Không được ghi âm, ghi hình, ghi biên bản hòa giải, đối thoại, trừ trường hợp lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại theo quy định tại Điều 32 của Luật này và ghi chép của Hòa
Trang 1giải năm 2018 (UNCITRAL Model Law on International Commercial Mediation and International Settlement Agreements Resulting from Mediation, 2018) sau đây gọi tắt là Luật Hòa giải mẫu của UNCITRAL và Công ước của Liên Hiệp Quốc về Các thỏa thuận giải quyết quốc tế phát sinh từ Hòa giải (United Nations Convention on International Settlement Agreements Resulting from Mediation) thường được gọi là Công ước Hòa giải Singapore Công ước này được kỳ vọng có ý nghĩa pháp lý quan trọng đối với Hòa giải thương mại quốc tế tương tự như Công ước New York năm 1958 về việc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài mà Việt nam cũng là một thành viên
1 Hòa giải viên Nguyễn Mạnh Dũng là Thạc sỹ Luật (LL.M) chuyên ngành Giải quyết tranh chấp quốc tế của Trường Luật Queen Mary thu ộc Đại học Tổng hợp Luân đôn (Anh), có trên 25 năm kinh nghiệm luật sư tranh tụng tai Tòa án các cấp về các tranh chấp kinh doanh, thương mại, hàng hải và đầu tư quốc tế Ông nguyên là thành viên Tổ biên tập Ban soạn thảo Nghị định 22/CP của Chính ph ủ về Hòa giải thương mại, Phó giám đốc Trung tâm Hòa giải Việt nam (VMC) và được công nhận là hòa giải viên quốc
tế tại Trung tâm hòa giải liên kết giữa Trung quốc lục địa và Hồng Kong (MHJMC), Trung tâm hòa giải quốc tế Nhật bản (JIMC Kyoto) Hòa gi ải viên Nguyễn Mạnh Dũng đã cùng các chuyên gia hòa giải quốc tế của JAMS (Mỹ) tổ chức các khóa đào tạo về
kỹ năng hòa giải cho Tòa án tối cao năm 2018 dưới sự tài trợ của Công ty tài chính quốc tế IFC thuộc Ngân hàng thế giới Chi tiết xin liên hệ: http://www.adr.com.vn/vi/
2 https://uncitral.un.org/en/working_groups/2/arbitration
3 Xem thêm Công văn số 281/BNG-LPQT của Bộ Ngoại giao ngày 18/01/2019 đính kèm để biết thêm chi tiết
Trang 2Về cơ bản Dự Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án đã bao hàm một số các nguyên tắc cơ bản này Phần trình bày dưới đây nêu bật lên một số sửa đổi, bổ sung cần thiết để làm rõ hơn các nguyên tắc đó như sau:
1.1 Nguyên t ắc quyền tự do lựa chọn Hòa giải viên của các bên tranh chấp
Nguyên tắc này được thể hiện cụ thể tại điều 6 của Luật Hòa giải mẫu của UNCITRAL4 và đã được thể hiện phần nào tại điều 21, khoản 1, điểm c của Dự luật:
Điều 21 Thay đổi Hòa giải viên, Đối thoại viên
1 Hòa gi ải viên, Đối thoại viên bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
c) Các bên tham gia hòa giải, đối thoại thỏa thuận lựa chọn Hòa giải viên, Đối thoại viên khác hoặc
t ừ chối Hòa giải viên, Đối thoại viên đã được phân công;
Tuy nhiên cần đưa quyền tự do thỏa thuận lựa chọn hòa giải viên như là một quyền cơ bản của các bên tham gia hòa giải, đối thoại Để thực hiện được quyền này thì các Trung tâm hòa giải, đối thoại
phải công khai danh sách và lý lịch trích ngang của hòa giải viên, đối thoại viên tại trụ sở của Trung tâm hòa giải, đối thoại hoặc trụ sở của Tòa án nơi chưa có điều kiện thành lập Trung tâm hòa giải, đối thoại Việc cho phép các bên được lựa chọn hòa giải viên có ý nghĩa quan trọng ở
chỗ thông thường các bên sẽ lắng nghe và tuân theo những hướng dẫn của người mà minh đã tin tưởng, lựa chon Việc này cũng giúp phân loại được năng lực của các hòa giải viên khác nhau thể
hiện ở độ tín nhiệm họ của các bên tranh chấp Trong trường hợp không có thỏa thuận về việc lựa chọn hòa giải viên, đối thoại viên (thường là đa số) thì Trung tâm hòa giải, đối thoại sẽ phân công
4 Article 6 Number and appointment of mediators
2 The parties shall endeavour to reach agreement on a mediator or mediators, unless a different procedure for their appointment has been agreed upon
3 Parties may seek the assistance of an institution or person in connection with the appointment of mediators In particular: (a) A party may request such an institution or person to recommend suitable persons to act as mediator; or
(b) The parties may agree that the appointment of one or more mediators be made directly by such an institution or person
Trang 3hòa giải viên, đối thoại viên phù hợp với từng vụ việc cụ thể và nên có những hướng dẫn cụ thể về
việc phân công này
Điều 7 Quyền và nghĩa vụ của các
bên tham gia hòa gi ải, đối thoại
1 Các bên tham gia hòa giải, đối thoại
có quyền sau đây:
a) Đồng ý hoặc từ chối tham gia hòa
giải, đối thoại; yêu cầu tạm dừng hoặc chấm
dứt hòa giải, đối thoại;
b) Yêu cầu Hòa giải viên, Đối thoại
viên giữ bí mật những thông tin do mình cung
cấp;
c) Bày tỏ ý chí, thỏa thuận về nội dung
hòa giải, đối thoại;
d) Yêu cầu Tòa án công nhận kết quả
hòa giải thành, đối thoại thành;
đ) Yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện
các nội dung đã hòa giải thành, đối thoại thành
Điều 7 Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hòa gi ải, đối thoại
1 Các bên tham gia hòa giải, đối thoại
có quyền sau đây:
a) Đồng ý hoặc từ chối tham gia hòa giải, đối thoại; yêu cầu tạm dừng hoặc chấm
dứt hòa giải, đối thoại;
a’) T ự do thỏa thuận lựa chọn hòa giải viên, đối thoại viên Trong trường hợp các bên không th ỏa thuận được việc lựa chọn hòa gi ải viên, đối thoại viên thì Trung tâm hòa gi ải, đối thoại sẽ phân công hòa giải viên, đối thoại viên phù hợp
b) Yêu cầu Hòa giải viên, Đối thoại viên giữ bí mật những thông tin do mình cung
Trang 4về việc tiết lộ thông tin5, điều 10 về tính bảo mật 6 và điều 11 về giá trị chứng cứ của những thông tin thu được trong quá trình hòa giải ở các trình tự tố tụng khác7
5 Article 9 Disclosure of information
When the mediator receives information concerning the dispute from a party, the mediator may disclose the substance of that information to any other party to the mediation However, when a party gives any information to the mediator, subject to a specific condition that it be kept confidential, that information shall not be disclosed to any other party to the mediation
6 Article 10 Confidentiality
Unless otherwise agreed by the parties, all information relating to the mediation proceedings shall be kept confidential, except where disclosure is required under the law or for the purposes of implementation or enforcement of a settlement agreement
7 Article 11 Admissibility of evidence in other proceedings
1 A party to the mediation proceedings, the mediator and any third person, including those involved in the administration of the mediation proceedings, shall not in arbitral, judicial or similar proceedings rely on, introduce as evidence or give testimony or evidence regarding any of the following:
(a) An invitation by a party to engage in mediation proceedings or the fact that a party was willing to participate in mediation proceedings;
(b) Views expressed or suggestions made by a party in the mediation in respect of a possible settlement of the dispute;
(c) Statements or admissions made by a party in the course of the mediation proceedings;
(d) Proposals made by the mediator;
(e) The fact that a party had indicated its willingness to accept a proposal for settlement made by the mediator;
(f) A document prepared solely for purposes of the mediation proceedings
2 Paragraph 1 of this article applies irrespective of the form of the informati on or evidence referred to therein
3 The disclosure of the information referred to in paragraph 1 of this article shall not be ordered by an arbitral tribunal, court or other competent governmental authority and, if such information is offered as evidence in contravention of paragraph 1 of this article, that evidence shall be treated as inadmissible Nevertheless, such information may be disclosed or admitted in evidence to the extent required under the law or for the purposes of implementation or enforcement of a settlement agreement
4 The provisions of paragraphs 1, 2 and 3 of this article apply whether or not the arbitral, judicial or similar proceedings relate
to the dispute that is or was the subject matter of the mediation proceedings
5 Subject to the limitations of paragraph 1 of this article, evidence that is otherwise admissible in arbitral or judicial or similar proceedings does not become inadmissible as a consequence of having been used in a mediation
Trang 5Vấn đề này đã được quan tâm thích đáng và quy định tại điều 4 của Dự luật Tuy nhiên tác giả đồng ý với khuyến nghị số 11 của Thẩm phán Gordon J Low là điều khoản này vẫn cần được sửa đổi, bổ sung chặt chẽ và đầy đủ hơn nữa như sau:
Điều 4 Bảo mật thông tin
1 Cơ quan, tổ chức, cá nhân không
được tiết lộ thông tin mà mình biết được trong
quá trình hòa giải, đối thoại, trừ khi có sự đồng
ý trước của bên đã cung cấp thông tin
2 Không được ghi âm, ghi hình, ghi biên bản
hòa giải, đối thoại, trừ trường hợp lập biên bản
ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại theo quy
định tại Điều 32 của Luật này và ghi chép của
Hòa giải viên, Đối thoại viên phục vụ cho việc
tiến hành hòa giải, đối thoại
3 Cơ quan, tổ chức, cá nhân không
được sử dụng lời trình bày của các bên trong
quá trình hòa giải, đối thoại làm chứng cứ
chống lại họ trong quá trình giải quyết vụ việc
theo quy định của pháp luật, trừ những trường
hợp sau đây:
a) Bên trình bày đồng ý sử dụng lời
trình bày của mình trong quá trình hòa giải, đối
thoại làm chứng cứ;
b) Theo quy định của luật
4 Cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm các
quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều
này thì bị xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều
23 của Luật này và quy định chi tiết của Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao
Điều 7 Quyền và nghĩa vụ của các bên
Điều 4 Bảo mật thông tin
1 Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được tiết lộ thông tin mà mình biết được trong quá trình hòa giải, đối thoại, trừ khi có sự đồng
ý trước của bên đã cung cấp thông tin hoặc theo yêu c ầu của Luật để thực hiện các thủ
t ục về việc công nhận và thi hành thỏa thuận hòa giải, đối thoại
2 Không được ghi âm, ghi hình, ghi biên bản hòa giải, đối thoại, trừ trường hợp lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại theo quy định tại Điều 32 của Luật này và ghi chép của Hòa giải viên, Đối thoại viên phục vụ cho việc tiến hành hòa giải, đối thoại
3 Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được sử dụng lời trình bày của các bên trong quá trình hòa giải, đối thoại làm chứng cứ chống lại họ trong quá trình giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật, trừ những trường
hợp sau đây:
a) Bên trình bày đồng ý sử dụng lời trình bày của mình trong quá trình hòa giải, đối thoại làm chứng cứ;
b) Theo quy định của luật
4 Cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều này thì bị xử lý theo quy định tại khoản 2 Điều
23 của Luật này và quy định chi tiết của Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao
Điều 7 Quyền và nghĩa vụ của các bên tham
Trang 6tham gia hòa gi ải, đối thoại
2 Các bên tham gia hòa giải, đối thoại
có nghĩa vụ sau đây:
a) Tham gia hòa giải, đối thoại với tinh
thần thiện chí, hợp tác để thúc đẩy quá trình
hòa giải, đối thoại đạt kết quả tích cực; trình
bày chính xác tình tiết, nội dung của vụ việc và
cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến vụ
việc theo yêu cầu của Hòa giải viên, Đối thoại
viên;
b) Chịu trách nhiệm về tính xác thực
của các tài liệu, chứng cứ cung cấp trong quá
trình hòa giải, đối thoại, khi yêu cầu Tòa án
công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại
thành Trường hợp cung cấp tài liệu, chứng cứ
không đúng sự thật thì thỏa thuận hòa giải
thành, đối thoại thành đương nhiên vô hiệu;
nếu gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật;
c) Có mặt hoặc ủy quyền cho người
khác tham gia phiên hòa giải, đối thoại theo giấy
báo (trừ trường hợp hòa giải quan hệ hôn nhân
trong vụ việc ly hôn);
d) Tôn trọng Hòa giải viên, Đối thoại
viên và các bên có liên quan;
đ) Chấp hành quy chế hòa giải, đối
thoại tại Tòa án;
e) Thực hiện các nội dung đã hòa giải
thành, đối thoại thành
3 Các bên tham gia hòa giải, đối thoại có
các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của
Luật này
gia hòa gi ải, đối thoại
2 Các bên tham gia hòa giải, đối thoại
có nghĩa vụ sau đây:
a) Tham gia hòa giải, đối thoại với tinh thần thiện chí, hợp tác để thúc đẩy quá trình hòa giải, đối thoại đạt kết quả tích cực; trình bày chính xác tình tiết, nội dung của vụ việc và cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến vụ việc theo yêu cầu của Hòa giải viên, Đối thoại viên;
b) Chịu trách nhiệm về tính xác thực của các tài liệu, chứng cứ cung cấp trong quá trình hòa giải, đối thoại, khi yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành Trường hợp cung cấp tài liệu, chứng cứ không đúng sự thật thì thỏa thuận hòa giải thành, đối thoại thành đương nhiên vô hiệu; nếu gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật;
c) Có mặt hoặc ủy quyền cho người khác tham gia phiên hòa giải, đối thoại theo giấy báo (trừ trường hợp hòa giải quan hệ hôn nhân trong vụ việc ly hôn);
d) Tôn trọng Hòa giải viên, Đối thoại viên và các bên có liên quan;
đ) Chấp hành quy chế hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
e) Thực hiện các nội dung đã hòa giải thành, đối thoại thành
3 Các bên tham gia hòa giải, đối thoại đồng ý rằng những trình bày, trao đổi giữa các bên liên quan ho ặc giữa các bên liên quan và hòa gi ải viên, đối thoại viên trong quá trình hòa giải, đối thoại sẽ không có giá
tr ị chứng cứ tại bất kỳ trình tự tố tụng trọng tài ho ặc tòa án nào.
4 Các bên tham gia hòa giải, đối thoại có các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của
Trang 7Luật này
1.3.Mi ễn trừ thời hiệu khởi kiện
Vấn đề này đã được quy định rõ ràng và đầy đủ tại điều 24, khoản 2 của Dự luật như sau:
Điều 24 Chuyển đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính
để hòa giải, đối thoại tại Tòa án
2 Th ời gian nhận và giải quyết đơn khởi kiện, đơn yêu cầu theo quy định của Luật này không tính vào th ời hiệu khởi kiện, thời hạn tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính
1.4 Tính khách quan, độc lập và quy tắc hành xử chuyên nghiệp của Hòa giải viên
Tính độc lập và khách quan của Hòa giải viên là một trong số những nguyên tắc căn bản của hòa
giải có vai trò quyết định đến sự thành công của phương thức hòa giải và được thể hiện ngay từ khâu phân công hòa giải viên để bắt đầu quá trình hòa giải (điều 6, khoản 4 &5 của Luật hòa giải
mẫu UNCITRAL8) cho đến tận khi kết thúc hòa giải bằng một thỏa thuận hòa giải thành thì thỏa thuận đó vẫn có thể bị từ chối công nhận và cho thi hành vì sai phạm nghiêm trọng của chính hòa
giải viên (điều 19, khoản e & f của Luật mẫu Hòa giải UNCITRAL9)
8 Article 6 Number and appointment of mediators
4 In recommending or appointing individuals to act as mediator, the institution or person shall have regard to such considerations
as are likely to secure the appointment of an independent and impartial mediator and, where appropriate, shall take into account the advisability of appointing a mediator of a nationality other than the nationalities of the parties
5 When a person is approached in connection with his or her possible appointment as mediator, he or she shall disclose any circumstances likely to give rise to justifiable doubts as to his or her impartiality or independence A mediator, from the time of his or her appointment and throughout the mediation proceedings, shall without delay disclose any such circumstances to the parties unless they have already been informed of them by him or her
9 Article 19 Grounds for refusing to grant relief
(e) There was a serious breach by the mediator of standards applicable to the mediator or the mediation without which breach that party would not have entered into the settlement agreement; or
(f) There was a failure by the mediator to disclose to the parties circumstances that raise justifiable doubts as to the mediator’s impartiality or independence and such failure to disclose had a material impact or undue influence on a party without which failure that party would not have entered into the settlement agreement
Trang 8Trong Dự thảo luật vấn đề này được quy định thành các nghĩa vụ của hòa giải viên nêu tại điều
20, khoản 2 như sau:
Điều 20 Quyền, nghĩa vụ của Hòa giải viên, Đối thoại viên
2 Hòa gi ải viên, Đối thoại viên có nghĩa vụ sau đây:
b) Tuân th ủ pháp luật, vô tư, khách quan;
đ) Không được nhận tiền, lợi ích từ các bên tham gia hòa giải, đối thoại;
e) T ừ chối tiến hành hòa giải, đối thoại nếu bản thân có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến
v ụ việc hòa giải, đối thoại hoặc vì lý do khác dẫn đến có thể không vô tư, khách quan trong quá trình hòa gi ải, đối thoại;
Hậu quả pháp lý của việc vi phạm nghĩa vụ độc lập, khách quan có thể dẫn đến việc Hòa giải viên
bị thay thế theo quy định tại điều 21 của Dự luật:
Điều 21 Thay đổi Hòa giải viên, Đối thoại viên
1 Hòa gi ải viên, Đối thoại viên bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: b) Có căn cứ rõ ràng cho rằng họ có thể không công bằng, vô tư, khách quan trong khi làm nhi ệm vụ;
Tuy nhiên dự luật chưa dự liệu hết trường hợp có thể chỉ phát hiện trường hợp hòa giải viên vi phạm các nghĩa vụ độc lập, khách quan sau khi quá trình hòa giải đã kết thúc và một thỏa thuận hòa giải thành đã được xác lập Trong trường hợp này, Tòa án vẫn có thể xử lý theo quy
định tại điều 44, khoản 5 của Dự luật: “Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành có thể bị kháng ngh ị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm nếu có căn cứ cho rằng nội dung các bên thỏa thuận được là do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã
h ội
Trình t ự, thủ tục kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện theo quy định
c ủa Bộ luật Tố tụng dân sự” Tác giả cho rằng việc bổ sung thêm căn cứ pháp lý để không công
nhận thỏa thuận hòa giải thành sẽ phù hợp với thông lệ quốc tế hơn:
Trang 9
D ự thảo Đề xuất sửa đổi
Điều 39 Điều kiện công nhận kết quả
hòa gi ải thành
Tòa án ra quyết định công nhận kết quả
hòa giải thành khi có đủ các điều kiện sau:
1 Có yêu cầu của một trong các bên;
2 Có biên bản ghi nhận hòa giải thành;
3 Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải
có đầy đủ năng lực hành vi dân sự;
4 Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải
là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung
thỏa thuận hòa giải Trường hợp nội dung thỏa
thuận hòa giải thành liên quan đến quyền,
nghĩa vụ của người thứ ba thì phải được người
thứ ba đồng ý;
5 Nội dung thỏa thuận hòa giải thành
của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi
phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã
hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà
nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác
Điều 39 Điều kiện công nhận kết quả hòa gi ải thành
1 Tòa án ra quyết định công nhận kết
quả hòa giải thành khi có đủ các điều kiện sau:
a Có yêu cầu của một trong các bên;
b Có biên bản ghi nhận hòa giải thành;
c Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải
có đầy đủ năng lực hành vi dân sự;
d Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải
là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung
thỏa thuận hòa giải Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải thành liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba thì phải được người
thứ ba đồng ý;
d Nội dung thỏa thuận hòa giải thành của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã
hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác
2 Tòa án có thể ra quyết định từ chối công nhận kết quả hòa giải thành nếu có chứng cứ chứng minh rằng:
a Có vi ph ạm nghiêm trọng của hòa giải viên mà n ếu không có vi phạm đó thì một bên
đã không ký kết thỏa thuận hòa giải thành;
ho ặc
b Hòa gi ải viên đã không độc lập, vô tư
và khách quan trong quá trình hòa gi ải có tác động đến một bên mà nếu không có tác động
đó của hòa giải viên thì bên đó đã không ký kết
th ỏa thuận hòa giải thành.
Trang 102 X Ử LÝ MỐI QUAN HỆ GIỮA DỰ LUẬT NÀY VÀ BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 2015
ĐỂ BẢO ĐẢM TÍNH THỐNG NHẤT VÀ TOÀN VẸN CỦA TRÌNH TỰ TỐ TỤNG DÂN
S Ự
2.1 B ổ sung quy định rõ ràng những trường hợp không được hòa giải, đối thoại
Dự luật thiếu hẳn một điều khoản quy định rõ ràng những trường hợp nào không được hòa giải, đối thoại mặc dù Bộ luật TTDS đã có quy định tại điều 206 về những vụ án dân sự không được hòa giải, tuy nhiên do tính chất tiền tố tụng của hòa giải, đối thoại tại tòa án nên những quy định
đó là không đầy đủ Do đó tác giả đề xuất bổ sung một điều khoản như sau:
Điều… Những trường hợp không được hòa giải, đối thoại
1 Nh ững vụ án dân sự không được hòa giải quy định tại điều 206 của Bộ luật tố tụng dân sự
2 Nh ững trường hợp người khởi kiện nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kèm theo đơn khởi kiện hoặc đơn khởi kiện đã được Trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án thụ lý mà
m ột hoặc các bên có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Do tính chất cấp bách của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nên thẩm phán cần thụ lý hồ
sơ để xem xét giải quyết (Xem sơ đồ dưới đây để tiện so sánh)
2.2.Th ẩm phán thụ lý hồ sơ có tiếp tục hòa giải theo quy định tại điều 10 & 205 của Bộ luật TTDS trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm hay không?
Vấn đề này đã được xử lý rõ ràng đối với loại việc công nhận thuận tình ly hôn tại điều 37 của Dự
luật như sau:
Điều 37 Thủ tục công nhận thuận tình ly hôn
1 Th ủ tục xem xét công nhận thuận tình ly hôn được thực hiện theo quy định tại các điều
38, 39, 40, 41, 42, 43 và 44 c ủa Luật này
2 Th ẩm phán không phải tiến hành thủ tục hòa giải theo quy định tại Điều 397 của Bộ luật
Tố tụng dân sự
Tuy nhiên đối với các loại vụ việc dân sự khác thì không được đề cập đến, do đó đương nhiên sẽ
phải được hiểu là thẩm phán thụ lý hồ sơ chuẩn bị xét xử sơ thẩm vẫn phải tổ chức hòa giải như là
một thủ tục bắt buộc trước khi mở phiên tòa sơ thẩm Vấn đề này đã được nêu lên rất nhiều lần
Trang 11trong các khóa tập huấn của Tòa án nhân dân tối cao Theo tác giả nên có quy định phù hợp hơn
với thực tiễn như sau:
Điều 34 Xử lý hòa giải, đối thoại không thành, không tiến hành hòa giải, đối thoại được
1 Trường hợp hòa giải, đối thoại không thành hoặc không tiến hành hòa giải, đối thoại được quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 33 của Luật này thì Hòa giải viên, Đối thoại viên chuy ển đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho Tòa án đã nhận đơn để tiến hành xem xét, thụ lý vụ
vi ệc theo quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, trừ những tài liệu,
ch ứng cứ quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật này
2 Thời hạn chuyển đơn là 03 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận kết quả hòa
gi ải, đối thoại không thành hoặc không tiến hành hòa giải, đối thoại được
3 Th ẩm phán không phải tiến hành thủ tục hòa giải theo quy định tại Điều 205, khoản 1 của
B ộ luật Tố tụng dân sự trừ khi các bên đều có yêu cầu hòa giải
Điều này phù hợp với Nguyên tắc tôn trọng tự do, tự nguyện thỏa thuận của các bên những
vẫn bảo đảm rút ngắn quá trình tố tụng do không phải lặp lại bước hòa giải nếu vụ việc không thể hòa giải, đối thoại được (Xem biểu đồ so sánh dưới đây)
2.3 Công nh ận kết quả hòa giải thành
Bộ luật TTDS 2015 có hẳn một chương mới, chương XXXIII quy định về thủ tục công nhận kết
quả hòa giải thành ngoài Tòa án được hiểu là việc hòa giải không do thẩm phán tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng dân sự Điều kiện công nhận kết quả hòa giải thành quy định trong điều 39
của Dự luật không khác gì so với điều 417 của Bộ luật TTDS (xem bảng so sánh đối chiếu dưới đây) Tuy nhiên Dự luật đã tạo ra một chế định pháp lý hoàn toàn mới áp dụng cho riêng các vụ
việc hòa giải, đối thoại tại Tòa với thời hạn, trình tự rút gọn hơn so với quy định tại chương XXXIII
của Bộ luật TTDS, điều này sẽ tạo ra nhiều vấn đề pháp lý phức tạp hơn đối với thẩm phán của Tòa án khi phải xem xét thêm một trình tự, thủ tục tố tụng mới không được quy định tại Bộ luật TTDS
Quan điểm cá nhân của tác giả cho rằng cần bảo đảm tính thống nhất của pháp luật tố tụng dân sự trong khi vẫn bảo đảm tính đặc thù của loại việc hòa giải, đối thoại tại Tòa án Do chưa có quy định về việc công nhận kết quả đối thoại thành nên cần có những quy định riêng cho loại việc này
mà không hề mâu thuẫn với các quy định hiện hành của Bộ luật TTDS Ngoài ra đối với loại việc công nhận thuận tình ly hôn do tính chất của mối quan hệ nhân thân cần phải xử lý nhanh chóng,