Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng… nơi có những cơ sở hạ tầng thương mại tiên tiến cho việc xuất khẩu, quảng bá sản phẩm, v.v… Chế biến sản phẩm mây tre đan hiện tại được tiến hành chủ yếu
Trang 1ĐỀ ÁN KINH DOANH
Công ty TNHH Mây tre đan
I Thông tin chung về dự án
1 Khơi nguồn ý tưởng
Trong những năm gần đây, do kinh tế thế giới suy thoái, số lượng mây tre đan xuất khẩu ngày càng giảm, đặc biệt đối với các làng nghề mây tre đan truyền thống Doanh thu của các làng nghề mây tre đan truyền thống giảm trung bình 20% mỗi năm Nhiều doanh nghiệp sản xuất bị phá sản hoặc phải chuyển sang ngành nghề khác Nghề mây tre đan truyền thống có nguy cơ bị thất truyền
Đối với thị trường trong nước, các doanh nghiệp sản xuất bị các thương lái ép giá nặng nề Trung bình một sản phẩm được bán tại thị trường Hà Nội có giá cao gấp hai đến ba lần giá nhập đầu vào Tuy nhiên, các sản phẩm tinh xảo mang tính thẩm
mĩ cao không được biết đến rộng rãi trên thị trường Đây là những sản phẩm độc đáo, độ bền đẹp và phù hợp với nhu cầu trang trí của người dân thành thị Đây là một cơ hội để phát triển ngành nghề mây tre đan trong nước cũng như khôi phục lại truyền thống nghề mây tre đan của Việt Nam
2 Nội dung
Dự án được hình thành từ ý tưởng khởi nghiệp về một lĩnh vực kinh doanh cụ thể
là bán hàng Có hai hình thức bán: thứ nhất là bán trực tiếp tại cửa hàng (hình thức chính), địa điểm kinh doanh là tại nhà ở của một thành viên trong dự án, tại số 41 Tôn Thất Tùng, Đống Đa, Hà Nội Đây là nơi để trưng bày sản phẩm, đồng thời diễn ra các hoạt động kinh doanh, hợp tác, kí kết hợp đồng Thứ hai là tận dụng ưu thế của sự phát triển thương mại điện tử hiện nay, lập một website cập nhật hình ảnh các sản phẩm với mục đích quảng bá, mở rộng giới hạn kinh doanh về mặt địa
lý, khắc phục vấn đề ngôn ngữ để những khách hàng ở xa hay khách nước ngoài cóthể biết đến và đặt hàng qua mạng
Sản phẩm của dự án là mặt hàng mây tre đan tinh xảo, tập trung vào một số loại như đồ nội thất (bàn ghế, tủ đựng đồ loại nhỏ, ), đồ trang trí nội thất(đèn chùm, đèn cây, bình hoa, thảm trang trí, ) và các sản phẩm khác như giỏ đựng đồ, túi xách, hộp nữ trang, Tất cả sản phẩm trên đều được làm ra từ bàn tay khéo léo của hai vợ chồng nghệ nhân anh Hoàng Văn Hạnh và chị Nguyễn Thị Hân
Đối tượng khách hàng của dự án kinh doanh này bao gồm hai đối tượng chính, đó là: khách hàng cá nhân, đơn lẻ, mua với số lượng nhỏ, đơn chiêc; khách hàng tổ
Trang 2chức, mua với số lượng lớn để phục vụ cho mục đích chung cả nhóm người, tổ chức hay để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của mình như các quán café, nhà hàng, khách sạn, khu nghỉ dưỡng, công ty
3 Tình hình các doanh nghiệp trong ngành
Doanh nghiệp ngành hàng mây tre đan có vai trò quan trọng là những tác nhân chính trong sự phát triển của các làng nghề ngành hàng này
Tuy nhiên, hiên tại trong các số liệu thống kê chính thức của Nhà nước cũng chưa có
số liệu riêng về các doanh nghiệp trong ngành mây tre đan mà được thống kê vào nhóm các doanh nghiệp chế biến lâm sản (gỗ, tre, nứa, lá, rơm rạ…) Theo số liệu thống kê số lượng doanh nghiệp này tăng lên liên tục trong những năm gần đây Nếu như năm 2012 cả nước chỉ có 842 doanh nghiệp hoạt động trong thời gian này thì con
số này đã lên tới 2032 vào năm 2014 Một điều đáng chú ý là giá trị doanh thu thuần bình quân cũng tăng lên đáng kể từ 7 tỷ đồng năm 2012 lên 10,6 tỷ đồng năm 2015 Đối với giá trị tài sản cố định thì tăng gấp 1,5 lần: 1,9 tỷ đồng năm 2012 lên 2,5-3 tỷ đồng trong 2 năm gần đây
Số lao động thường xuyên trong các doanh nghiệp này cũng tăng gần gấp 2 lần từ hơn
92 ngàn người năm 2012 lên gần 174 ngàn người năm 2015 Tuy nhiên, nếu xét về tỉ trọng trong tổng số doanh nghiệp trong cả nước thì ngành mây tre đan còn quá nhỏ bé
so với các ngành khác như xây dựng, thương nghiệp: chiếm chưa đến 2% trong khi con số này đối với các doanh nghiệp xây dựng là gần 14%; các doanh nghiệp thương nghiệp là gần 42%, công nghiệp chế biến (trong đó có mây tre đan) chiếm hơn 21% Nếu phân theo qui mô lao động, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến mây tre đan chủ yếu có qui mô không lớn Hầu như không có doanh nghiệp nào có qui
mô 5000 người trở lên Số doanh nghiệp qui mô trên 300 lao động chỉ ở mức 1-2% Phổ biến các doanh nghiệp có qui mô dưới 200 lao động, trong đó qui mô dưới 50 lao động chiếm hơn 44% số doanh nghiệp hiện có Con số này là 20,7% đối với doanh nghiệp có qui mô từ 50-199 lao động Tuy nhiên với đặc thù sử dụng lao động nông thôn và lao động nông nhàn tại các vùng nên lực lượng lao động thời vụ làm việc trong ngành mây tre đan còn lớn hơn nhiều Xét về vốn, các doanh nghiệp nước ta cònquá khiêm tốn Phần lớn các doanh nghiệp (gần ¾ số doanh nghiệp) có số vốn dưới 5
tỉ đồng Số doanh nghiệp có vốn lơn hơn 50 tỷ đồng mới chỉ ở mức dưới 5% số doanh nghiệp hiện tại
Xét về tổng quan phát triển ngành hàng mây tre đan của Việt Nam trong những năm qua có thể khái quát ở một mô hình đặc trưng mang tính tổ chức không gian rõ nét Trước hết, đó là sự tách biệt về không gian giữa các khâu sản xuất nguyên liệu, sản xuất sản phẩm và thương mại sản phẩm
Trang 3Nguồn cung nguyên liệu như mây tre được xuất phát từ những địa bàn có rừng như miền núi phía Bắc (Hòa Bình, Sơn La…); Miền Trung (Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam…) hay Tây nguyên (Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng) Địa bàn sản xuất và chế biến các sản phẩm mây tre là nơi dồi dào về lao động, có nhiều làng nghề và nghệ nhân có tay nghề cao như Đồng bằng sông Hồng (Hà Tây, Hà Nội, Hà Nam, Thái Bình…); Đông Nam Bộ (Đồng Nai, Bình Dương) hay Duyên hải miền Trung (Quảng Nam, Đà Nẵng…) Trung tâm tiêu thụ sản phẩm lại là các thành phố lớn như Hà Nội,
TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng… nơi có những cơ sở hạ tầng thương mại tiên tiến cho việc xuất khẩu, quảng bá sản phẩm, v.v…
Chế biến sản phẩm mây tre đan hiện tại được tiến hành chủ yếu tại các trung tâm làng nghề lớn của cả nước như Hà Tây (chiếm tới ½ số làng nghề mây tre đan của cả
nước), Hà Nam, Thái Bình, Nghệ An, Quảng Nam, v.v…Tại các làng nghề thường có những doanh nghiệp vệ tinh điều phối các hoạt động gia công sản phẩm thô và hoàn thiện sản phẩm cuối cùng phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Hiện tại các doanh nghiệp trong ngành có thể sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm: từ các sản phẩm thô sơ như các vật dụng gia đình, cung cụ sản xuất (thúng, mủng, rổ rá…) cho tới những sản phẩm mỹ nghệ tinh sảo như hàng thủ công mỹ nghệ (bình hoa, tranh tre…) và thậm chí cả những ngôi nhà bằng tre Tùy thuộc và sản phẩm của từng doanh nghiệp mà có những công nghệ khác nhau Tuy nhiên, phần lớn các sản phẩm còn mang tính truyền thống cao Công nghệ chủ yếu là thủ công nhiều Chỉ có một số khâu đòi hỏi cơ giới hóa như chẻ tre, chẻ mây, sơn tĩnh điện hay sấy lưu huỳnhchống mốc, v.v…Với đặc thù là ngành sử dụng nhiều lao động thủ công nên đầu tư công nghệ và kỹ thuật tại các cơ sở chế biến rất hạn chế và cũng khác nhau phụ thuộc vào qui mô của đơn vị: qui mô hộ gia đình hay là công ty lớn Tại qui mô hộ gia đình, thiết bị phổ biến nhất là một lò sử lý chống mốc đối với sản phẩm và một số máy phunsơn Đối với các công ty có sản lượng chế biến hàng năm lớn thường đầu tư máy móc thiết bị tạo khuôn mẫu (dây chuyền phun sơn tĩnh điện, xưởng cơ khí tạo khung, v.v )
Tổ chức sản xuất các mặt hàng mây tre đan cũng khá đa dạng tuỳ theo điều kiện của từng chủ thể nhận đặt hàng gia công và có thể được phân loại như sau:
· Các chủ cơ sở, người lao động nhận đặt hàng gia công nhưng không chịu trách nhiệm về khâu cung ứng nguyên liệu: Đối với hình thức sản xuất này, các chủ thu gomsản phẩm chịu trách nhiệm cung ứng nguyên liệu cho người sản xuất, tạm ứng một phần tiền công và thu gom toàn bộ sản phẩm đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, mỹ thuật và đúng thời gian hợp đồng
Trang 4· Các chủ cơ sở, người lao động nhận đặt hàng gia công nhưng chịu trách nhiệm khai thác nguyên liệu: Đối với hình thức này, chủ DN đặt hàng gia công sẽ tạm ứng tiền cho các cơ sở, người lao động để họ tự mua nguyên, vật liệu về sản xuất các sản phẩmtheo mẫu mã qui định DN thu mua chịu trách nhiệm thu mua toàn bộ sản phẩm đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, mỹ thuật và đúng thời gian hợp đồng.
· Các chủ cơ sở, người lao động tự tổ chức sản xuất các mặt hàng mây tre đan để bán cho người thu gom sản phẩm Trong trường hợp này, người sản xuất chỉ cần có thông tin và mẫu mã mặt hàng là họ tự đầu tư mua nguyên liệu, tổ chức sản xuất và bán sản phẩm cho các cơ sở thu gom Thông thường, các sản phẩm tiêu dùng nội địa được sản xuất theo phương thức này
Như vậy người có tính quyết định trong chuỗi tổ chức ngành hàng mây tre đan là các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu Họ quyết định sản xuất cái gì (đặt mẫu mã) và bán cho ai (ký hợp đồng tiêu thụ với các đối tác nước ngoài trước khi triển khai sản xuất tại các trung tâm làng nghề) và làng người hoàn thiện sản phẩm cuối cùng
Sản xuất hàng mây tre đan theo phương thức gia công là phương thức tổ chức sản xuấtphổ biến trong các làng nghề Các doanh nghiệp/cơ sở sau khi có hợp đồng tiêu thụ sản phẩm sẽ tổ chức sản xuất ngay tại DN để đáp ứng 1 phần sản phẩm, phần lớn sản phẩm được tổ chức sản xuất theo kiểu gia công cho người lao động trong các hộ gia đình hoặc giao cho các tổ hợp tác, HTX sản xuất theo mẫu mã qui định Các hộ, các
cơ sở sản xuất, người lao động nhận gia công sản xuất hàng mây tre đan được các doanh nghiệp ứng trước một phần vốn, thông thường là 60-70% giá trị hợp đồng
Doanh nghiệp tuy không chiếm nhiều trong các làng nghề nhưng là những tổ chức sản
xuất kinh doanh lớn có vai trò như là những hạt nhân trong sự phát triển của làng nghề Sự phát triển của làng nghề với sự khôi phục các làng nghề truyền thống trong
những năm gần đã thể hiện phần nào vai trò của các doanh nghiệp này trong việc tạo lập lại ngành hàng, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho cư dân nông thôn Tuy
nhiên, trong quá trình phát triển của ngành mây tre đan vẫn còn những hạn chế nhất định so với các ngành công nghiệp khác Xét về độ tuổi các chủ doanh nghiệp phần lớn đã ở mức trên 45 tuổi Số người ở độ tuổi từ 45 đến 60 chiếm tới 53.25% số ngườiđược hỏi, thậm chí còn tới hơn 5% số chủ doanh nghiệp đã ở tuổi nghỉ hưu Đây cũng
là một đặc điểm của ngành mây tre đan, yêu cầu cao về kinh nghiệm và kỹ năng, nhất
là những nghệ nhân trong làng nghề Trong khi đó những người ở độ tuổi dưới 35 chưa tới 10%, phần nào hạn chế tính năng động và sáng tạo trong sản xuất kinh doanh.Yếu tố tuổi tác này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tính bảo thủ trong việc thiết kế mẫu mã và kỹ thuật của ngành mây tre đan trong những thập kỷ qua Khoảng 1/5 số chủ doanh nghiệp được trưởng thành từ trong thực tiễn sản xuất kinh doanh (với qui
Trang 5trình cha truyền con nối) Mới chỉ có gần 15% số chủ doanh nghiệp có kiến thức về kinh tế thương mại hay tài chính Phần lớn (tới hơn 62% số người được hỏi) trưởng thành không qua đào tạo chuyên môn chính qui Phần lớn trưởng thành qua kinh nghiệm làm việc trong ngành.
Với đặc điểm của sản phẩm cũng như nguồn cung đầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm chế biến sự phát triển của các doanh nghiệp mây tre đan gắn liền với các yếu tố mang tính không gian nhất định Chính vì vậy các doanh nghiệp lớn thường tiến hành sản xuất ở các làng nghề (tập trung ở những vùng đông dân cư xa nguồn nguyên liệu) như Hà Tây, Hà Nam, Thanh Hóa…Trong việc cung cấp đầu vào thì làng nghề có ý nghĩa hơn đối với các cơ sở gia đình (gần 61% số cơ sở gia đình sử dụng các nhà cungcấp đầu vào tại làng nghề trong khi con số này chưa đến 28% đối với các doanh
nghiệp Đa số các doanh nghiệp lại chọn các nhà cung cấp đầu vào ở khoảng cách trên
10 km so với làng nghề Điều này có thể giải thích từ nguyên nhân qui mô sản xuất cũng như điều kiện về phương tiện vận chuyển của doanh nghiệp
Sản phẩm trong các làng nghề mây tre đan được sản xuất ra với 2 công dụng chính là các sản phẩm gia dụng thường dùng trong đời sống hàng ngày (dụng cụ sản xuất, dụng cụ sinh hoạt) và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ Tuy nhiên, chúng lại rất phong phú về chủng loại, đặc biệt là các sản phẩm thủ công mỹ nghệ Chủng loại sản phẩm (thường gọi là mã hàng) được phân biệt rất chi tiết với sự khác nhau của từng đường nét hoa văn, màu sắc hay sự phối hợp các loại nguyên liệu Đặc biệt trong những năm gần đây ngành hàng mây tre đã thêm một sản phẩm thủ công mỹ nghệ sử dụng nguyênliệu từ cây lục bình (bèo tây) ở Đồng bằng sông Cửu Long và nó được xem như là mộtphát kiến mới trong điều kiện nguồn nguyên liệu mây tre trong tự nhiên đang cạn kiệt
và mở ra công ăn việc làm cho người dân trong vùng có thêm thu nhập Ngành mây tre đan cũng đang hội nhập với kinh tế quốc tế với sự xuất hiện của những mặt hàng phi truyền thống như ván sàn, bàn ghế ép, nhà lắp ghép, v.v Với những sản phẩm phitruyền thống này đã giúp cho các doanh nghiệp ngày càng phát triển và hệ thống ngành hàng ngày càng phong phú và hoàn thiện
Tác nhân có vai trò quan trọng và chiếm số đông trong chuỗi ngành hàng là các hộ chuyên sản xuất sản phẩm mây tre đan tại các làng nghề Số liệu khảo sát cho thấy họ chiếm tới ¾ số cơ sở tham gia chế biến mây tre Các cơ sở này có thể gia công cho một công ty hay doanh nghiệp kinh doanh hàng mây tre xuất khẩu tại các đô thị hay trung tâm thương mại nào đó hoặc có thể xuất khẩu trực tiếp theo các đơn hàng mà họ
ký với các nhà nhập khẩu nước ngoài Mô hình tổ hợp tác hiện nay chỉ tồn tại ở một
số nơi nhưng thực tế không phải là tổ chức sản xuất tập trung như trước kia mà chủ yếu là nơi khâu nối việc gia công của các xã viên và thực hiện các công đoạn hoàn
Trang 6thiện như đánh bóng, xử lý chống mốc, bao bì đóng gói, và tiêu thụ (trong hoặc ngoài nước).
Sơ đồ ngành hàng mây tre đan trong 2 thập kỷ gần đây có sự thay đổi nhất định Nếu như những năm 80 tác nhân chính trong ngành thủ công mỹ nghệ là các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp thì ngày nay là các hộ gia đình, các cơ sở chế biến tư nhân Số hộchuyên sản xuất các sản phẩm mây tre đan chiếm tới 72% giá trị sản lượng trong
ngành Bên cạnh đó là sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ lao động nông nhàn và thời
vụ (tới 25% giá trị sản lượng).!!
4 Quản trị rủi ro
Đầu vào
- Thành phẩm không đảm bảo chất lượng
- Giá thành đầu vào tăng đột biến
so với dự trù do nguyên nhân khách quan hoặc bị ép giá
- Đầu vào không ổn định
- Đào tạo nhân viên nhập hàng, chuyên nghiệp hóa quy trình kiểm tra,thẩm định chất lượng sản phẩm
- Thường xuyên kiểm tra chất lượng sản phẩm
- Tạo mối quan hệ hợp tác lâu dài, kí hợp đồng chặt chẽ với các nhà cung cấp đầu vào, tránh trường hợp bị ép giá
Sản phẩm
- Thiết kế không phù hợp với nhucầu và thị hiếu người tiêu dùng
- Sản phẩm bị lỗi hoặc hỏng hóc sau một thời gian ngắn sử dụng
- Tập trung phát triển Dịch vụ tư vấn bán hàng
- Nghiên cứu thị trường kĩ càng, từ đó xác định nhu cầu và thiết kế ra sản phẩm phù hợp
- Đào tạo và thuê nhân viên thiết kế chất lượng cao
- Kiểm tra sản phẩm trước khi đưa tới đại lý, showroom; nâng cao chất lượng dịch vụ bảo hành
Trang 7- Địa điểm sản xuất, kho bãi trong tương lai không đảm bảo được yêu cầu về lượng hàng hóa sản xuất
- Thường xuyên bảo trì hệ thống, sao lưu thông tin khách hàng định kì
- Nghiên cứu, cân nhắc kĩ lưỡng trướckhi đưa ra quyết định chọn địa điểm sản xuất, kho bãi; thường xuyên theo dõi, giám sát địa điểm để phát hiện điểm chưa phù hợp và kịp thời khắc phục
Quảng bá - Chi phí quảng cáo và tiếp thị vượt ngoài dự kiến Theo sát kế hoạch; đào tạo/tuyển dụngnhân viên marketing có trình độ cao
Nhân sự
- Chế độ lương thưởng không đápứng được nhu cầu của nhân viên, dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn nhân sự
- Chất lượng hoặc tinh thần làm việc của nhân viên không đáp ứng yêu cầu công việc
- Chú trọng xây dựng và củng cố quan
hệ nội bộ
- Xây dựng văn hóa tổ chức thân thiện, cởi mở nhưng đảm bảo tính kỉ luật cao
- Có chế độ thưởng phạt phù hợp (theo hiệu quả, năng suất công việc…)
- Doanh thu không ổn định, lợi nhuận không đảm bảo
- Xây dựng chiến lược kinh doanh phùhợp để tối giản chi phí
- Thực hiện quản lý tài chính theo quytrình cụ thể
- Thực hiện các chính sách giảm giá, khuyến mãi hợp lý
- Tạo lập quỹ rủi ro
Tình hình
kinh tế
- Chỉ số giá tiêu dùng, tỉ lệ lạm phát cao
- Biến động thị trường do thay đổi tỉ giá, lãi suất ngân hàng thay đổi liên tục
- Dự trù các phương án chuyển đổi cơ cấu sản phẩm kinh doanh, cắt giảm chi phí sản xuất và cơ cấu nhân sự
Trang 8III Định vị thương hiệu:
1 Giới thiêu về doanh nghiệp·
Thương hiệu: MÂY TRE ĐAN KIKO
· Slogan: Đẹp, bền, tinh xảo
· Logo: Logo có hình ảnh của hai cây tre được cách điệu tạo hình chữ H
là viết tắt của tên công ty TNHH
· Màu sắc: Chúng tôi sẽ sử dụng chủ yếu hai màu vàng và trắng trong logo, bao bì sản phẩm, showroom… của mình Màu vàng thể hiện tính chất sản phẩm chúng tôi, tạo cảm giác thân thiện, ấm cúng, sự sung t Màu trắng là biểu thị cho sự thuần khiết, thể hiện sự cam kết đảm bảo chất lượng, uy tín trong việc cung cấp sản phẩm xanh vì sự tiện lợi của khách hàng và đặt lợi ích của khách hàng lên trên hết
Chúng tôi sẽ tiến hành một chiến dịch định vị thương hiệu đồng bộ: sử dụng tên, slogan, logo, màu sắc thống nhất trong tất cả các bao bì sản phẩm, hàng tặng kèm,các chiến dịch truyền thông online, offline…
· Đăng ký và bảo hộ thương hiệu:
Chúng tôi sẽ tiến hành đăng ký bảo hộ thương hiệu tại cơ quan chức năng để tránh hiện tương sao chép nhãn mác, ý tưởng, thiết kế…
Tăng cường khác biệt hóa và quảng bá sản phẩm thật ấn tượng để tránh sao chép: phát triển mạnh mảng nghiên cứu thiết kế, tiến tới cá nhân hóa tối đa sản phẩm theo nhu cầu, sở thích của khách hàng; ngày phát triển và hoàn thiện các dịch vụ tư
Trang 9vấn, chăm sóc khách hàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng và định vị, tạo chỗ đứng cho sản phẩm trong tâm trí khách hàng.
Ngoài ra chúng tôi sẽ tích cực phát hiện và đề nghị cơ quan chức năng xử lý nghiêm việc làm giả, làm nhái sản phẩm, sao chép thương hiệu MÂY TRE ĐAN KIKO
Là doanh nghiệp quy mô nhỏ, công ty TNHH KIKO hướng tới một mô hình kinh doanh quy mô nhỏ, chi phí thấp Do trên thị trường tồn tại rất nhiều đối thủ cạnh tranhgián tiếp ( sản phẩm nhựa, đèn neon, đèn led …), công ty TNHH KIKO cần có kế hoạch kinh doanh phù hợp để hạn chế đối đầu với những đối thủ có quy mô phân phốilớn, đồng thời tạo lợi thế cạnh tranh với những đối thủ quy mô vừa và nhỏ để có thể đứng vững trên thị trường
Đánh giá địa điểm:
· Địa điểm 26 Hai Bà Trưng là trụ sở, đồng thời là kho bãi của công ty Địa điểm này nằm ở khu chợ Mơ; gần các khu đông dân cư như khu vực hồ Hoàn; gần các trung tâm mua sắm như chợ Đồng Xuân và gần các chợ Hàng Da, chợ Hôm,… Vì thế, đây là địa điểm có rất nhiều lượt người đi qua mỗi ngày, thuận tiện cho việc xuất nhập và vận chuyển hàng hóa, phân phối sản phẩm tới người tiêu dùng
· Địa điểm thích hợp với đối tượng khách hàng mục tiêu của nhóm, Do qua nghiên cứu và khảo sát, những đối tượng này thường nằm ở trung tâm Hà Nội,
do họ có thu nhập cao hoặc là khách du lịch
2 Các yếu tố đầu vào
Để tối giản hóa chi phí, hạn chế rào cản và tăng hiệu quả kinh doanh, Công ty TNHH KIKO sử dụng linh hoạt các nguồn đầu vào khác nhau
- Từ xưởng mây tre đan: bằng mối quan hệ đã có từ trước đấy, công ty liên hệ chặt chẽvới các nghệ nhân bằng hợp đồng pháp lý, trong đó công ty được toàn quyền sử dụng các mẫu thiết kế, sản phẩm, ý tưởng của anh Đồng thời đảm bảo cam kết mua sản phẩm của xưởng trong dài hạn nếu như nhân được phản hồi tích cực từ khách hàng
Trang 10- Tại các xưởng gia công khác: Để duy trì khả năng cung ứng hàng với số lượng lớn trong giai đoạn sau, công ty kí kết với các cơ sở sản xuất tại làng Phú Vinh, huyện Chương Mỹ Do có sự hợp tác với các nghệ nhân khác trong làng, mẫu mã sản phẩm
sẽ được cập nhật theo thời gian
- Đặt hàng theo yêu cầu; Công ty sẽ thực hiện định kì nghiên cứu thị trường, từ đó có cái nhìn chính xác về xu hướng lựa chọn sản phẩm Sau cùng Công ty sẽ làm việc cùng các nghệ nhân để có sản phẩm phù hợp với xu thế
b Thiết kế
- Công ty sẽ thực hiện định kì nghiên cứu thị trường, từ đó có cái nhìn chính xác về xuhướng lựa chọn sản phẩm
- Công ty sẽ thuê đội ngũ thiết kế chuyên nghiệp, tay nghề cao để tạo ra các sản phẩm
ấn tượng, tinh xảo nhất, đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng Đồng thời công ty tổ chứcliên hệ chặt chẽ giữa nhà thiết kế và nghệ nhân để hoàn thiện quy trình, tạo ra sản phẩm phù hợp nhất với nhu cầu
c Đóng gói và vận chuyển tới nơi bán
- Công ty thiết kế linh hoạt kế hoạch vận chuyển, kí hợp đồng với đối tác vận tải chuyên nghiệp uy tín để giữ được 100% chất lượng sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi bán
- Các sản phẩm đều được đóng gói cẩn thận với bao bì được thiết kế riêng nhằm duy trì chất lượng sản phẩm và nâng cao khả năng nhân diện thương hiệu của khách hàng
d Trưng bày
- Đây là khâu cuối cùng của quá trình phân phối Showroom được thiết kế theo chủ đềriêng, tạo ấn tượng cho khách hàng ngay từ cái nhìn đầu tiên khi bước vào showroom Đội ngũ nhân viên ăn mặc lịch sự, thân thiện với kĩ năng bán hàng chuyên nghiệp sẽ giúp cho khách hàng chọn ra được sản phẩm phù hợp nhất với nhu cầu của mình
Trang 112 Phân tích - đánh giá thị trường
2.1 Phân tích môi trường vĩ mô
• Kinh tế: Nền kinh tế nói chung đang đứng trước rất nhiều khó khăn: tỉ lệ lạm phát cao vật giá leo thang chóng mặt, thu nhập của người dân không tăng kịp tốc độ tăng giá Chi tiêu tiết kiệm trở thành xu thế tiêu dùng phổ biến, từ sinh hoạt phí
thường ngày cho đến những nhu cầu khác như du lịch, mua sắm,
• Xã hội: Xã hội ngày càng hiện đại, nhận thức của người tiêu dùng được nâng cao, xu hướng tiêu dùng thông minh ngày càng rõ nét hơn Có một thực tế không thể phủ nhận là những sản phẩm thủ công mĩ nghệ truyền thống đang mất dần chỗ đứng trên thị trường Bên cạnh đó, do những biến đổi về khí hậu gây ra do hoạt động sản xuất của con người, việc sản xuất bền vững ngày càng được đề cao Các doanh nghiệpnhận thức được điều này đang dần chuyển hướng sang sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường, đảm bảo sức khỏe người tiêu dung
• Chính trị: Trong bối cảnh kinh tế, xã hội như trên, nhà nước đã đề ra rất nhiều nhóm giải pháp, chính sách khuyến khích phát triển sản xuất và tiêu dùng bền vững với các nhóm sản phẩm xanh, thân thiện với môi trường, an toàn với con người:
o Nhà nước đề ra nhiều nhóm giải pháp, chính sách khuyến khích phát triển sản xuất hàng thủ công mĩ nghệ: “Chiến lược Xuất khẩu ngành thủ công mỹ nghệ”, trong khuôn khổ dự án do Cục Xúc tiến Thương mại và Trung tâm thương mại quốc tế (ITC) thực hiện
Trang 12o Giảm mức mức thuế suất đối với hàng hoá, nguyên liệu sản xuất mây tre đan.
o Ở Việt Nam đã có một số chính sách đầu tư và hỗ trợ tài chính đối với các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm thủ công mĩ nghệ
• Công nghệ: Ứng dụng công nghệ sản xuất xanh trong lĩnh vực sản xuất, cụ thể
là trong quy trình gia công, sơn mài các sản phẩm mây tre đan được coi là giải pháp đột phá phát triển toàn diện theo hướng hiện đại Tuy nhiên, việc đầu tư nghiên cứu ứng dụng quy trình sản xuất xanh vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất hàng thủ công mĩ nghệ trong giai đoạn hiện nay, do giá thành đầu tư vào máy móc, công nghệ khá cao Các kết quả nghiên cứu đã tạo ra hoặc tiếp nhận và làm chủ được một số công nghệ sản xuất xanh hiện đại đưa vào quy trình sản xuất, không độc hại cho sức khỏe con người và cho môi trường, góp phần vào sự phát triển bền vững
2.2 Phân tích cầu thị trường
• 71% tin tưởng vào hàng VN chất lượng cao Hàng Việt Nam chất lượng cao được ưa chuộng vì chất lượng chấp nhận được và giá cả phải chăng
• Coi trọng ngưồn gốc rõ ràng và nhãn hiệu uy tín
Trang 13• 80% xem xét mua ngay khi nghe tư vấn từ chuyên gia Khi nhận được thông tin sản phẩm chất lượng từ chuyên gia NTD đều tin tưởng về chất lượng sản phẩm, họ sẵn cân nhắc hoặc mua ngay.
• 80% người dân truy cập internet hàng ngày ở thành phố lớn, truy cập số phát triển Cuộc sống internet ngày càng phong phú, việc mua bán online đã trở thành một thói quen không thể thiếu của nhiều người
• Với 40% kinh doanh riêng và 90% quyết định chính chi tiêu gia đình, quyền lựctrong việc quyết định mua sắm của người phụ nữ được nâng cao
• Dần chuyển đổi sang tiêu dùng xanh, 35% sẽ tạm ngưng ngay lập tức khi sản phẩm ảnh hưởng môi trường Xu hướng này thể hiện ngay trong việc các hoạt động xãhội vì môi trường ngày càng được nhiều nhận thức và tham gia Một công ty tích cực tham gia các hoạt động xã hội và môi trường sẽ được người tiêu dùng chú ý và được cân nhắc nhiều hơn khi họ quyết định mua sản phẩm
• Mức sẵn lòng chi trả cho sản phẩm: Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy chiếm tỉ trọng rất lớn trong mức tiền mà khách hàng mục tiêu sẵn sàng chi trả cho sản phẩm của mình là mức 3.000.000 – 4.000.000
2.2.3 Đối tác cầu
Trang 14Với đối tượng khách hàng mục tiêu như trên, chúng tôi xác định được 1 số đối tác cầu tiềm năng như:
• Những cửa hàng đại lí bán lẻ: Khi sản phẩm và thương hiệu của công ty đã có chỗ đứng trên thị trường và nhu cầu vượt quá khả năng cung cấp của những kênh phânphối của riêng doanh nghiệp, chúng tôi sẽ mở rộng tìm kiếm một số đại lí bán lẻ có địa điểm thuận lợi và phù hợp với công ty
• Siêu thị, cửa hàng tiện lợi: Các siêu thị, cửa hàng tiện lợi mà chúng tôi hướng đến cũng mang những đặc điểm tương tự như các cửa hàng đại lí Ngoài ra những nơi này cần có uy tín, có sức hút và chất lượng phục vụ đã được đảm bảo
2.3 Phân tích cung thị trường
2.3.1 Đánh giá nguồn cung bản thân
Trong từng giai đoạn hình thành và phát triển, công ty có những chiến lược sản xuất và cung cấp phù hợp khác nhau Từ việc nghiên cứu và đánh giá nhu cầu của khách hàng qua từng thời kì, tốc độ tăng trưởng chung của ngành và của riêng doanh nghiệp, chúng tôi cũng đưa ra kế hoạch cụ thể về lượng sản phẩm cung cấp tương ứng Thông tin cụ thể về lượng cung sản phẩm của công ty sẽ được trình bày cụ thể trong phần Tài chính của đề án chúng tôi
- Giá thành tương đối rẻ
- Bước đầu đã được người tiêu dùng biết
đến
- Chất lượng không cao, mẫu mã ít
- Giá thành chưa tương xứng với chất lượng
- Sử dụng công nghệ sản xuất gây hại cho sức khỏe cho môi trường
Trang 15Không trực tiếp:Sản phẩm thủ công mĩ nghệ khác như giấy thủ công, đồ sơn mài, lụa…
- Mẫu mã đa dạng
- Giá thành tương đối hợp lý
- Quen thuộc với người tiêu dùng, dễ
IV Marketing
1 Mục tiêu Marketing:
Trang 16Tiêu chí Năm thứ 1 Năm thứ 2 Từ năm thứ 3
Địa bàn thành phố HàNội
Thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận
Nơi tiêu thụ
Phân phối qua kênh đặt hàng qua mạng vàtại showroom của công ty
Mở rộng ra các cửa hành phân phối bán buôn, bán lẻ chuyên
về đồ nội thất
Mở rộng ra các siêu thị và các chuỗi cửa hàng tiện lợi
Nhận thức của khách hàng
- Khách hàng nhận thức được sản phẩm của doanh nghiệp là sản phẩm có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu của họ, thân thiện với môi trường
Mục tiêu Marketing sản phẩm của chúng tôi là khả thi vì các mục tiêu trên tuân theo tiêu chíS.M.A.R.T:
· Specific (Cụ thể): Chúng tôi đã được định mức một cách chi tiết, có các con số cụ thể đối với các chỉ tiêu về doanh số, doanh thu, lợi nhuận, chỉ tiêu phạm vi phân phối và nơi tiêu thụ đã được xác định rõ đối với mỗi giai đoạn
· Measurable (Có thể đo lường): Các mục tiêu marketing mà chúng tôi đặt ra có thể đo lường và đánh giá cụ thể dựa trên các báo cáo kết quả kinh doanh thực tế hay các chương trình khảo sát, điều tra thực tế
· Achievable (Có thể đạt được): Các mục tiêu đặt ra là dựa trên cơ sở phù hợp với nguồn lực có thể huy động được và năng lực của các nguồn lực đó Mục tiêu cũng không quá thấp để tạo động lực cho việc phát triển hết tiềm năng
Trang 17· Rerevant (Quan trọng, xác đáng): Đối với một công ty kinh doanh sản phẩm tiêu dùng, các mục tiêu tăng trưởng doanh thu, mở rộng kênh phân phối, tạo dựng lòng tin ở khách hàng là hoàn toàn hợp lý, xác đáng.
· Time bound (Giới hạn thời gian): Các mục tiêu Marketing trên đã đượcphân chia theo các mốc thời gian (cách nhau một năm), giúp chúng tôi dễdàng hơn trong việc lập kế hoạch, triển khai, giám sát thực hiện kế hoạch
và đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch
1 Phối thức Marketing hỗn hợp (4Ps):
1.1 Product:
Nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng chúng tôi sẽ cung cấp trọn bộ những sản phẩm và dịch vụ phục vụ khách hàng một cách chu đáo nhất 03 dòng sản phẩm chính sẽ được cung cấp là: Đồ nội thất (bàn ghế, tủ đựng đồ loại nhỏ…), Đồ trang trí nội thất (đèn chùm, đèn cây, thảm trang trí…) và Các loại sản phẩm khác (giỏđựng đồ, túi sách, hộp nữ trang ) Đi kèm với các bộ sản phẩm này là những dịch vụ
có tính thực tiễn cao và dài hạn như dịch vụ vận chuyển tận nhà, dịch vụ bảo hành trọn đời cho từng loại sản phẩm…
1.2 Price
Thông qua những thông tin mà chúng tôi đã nghiên cứu và phân tích được, để giúp sản phẩm có thể thâm nhập và cạnh tranh được với các sản phẩm khác trên thị trường, chúng tôi áp dụng chính sách giá phân phối như sau:
· Trong giai đoạn thâm nhập thị trường: Trong giai đoạn đầu, để có thể thâm nhập và chiếm lĩnh được thị trường, chúng tôi sẽ xác định mức giá sản phẩm thấp hơn một chút so với mức giá của các đối thủ cạnh tranh
· Trong giai đoạn mở rộng thị trường: Nhận thấy thị trường có tiềm năng lớn và có cơ hội để mở rộng, chúng tôi sẽ áp dụng chính sách giảm giá hấp dẫn đi kèm với các hình thức khuyến mãi đa dạng để tăng lượng tiêu thụ với nhóm khách hàng quen thuộc và thu hút nhóm khách hàng mới Chúng tôi sẽ cân nhắc nâng giá trong giai đoạn này sau khi cân nhắccác yếu tố cạnh tranh và chất lượng sản phẩm của để duy trì được vị thế
và tốc độ tăng trưởng một cách bền vững
· Trong giai đoạn bảo vệ và chiếm lĩnh thị trường: Sau khi đã tăng mức giá các sản phẩm quen thuộc lên tương đồng so với mức giá của các đối thủ cạnh tranh và đã tạo được thương hiệu trong cộng đồng, chúng tôi sẽ