1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO ĐỀ TÀISINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌCLỖI CHÍNH TẢ HỌC SINH LỚP 2 NGƯỜI K’HO

41 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lỗi Chính Tả Học Sinh Lớp 2 Người K’ho
Tác giả Touneh Sang Hồng Nguyện, Hoàng Phương Nhi, Lê Thị Tuyết Nhung, Trịnh Thu Hiền, Ka Ny Trang
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Ly Kha
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Tp Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Giáo Dục Tiểu Học
Thể loại báo cáo đề tài
Năm xuất bản 2015
Thành phố Tp Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 204,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có không ít khóa luận nghiên cứu về lỗi chính tả của học sinh tiểu học nhưkhóa luận "Tìm hiều về vấn đề dạy học chính tả ở bậc học tiểu học" của Lê NgọcHuyền Thu khóa luận tốt nghiệp ngà

Trang 1

Nhóm SV: Nhóm Ruby

1.Touneh Sang Hồng Nguyện K39.901.106 2.Hoàng Phương Nhi K39.901.110 3.Lê Thị Tuyết Nhung K39.901.117

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

Trang 2

- -BÁO CÁO ĐỀ TÀI SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Ly Kha

Nhóm SV: Nhóm Ruby 1.Touneh Sang Hồng Nguyện K39.901.106 2.Hoàng Phương Nhi K39.901.110 3.Lê Thị Tuyết Nhung K39.901.117

LỖI CHÍNH TẢ HỌC SINH LỚP 2 NGƯỜI K’HO

TP Hồ Chí Minh-2015

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

Trang 3

- -MỤC LỤC

Trang 4

trong học phần “Phương pháp nghiên cứu khoa học” mà theo chúng tôi là rất hữu

ích đối với sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học

Chúng tôi xin được gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Nguyễn Thị Ly Kha vì đã tậntâm hướng dẫn, giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành bàinghiên cứu này Nếu không có những lời dạy bảo, hướng dẫn thảo luận của cô thìchúng tôi khó có thể hoàn thiện được bài nghiên cứu này

Và xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả các quý Thầy Cô, các em học sinh ởTrường Tiểu học Sơn Trung, Đức Trọng, Lâm Đồng và Trường Tiểu học Trần Văn

Ơn, quận 11, TP.HCM Các Thầy Cô và các em học sinh đã giúp đỡ, hỗ trợ và tạođiều kiện tốt nhất để chúng tôi có thể nhận được những thông tin hữu ích, có đượcnhững bài khảo sát giá trị và những kinh nghiệm thực tế quý giá

Chúng tôi còn có rất nhiều bỡ ngỡ trong bước đầu thực hiện một bài nghiêncứu khoa học, do đó không thể tránh những sai lầm, thiếu sót trong bài nghiên cứunày Nhóm rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô, các đọcgiả để kiến thức, kĩ năng của chúng tôi được hoàn thiện hơn

Sau cùng, chúng tôi xin chúc quý Thầy Cô thật dồi dào sức khỏe, niềm tin đểtiếp tục thực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ sau

Trân trọng

TPHCM, ngày 25 tháng 6 năm 2015

Nhóm sinh viên thực hiện

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Tiếng Việt là tiếng phổ thông chung của cả nước, học sinh dân tộc (HSDT)học Tiếng Việt để mở rộng tri thức của mình, hiểu được vẻ đẹp, sự giàu có củaTiếng Việt Và trong Quyết định 53-CP của Hội đồng Chính phủ cũng đã nêu:

“Tiếng và chữ phổ thông là phương tiện giao lưu không thể thiếu được giữa các địaphương và các dân tộc trong cả nước, giúp phát triển đồng đều về mặt kinh tế, vănhóa, khoa học kĩ thuật…Tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc và thực hiện quyềnbình đẳng dân tộc” Do đó, môn tiếng Việt có tầm quan trọng rất lớn đối với HSDT.Tuy nhiên, môn học Tiếng Việt dù ở thời kì nào, thì bản chất của nó vẫn là dạy tiếngViệt cho người sử dụng ngôn ngữ Việt như Tiếng mẹ đẻ, có nghĩa là môn học tiếngViệt vốn lấy đối tượng học sinh (HS) người Kinh làm trung tâm để xác định mụctiêu cũng như lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học, gây ra sự khó khăn học tậpcho những HSDT sử dụng tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai

Đặc biệt ở phân môn Chính tả, HSDT đã gặp rất nhiều khó khăn HSDT phảiviết Chính tả Tiếng Việt- ngôn ngữ thứ hai của mình, trong khi vẫn bị ảnh hưởngbởi những nguyên nhân khác như bị ảnh hưởng bởi tiếng mẹ đẻ, chưa hiểu hết ý

nghĩa của từ… Những lí do trên đã khiến nhóm chúng tôi chọn đề tài: “Lỗi Chính

tả của học sinh lớp 2 người K’ho” làm đề tài nghiên cứu.

Cuốn Dạy học chính tả ở tiểu học (Hoàng Văn Thung 2000, Nxb Giáo dục

Hà Nội), cuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1 (Lê Phương Nga - Lê A - Lê Hữu

Thỉnh - Đỗ Xuân Thao - Đặng Kim Nga 2003, NXB Đại học sư phạm Hà Nội)…cũng đề cập đến phân môn Chính tả về: mục tiêu, cơ sở tâm lí học, ngôn ngữ họccủa viêc dạy chính tả, một số nguyên tắc dạy chính tả, phương pháp dạy chính tả

Các cuốn Sổ tay mẹo luật chính tả của Lê Trung Hoa 1986, Nxb Trẻ TPHCM; cuốn giáo trình Tiếng Việt thực hành (Hà Thúc Hoan 1996, Nxb Đại học

Sư phạm TPHCM); Dùng từ viết câu và soạn thảo văn bản ( Nguyễn Thị Ly Kha

2007, Nxb Giáo dục TpHCM), cung cấp quy tắc chính tả tiếng Việt và cung cấpnhững "mẹo" luật để khắc phục những lỗi chính tả hay phạm phải

Có không ít khóa luận nghiên cứu về lỗi chính tả của học sinh tiểu học nhưkhóa luận "Tìm hiều về vấn đề dạy học chính tả ở bậc học tiểu học" của Lê NgọcHuyền Thu (khóa luận tốt nghiệp ngành Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sưphạm TpHCM, 2004) hoặc "Bài tập chính tả trong sách giáo khoa lớp 5 thửnghiệm" của Phạm Ngọc Hiếu (khóa luận tốt nghiệp ngành Giáo dục Tiếu học,trường Đại học Sư phạm TpHCM, 2005)…

Trang 10

Có rất ít những nghiên cứu về lỗi tiếng Việt mà HSDT thường hay gặp phải,chủ yếu vẫn là các nghiên cứu về phương pháp dạy Tiếng Việt cho HSDT như:

“Phương pháp dạy Tiếng Việt cho học sinh dân tộc cấp tiểu học” (Bộ giáo dục và đào tạo), “Nội dung phương pháp và hình thức tổ chức dạy học ở vùng dân tộc” (Mông Kí Slay (2001), NXB Đại học quốc gia Hà Nội), "Phương pháp dạy tiếng việt cho học sinh dân tộc" (Phạm Toàn- Nguyễn Trường (1978), NXB Giáo dục),

“Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam” (Trần Trí Dõi(1999)) Các

nghiên cứu này đã trình bày một số quan điểm về tiếng mẹ đẻ và tiếng phổ thôngqua cách nhìn nhận của người dân tộc thiểu số, về nhu cầu, việc cần thiết phải họctiếng Việt của HSDT, cũng như đưa ra những phương pháp dạy học phù hợp chocác em

Tuy nghiên, chưa có nghiên cứu nào đề cập cụ thể về các lỗi Chính tả củaHSDT người K’ho Nghiên cứu của chúng tôi cố gắng thực hiện bước đầu tìm hiểu

về thực trạng lỗi chính tả của HSDT người K’ho, đồng thời đưa ra một số đánh giá,kết luận và ý kiến để giảm thiểu lỗi chính tả cho HSDT nói chung và HS K’ho nóiriêng

3 Mục tiêu và mục đích nghiên cứu

Ở phân môn Chính tả, HSDT đã gặp rất nhiều khó khăn Mục tiêu của nghiêncứu này là tìm hiểu về thực trạng lỗi của học sinh lớp 2 người K’ho tại Trường Tiểuhọc Sơn Trung và so sánh các lỗi thường gặp của những học sinh này với học sinhngười Kinh, từ đó phân tích một vài nguyên nhân gây ra lỗi, đưa ra một số đề xuấtkhắc phục lỗi viết Chính tả cho HSDT

Và mục đích của đề tài này là nhằm giúp giáo viên biết được những lỗi sai phổbiến của các em học sinh người K'ho, nguyên nhân và một số biện pháp hạn chế lỗi.Trên cơ sở đó, giáo viên lựa chọn phương pháp thích hợp nhất để việc dạy học phânmôn Chính tả cho học sinh lớp 2 người K'ho được nâng cao Đồng thời góp phầngiúp học sinh hạn chế lỗi chính tả thường gặp, giúp các em học tốt phân môn Chính

tả cũng như các môn học khác

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là hệ thống bài tập chính tả trong SGKTiếng Việt, kỹ năng viết chính tả của học sinh dân tộc K’ ho và Kinh ở hai trườngtiểu học trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng và Thành phố Hồ Chí Minh:

- Trường Tiểu học Sơn Trung, Đức Trọng: có học sinh người K’ ho và ngườiViệt học chung

- Trường Tiểu học Trần Văn Ơn, Quận 11: toàn bộ học sinh người Việt

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu các lỗi sai chính tả của học sinh dân tộc K’ ho và Kinh Tập trungvào việc nghiên cứu các lỗi trong phần nghe – viết và phiếu khảo sát để tìm ra lỗichính tả học sinh thường mắc phải

Trang 11

Ngoài ra, chúng tôi còn tiến hành trưng cầu ý kiến của một số giáo viên chủnhiệm đang giảng dạy lớp 2 ở các trường tiểu học trên.

5 Giả thuyết nghiên cứu

Tìm hiểu nguyên nhân lỗi chính tả của học sinh lớp 2 hiện nay đặc biệt là họcsinh dân tộc K’ho Đưa ra những lỗi cơ bản về chính tả, xây dựng biện pháp khắcphục lỗi cho học sinh để hạn chế những khó khăn trong việc học tiếng phổ thôngcủa học sinh dân tộc K’ ho.Từ đó việc vận dụng nguyên tắc, biện pháp, phươngpháp dạy học về phân môn chính tả sẽ thuận lợi hơn

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này nhằm rút ra một số giải pháp cải tiến phương pháp dạyhọc chính tả cho giáo viên Nhất là giúp cho học sinh dân tộc K’ho giảm bớt các lỗichính tả trong văn bản nói và viết Chúng ta cần cung cấp cho học sinh những hiểubiết về lỗi sai một cách có hệ thống nhất, để rèn luyện cho học sinh viết chính tảtheo những chuẩn mực Học sinh tiếp cận những chuẩn mực đó để vận dụng trongquá trình học tập, nâng cao hiệu quả học tập trong phân môn chính tả

7 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi chọn Trường Tiểu học Sơn Trung vì đây là ngôi trường thành lập hơn

20 năm và có rất nhiều truyền thống lâu đời Dân cư ở khu vực gần trường hầu hết

là người DTTS K'ho nên học sinh ở đây cũng đa số là người K'ho Địa hình ở đâykhông quá khó khăn trong việc đi lại, lấy thông tin khảo sát và thời gian làm bàinghiên cứu có hạn Do đó, chúng tôi đã quyết định chọn mẫu ở đây Trong quá trìnhkhảo sát, các em học sinh đều được tự do làm bài Thái độ của các em rất tập trung,hào hứng và bài làm của các em đều khá trung thực Chúng tôi đã không giới hạnthời gian viết chính tả và làm bài tập, để cho các em không bị áp lực về thời gian và

có thể tự do suy nghĩ, sửa bài theo ý muốn

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu về lỗi chính tả của học sinh dân tộc K’ ho,chúng tôi chủ yếu tập trung các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Tổng hợp những công trình nghiên cứu các đề tài luận án về lỗi chính tả củahọc sinh tiểu học, các giáo trình về Phương pháp dạy học tiếng việt, chính tả, đểnghiên cứu nhằm phân tích, tổng hợp, khái quát các luận điểm khoa học làm tiền đềcho phương pháp chữa lỗi chính tả cho học sinh dân tộc K’ho

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Phương pháp điều tra, quan sát: Tiến hành khảo sát 72 học sinh dân tộc K’ho

và Kinh để nắm bắt tình hình viết chính tả, các lỗi sai về chính tả của học sinh dântộc K’ho và Kinh Nhằm tìm hiểu thực tiễn dạy-học nói chung và tìm hiểu việc mắclỗi chính tả của học sinh K’ho nói riêng ở mức độ như thế nào để làm cơ sở chophương pháp chữa lỗi chính tả cho học sinh K’ho Chúng tôi đã khảo sát nội dungSGK Tiếng việt lớp 2 để đưa ra các phiếu khảo sát sau:

Trang 12

+ Phiếu khảo sát mức độ khó dễ về phân môn chính tả chủ yếu thăm dò ý kiếncủa học sinh về việc học chính tả.

+ Phiếu bài tập gồm có 3 phần: Phần 1: Nghe-viết 4 dòng bài Việt Nam Có Bác;Phần 2: Gồm những bài tập điền khuyết phụ âm đầu, dấu thanh thích hợp vào chỗtrống; Phần 3: bài tập gạch chân từ đúng nhất

+ Ngoài ra, phiếu trưng cầu ý kiến dành cho giáo viên sử dụng chủ yếu các câu hỏitrắc nghiệm lựa chọn khách quan, thang độ và phần dành riêng để giáo viên nêu ýkiến

- Phương pháp hỗ trợ, thống kê toán học:

Phương pháp thống kê, phân tích, đánh giá: phương pháp này dùng để thống kêkết quả khảo sát Những lỗi chính tả học sinh mắc phải được xử lý, phân loại, phântích cụ thể theo số bài và tỉ lệ phần trăm Từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá, sosánh khách quan giữa học sinh K’ho và học sinh Kinh Phương pháp này nhằm giúpcho chúng tôi có cái nhìn chính xác về việc mắc lỗi của học sinh và giúp các em hạnchế các lỗi đó

8 Dự kiến đóng góp của công trình nghiên cứu

Những kết quả khảo sát lỗi Chính tả của HS người K’ho mà nhóm thống kêđược sẽ là đóng góp cho việc dạy-học Chính tả của HSDT nói chung và HS K’honói riêng

9 Bố cục đề tài

Bố cục của công trình nghiên cứu gồm phần Dẫn nhập, Nội dung-kết quảnghiên cứu và Kết luận Trong Nội dung-Kết quả nghiên cứu bao gồm 3 chương:+ Chương I:

- Cơ sở lí luận bao gồm: Định nghĩa, tầm quan trọng của chính tả, đặc điểmcủa chính tả tiếng Việt về chữ viết tiếng Việt, thanh điệu và qui tắc Chính

tả và đặc điểm của ngôn ngữ dân tộc K’ho

- Cơ sở thực tiễn trình bày sơ lược về vị trí, nhiệm vụ, mục tiêu của phânmôn chính tả lớp 2 và thực trạng của việc dạy học Chính tả ở trường Tiểuhọc Sơn Trung, Lâm Đồng

+ Chương II: Thực trạng lỗi của HSDT K’ho Chương trình bày về kết quả khảo sátđược và đánh giá những lỗi thường gặp của học sinh

+ Chương III: Nguyên nhân và biện pháp khắc phục

Ngoài ra, bài nghiên cứu còn có phần Phụ lục và Tài liệu tham khảo Phầnphụ lục gồm Bảng thống kê về số học sinh K’ho và Kinh tham gia khảo sát, Bảngthống kê về số giáo viên tham gia khảo sát và trưng cầu ý kiến; các phiếu bài tậpcủa học sinh của trường Tiểu học Sơn Trung, Lâm Đồng; phiếu khảo sát của họcsinh và phiếu khảo sát của giáo viên

Trang 13

NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG MỘT:

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lí luận của vấn đề Chính tả

1.1.1 Chính tả

1.1.1.1 Định nghĩa Chính tả

Theo định nghĩa một số từ điển, Chính tả là viết đúng, cách viết hợp vớichuẩn và những quy định mang tính quy ước xã hội, được mọi người chấp nhận vàtuân thủ Những quy định đó thường là những thói quen vận dụng thực tiễn, nhưngcũng có thể do các tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để sử dụngtrong xã hội

Tính thống nhất của chính tả thể hiện sự thống nhất của một ngôn ngữ Cũngnhư hệ thống ngữ âm, thì hệ thống chữ viết hoạt động trong giao tiếp theo nhữngquy tắc đảm bảo cho quá trình giải mã được thuận lợi và chính xác Hệ thống quytắc chính tả quy định cách viết từ, viết chữ hoa, chữ thường, cách dùng dấu câu,cách viết các từ phiên âm hoặc chuyển từ Các hệ thống Chính tả trên thế giớithường dựa vào một số nguyên tắc nhất định Việc dựa trên những nguyên tắc hayphối hợp đồng thời các nguyên tắc khác nhau của Chính tả chịu sự chi phối bởi cácđặc điểm văn hóa, ngôn ngữ của quốc gia trong một thời điểm lịch sử cụ thể

1.1.1.2 Mục tiêu của phân môn Chính tả

Bốn hoạt động vô cùng quan trọng trong ngôn ngữ của con người là nghe,nói, đọc, viết Xét theo góc độ chức năng giao tiếp, nói và viết là hoạt động tạo lậplời nói, còn đọc và nghe là hình thức tiếp nhận lời nói Xét theo phương diện giaotiếp, nghe và nói là hoạt động âm thanh, viêt và đọc là hoạt động bằng chữ viết Cảbốn hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thực hiện hoạt động này làtiền đề thực hiện các hoạt động kia và ngược lại Tuy nhiên trong mỗi hoạt động lại

có những đặc điểm riêng, vị trí riêng trong hoạt động chung của mỗi con người,cũng như trong dạy học ở nhà trường Tiểu học, trong đó một kĩ năng vô cùng quantrọng rèn kĩ năng Chính tả cho học sinh

Cụ thể hóa mục tiêu môn Tiếng việt, phân môn Chính tả nhằm hình thành ởhọc sinh kĩ năng sử dụng Tiếng việt, trong đó đặc biệt chú ý tới kĩ năng viết ( có kếthợp với kĩ năng nghe ) Bên cạnh đó, Chính tả cung cấp cho học sinh các kiến thức

về chữ viết như: cấu tạo chữ, vị trí dấu thanh,…Phân môn Chính tả cung cấp chohọc sinh những hiểu biết sơ giản về tự nhiên, xã hội, con người, văn hóa văn họcViệt Nam và nước ngoài để từ đó bồi dưỡng yêu cái đẹp, cái thiện, lòng trung thực,

…; góp phần hình thành lòng yêu tiếng Việt và thói quen giữ gìn sự trong sáng củatiếng Việt

Trang 14

1.1.1.3 Tầm quan trọng của Chính tả

Phân môn Chính tả là một phân môn có tầm quan trọng trong việc dạy họctiếng Việt cho học sinh Tiểu học nói riêng và các bạn học sinh nói chung Phân mônChính tả còn là phân môn có tính chất công cụ, nó có vị trí quan trọng trong giaiđoạn học tập đầu tiên của trẻ Chính tả là phân môn nhằm rèn cho học sinh kĩ năngviết, nghe, đọc và làm các bài tập chính tả, rèn luyện các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ

Kĩ năng Chính tả thực sự cần thiết không chỉ đối với học sinh Tiểu học mà còn vớitất cả mọi người Khi đọc một văn bản viết đúng Chính tả, người đọc có cơ sở đểhiểu đúng nội dung văn bản đó Trái lại, một văn bản mắc nhiều sai sót về Chính tả,người đọc khó nắm bắt nội dung và có thể hiểu sai hoặc không hiểu đầy đủ văn bản.Viết Chính tả đúng còn giúp học sinh học tốt các phân môn khác, là cơ sở cho việchọc bộ môn tiếng Việt ở Tiểu học Chính tả còn bồi dưỡng cho học sinh một số đứctính và thái độ cần thiết trong công việc như: cẩn thận, chính xác, óc thẩm mĩ, lòng

tự trọng và tinh thần trách nhiệm

1.1.2 Đặc điểm Chính tả tiếng Việt

Nói đến việc sửa lỗi chính tả cho học sinh, ta đề cập đến ba vấn đề lớn là chữ viết,thanh điệu và quy tắc Chính tả

1.1.2.1 Chữ viết tiếng Việt

Chữ viết tiếng Việt là chữ viết ghi âm, mỗi một tiếng hay một âm tiết, mộthình vị được ghi thành một chữ rời, ranh giới để nhận diện các chữ là khoảng trốnggiữa các tiếng Có thể nói rằng chữ viết của tiếng Việt phản ánh phát âm tiết tiếngViệt một cách tổng hợp, nghĩa là phản ánh những khu biệt âm tiết của tất cả cácphương ngữ Về mặt này, chữ viết có tác dụng thể hiện và giữ gìn sự thống nhất củatiếng Việt, vì nó tạo ra một tâm lí khá phổ biến cho rằng phát âm phản ánh trên chữviết, vốn không tồn tại một cách tự nhiên trong thực tế, là phát âm chuẩn thống nhất

của tiếng Việt Chính tả trở thành cơ sở của chính âm Dần dần, ngày càng có thêm

những người có ý thức dựa theo Chính tả uốn nắn phát âm phương ngữ của mìnhcho phù hợp với chữ viết Nên coi đây là một hiện tượng tích cực

Theo như tác giả Đoàn Thiện Thuật thì số lượng âm vị là 22 Nếu chấpnhận /p/ và /q/ thì số lượng âm vị phụ âm đầu là 22 hoặc 23 âm vị Tiếng việt có 14nguyên âm, trong đó có 11 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi

Theo dữ liệu của một quyển từ điển tiếng Việtxuất bản gần đây nhất (dướiđây gọi tắt là TĐTV), tiếng Việt hiện đại sử dụng 6.718 âm tiết, trong số đó có1.075 âm tiết (tỉ lệ 16%) hoàn toàn không có vấn đề chính tả đối với tất cả cácphương ngữ Ngoài ra, chỉ có 1.950 âm tiết (29% tổng số âm tiết) là có vấn đề chính

tả

1.1.2.2 Thanh điệu

Thanh điệu là một đơn vị siêu đoạn tính bao trùm lên toàn bộ âm tiết, cóchức năng thay đổi đơn vị cao của âm tiết Đối với các ngôn ngữ Đông Nam Átrong đó có tiếng Việt thì thanh điệu có chức năng âm vị học tức là có chức năngkhu biệt nghĩa Hệ thống thanh điệu Tiếng việt gồm 6 thanh: ngang, huyền, hỏi, ngã,

Trang 15

sắc, nặng Việc phân loại thanh điệu được dựa vào tiêu chí âm vực và tiêu chí âmđiệu.

đã dẫn đến hiện tượng nhập thanh ở một số vùng phương ngữ tiếng Việt

Trong quá trình nói và viết cần kết hợp hài hòa giữa các yếu tố để có kết quảcao Trong quá trình học sinh viết chính tả giáo viên cần phải hướng dẫn các emcách phối hợp thanh điệu để việc dạy học có chất lượng

1.1.2.3 Quy tắc Chính tả

∗ Quy tắc viết hoa cơ bản

- Chữ đầu câu, đầu dòng thơ, đầu tác phẩm

Ví dụ: Nhà rông Tây Nguyên được làm bằng các loại gỗ bền chắc như lim,

gụ, sến, táu…

(Nguyễn Văn Huy, Nhà rông Tây Nguyên)

- Tên người, tên địa lý, tên nước ngoài

Ví dụ: Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp…; sông Thái Bình, dãy Trường Sơn…; Nhật Bản, Việt Nam,…

- Viết hoa khi dẫn lời nói trực tiếp

Ví dụ: Thanh gọi mẹ ríu rít: - Mẹ ơi !

- Sau dấu hai chấm mà kiểu câu liệt kê thì không viết hoa

Ví dụ: Xoài có nhiều loại: xoài tượng, xoài cát, xoài thanh ca,…

- Tên tác phẩm, tên tác giả

Ví dụ: Đi học- Minh Chính, Mùa thu của em- Quang Huy,…

∗ Quy tắc sử dụng âm đầu l/n; ch/tr; s/x; r/d/gi; c/k/q:

+ Trường hợp l/n

- Chữ n không đứng đầu các tiếng có vần có âm đệm (oa, oe, uâ, uy) trừ hai âm tiết

Hán Việt: noãn, noa Do đó nếu gặp các tiếng dạng này thì ta chọn l để viết, không chọn n

Ví dụ: chói loà, loá mắt, loảng xoảng, loà xoà, loạng choạng, loan báo, loăng quăng,loằng ngoằng, loắt choắt, quần loe, lập loè, loá sáng, luân lí, kỉ luật, luẩn quẩn, lưu luyến, luyên thuyên, tuý luý,

Trang 16

Ví dụ: trọng, trường, trạng, trình tự, trừ phi, giá trị, trào lưu, trù bị,

- Những từ chỉ đồ vật trong nhà, chỉ tên các loại quả, chỉ tên các món ăn, chỉ tên các hoạt động, chỉ quan hệ giữa những người trong gia đình và những từ mang

ý nghĩa phủ định thường có âm đầu ch

Ví dụ: chăn, chiếu, chai, chén, chổi, chum, chạn, chõng, chảo, chuối, chanh, chôm chôm, cháo, chè, chả, chạy, chặt, chắn, chẻ, cha, chú, chị, chồng, cháu, chắt, chẳng, chưa, chớ, chả,

- Một số từ có thể thay âm đầu tr bằng âm đầu gi

Ví dụ: trồng - giồng, trầu - giầu, trời - giời, trăng - giăng,

+ Trường hợp s/x

- Chữ s không đứng đầu các tiềng có âm đệm (oa, oă, oe, uê, uâ) ngoại trừ các trường hợp: soát, soạt, soạng, soạn, suất Do đó nếu gặp các tiềng dạng này thì ta chọn x để viết không chọn s

Ví dụ: xuề xoà, xoay xở, xoành xoạch, xuềnh xoàng, xoăn, xoe, xuân,

- Một số từ ghép có một tiếng có âm đầu s và có một số tiếng có âm đầu x:

Ví dụ: xứ sở, sản xuất, xuất sắc, xác suất, xổ số, soi xét,

- Viết sai do không phân biệt s/x, có thể sử dụng:

+ Mẹo âm đệm trong các từ có âm đệm thì viết x, trừ từ suyễn, suy, súy, soát (lụcsoát, soát vé)

+ Mẹo từ láy trong các từ láy âm đầu, cà hai tiếng cùng x hoặc cùng s (ví dụ: xaxôi, sạch sẽ, ) Còn từ láy vần lại thường là x (ví dụ: lao xao, loăn xoăn,

+ Trường hợp r/d/gi

- Chữ r và gi không đứng đầu các tiềng có vần có âm đệm (oa, oe, uê, uy) Do

đó gặp các tiếng dạng này thì ta chọn d để viết, không chọn r hoặc gi

Ví dụ: kinh doanh, doạ nạt, doãng ra, hậu duệ, duy nhất, duyệt binh,

- Trong các từ Hán Việt:

+ Các tiếng có thanh ngã hoặc thanh nặng thường viết với âm đầu d

Ví dụ: diễn viên, hấp dẫn, bình dị, mậu dịch, kì diệu,

+ Các tiếng có thanh sắc hoặc thanh hỏi thường viết gi

Ví dụ: giải thích, giảng giải, giá cả, giám sát, giới thiệu, tam giác,

+ Các tiếng có thanh huyền hoặc thanh ngang thường viết với âm đầu gi khi vần có

âm đầu avà viết với âm đầu d khi vần có âm đầu khác a.

Ví dụ: gian xảo, giao chiến, giai nhân, tăng gia, gia nhân, du dương, do thám, dươngliễu, dư dật, ung dung,

- Trong cấu tạo từ ghép giữa r, d, và gi Chỉ có từ ghép có tiếng âm đầu gi và

Trang 17

tiếng có âm đầu d, không có từ ghép có tiếng âm đầu r và âm đầu d hay âm đầu r và

âm đầu gi

Ví dụ: già dặn, giáo dục, giao dịch, giả dối, giản dị, giao du, giảng dạy, giận dữ, gian dối, giận dỗi, giao duyên,

+ Trường hợp c/k/q

- Giúp cho học sinh nắm được các qui luật:

+ q luôn bao giờ cũng đi với âm đệm u để thành qu

+ c luôn đứng trước các nguyên âm: a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư

+ k luôn đứng trước các nguyên âm: i, e, ê

∗ Quy tắc sử dụng phụ âm đầu g -gh, ng-ngh

- Chữ gh, ngh đứng đầu các nguyên âm: i, e, ê.

Ví dụ: ghi chép, nghỉ hè, dì ghẻ, con nghé, nghề nghiệp,

- Chữ g, ng đứng đầu các nguyên âm: a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư.

Ví dụ: gà, gắn, gần, gỗ, gươm, ngai, ngắn, ngấn, ngừng,

∗ Quy tắc thanh điệu

Do đặc điểm về sự phân bố của thanh điệu trong cấu tạo từ tiếng Việt, nên ta có

thể sử dụng điều này để khắc phục trường hợp lẫn lộn giữa dấu hỏi và dấu ngã Đó

là các mẹo:

Một, là trong các từ láy Tiếng việt, nếu một trong hai tiếng mang thanh huyền

hoặc thanh nặng thì tiếng còn lại mang thanh ngã, nếu một trong hai tiếng mangthanh không(thanh ngang) hoặc thanh sắt thì tiếng còn lại mang thanh hỏi Để ghinhớ điều này, học sinh chỉ cần thuộc câu thơ lục bát sau:

“ Chị Huyền mang nặng ngã đau

Anh không sắc thuốc hỏi đâu mà lành”.

Ví dụ: khỏe khoắn, vật vã, chặt chẽ,…

Hai, trong các từ Hán Việt, nếu bắt đầu bằng m, n, nh, v, l, d, ng thì viết dấu

ngã.

Ví dụ: mãnh liệt, lãnh đạo, ngôn ngữ,…

Ba, nếu từ cùng gốc với từ ta nghi ngờ, mang thanh huyền hoặc thanh nặng thì từ

đó mang thanh ngã Nếu từ cùng gốc với nó mang thanh ngang hoặc thanh sắc thì

nó mang thanh hỏi.

Ví dụ: báo- bảo, cùng- cũng, tán- tản,

Bốn, các chữ khởi đầu bằng các nguyên âm chỉ mang dấu hỏi, không mang dấu

ngã

Ví dụ: ỷ lại, ảo ảnh…

Trang 18

1.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ dân tộc K’Ho

Người K’ho còn được gọi là Cờ Ho, Kơ Ho, Cơ Ho hoặc Kơho theo chính tả của

tiếng dân tộc Cơ Ho Đây là một trong những dân tộc thiểu số ở Việt Nam, chủ yếu

cư trú tại tỉnh Lâm Đồng, có ba nhóm tộc người: Chil, Srê và Lạch

Tiếng K’ ho rất gần gũi với các ngôn ngữ Mnông, Stiêng, Mạ, thuộc nhómngôn ngữ Nam Ba dòng Môn – Khmer, ngữ hệ Nam Á Tiếng K’ho cũng như cácngôn ngữ cùng nhóm còn lưu giữ nnhững nét xưa của ngôn ngữ Đông Nam Á cổ.Tiếng K’ho trong quá khứ là một ngôn ngữ vùng, được nhiều dân tộc khác cộng cư

sử dụng, nhất là khi người kinh lên Tây Nguyên còn ít Người K’ho Lạch do tiếpxúc với nhiều cư dân khác trong vùng nên nhiều người trước đây nói khá thành thạocác ngôn ngữ Mnông, Chu Ru, Chăm

Vào đầu thế kỷ XX, chữ K’ho được xây dựng bằng hệ thống chữ la tinh Mặc dù

đã được cải tiến nhiều lần, được dùng để dạy trong một số trường học, nhưng loạichữ này chưa phổ biến sâu rộng

1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề dạy học Chính tả lớp 2

1.2.1 Chương trình Chính tả lớp 2

Phân môn Chính tả có tính chất nổi bật là tính thực hành, bởi thế chỉ có thểgiúp HS viết đúng Chính tả cho thông qua việc thực hành, luyện tập Trong phânmôn này, các quy tắc chính tả, các đơn vị kiến thức mang tính chất lý thuyết đượclồng ghép trong các bài tập chính tả

Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 coi trọng hình thức tập chép để làm bước chuẩn

bị cho phần nghe – viết và chưa đưa hình thức nhớ - viết vào

Dạy phân môn chính tả là giúp cho HS viết thành thạo, thuần thục chữ viếtTiếng Việt theo các chuẩn mực hay nói cách khác là giúp HS viết đúng chính tả mộtcách tự đông hóa

1.2.2 Vị trí của phân môn Chính tả:

Chính tả là một phần trong nội dung chương trình môn Tiếng Việt ở bậc tiểuhọc Đây là môn học có vị trí đặc biệt quan trọng vì nó giúp HS nghe, nói, đọc, viếtđúng Nhờ đó HS sẽ học tập, giao tiếp và tham gia các quan hệ xã hội được thuậnlợi; đồng thời việc mỗi thành viên xã hội, trong đó có HS, phát âm chuẩn và viếtđúng chính tả sẽ góp phần giữ gìn sự trong sáng và thống nhất của Tiếng Việt

1.2.3 Nhiệm vụ và mục đích của phân môn chính tả lớp 2

Dạy cho HS cách tổ hợp các chữ đúng quy ước

Giúp HS rèn luyện cho HS viết đúng chính tả:

Viết đúng các chữ cái mở đầu bằng c/k, g/gh,, ng/ngh, viết được một số chữ ghi tiếng có vần khó như uynh, uơ, uyu, oay, oăm

Trang 19

Viết đúng một số cặp từ dễ nhầm lẫn âm đầu l/n, s/x, d/gi/r, vần an/ang, at/ac, iu/iêu, ưu/ươu, thanh hỏi/ thanh ngã,… do ảnh hưởng của phát âm địa

phương

Viết hoa chữ cái mở đầu câu, viết hoa tên người, tên địa lí Việt Nam

Nhìn – viết, nghe - viết bài chính tả có độ dài khoảng 50 chữ, tốc độ 50chữ/15 phút, trình bày sạch sẽ đúng quy định, mắc không quá 5 lỗi

Kết hợp luyện chính tả với việc rèn phát âm, củng cố nghĩa từ, trau dồi vềngữ pháp Tiếng Việt góp phần phát triển một số thao tác tư duy ( nhận xét, so sánh,liên tưởng, ghi nhớ…) Qua đó bồi dưỡng cho học sinh một số đức tính và thái độcần thiết trong công việc như : cẩn thận, sạch sẽ, chính xác có óc thẩm mỹ, lòng tựtrọng và tinh thần trách nhiệm

1.2.4 Thực trạng dạy và học phân môn Chính tả ở Trường Tiểu học Sơn Trung

Về phía giáo viên khi dạy chính tả cũng chỉ dừng lại ở mức độ:

- Cho học sinh viết và phân tích 1 số từ khó trên bảng và bảng con

- Chưa nhấn mạnh những hiện tượng chính tả cần chú ý trong SGK

- Việc hướng dẫn HS nhận biết, phân tích, so sánh, ghi nhớ và tập viết các chữghi khó hoặc dễ nhầm lẫn còn hạn chế

- Đôi lúc giáo viên phát âm chưa thật chuẩn

Về HS:

- Trình độ HS không đồng đều, phần lớn các em đều viết Chính tả chưa tốt

- Đọc, đánh vần, phát âm chưa trôi chảy

- Chưa nắm và hiểu rõ các quy tắc Chính tả

- Chưa tập trung chú ý, coi trọng việc học

- Dụng cụ, đồ dùng học tập còn thiếu thốn, không đầy đủ

Bảng 1 Mức độ tự giác chuẩn bị bài chính tả ở nhà

Qua bảng trên ta có thể thấy rằng việc tự giác chuẩn bị bài chính tả ở nhà củacác em còn rất hạn chế, các em gần như là không có sự tự giác, chưa ý thức đượctầm quan trọng của việc học dẫn đến việc chất lượng khi viết Chính tả không tốt

Em có tự giác chuẩn bị bài chính tả ở nhà không?

Mức độ Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Không bao giờ

Trang 20

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG LỖI CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH LỚP 2

TRƯỜNG TIỂU HỌC SƠN TRUNG2.1 Mục đích khảo sát

Chúng tôi thực hiện khảo sát nhằm mục đích thống kê các lỗi Chính tả màHSDT K’ho thường gặp Đồng thời so sánh với các lỗi thường gặp của học sinhngười Kinh, từ đó tìm kiếm nguyên nhân gây ra lỗi và đề ra một số biện pháp khắcphục

2.2 Địa điểm và đối tượng khảo sát

Khảo sát được tiến hành trên 36 HS người K’ho và 9 giáo viên tại TrườngTiểu học Sơn Trung, Phú Hội, Đức Trọng, Lâm Đồng; 36 HS người Kinh và 4 giáoviên tại Trường Tiểu học Trần Văn Ơn, phường 5, quận 11, TP Hồ Chí Minh

2.3 Nội dung khảo sát

Chúng tôi thăm dò ý kiến của HS về việc học Chính tả và giáo viên về việcdạy Chính tả cho các HS Đồng thời chúng tôi cho các em HS hoàn thành phiếu bàitập gồm phần viết Chính tả ( bài Việt Nam có Bác_Lê Anh Xuân) và các bài tập vềlỗi Chính tả dạng điền vào chỗ trống, điền dấu thanh, gạch chân từ đúng nhất

2.4 Kết quả khảo sát

2.4.1 Mức độ viết chính tả của học sinh lớp 2 trường Tiểu học Sơn Trung Bảng 2 Kết quả phiếu khảo sát giáo viên về mức độ viết chính tả của học sinh lớp mình (đơn vị:% )

Và trên thực tế, chúng tôi tiến hành khảo sát việc viết Chính tả của các em họcsinh qua phiếu bài tập gồm phần nghe - viết Chính tả: Việt Nam có Bác (TV2, tập 2)

và các bài tập về lỗi Chính tả dạng điền vào chỗ trống, điền dấu thanh, gạch chân từđúng nhất

Ngày đăng: 16/12/2021, 11:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thị Ân – Nguyễn Thị Ly Kha, (2009), Tiếng Việt giản yếu, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt giản yếu
Tác giả: Vũ Thị Ân – Nguyễn Thị Ly Kha
Nhà XB: Nhà xuất bảngiáo dục Việt Nam
Năm: 2009
3. Lê Trung Hoa, (1986), Sổ tay mẹo luật chính tả, Nhà xuất bản Trẻ TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay mẹo luật chính tả
Tác giả: Lê Trung Hoa
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ TPHCM
Năm: 1986
4. Nguyễn Thị Ly Kha, (2009), “Một giải pháp cho chính tả phương ngữ”, Tạp chí Ngôn ngữ, (số 3), tr.30-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một giải pháp cho chính tả phương ngữ”, "Tạpchí Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thị Ly Kha
Năm: 2009
5. Nguyễn Thị Ly Kha,(2013), Dùng từ viết câu và soạn thảo văn bản, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dùng từ viết câu và soạn thảo văn bản
Tác giả: Nguyễn Thị Ly Kha
Nhà XB: Nhàxuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
6. Lê Phương Nga - Lê A - Lê Hữu Thỉnh - Đỗ Xuân Thao - Đặng Kim Nga, (2003), Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1
Tác giả: Lê Phương Nga - Lê A - Lê Hữu Thỉnh - Đỗ Xuân Thao - Đặng Kim Nga
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạmHà Nội
Năm: 2003
7. Mông Kí Slay (chủ biên) (2001), Nội dung phương pháp và hình thức tổ chức dạy học ở vùng dân tộc, Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung phương pháp và hình thức tổ chứcdạy học ở vùng dân tộc
Tác giả: Mông Kí Slay (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
8. Hoàng Văn Thung, (2000), Dạy học chính tả ở tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học chính tả ở tiểu học
Tác giả: Hoàng Văn Thung
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáodục Hà Nội
Năm: 2000
9. Phạm Toàn- Nguyễn Trường (1978), Phương pháp dạy tiếng việt cho học sinh dân tộc, Nhà xuât bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy tiếng việt cho họcsinh dân tộc
Tác giả: Phạm Toàn- Nguyễn Trường
Năm: 1978
2. Bộ giáo dục và đào tạo, Phương pháp dạy Tiếng Việt cho học sinh dân tộc cấp tiểu học Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Kết quả phiếu khảo sát giáo viên về mức độ viết chính tả của học sinh lớp mình (đơn vị:% ) - BÁO CÁO ĐỀ TÀISINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌCLỖI CHÍNH TẢ HỌC SINH LỚP 2 NGƯỜI K’HO
Bảng 2. Kết quả phiếu khảo sát giáo viên về mức độ viết chính tả của học sinh lớp mình (đơn vị:% ) (Trang 20)
Bảng 3. Kết quả phiếu bài tập của HS K’ho và HS Kinh (đơn vị: người) - BÁO CÁO ĐỀ TÀISINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌCLỖI CHÍNH TẢ HỌC SINH LỚP 2 NGƯỜI K’HO
Bảng 3. Kết quả phiếu bài tập của HS K’ho và HS Kinh (đơn vị: người) (Trang 21)
Bảng 5. Các loại lỗi trong phần nghe viết (đơn vị: %) - BÁO CÁO ĐỀ TÀISINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌCLỖI CHÍNH TẢ HỌC SINH LỚP 2 NGƯỜI K’HO
Bảng 5. Các loại lỗi trong phần nghe viết (đơn vị: %) (Trang 22)
Bảng 4. Mức độ khó dễ của phân môn Chính tả đối với học sinh (đơn vị: người) - BÁO CÁO ĐỀ TÀISINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌCLỖI CHÍNH TẢ HỌC SINH LỚP 2 NGƯỜI K’HO
Bảng 4. Mức độ khó dễ của phân môn Chính tả đối với học sinh (đơn vị: người) (Trang 22)
Bảng 6. Kết quả thống kê lỗi phụ âm đầu và thanh điệu phần bài tập - BÁO CÁO ĐỀ TÀISINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌCLỖI CHÍNH TẢ HỌC SINH LỚP 2 NGƯỜI K’HO
Bảng 6. Kết quả thống kê lỗi phụ âm đầu và thanh điệu phần bài tập (Trang 24)
Bảng 7. Kết quả bài tập “gạch chân từ đúng nhất” - BÁO CÁO ĐỀ TÀISINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌCLỖI CHÍNH TẢ HỌC SINH LỚP 2 NGƯỜI K’HO
Bảng 7. Kết quả bài tập “gạch chân từ đúng nhất” (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w