn việc làm cho bà con
Nhờ chính sách tích cực, đến nay nhiều hộ gia đình thuộc dân tộc Tày đã thoát nghèo, thu nhập tăng lên, thu nhập bình quân đầu người là 25,6 triệu đồng/năm, đời sống bà con được nâng cao, có điều kiện xây nhà mới khang trang hơn, mua sắm phương tiện đi lại, phương tiện nghe nhìn và đầu tư hơn cho phát triển kinh tế gia đình,
mở rộng loại hình kinh tế, ngoài nông nghiệp xang kinh doanh, buôn bán
Về lĩnh vực xã hội, tỉ lệ biết chữ của đồng bào dân tộc Tày tăng mạnh 93%, trẻ
em trong độ tuổi đi học đều được đến trường, tỉ lệ phổ cập giáo dục tiểu học đạt 97%, phổ cập giáo dục trung học đạt 95% Nhiều con em đồng bào dân tộc Tày có trình độ đại học 98% bà con được tiếp cận thông tin từ phương tiện loa truyền thanh của các
xã, phường, hầu hết các gia đình đều có tivi, đài và điện thoại Đối với lĩnh vực y tế, 100% bà con được tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế, 92% các hộ gia đình có thẻ bảo hiểm y tế trong đó 61% thẻ bảo hiểm hỗ trợ cho các hộ nghèo và hộ nằm ở vùng sâu, vùng xa Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu bà mẹ trẻ em được triển khai đến bà con, không còn tình trạng phụ nữ tự sinh đẻ ở nhà, y tế dự phòng được triển khai, 96% trẻ
em được tiêm phòng vacxin, công tác ngừa các dịch bệnh được thực hiện tốt như phun thuốc diệt muỗi chống sốt rét về sốt xuất huyết 99% các hộ được dùng điện lưới nhà nước và 93% được sử dụng nước sạch
Đối với lĩnh vực văn hóa, bà con luôn tích cực hưởng ứng phòng trào “toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tại khu dân cư”, tích cực xây dựng “làng văn hóa”, 98% hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa Nhờ công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vai trò giá trị văn hóa của dân tộc, bà con đã có ý thức bảo vệ truyền thống văn
Trang 40hóa của dân tộc mình thông qua việc truyền dạy cho con cháu những kinh nghiệm về y học, về trồng trọt, nghề truyền thống Trong số 9 di sản văn hóa phi vật thể được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia thì có đến 5 di sản văn hóa của dân tộc Tày Đó là niềm tự hào và là động lực để bà con phát huy tinh thần đoàn kết chung tay gìn giữ và phát huy giá trị truyền thống dân tộc
2.2 Thực trạng về di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày tỉnh Bắc Kạn
2.2.1 Lễ hội cổ truyền
Đồng bào dân tộc Tày có nhiều lễ hội cổ truyền điển hình như các lễ hội sau:
Lễ hội Lồng Tồng là lễ hội hết sức phổ biến của đồng bào dân tộc Tày trên địa
bàn tỉnh Bắc Kạn Theo thống kê, toàn tỉnh hiện có 787 lễ hội Lồng Tồng nhưng có tới
400 lễ hội xếp ở nhóm C (nhóm không còn nữa) Trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn hiện còn 49/ 122 xã, phường, thị trấn hằng năm còn tổ chức lễ hội Lồng Tồng [31]
Lễ hội Lồng Tồng ở tỉnh Bắc Kạn vẫn mang màu sắc văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Tày Lễ hội vẫn có sự xuất hiện của yếu tố tâm linh, có sự tham gia của thầy Mo, thầy Tào nhằm cầu khấn, tạ ơn đất trời cho mùa màng bội thu, nhân dân
ấm no Hệ thống trò chơi dân gian vẫn được diễn ra trong lễ hội như: Tung còn (tọt còn), kéo co, đi cà kheo (pây mạ điếng), đẩy gậy, bắn nỏ, bịt mắt bắt dê, một số nơi tổ chức múa sư tử, thi hát lượn, hát then giữa các cặp đôi
Tuy nhiên, lễ hội Lồng Tồng trên địa bàn hiện nay đã có sự thay đổi Trước đây, mỗi thôn đều tổ chức lễ hội Lồng Tồng nhưng trong bối cảnh hiện nay, lễ hội Lồng Tồng chỉ còn được tổ chức tại một số xã phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn Trong đó lễ hội Lồng Tồng tại xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể là lễ hội lớn nhất và đặc trưng trong vùng Trong lễ hội ngày nay còn có sự pha tạp bởi các trò chơi hiện đại có thưởng như: Bắn bóng bay trúng gấu bông, ném chai trúng đồ chơi, chọi gà ăn tiền làm ảnh hưởng đến tính truyền thống của lễ hội Mặt khác, phạm vi và quy mô lễ hội cũng có
sự thay đổi rất nhiều, trước đây, phạm vi lễ hội chỉ bó hẹp trong một xã hoặc một huyện nhưng ngày nay do nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao và sự phát triển của CNTT, lễ hội Lồng Tồng thu hút rất nhiều du khách từ các tỉnh lân cận và du khách nước ngoài đến tham dự đặc biệt là đối với lễ hội Lồng Tồng được tổ chức tại xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể Sự thay đổi đó một mặt đặt ra thách thức trong công tác quản lý nhà nước
về lễ hội nhất là an ninh trật tự trong tổ chức lễ hội nhưng cũng là cơ hội để quảng bá và đưa lễ lội trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội của địa phương [24]