ác động ý thức người vơ to lớn Nó kim nam cho hoạt động thực tiễn mà động lực thực tiễn Sự thành cơng, thất bại thực tiễn, tác động tích cực hay tiêu cực ý thức phát triển tự nhiên, xã hội chủ yếu thuốc vào vai trò đạo ý thức mà biểu vai trị khoa học văn hố tư tưỏng Chúng ta bước vào kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo có tác động to lớn sâu sắc đến đời sống hàng ngày Ví dụ, thị giác máy tính trí tuệ nhân tạo lập kế hoạch tạo trò chơi điện tử trở thành ngành cơng nghiệp giải trí lớn Hollywood Học sâu hình thức học máy dựa lớp đại diện biến số xem mạng thần kinh, làm cho việc hiểu lời nói trở thành thực tế điện thoại bếp Xử lý ngôn ngữ tự nhiên với lý giải thể tri thức cho phép máy tính đánh bại nhà vô địch Jeopardy mang lại sức mạnh cho tìm kiếm Web Dù tiến trí tuệ nhân tạo chắp vá khơng thể đốn trước, lĩnh vực có bước tiến đầy ý nghĩa từ bắt đầu sáu mươi năm trước Kết hợp với lí luận mơn Triết học Mác-Lênin, tiểu luận em xin trình bày chủ đề: “Phân biệt ý thức trí tuệ nhân tạo Vai trị trí tuệ nhân tạo việc đẩy mạnh CNH-HĐH nước ta”
PHÂN BIỆT GIỮA Ý THỨC VÀ TRÍ TUỆ NHÂN TẠO
1 NGUỒN GỐC Đặc điểm Ý thức Trí tuệ nhân tạo
Nguồn gốc tự nhiên: Ý thức là một thuộc tính của vật chất có tổ chức cao là bộ óc người Bộ não người và sự phản ánh khách quan vào trong bộ não con người chính là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
- Bộ não người là cơ quan vật chất của ý thức.
- Ý thức là chức năng của bộ óc người.
- Ý thức phụ thuộc vào hoạt động bộ óc người, do đó khi bộ óc bị tổn thương thì hoạt động ý thức sẽ không bình thường hoặc bị rối loạn.
- Ý thức không thể diễn ra, tách rời hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người.
- Chỉ có con người mới có ý thức, không một kết cấu vật chất nào khác, kể cả những con vật thông minh.
Sự tác động của thế giới khách quan:
- Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất
- Năm 1943: Hệ thống mạng thần kinh (trí tuệ nhân tạo) đầu tiên được phát minh nhưng không thể tạo ra kì tích như hiện nay.
- 10/ 1950 : ý tưởng xây dựng một chương trình AI xuất hiện khi nhà bác học Alan Turing xem xét vấn đề “liệu máy tính có khả năng suy nghĩ hay không?”
- 1956: Tại hội nghị do MarvinMinsky và John McCarthy tổ chức tại Mỹ , tên gọi AI được chính thức công nhận và được dùng cho đến ngày nay.
- Thuộc tính này được biểu hiện ra trong sự liên hệ, tác động qua lại giữa các đối tượng vật chất với nhau.
- Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại của chúng.
- Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc vào cả hai vật – vật tác động và vật nhận tác động.
Nguồn gốc xã hội: ý thức là sản phẩm của sự phát triển xã hội, nó phụ thuộc và xã hội, và ngay từ đầu đã mang tính chất xã hội
- Nhờ có lao động con người tác động vào các đối tượng hiện thực, bắt chúng phải bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của mình thành những hiện tượng nhất định và các hiện tượng này tác động vào bộ óc người.
- Ý thức được hình thành chủ yếu là do hoạt động của con người cải tạo thế giới khách quan làm biến đổi thế giới đó.
- Con người có ý thức chính vì con người chủ động tác động vào thế giới thông qua hoạt động thực tiễn để cải tạo thế giới, con người chỉ có ý thức do có tác động vào thế giới
- Không có hệ thống tín hiệu này – tức ngôn ngữ , thì ý thức không thể tồn tại và thể hiện được
Ý thức là khả năng bẩm sinh, nội tại của một con người Khi con người chào đời, ý thức đã được hình thành Ý thức xuất hiện là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên, của lịch sử trái đất đồng thời là kết quả trực tiếp của thực tiễn xã hội- lịch sử con người, trong đó nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần, nguồn gốc xã hội là điều kiện đủ Thực tiễn là động lực to lớn thúc đẩy ý thức hình thành và phát triển.
Trí tuệ nhân tạo: Được hình thành dựa trên trí thông minh của con người, là sản phẩm do con người tạo ra để hỗ trợ con người, giúp tự động hóa các tác vụ cơ bản và nâng cao năng suất làm việc Ý thức phát triển, ngày càng xâm nhập vào tầng sâu của thế giới hiện thực, gắn nhận thức với cải tạo thế giới Ý thức nhân đôi thế giới trong tinh thần , nhờ đó con người sáng tạo ra các thế hệ “ người máy thông minh” giúp con người khắc phục được những hạn chế của mình.
2 KHÁI NIỆM Đặc điểm Ý thức Trí tuệ nhân tạo
Khái niệm - Là một phạm trù được quyết định với phạm trù vật chất , theo đó ý thức là sự phản ảnh thế giới vật
- Trí tuệ nhân tạo hay trí thông minh nhân tạo (AI) là trí thông chất khách quan vào bộ óc con người và có sự cải biến và sáng tạo Ý thức có mối quan hệ biện chứng với vật chất.
Ý thức là đặc tính và sản phẩm của vật chất và cũng là thuộc tính phản ánh của một dạng vật chất có tổ chức cao, đó là bộ não người Ý thức là sự phản ánh sáng tạo những gì con người đã tiếp thu trong quá trình quan hệ qua lại với thế giới khách quan Nhờ sự hỗ trợ của ý thức, chúng ta có thể suy nghĩ, học hỏi kinh nghiệm, hiểu được những vấn đề phức tạp, giải quyết các phép toán, lưu trữ thông tin, suy luận và đưa ra quyết định và giao tiếp với đồng loại minh được thể hiện bằng máy móc Là trí tuệ do người lập trình tạo nên với mục tiêu giúp máy tính có thể tự động hóa các hành vi thông minh như con người.
- Là một ngành thuộc lĩnh vực khoa học máy tính nghiên cứu về lý thuyết ,ứng dụng của trí tuệ nhân tạo
Trí tuệ nhân tạo là ngành khoa học ứng dụng việc tự động hóa của máy tính, giúp máy tính có được trí tuệ của con người như : biết suy nghĩ và lập luận giải quyết vấn đề, biết giao tiếp ngôn ngữ, tiếng nói, biết học và tự thích nghi,
3 BẢN CHẤT Đặc điểm Ý thức Trí tuệ nhân tạo
Bản chất Ý thức là sự phản ánh, cái phản ánh,còn vật chất là cái được phản Trí tuệ nhân tạo không có ánh.
- Cái được phản ánh (tức vật chất) tồn tại khách quan, bên ngoài và độc lập với cái phản ánh (tức ý thức) Ý thức là hình ảnh tinh thần của sự vật khách quan Vì vậy, không thể đồng nhất hoặc tách rời ý thức với vật chất.
Ý thức là sự phản ánh có tính chủ động, năng động, sáng tạo.
- Trong quá trình lao động để cải tạo thế giới khách quan, con người tác động vào sự vật một cách có định hướng, chọn lọc, tùy theo nhu cầu của mình (xây nhà, cày ruộng, đào mương, xây cầu…) Chính vì thế, ý thức của con người là sự phản ánh năng động, sáng tạo, có định hướng, chọn lọc về hiện thực khách quan.
- Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế Nó có thể tiên đoán, dự báo tương lai một cách tương đối chính xác, hoặc có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại Thậm chí, một số người còn có khả năng tiên tri, ngoại cảm, thấu thị…
Ý thức là quá trình phản ánh đặc biệt, là sự thống nhất của 3 mặt sau:
- Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể (con người) và đối tượng phản khả năng tự ý thức:
- Trí tuệ nhân tạo là loại trí tuệ thông minh biểu đạt các hành vi và mô phỏng cảm cảm xúc thông qua các loại máy móc.
- AI phải được lập trình bởi con người mới có khả năng suy nghĩ và hành động.
- Là loại trí tuệ máy móc tự động hóa, không có tư duy vì vậy nó không có mục đích riêng và mục đích duy nhất do con người tạo ra ban cho nó mà thôi Chúng không biết tư duy, không thể loại suy và không thể phân biệt dữ liệu tốt – xấu, vô nghĩa- có nghĩa.
- Dù trí tuệ nhân tạo không thể nhận thức và tư duy nhưng chúng có thể xâu chuỗi các sự kiện để đưa ra kết quả tổng thể, phân tích và đưa ra quyết định phù hợp.
Trí tuệ nhân tạo không có cảm xúc:
- Trí tuệ nhân tạo không có ánh (núi, sông,mưa,…) Sự trao đổi này mang tính hai chiều, có định hướng, chọn lọc các thông tin cần thiết.
VAI TRÒ CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TRONG VIỆC ĐẨY MẠNH CNH-HĐH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Khái niệm CNH-HĐH
Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động dựa trên sự phát triển của công nghiệp cơ khí.
Hiện đại hóa là quá trình ứng dụng và trang bị những thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế - xã hội.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế và quản lí kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Thực trạng CNH-HĐH ở nước ta hiện nay
Trong nhiều thập niên qua, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang là xu hướng phát triển chung của nhiều nước trên thế giới, kể cả ở Viê ̣t Nam Đối với nước ta, quá trình đổi mới, thực hiện các chủ trương, đường lối về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã góp phần quan trọng trong sự phát triển, góp phần đưa đất nước thoát khỏi nạn nghèo và lạc hậu, đồng thời nâng cao mức sống của nhân dân Đánh giá chung về thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, ta có thể khái quát được một số nét như sau:
Nhờ thực hiện nhất quán đường lối đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng khoa học - công nghệ, trong những năm qua, đất nước ta đã đạt được mô ̣t số thành tựu to lớn:
Cơ cấu các ngành công nghiệp có sự chuyển biến tích cực, tăng tỷ trọng của công nghiệp chế biến, chế tạo và giảm tỷ trọng của ngành khai khoáng, phù hợp với định hướng tái cơ cấu ngành Tỷ trọng GDP của nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng từ 14,6% bình quân giai đoạn 2011 - 2015 lên 16,2% năm 2016, 17,4% năm 2017 và 18,3% ước cho năm 2018; của nhóm ngành khai khoáng giảm từ 8,8% bình quân giai đoạn 2011 - 2015 xuống 7,6% năm 2016, 6,6% năm 2017 và 6% ước cho năm 2018.
Gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động đã có sự chuyển đổi tích cực nhằm phục vụ tốt hơn các mục tiêu CNH, HĐH Nếu như ở năm 2015, cơ cấu lao động khu vực nông , lâm nghiệp và thủy sản chiếm tới 45,73%; khu vực công nghiệp, khai khoáng, xây dựng chiếm 24,19%; khu vực dịch vụ chiếm 30,08%, thì đến năm 2020 tỷ trọng lao động trong các khu vực này lại lần lượt là: 34,78%; 32,65%; 32,57%
Sản xuất công nghiệp liên tục tăng trưởng với tốc độ khá cao, là ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các ngành kinh tế quốc dân với đóng góp xấp xỉ 30% GDP Trong giai đoạn 2006 - 2017, tổng giá trị sản xuất công nghiệp tăng liên tục (tăng bình quân 6,79%/năm) Năm 2018, trong mức tăng trưởng của toàn nền kinh tế, khu vực công nghiệp tăng 8,79%, đóng góp 2,85 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 10,2%, vượt mức chỉ tiêu kế hoạch đã được đặt ra từ đầu năm trong năm 2018 (tăng 9%) Đồng thời, công nghiê ̣p đã trở thành ngành mang lại giá trị xuất khẩu chủ lực của đất nước, góp phần đưa Việt Nam lên vị trí thứ 22 trong số các quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới vào năm 2018
Các ngành điện tử, dệt may, da - giày, chế biến thực phẩm là những ngành đã có sự phát triển vượt bậc Đồng thời, số lượng doanh nghiệp có trình độ công nghệ trung bình và trình độ công nghệ cao đang trên đà tăng Hơn hết, đã có một số doanh nghiệp có quy mô lớn và có khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và quốc tế Các doanh nghiệp có thể kể đến là Tập đoàn VinGroup, Trường Hải, Thành Công; trong lĩnh vực sản xuất chế biến sữa và thực phẩm là Vinamilk, TH; trong lĩnh vực sắt thép, kim khí là Tập đoàn Hoa Sen, Tập đoàn Hòa Phát, Công ty TNHH Hòa Bình Minh, Công ty thép Pomina, Công ty CP thép Nam Kim.
Phát triển công nghiệp đã góp phần tích cực trong giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của nhân dân Bình quân mỗi năm, ngành công nghiệp tạo thêm khoảng 300.000 việc làm mới, góp phần giảm đi tỉ lê ̣ thất nghiê ̣p, kéo theo đó là tỉ lê ̣ đói nghèo ở nhân dân cũng được phần nào giảm sút.
Bên cạnh các thành tựu trên, vẫn còn tồn tại mô ̣t số hạn chế mà cần được phải khắc phục để nước ta có thể đẩy nhanh tốc đô ̣ phát triển, đi đến hoàn thiê ̣n quá trình CNH, HĐH:
Tốc độ tăng trưởng công nghiệp có xu hướng tăng song vẫn chưa cao so với yêu cầu công nghiệp hóa Trong nhiều năm qua, tỷ trọng của công nghiệp trong GDP thay đổi không lớn Tốc độ tăng trưởng vẫn còn thấp so với tiềm năng đang có và còn thấp hơn nhiều nước trong khu vực thời kỳ đầu công nghiệp hóa Vì vâ ̣y, mục tiêu thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng rút ngắn đứng trước nhiều thách thức cần phải vượt qua.
Các ngành công nghiệp được định hướng là công nghiệp ưu tiên của ViệtNam trong thời kì Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại hóa (gồm có điện tử - công nghệ thông tin, chế biến nông - thủy sản, đóng tàu, máy nông nghiệp, môi trường - tiết kiệm năng lượng, và sản xuất ô tô/ phụ tùng ô tô) chưa thực sự đạt được mục tiêu dẫn đầu đã đề ra Điều này là do các ngành công nghiệp chưa tận dụng triệt để lợi thế về công nghệ và nguồn lực đầu tư nước ngoài để tạo tính lan toả, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển tương xứng, cũng như là chưa được đầu tư và phát triển hiệu quả.
Viê ̣c nghiên cứu khoa học, kĩ thuâ ̣t còn chưa thực sự phát triển, các sản phẩm có hàm lượng tri thức cao còn ít Năng lực khoa học và công nghệ quốc gia còn yếu; kết quả ứng dụng những công trình, bằng sáng chế phát minh khoa học còn ít và thấp so với các nước; thị trường KH&CN (khoa học và công nghệ) chậm được hình thành Việt Nam hiện nay chủ yếu chỉ có thể tham gia vào khâu gia công, lắp ráp cho các chuỗi sản xuất sản phẩm quốc tế do có nguồn nhân công rẻ và chuyên môn thấp Ngược lại, phần lớn các sản phẩm công nghiệp do Việt Nam sản xuất đều có yếu tố công nghệ thấp, ngoại trừ hàng điện tử đến từ khu vực FDI (các khu công nghiệp vốn nước ngoài và do các doanh nghiệp nước ngoài nắm giữ).
Phát triển công nghiệp gắn kết chưa chặt chẽ với các ngành kinh tế khác, đặc biệt là nông nghiệp Với thế mạnh là một nước nông nghiệp, công nghiệp Việt Nam có thể được hưởng lợi ích về chi phí đầu vào cho các ngành như chế biến công nghiệp (chế biến nông, lâm, thủy sản); ngược lại, công nghiệp cung cấp lợi thế gia tăng sản xuất cho các ngành trồng trọt, chăn nuôi nông nghiệp Việt Nam Dù có mối tương quan và quan hệ cộng sinh bền vững, tuy nhiên, các định hướng liên kết giữa công nghiệp và các ngành kinh tế khác, đặc biệt là nông nghiệp, còn thiếu chặt chẽ và gây lãng phí tài nguyên, đầu tư của Chính phủ Cụ thể, chỉ số ICOR (Chỉ số hiê ̣u quả vốn đầu tư – Trong đó chỉ số thấp tức là đầu tư có hiê ̣u quả và ngược lại ) ngày càng cao, cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực ở vào thời điểm có trình độ phát triển như nước ta.
VAI TRÒ CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TRONG VIỆC ĐẨY MẠNH CNH- HĐH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang đi vào cuộc sống một cách mạnh mẽ, thay thế nhiều công việc thủ công, tốn sức lao động Trên thế giới, các cường quốc đều xây dựng chiến lược phát triển riêng cho AI, lấy công nghệ AI làm cốt lõi cho sự tăng tốc của nền kinh tế Tại Việt Nam, Chính phủ xác định công nghệ AI là sự đột phá, mũi nhọn cần được triển khai nghiên cứu : kinh tế , giáo dục, y tế , du lịch, Nhờ thực hiện nhất quán đường lối đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng khoa học - công nghệ, trong những năm qua, đất nước ta đã đạt được thành tựu to lớn.
5 lĩnh vực tiêu biểu mà trí tuệ nhân tạo có vai trò lớn trong việc đẩy mạnh CNH-HĐH ở nước ta hiện nay :
Đối với nền kinh tế.
Đối với nền giáo dục.
2.1 Đối với nền kinh tế
Vai trò của trí tuệ nhân tạo đới với nền kinh tế
Xuất hiện từ những năm 1950, hiện nay trí tuệ nhân tạo (AI) gần như ảnh hưởng đến tất cả lĩnh vực Và đương nhiên chúng ta không thể bỏ qua ảnh hưởng của AI đối với nền kinh tế Năm 2020 là một năm đầy biến động bởi sự xuất hiện của Coronavirus Sự xuất hiện bất ngờ của đại dịch đã đẩy nền kinh tế gần như lâm vào khủng hoảng Hàng trăm nhà máy, xí nghiệp đóng cửa, hàng triệu người thất nghiệp Từng cú suy thoái va vào nền kinh tế.Tuy vậy, con người vẫn phải học cách sống chung với đại dịch Lúc này đây, chúng ta càng thấy được sự quan trọng của trí tuệ nhân tạo (AI) Làn sóng mạnh mẽ của AI đã vươn ra toàn thế giới cũng như trên đất nước Việt Nam chúng ta.
AI hữu ích nhất trong việc tạo ra sự tăng trưởng kinh tế theo cách mà động cơ hơi nước và chip máy tính đã làm được trong các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây.
Trí tuệ nhân tạo có thể thay thế con người trong sản xuất, kinh doanh Nhờ thế mà chúng ta có thể thực hiện đầy đủ các quy định của nhà nước trong công tác phòng tránh dịch bệnh mà không cần phải ra ngoài để sản xuất ,kinh doanh…
Văn minh nhân loại đang phát triển, nền kinh tế không thể thụt lùi Vì thế, ứng dụng AI vào phát triển kinh tế là một điều hết sức cần thiết.
Tại Việt Nam : o Không chỉ các tập đoàn lớn chạy đua AI, nhiều startup Việt hoặc có người Việt Nam sáng lập cũng theo đuổi lĩnh vực này Một số đã ghi dấu ở thị trường quốc tế như ELSA Speak hay Harrison-AI Dù giảm mạnh so với năm trước đó do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, số vốn đầu tư vào các startup công nghệ Việt Nam trong năm ngoái vẫn đạt hơn 451 triệu USD, (theo “Báo cáo đổi mới sáng tạo và đầu tư công nghệ Việt Nam
2020”) o Cùng với việc đầu tư phát triển công nghệ AI của các tập đoàn lớn như FPT, Viettel, VNPT, Vingroup, nhiều chuyên gia AI giỏi của Việt Nam tại nước ngoài đã quay trở về nước o Theo một dự báo: “AI có thể đóng góp 12% cho GDP của Việt Nam vào năm 2030”- vị chuyên gia của Cục Tin học hóa nói
Ưu điểm của trí tuệ nhân tạo đối với nền kinh tế
Mọi giao dịch đều tự động hóa : o Nếu lúc trước, bạn muốn mua một vật dụng cho gia đình thì bạn phải ra chợ để mua và trả tiền Nhưng giờ, chỉ cần một cú nhấp chuột bạn đã có thể “mua cả thế giới” o Việc mua và thanh toán đều được diễn ra một cách tự động Trí tuệ nhân tạo AI sẽ cho người bán biết thông tin của bạn và bạn chỉ cần đợi đồ về tay mình.
Dễ dàng tiếp cận khách hàng : o Một doanh nghiệp muốn gia tăng doanh thu thì không thể chào mời từng khách hàng Họ cần một công nghệ giúp họ tìm kiếm và tiếp cận khách hàng Công nghệ đó chính là AI Trí tuệ nhân tạo có thể giúp doanh nghiệp xác định được đối tượng khách hàng tiềm năng Sau đó tiếp cận họ và các giao dịch được diễn ra như vậy.
Nắm bắt được số liệu một cách chi tiết, cụ thể : o Nhờ có Artificial Intelligence, các doanh nghiệp không cần thống kê số liệu bằng phương pháp truyền thống là nhập từng dữ liệu vào máy tính.
Mà nó đã được tự động hóa Mọi giao dịch, doanh thu, lợi nhuận đều được thống kê rõ ràng và chi tiết.
Sản xuất nhanh chóng và đảm bảo : o Trí tuệ nhân tạo có khả năng điều khiển mọi hoạt động thay cho con người Máy móc không biết mệt mỏi, vì thế năng suất tăng nhanh và chất lượng thì tốt hơn so với phương pháp thủ công. o Có thể thấy, trí tuệ nhân tạo (AI) có rất nhiều lợi ích đối với nền kinh tế.
Từ những giao dịch chứng khoán tỷ đô cho nên những khâu sản xuất đóng hàng nhỏ nhất, Artificial Intelligence đều có thể làm được.
Nhược điểm của trí tuệ nhân tạo đối với nền kinh tế : Mọi thứ luôn tồn tại song song hai mặt, có lợi và có hại Chúng ta không thể vì những lợi ích của
AI mà quên mất mặt hại của nó.
Vấn đề bảo mật thông tin và lừa đảo: o Hiện nay tỉ lệ tội phạm công nghệ cao đang có xu hướng tăng vọt Hơn 25% tin tặc nhắm vào các ngân hàng và các tổ chức tài chính lớn Hằng năm số lượng thẻ tín dụng bị xâm phạm tăng lên 212%, tăng 129% lượng thông tin bị rò rỉ Và các phần mềm độc hại tràn lan trên thị trường lên tới 102%. o Những số liệu này đã cho thấy thất thoát hàng tỷ đô mà nền kinh tế toàn cầu đang gánh chịu Vấn đề bảo mật chính là một trong những thách thức lớn nhất của AI.
Tiêu thụ nhiều nguồn năng lượng.
Thất nghiệp và sự phân hóa giàu nghèo : o Theo xu hướng hiện nay, những ai nắm bắt nền công nghệ trí tuệ nhân tạo
AI càng sớm thì càng thu được những lợi ích khổng lồ o Trí tuệ nhân tạo sẽ loại bỏ các công việc chân tay thủ công của các ngành công nghiệp, và cả nông nghiệp Tỉ lệ người ít tri thức thất nghiệp tăng có thể dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng như: nghèo đói, bệnh tật, tệ nạn xã hội,…
Từ đó, chúng ta có thể dễ dàng nhìn ra được phân hóa giàu nghèo giữa các quốc gia hay các tầng lớp trong xã hội ngày càng rõ rệt.