1.2 Hiến pháp Việt Nam năm 1959 Quy trình lập hiến được ghi nhận tại Điều 112 Hiến pháp 1959 như sau : “Theo quy định của Hiến pháp thì Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp với điềuk
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Phạm Dư Chin Chang (Nhóm
Nguyễn Hoàng Phương Uyên K205010726
Trang 2
MỤC LỤC BÀI TẬP 1: QUY TRÌNH LẬP HIẾN
I Khái quát chung về Hiến pháp……… 01
1 Hiến pháp là gì? 01
2 Xây dựng và sửa đổi Hiến pháp……… 01
3 Quy trình xây dựng và sửa đổi Hiến pháp……… 01
II Tại sao người ta đề cao vai trò của nhân dân vào quy trình lập hiến……02
III Hiến pháp Việt Nam qua các năm 1 Phân tích Hiến pháp Việt Nam qua các năm 1.1 Hiến pháp Việt Nam năm 1946……….06
1.2 Hiến pháp Việt Nam năm 1959……….07
1.3 Hiến pháp Việt Nam năm 1980 và 1992……… 07
1.4 Hiến pháp Việt Nam năm 2013……….08
2 So sánh về quy trình lập hiến giữa Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013 2.1 Điểm giống nhau về quy trình lập hiến giữa Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013……….08
2.2 Điểm giống khác về quy trình lập hiến giữa Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013……….09
IV Quy trình lập hiến các Quốc gia Đông Nam Á 1 Phân tích 1.1 Hiến pháp Vương quốc brunây năm 2006……….13
1.2 Hiến pháp Cộng hoà Inđônêxia năm 1945………14
1.3 Hiến pháp Vương quôc Thái Lan năm 2017……….15
1.4 Hiến pháp Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào năm 2003……… 16
1.5 Hiến pháp Campuchia năm 2013……… 17
1.6 Hiến pháp Malaixia năm 1996……… 17
1.7 Hiến pháp Cộng hoà Xingapo năm 2016……… 18
1.8 Hiến pháp Liên bang Mianma năm 2008……… 18
1.9 Hiến pháp Cộng hoà Philipin năm 1987 ……….18
1.10 Hiến pháp Đôngtimo năm 2002………19
2 So sánh quy trình lập hiến các quốc gia Đông Nam Á 2.1 Điểm giống nhau quy trình lập hiến các quốc gia Đông Nam Á…… 19
2.2Điểm khác nhau quy trình lập hiến các quốc gia Đông Nam Á……….20
Trang 3BÀI TẬP 2: QUYỀN ĐƯỢC SUY ĐOÁN VÔ TỘI VÀ VỤ ÁN HỒ DUY HẢI
I Khái quát về quyền được suy đoán vô tội
1 Nội dung của quyền được suy đoán vô tội ……… 23
2 Chủ thể của quyền được suy đoán vô tội ……….24
3 Ý nghĩa của quyền được suy đoán vô tội
3.1 Ý nghĩa xã hội……….243.2 Ý nghĩa pháp lý……… 24
4 “Oan” trong Tố tụng hình sự………24
II Áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội vào Vụ án Hồ Duy Hải
1 Hồ Duy Hải
1.1 Hành vi………251.2 Phân tích……… 25
2 Các cơ quan Nhà nước
2.1 Hành vi……… 262.2 Phân tích……….27
3 Công luận
3.1 Hành vi……….293.2 Phân tích……… 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 31
Trang 4BÀI TẬP 1: QUY TRÌNH LẬP HIẾN
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HIẾN PHÁP:
1 Hiến pháp là gì?
Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất của một quốc gia, dùng để xác định thể chế chính trị, cách thức tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân
2 Xây dựng và sủa đổi Hiến pháp
Xây dựng và sủa đổi Hiến pháp là một uy trình đặc biệt được quy định trong chínhHiến pháp
Xây dựng Hiến pháp (còn được gọi là lập hiến hay “làm Hiến pháp” là việc thảo luận, soạn thảo, ban hành Hiến pháp
Sửa đổi Hiến pháp là việc điều chỉnh hoặc bổ sung thêm một số điều khoản vào Hiến pháp hiện hành
3 Quy trình xây dựng, sửa đổi hiến pháp
Do hiến pháp là đạo luật cơ bản của quốc gia có giá trị pháp lý cao nhất, nên việc xây dựng, sửa đổi hiến pháp được quy định rất chặt chẽ trong chính hiến
pháp Quy trình xây dựng, sửa đổi hiến pháp thường có các bước cơ bản sau:Bước 1: Đề xuất xây dựng, sửa đổi hiến pháp
Bước 2: Quyết định việc xây dựng, sửa đổi hiến pháp
Bước 3: Quyết định các nguyên tắc nền tảng của hiến pháp
Bước 4: Xây dựng Dự thảo Hiến pháp
Bước 5: Tham vấn nhân dân
Bước 6: Thảo luận
Bước 7: Thông qua
Bước 8: Trưng cầu ý dân về sửa đổi hiến pháp
Thứ nhất, Hiến pháp là bản khể ước xã hội của nhân dân Hiến pháp là đạo luật về
chủ quyền nhân dân Hiến pháp khẳng định nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, hay nói cách khác quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân, do nhân dân trao cho và để phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân Theo lý thuyết khế
Trang 5ước xã hội, các quyền tự nhiên của con người chỉ có thể được đảm bảo khi các cá nhân cùng nhau thiết lập một khế ước chung, trong đó quyền lực nhà nước bị giới hạn, các quyền và tự do của con người được ghi nhận và bảo vệ Với niệm hiển pháp là bản khế ước thì việc xây dựng, soạn thảo hiến pháp phải có sự tham gia của đông đảo nhân dân nhằm đảm bảo chủ quyền nhân dân Nhân dân có quyền tranh luận, trao đổi, bày tỏ điểm, đánh giá về các vấn đề hiến pháp; và hơn, những
ý kiến, quan điểm của họ phải được lắng nghe Mặc dù những điều kiện trên phụ thuộc rất nhiều vào hoàn cảnh thực tế, nhưng sự tham gia của nhân dân trong việc làm hiến pháp cho phép nâng cao tính trung thực của các đánh giá hiến pháp, từ đó
có những quy định hiến pháp phù hợp với ý chí, nguyện vọng của nhân dân quan quan quan trọng
Thứ hai, về mặt lý thuyết, việc nhân dân trực tiếp làm hiến pháp sẽ phản ánh rõ
ràng nhất chủ quyền nhân dân Thực tế, việc soạn thảo hiến pháp thường được traocho các cơ quat quan, chuyên môn như Ủy ban hiến pháp, việc thảo luận và thông qua được thực hiện ở Nghị viện/Quốc hội Việc ủy quyền này một mặt phản ánh hình thức dân chủ đại diện, mặt khác đảm bảo tính chuyên môn, tập trung trong việc soạn thảo, thông qua hiến pháp Tuy vậy, ở nhiều nước, quy trình này khá khép kín, chi là công việc của các Cơ quan nhà nước Do vậy, các cơ quan nhà nước có thể không thực thi và đảm bảo quyền và lọi ích của nhân dân Để giảm sátcác quy trình soạn thảo hiến pháp được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước, đảm bảo cho quy trinh làm hiến pháp ngày càng dân chủ, hiến pháp nhiều nước quy định nhiều hình thức nâng cao sự tham gia của nhân dân trong quá trình soạn thảo hiến pháp, trong đó rất coi trọng việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo hiến pháp Hơn nữa, việc tham vấn nhân dân cho phép các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (ủy ban hiến pháp) có thể thấu được các vấn để của người dân, tìm hiểu và tiến uhên các thông tin, ý kiến hình thành từ cơ sở, cộng đồng xã hội là người dân
Thứ ba, những hoạt động này cũng giúp tạo ra sự hiểu biết và chấp nhận của người
dân về hiến pháp – một tiêu chí đánh giá quan trọng của một hiến pháp thành công Sự tham gia này có giá trị lâu dài sau khi hiến pháp ra đời, bởi vì sự thực thi hiến pháp chỉ có giá trị khi người dân hiểu biết, chấp nhận và sử dụng nó Tiếp nữa, thực tế một số nước đã chỉ ra rằng các ủy barn sika đổi hiến pháp không thể giải quyết được nhiều vân để (do không đồng thuận/vấn đề khách quan phức tạp ) Trong trường hợp này, cần phải tổ chức tham vấn nhân dân Ví dụ như ở Uganda, khi có nhiều vấn đề không thể tìm tiếng nói chung, Hội đồng hiến pháp
đã quyết định đưa các vấn đề này ra tham vấn nhân dân và quyết định theo các ý kiến đa số nhằm giải quyết các bất đồng 1
1 Nguyễn Đăng Dung – Vũ Công Giao – Đặng Minh Tuấn – Nguyễn Minh Tuấn – Lã Khánh Tùng
(2013), ABC về Hiến pháp, NXB Thế Giới, Hà Nội
Trang 6III HIẾN PHÁP VIỆT NAM QUA CÁC NĂM
1 Phân tích Hiến pháp Việt Nam qua các năm:
1.1 Hiến pháp năm 1946:
Quy trình lập hiến được ghi nhận tại Điều 70 Hiến pháp 1946 có nội dung:
“Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây:
1 Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu
2 Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi
3 Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dânphúc quyết.”
Có thể nói quy trình lập hiến, bổ sung sửa đổi Hiến pháp trong thời kỳ này sơ sài
và không chỉnh chu như Hiến pháp 2013 Nhưng Hiến pháp 1946 đã thể hiện được vaitrò quan trọng của Quốc hội trong quy trình này, cơ quan lập pháp có quyền lực caonhất Hiến pháp 1946 ra đời trong hoàn cảnh vô cùng đặc biệt là thời đầu của chế độdân chủ, đất nước vẫn chưa được thống nhất một cách toàn diện nên công tác nàycũng bị hạn chế ít nhiều Công bố Hiến pháp sửa đổi như thế nào? Dưới hình thứcnào? Giới hạn của việc sửa đổi Hiến pháp gồm những gì? Hơn nữa, quy định của Hiếnpháp nói trên cũng không rõ ràng, minh bạch như trong Hiến pháp 2013 trong việctiến hành, cách thức thực hiện, cách thức công bố Hiến pháp trước nhân dân.Tuynhiên trong giai đoạn này tinh thần dân chủ như trong Hiến pháp 2013 khi có sự gópmặt trực tiếp của nhân dân trong một quy trình vô cùng quan trọng này Có thể nói tuychưa chỉnh chu và thật sự chưa hoàn thiện như Hiến pháp 2013 nhưng quy trình lậphiến nêu ra ở Hiến pháp 1946 chính là cơ sở đến hình thành nên một quy trình lập hiếntoàn diện của Hiến pháp 2013
1.2 Hiến pháp Việt Nam năm 1959
Quy trình lập hiến được ghi nhận tại Điều 112 Hiến pháp 1959 như sau :
“Theo quy định của Hiến pháp thì Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp với điềukiện ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.”
Mặc dù đã rút được kinh nghiệm từ Hiến pháp 1946 tuy nhiên bản Hiến pháp củathời kỳ xã hội chủ nghĩa này vẫn còn nhiều hạn chế Quy trình lập hiến trong Hiếnpháp 1959 khá đơn giản và tồn tại nhiều thiếu xót so với Hiến pháp năm 2013 Cũngnhư Hiến pháp 1946, Hiến pháp1959 ngoài việc đề cao vai trò của Quốc hội trongquy trình này, Hiến pháp không quy định một chi tiết nào về việc thực hiện quyền đó
ra sao? Ví như ai là người có quyền trình dự án sửa đổi Hiến pháp, có cần thành lập
Ủy ban sửa đổi Hiến pháp hay không? Công bố Hiến pháp sửa đổi như thế nào? Dướihình thức nào? Giới hạn của việc sửa đổi Hiến pháp gồm những gì? Hơn nữa, quyđịnh của Hiến pháp nói trên cũng không rõ ràng, minh bạch như trong Hiến pháp
2013 trong việc tiến hành , cách thức thực hiện Ai có quyền đề xuất, thay đổi, bổ
Trang 7sung Hiến pháp? Cách thức công bố? Bên cạnh đó thì vai trò của nhân dân trong quytrình lập hiến không được đề cao như trong Hiến pháp 2013.
1.3 Hiến pháp Việt Nam năm 1980 và 1992
Quy trình lập hiến của Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 đều được ghi nhận tạiĐiều 147:
“Chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp Việc sửa đổi Hiến pháp phải được
ít nhất là hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành.”
Từ đó chúng ta thấy quy định về quy trình sửa đổi hiến pháp năm 1980 và năm
1992 không khác gì so với bản Hiến pháp năm 1959 Cả ba bản Hiến pháp đều đề caovai trò của Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước ta Quốc hội cóquyền sửa đổi hiến pháp với thủ tục đa số đặc biệt - việc sửa đổi được thông qua khi ítnhất hai phần ba đại biểu tán thành bằng hình thức biểu quyết So với quy trình lậphiến trong Hiến pháp 2013 thì Hiến pháp 1980 và 1992 không hề đề cập đến quy trìnhban hành mới hiến pháp: Không quy định ai có quyên làm hiến pháp? Thủ tục làm vàsửa đổi hiến pháp? Công bố Hiến pháp sửa đổi như thế nào? Dưới hình thức nào? Giớihạn của việc sửa đổi Hiến pháp gồm những gì? Vai trò của nhân dân cũng khôngđược đề cao trong quy trình lập hiến của hai bản hiến pháp này
1.4 Hiến pháp Việt Nam năm 2013
Quy trình làm Hiến pháp, sửa đổi bổ sung Hiến pháp được ghi nhận tại Điều 120Hiến pháp 2013 như sau:
“1 Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần batổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp Quốchội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng
số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành
2 Quốc hội thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp Thành phần, số lượng thành viên,nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Quốc hội quyết định theo đềnghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội
3 Ủy ban dự thảo Hiến pháp soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến Nhân dân và trình Quốc hội
dự thảo Hiến pháp
4 Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểuquyết tán thành Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định
5 Thời hạn công bố, thời điểm có hiệu lực của Hiến pháp do Quốc hội quyết định.”
Có thể nói Hiến pháp 2013 là sự kế thừa từ Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm
1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 Đây là bản Hiến pháp có nhiều
Trang 8điểm mới cả về nội dung và kỹ thuật lập hiến, thể hiện sâu sắc, toàn diện sự đổi mới đồng bộ cả về kinh tế và chính trị.
2 So sánh về quy trình lập hiến giữa Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013
2.1 Điểm giống nhau về quy trình lập hiến giữa Hiến pháp 1946, Hiến pháp
1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013
Về điểm giống nhau thứ nhất là về thẩm quyền sửa đổi, bổ sung Hiến pháp do
Nghị viện nhân dân/Quốc hội (từ sau Hiến pháp năm 1959 thuật ngữ Nghị viện nhândân được đổi thành Quốc hội) quyết định với thủ tục bỏ phiếu đa số đặc biệt Như vậy,pháp luật quy định cho Quốc hội có quyền sửa đổi Hiến pháp với thủ tục đa số đặc biệt(2/3) cơ bản cũng là phù hợp với cái chung Hơn nữa, Quốc hội nước ta được coi là cơquan quyền lực nhà nước cao nhất thì quyền đó càng không sai Và giữa 5 bản Hiếnpháp trên là đều không quy định giới hạn đối với quyền sửa đổi Hiến pháp trong quytrình sửa đổi Hiến pháp
Thứ hai, cả 5 bản Hiến pháp này đều không có giới hạn thời gian sửa đổi Hiến
pháp Điều này hợp lý vì xã hội nào cũng tiến hoá Có khi Hiến pháp hợp tình thế này
mà đến khi tình thế biến chuyển thì không hợp thời nữa Do vậy Hiến pháp phải có thểthay đổi bất cứ lúc nào, không cần phải trải qua một thời hạn nhất định Sự thật đãchứng tỏ rằng khi nào nhân dân không công nhận một Hiến pháp nữa thì dù chưa đủbốn năm hay tám năm cũng phải tìm cách sửa đổi ngay, nếu không Hiến pháp sẽ bịnhân dân lật đổ.2
Thứ ba, cả 05 bản Hiến pháp đều không có quy trình ban hành mới Hiến pháp.
Việc ban hành Hiến pháp mới thường xảy ra khi: i) khi thành lập quốc gia mới; ii) khithay đổi chế độ chính trị; iii) khi có những thay đổi cơ bản về chế độ kinh tế, chínhsách phát triển xã hội trong đường lối, chính sách của giới cầm quyền Nước ta và rấtnhiều nước khác không có quy trình ban hành mới Hiến pháp được giải thích bởi 2 lý
đề ban hành mới Hiến pháp để thay thế Hiến pháp hiện hành ít được đặt ra
- Khi ban hành Hiến pháp, nhìn chung về mặt chủ quan, các nhà lập hiến đềumong muốn và tin tưởng bản Hiến pháp được ban hành cũng như thể chế chính trị đãsản sinh ra nó phải tồn tại lâu dài, nếu không nói là vĩnh viễn Do đó, trong các Hiếnpháp họ thường không đặt ra quy định về việc ban hành mới Hiến pháp mà chỉ có cácquy định về việc sửa đổi Hiến pháp
2 Nam Phong (1945) Hiến pháp là gì?, Hội văn hóa cứu quốc Việt Nam, Hà Nội.
Trang 9Thứ tư, việc xác định rõ được các đặc điểm của quy trình lập hiến có những ý
nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo cho việc xác lập và thực hiện quy trình này một cáchđúng đắn, qua đó đảm bảo được chất lượng và hiệu quả của hoạt động lập hiến Tuynhiên thực tế quá trình lập hiến ở nước ta qua nhiều năm cho thấy, bởi chưa xác định
rõ được các đặc điểm của quy trình lập hiến, dẫn đến không thừa nhận hoặc chưa tôntrọng đúng mức các đặc điểm khách quan của quy trình lập hiến, từ đó thậm chí cònphủ nhận tính độc lập của quy trình lập hiến.3
2.2 Điểm khác nhau về quy trình lập hiến giữa Hiến pháp 1946, Hiến pháp
1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013
Điểm khác nhau đầu tiên là về các bước của quy trình lập hiến
Hiến pháp 1946 Hiến
pháp 1959
Hiến pháp 1980
Hiến pháp 1992
và có hiệu lực pháp lý cao nhất Các chế định của Hiến pháp là cơ sở pháp lý choviệc ban hành mới, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ quy định của các ngành luật cụthể Vì vậy, việc soạn thảo, lấy ý kiến, thông qua, công bố Hiến pháp phải tuân theomột trình tự, thủ tục, chặt chẽ.4
Thứ hai là về chủ thể sáng quyền lập hiến
Hiến
pháp
1946
Hiến pháp 1959
Hiến pháp 1980
Hiến pháp 1992
Chủ tịch nước, Ủy ban thường
vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp Quốc hội quyết định việc
3 Nguyễn Quang Minh (2012) Bàn về lập hiến Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.
4 Lê Minh Tùng (2013), Quy trinh lập hiến ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học quốc Hà Nội.
Trang 10Cộng sản Việt Nam làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến
pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành
Có ý kiến cho rằng, quy định tại các Điều 122 của Hiến pháp năm 1959, Điều 147 của Hiến pháp 1980, Điều 147 của Hiến pháp năm 1992 là: “Chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp Việc sửa đổi Hiến pháp phải được ít nhất là hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành” Theo cách hiểu này, Quốc hội không những có quyền sửa đổi Hiến pháp, mà còn có quyền yêu cầu sửa đổi Hiến pháp Tuy nhiên, phân tích nội dung của điều khoản này cho thấy, điều khoản này chỉ
đề cập đến thẩm quyền sửa đổi Hiến pháp của Quốc hội, không hề đề cập đến sáng quyền lập hiến, tức là quyền yêu cầu sửa Hiến pháp5 Vì vậy, thực tế lập hiến từ Hiến pháp năm 1959 đến Hiến pháp năm 1992 cho thấy, đề nghị sửa đổi Hiến pháp đã được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau, cụ thể: đề nghị soạn thảo Hiến pháp năm
1946 do Chính phủ thực hiện6; đề nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1946 do Ban thường trực Quốc hội thực hiện7; đề nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1959 do Đảng lao động Việt Nam thực hiện8; đề nghị sửa đổi Lời nói đầu Hiến pháp năm 1980 do Hội đồng
Bộ trưởng, Ủy ban Đối ngoại Ủy ban Pháp luật của Quốc hội thực hiện9; đề nghị sửa đổi Hiến pháp năm 1992 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện.10
Quy trình lập hiến và sửa đổi Hiến pháp của các nước cho thấy thông thường Chính phủ trong các nhà nước đơn nhất như nước ta không nhất thiết phải được trao quyền đưa sáng kiến sửa đổi Hiến pháp Chỉ những nhà nước liên bang hoặc các nhà nước
có hệ thống đa Hiến pháp thì Chính phủ mới được trao quyền đưa sáng kiến sửa đổi Hiến pháp nhằm đảm bảo sự thận trọng về mặt chính trị trong việc thương lượng đi đến thống nhất giữa chính phủ và các tiểu bang trong việc sửa đổi Hiến pháp.11 Vì thếviệc từ giai đoạn Hiến pháp năm 1959 đến Hiến pháp năm 1992 của nước ta không
có quy định về chủ thể và quyền sáng quyền lâ ̣p hiến là hoàn toàn hợp lý Tuy nhiên, Hiến pháp 2013 lại quy định việc đưa ra sáng kiến sửa đổi Hiến pháp rất rộng và chính thức quy định những chủ thể có quyền sáng kiến lập hiến, thể hiện sự nghiêm
5 Vũ Hồng Anh Ủy viên Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10 (126),
tháng 7/2008.
6 Sắc lệnh số 34 ngày 20/9/1945 của Chính phủ lầm thời dân chủ cộng hòa Hiến pháp năm 1946 và sự kế
thừa, phát triển trong các Hiến pháp Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1998,tr 391.
7 Nghị quyết về vấn đề sửa đổi Hiến pháp ngày 23/01/1957 của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
8 Nghị quyết về việc thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp ngày 02/7/1976 của Quốc họi nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
9 Nghị quyết về việc sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980 ngày 28/6/1988 của Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 3.
10 Nghị quyết số 43/2001/QH10 ngày 29/6/2001 của Quốc hội về thành lập Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992.
Trang 11túc, minh bạch, công khai, tránh tuỳ tiện trong việc làm hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp
Thứ ba là về thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp
Hiến pháp
1946
Hiến pháp 1959
Hiến pháp 1980
Hiến pháp 1992
Hiến pháp 2013
Nghị viện bầu
ra một ban dự
thảo những
điều thay đổi
Không có quy định này Quốc hội thành lập Ủy ban dựthảo Hiến pháp Thành phần, số
lượng thành viên, nhiệm vụ vàquyền hạn của Ủy ban dự thảoHiến pháp do Quốc hội quyết địnhtheo đề nghị của Ủy ban thường
vụ Quốc hội
Sau khi xem xét đề nghị về việc chuẩn bị ban hành hoặc sửa đổi Hiến pháp, nếu Quốchội tán thành thì Quốc hội thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp với thành phần lànhững người đại diện các cơ quan nhà nước như Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ,các cơ quan tư pháp, các cơ quan của Đảng, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hộikhác, một số chuyên gia pháp lý có trình độ cao, có kinh nghiệm trong hoạt động xâydựng pháp luật,… Chủ tịch Ủy ban dự thảo Hiến pháp có thể là Chủ tịch nước, Chủtịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch Quốchội Có thể nói, với thành phần như vậy, Ủy ban dự thảo Hiến pháp thực sự là cơquan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc Ủy bannày có nhiệm vụ soạn thảo dự thảo Hiến pháp hoặc dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổsung một số điều của Hiến pháp và Tờ trình; nghiên cứu, tiếp thu ý kiến đóng gópcủa các vị đại biểu Quốc hội, của các ngành, các cấp, của nhân dân để chính lý dựthảo văn bản trình Quốc hội xem xét, thông qua.128
Mặc dù từ Hiến pháp 1959 đến Hiến pháp 1992 không có quy định về việcthành lập một Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp, nhưng trên thực tế các lần sửa đổi Hiếnpháp, Quốc hội đều thành lập Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp với tên gọi khác nhau.Chẳng hạn như Ủy ban dự thảo Hiến pháp (ban hành Hiến pháp năm 1946 và sửa đổiHiến pháp năm 1959 thành Hiến pháp năm 1980) hoặc Ban sửa đổi Hiến pháp (sửađổi Hiến pháo năm 1946 thành Hiến pháp năm 1959) hoặc Ủy ban dự thảo sửa đổi,
bổ sung một số điều của Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 vào năm2001) hoặc Ủy ban sửa đổi Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam(năm 1989 khi sửa đổi cơ bản, toàn diện Hiến pháp năm 1980).139
Thứ tư là về thời gian lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp
811 Nguyễn Văn Yểu (2005) Ủy viên Ban chấp hành Trung ưởng Đảng; phó Chủ tịch Quốc hội; trưởng
ban Công tác lập pháp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12(65).
912 Lê Minh Tùng (2013), Quy trinh lập hiến ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học quốc Hà Nội.
Trang 12Hiến pháp
1946 Hiến pháp 1959 Hiến pháp 1980 Hiến pháp 1992 Hiến pháp 2013
Không có Kéo dài 4 tháng Kéo dài 4
tháng
Kéo dài 2tháng
Và vấn đề về thời gian lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, PhanTrung Lý – Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội cho rằng: “Thời gian lấy ýkiến ngắn quá thì sẽ làm không kịp, còn thời gian dài quá lại thiên về hình thức Việclấy ý kiến 3 tháng là phù hợp”
Thứ năm là về việc thông qua Hiến pháp
Hiến pháp 1946 Hiến
pháp 1959
Hiến pháp 1980
Hiến pháp 1992
Hiến pháp 2013
Những điều thay đổi đã
được Nghị viện ưng
chuẩn thì phải đưa ra
toàn dân phúc quyết
Chỉ Quốc hội mới có quyềnsửa đổi Hiến pháp Việc sửađổi Hiến pháp phải được ítnhất là hai phần ba tổng số đạibiểu Quốc hội biểu quyết tánthành
Hiến pháp được thôngqua khi có ít nhất haiphần ba tổng số đại biểuQuốc hội biểu quyết tánthành Việc trưng cầu ýdân về Hiến pháp doQuốc hội quyết định
Trong Hiến pháp 1946, Hiến pháp được sửa đổi sau khi được Quốc hội thông qua với
đa số tuyệt đối còn cần phải đem ra cho nhân dân phê chuẩn Việc này sẽ dễ mắc mộtvài khuyết điểm như:
1013 Nguyễn Văn Yểu (2005) Ủy viên Ban chấp hành Trung ưởng Đảng; phó Chủ tịch Quốc hội; trưởng
ban Công tác lập pháp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12(65).
Trang 13Thứ nhất là thiếu sự thảo luận kỹ càng Trong cuộc toàn dân đấu phiếu tất nhiên
không có được sự bàn cãi, thảo luận như trong một hội nghị
Thứ hai là sự định đoạt bắt buộc phải máy móc Nhân dân chỉ có thể trả lời là có hay
không,… Trong hội nghị, trái lại, người ta có thể bằng lòng một khoản này, sửa đổimột khoản khác
Thứ ba là nguy hiểm khi dân trí thấp Phần nhiều Nhân dân không đủ sức bàn đến
Hiến pháp hoặc sẽ rất dễ bị lừa gạt.1511 Vì thế chuyện không có phúc quyết toàn dân
để thông qua Hiến pháp sửa đổi ở Hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992 là chuyện có thể chấp nhận được Tuy nhiên những khuyết điểm này là không còn phù hợp với xã hội hiện đại nữa Việc trưng cầu ý dân đối với Hiến pháp hiện nay chẳng những thể hiện sự dân chủ, lòng tin vào nhân dân mà điều quan trọng hơn là xác lập chủ quyền của nhân dân đối với quyền lực – nhân tố góp phần giữ vững sự ổn định và bền vững của chính quyền khi có sự biến động ở bên trong hay bên ngoài đất nước Nhưng Hiến pháp năm 2013 quy định “Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định” cho thấy đây là một xu hướng chung của nền lập hiến nhân loại bởi vì đây chính là phương thức thể hiện rõ nét nhất tư tưởng quyền lập hiến thuộc về Nhân dân Tuy nhiên, để thực hiện được trưng cẩu dân ý về Hiến pháp thì còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác như trình độ dân trí, tiềm lực kinh tế, tình hình an ninh của đất nước, Trong điều kiện của nước ta hiện nay thì Hiến pháp năm 2013 giao cho Quốc hội tuỳ từng trường hợp cụ thế mà quyết định trưng cầu dân ý về Hiến pháp Quy định này vừa có ý nghĩa đảm bảo quyền lập hiến thuộc về Nhân dân, phù hợp với xu hướng lập hiến chung của nhiều quốc gia trên thế giới; vừa phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế ở Việt Nam.1612
IV QUY TRÌNH LẬP HIẾN CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á
1 Phân tích:
1.1 Hiến pháp Vương quốc Brunây năm 2006:
Trong số Hiến pháp của các quốc gia ASEAN, Hiến pháp của Vương quốc Brunây
là bản Hiến pháp có thể bị sửa đổi, bổ sung mà cần đến ít sự đồng thuận nhất
“Đức Vua có thể sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ bất kỳ điều khoản nào của Hiến pháp này bao gồm cả điều khoản này bằng một tuyên bố; và đó là cách thức duy nhất để sửa dổi, bổ sung hoặc bãi bỏ Hiến pháp.” (Khoản 1 Điều 85 Hiến pháp Brunây)Như vậy, việc sửa đổi, bổ sung thậm chí bãi bỏ Hiến pháp Brunây chỉ có thể được
đề xuất và quyết định bởi một người, đó là Quốc vương Brunây
1114 Nam Phong (1945) Hiến pháp là gì, Hội văn hóa cứu quốc Việt Nam, Hà Nội.
1215 Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Viện chính sách công và pháp luật (2015) Bình
luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Nhà xuất bản Công an
nhân dân
Trang 14Cơ quan nhà nước có thể đề nghị Quốc vương sửa đổi, bổ sung Hiến pháp song đó không phải là một thủ tục pháp lý và đương nhiên là không có giá trị bắt buộc đối với Quốc vương
Các cơ quan nhà nước như Nghị viện, Chính phủ và nhân dân không có vai trò chính thức nào trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp
“Hiến pháp này phải được đưa ra trước Hội đồng Lập pháp để thảo luận Hội đồng Lập pháp có thể ra quyết định có nên sửa đổi, bổ sung gì vào dự thảo tuyên bố đó không.” (Khoản 3 Điều 85 Hiến pháp Brunây)
Nếu không có sửa đổi nào được đề xuất bởi Hội đồng Lập pháp trong 14 ngày, Quốc vương có thể tiến hành tuyên bố Hiến pháp
“Nếu các sửa đổi được đề xuất bởi Hội đồng Lập pháp trong vòng 14 Người phát biểu sẽ đệ trình một báo cáo lên Quốc vương và sẽ được Quốc vương xem xét sửa đổi” (Khoản 3,4 điều 85 Hiến pháp Brunây)
Tuy nhiên, Hội đồng Lập pháp chỉ là một cơ quan cố vấn của Quốc vương và ý kiếncủa Hội đồng này không có giá trị bắt buộc đôi với Quốc vương
Có thể nói không quá rằng, Hiến pháp của Vương quốc Brunây thực sự là công cụ của Quốc vương để điều chỉnh tổ chức và hoạt động của Nhà nước mình
1.2 Hiến pháp Cộng hòa Inđônêxia năm 1945:
- Quyền lập hiến và sửa đổi hiến pháp: Thẩm quyền sửa đổi, bổ sung Hiến pháp
Inđônêxia thuộc về MPR (Hội đồng Tư vấn nhân dân) với tỷ lệ dồng thuận tối thiểu
là 1/3 tổng số tất cả các thành viên của Hội đồng (Khoản 1 Điều 37 Hiến pháp Inđônêxia)
Hội đồng Tư vấn nhân dân của Inđônêxia là một cơ quan tập hợp các thành viên củaHội đồng dại diện nhân dân, tức cơ quan lập pháp của Inđônêxia ở Trung ương, và Hội đồng dại diện địa phương Tổng số đại biểu của Hội đồng Tư vấn nhân dân có thể lên tới hàng trăm người và tỷ lệ 1/3 tổng số thành viên cần có để đệ trình kiến nghị sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là một tỷ lệ không dễ đạt được’
Để sửa đổi các điều khoản của Hiến pháp, phiên họp của MPR phải có ít nhất 2/3 tổng số thành viên của MPR tham dự.(Khoản 3 Điều 37 Hiến pháp Inđônêxia) Quyết định sửa đổi các điều khoản của Hiến pháp yêu cầu sự nhất trí của ít nhất năm mươi phần trăm các thành viên của MPR (Khoản 4 Điều 37 Hiến pháp
Inđônêxia)
Hiến pháp Inđônêxia không có quy định về các thủ tục, trình tự cụ thể cho việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp Như vậy, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp Inđônêxia giống như cồng việc riêng của Hội đồng Tư vấn nhân dân Bởi vì, chỉ có cơ quan này mới là
Trang 15chủ thể vừa có quyền đề xuất, vừa có quyền thông qua các nội dung sửa đổi, bổ sung Hiến pháp
Tuy nhiên, có một nội dung quy định trong Hiến pháp được xem là cơ bản, sống còn đối với Nhà nước Inđônêxia mà việc sửa đổi, bổ sung không được
Những điều khoản liên quan đến là hình thức nhà nước cộng hòa đơn nhất
Inđônêxia có thể không được sửa đổi.(Khoản 5 Điều 37 Hiến pháp Inđônêxia)
1.3 Hiến pháp Vương quốc Thái Lan (2017):
- Quyền lập hiến và sửa đổi hiến pháp: Thẩm quyền quyết định sửa đổi, bổ sung Hiến
pháp Thái Lan thuộc về Quốc hội Thái Lan phôi hợp với Quốc vương.(Khoản 1 Điều 291 Hiến pháp Thái lan)
Tuy nhiên, vai trò của Quốc hội vẫn mang tính quyết định hơn
Đề nghị sửa đổi phải được đề xuất dưới hình thức Dự thảo sửa đổi Hiến pháp và Quốc hội sẽ xem xét trong ba phiên họp (Khoản 2 điều 291 Hiến pháp Thái lan)Mỗi lần đều có biểu quyết để ra quyết định
Phiên thứ nhất thảo luận về cơ sở để sửa đổi, bổ sung Hiến pháp: Quốc hội Thái Lan sẽ phải biểu quyết xem có chấp nhận về nguyên tắc đối với đề nghị sửa đổi, bổ sung Hiến pháp hay không Nếu ít nhất một nửa số phiếu của tổng sô thành viên có mặt của cả hai viện biểu quyết thông qua thì, dự thảo
đề nghị sửa dổi, bổ sung Hiến pháp sẽ được tiếp tục xem xét (Khoản 3 điều
291 Hiến pháp Thái lan)
Phiên thứ hai: các dại biểu hai viện thảo luận và xem xét từng phần của bản kiến nghị sửa đổi, bổ sung Hiến pháp (Khoản 4 Điều 291 Hiến pháp Thái lan) Trong phiên điều trần này, cũng bắt buộc phải có sự tham gia của công chúng vào quá trình thảo luận, trao đổi Khi đã trao đổi và xem xét từng phầncủa bản kiến nghị, Quốc hội Thái Lan sẽ bỏ phiếu để ra quyết định và nếu số phiếu đồng ý chiếm đa số trong số các đại biểu có mặt thì kiến nghị sẽ được đưa ra phiên điều trần thứ ba
Phiên điều trần thứ ba được tổ chức ít nhất sau 15 ngày kể từ phiên thứ hai.(Khoản 5 điều 291 Hiến pháp Thái lan)
Quốc hội Thái Lan sẽ biểu quyết công khai thông qua dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp với ít nhất hơn một nửa tổng số thành viên của cả hai viện.(Khoản 6 điều 291 Hiến pháp Thái lan)
Trong vòng 20 ngày kể từ khi được Quốc hội thông qua, dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp Thái Lan phải được Thủ tướng chuyển cho Quốc vương dể công bố NếuQuốc vương đồng ý với dự thảo, thì vị này sẽ ra quyết định công bố và Hiến pháp