1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Nguyễn Thị Kiều Trinh-HIS10011-ThS. Hồ Thị Liên Hương

13 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 337,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiệp định Sơ bộ 6/3 - Bản điều ước quốc tế song phương đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà .... Sau khi cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu ti

Trang 1

- -

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

ĐỀ TÀI: HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ 06/03/1946 - BẢN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ SONG PHƯƠNG ĐẦU TIÊN CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ

CỘNG HÒA

Giảng Viên Hướng Dẫn: ThS Hồ Thị Liên Hương Sinh Viên Thực Hiện: Nguyễn Thị Kiều Trinh MSV: 19071266

Lớp: HIS100101

Hà Nội, 2021

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA QUỐC TẾ

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài tiểu luận 1

2 Mục đích 2

3 Ý nghĩa 2

NỘI DUNG 3

CHƯƠNG I: BẢN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ SONG PHƯƠNG ĐẦU TIÊN 3

1.1 Điều ước quốc tế song phương là gì? 3

1.2 Hiệp định Sơ bộ 6/3 - Bản điều ước quốc tế song phương đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà 3

1.2.1 Tính quốc tế 3

1.2.2 Tính song phương 4

1.2.3 Bản điều ước đầu tiên 4

CHƯƠNG II NƯỚC CỜ NGOẠI GIAO KHÉO LÉO CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ 5

2.1 Bối cảnh 5

2.1.1 Thế giới 5

2.1.2 Trong nước 5

2.2 Hoà hoãn, nhân nhượng với quân Tưởng ở miền Bắc 6

2.3 Đàm phán ngoại giao với Pháp và Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 7

2.4 Ý nghĩa của bản điều ước quốc tế song phương đầu tiên 9

KẾT LUẬN 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài tiểu luận

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, chúng ta

đã phải đương đầu với rất nhiều kẻ thù lớn và làm nên những thắng lợi vô cùng vẻ vang Bước sang thế kỉ XX, một thời đại mới mở ra trong lịch sử dân tộc - thời đại nhân dân đứng lên làm chủ vận mệnh đất nước Sau khi cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên được thành lập ở Việt Nam là bước khởi đầu, đặc biệt quan trọng trong việc đột phá hệ thống dinh lũy của chủ nghĩa đế quốc, báo hiệu thời kỳ tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ Với tầm vóc lớn lao như vậy, nhà nước non trẻ

ấy đã trở thành đối tượng đánh phá, tiêu diệt của các thế lực đế quốc, thực dân Đặc biệt

là thực dân Pháp với ý định quay trở lại nơi mà chúng vốn coi là "lãnh địa" của mình Đứng trước tình thế đặc biệt khó khăn đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra

Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, chỉ rõ: “Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp

độc lập, tự do quý báu vừa mới giành được, Đảng ta đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh

đã khéo léo khi thì hòa hoãn với Tưởng để chĩa mũi nhọn vào thực dân Pháp, khi lại tạm hòa hoãn với Pháp để đối phó với quân Tưởng Bước đi tài tình của Đảng ta được thể hiện rõ nhất thông qua những điều khoản của văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên được kí kết giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Pháp - Hiệp định sơ bộ

06/03/1946 Hồ Chủ tịch đã nhận định về bản Hiệp định Sơ bộ: “Đã mở ra con đường

làm cho quốc tế thừa nhận ta, sẽ dẫn ta đến một vị trí ngày càng chắc chắn trên trường

Việc ký kết thành công Hiệp định không chỉ là dấu mốc mở đầu cho lịch sử đấu tranh ngoại giao của nước Việt Nam mà còn khẳng định được sự tồn tại của cả một dân tộc, một đất nước có chủ quyền, độc lập và tự do giống như tất cả các nước khác trên thế giới Đồng thời, thể hiện được sự lãnh đạo tài ba, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những quyết sách mang tính lịch sử, quyết định đến vận mệnh của cả dân tộc trên đấu trường bảo vệ độc lập nước nhà

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr 26-27

2 Trung Hiếu, Hiệp định sơ bộ 6/3/1946: Nước cờ sắc sảo của Hồ Chủ tịch và Đảng ta, 2016, Báo Dân Trí

Trang 4

Chính từ những giá trị mang ý nghĩa vô cùng to lớn đó của Hiệp định sơ bộ 06/03/1946, tôi đã chọn đề tài “Hiệp định sơ bộ 06/03/1946 - Bản điều ước quốc tế song

phương đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” làm đề tài phát triển

2 Mục đích

Dựa trên những hiểu biết và các nguồn sử liệu bài tiểu luận muốn phân tích rõ dấu mốc đánh dấu Việt Nam trở thành một đất nước được công nhận trên bản đồ thế giới, được khẳng định địa vị pháp lý và chủ quyền của đất nước mình Cùng với đó là sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp bảo vệ nước nhà qua nước cờ đàm phán trên mặt trận ngoại giao thông qua ý nghĩa cũng như giá trị to lớn mà Hiệp định sơ bộ 06/03/1946 mang lại trong nền lịch sử nước nhà

Cùng với những giá trị lịch sử đó, Hiệp định Sơ bộ cũng để lại những giá trị hiện thực sâu sắc, mang đến những bài học quý giá cho Đảng Cộng Sản Việt Nam về việc giải quyết các vấn đề mang tính quốc tế trong xã hội ngày nay

3 Ý nghĩa

Thông qua đề tài tiểu luận, chúng ta hiểu được tầm quan trọng của mỗi quốc gia là bảo toàn toàn vẹn lãnh thổ, khẳng định chủ quyền dân tộc là điều thiết yếu đảm bảo sự tồn tại của đất nước với tất cả các nước trên thế giới Đồng thời khẳng định rằng cách mạng thành công không thể thiếu sự dẫn dắt tài tình, sáng của Đảng Cộng Sản trên con đường tiến tới hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc

Trang 5

NỘI DUNG

CHƯƠNG I: BẢN ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ SONG PHƯƠNG ĐẦU TIÊN 1.1 Điều ước quốc tế song phương là gì?

Theo luật quốc tế, cụ thể là Công ước Viên về luật điều ước quốc tế năm

1969 và Công ước Viên về luật điều ước giữa các quốc gia và các tổ chức quốc

tế năm 1986, điều ước quốc tế là văn bản thỏa thuận được ký kết giữa các chủ thể của luật pháp quốc tế (quốc gia và tổ chức quốc tế) và được điều chỉnh bằng luật quốc tế, bất kể tên gọi của văn bản thỏa thuận đó là gì Định nghĩa về điều ước quốc tế trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới khá đa dạng, nhưng những yếu tố cơ bản nhất để xác định thế nào là một điều ước quốc tế vẫn được tôn trọng Những yếu tố đó là: (i) thỏa thuận bằng văn bản; (ii) được ký giữa các chủ thể của luật quốc tế (bao gồm quốc gia, tổ chức quốc tế); (iii) được luật pháp quốc tế điều chỉnh

“Điều ước quốc tế song phương” có thể hiểu một cách đơn giản là bản điều ước được ký kết giữa hai quốc gia, chủ thể của luật quốc tế, dựa trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi, tôn trọng độc lập và chủ quyền của nhau

Đặt trong bối cảnh ở Việt Nam, Hiệp định Sơ bộ đã đảm bảo được các yếu

tố cần có của điều ước quốc tế, quan trọng nhất là yếu tố được ký kết giữa các chủ thể của luật quốc tế, ở đây là giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa với Chính phủ Pháp

1.2 Hiệp định Sơ bộ 6/3 - Bản điều ước quốc tế song phương đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà

1.2.1 Tính quốc tế

Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 là văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với nước ngoài, có sự chứng kiến của đại diện các nước Mỹ, Anh và Trung Hoa Đánh giá về ý nghĩa quốc tế của bản Hiệp

định, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Bản Hiệp định sẽ dẫn chúng ta đến

Trang 6

một vị trí quốc tế ngày càng vững vàng, và đó là một thắng lợi chính trị lớn

giao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên trường quốc tế

1.2.2 Tính song phương

Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 được kí tại số nhà 38 phố Lý Thái Tổ, Hà Nội giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Pháp với đại diện là Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đặc uỷ viên Hội đồng các Bộ trưởng Vũ Hồng Khanh với J.Sainteny, người thay mặt đô đốc G.T.d'Argenlieu thừa uỷ quyền Chính phủ Pháp Hai bên chủ thể đã cùng nhau đưa ra những nội dung chính dựa trên cơ sở cả hai bên đều có lợi ở thời điểm bấy giờ

1.2.3 Bản điều ước đầu tiên

Kể từ sau khi hai bản Hiệp ước Hacmang (1883) và Patonot (1884) được ký kết đã đặt dân tộc Việt Nam dưới ách đô hộ của thực dân Pháp Nước ta từ chỗ

là một quốc gia độc lập đã trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến, chịu sự bảo hộ của Thực dân Pháp Sau khi Cách mạng Tháng 8/1945 thành công, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị, kết thúc chế độ phong kiến ở Việt Nam, đưa nước ta trở lại vị thế của một quốc gia độc lập, tự do và dân chủ

Tuy nhiên, các nước đồng minh chống phát xít, nhất là Mỹ lại không ủng hộ lập trường độc lập của Việt Nam Không có nước nào công nhận địa vị pháp lý của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Chính vì thế, việc Chính phủ Pháp – một quốc gia lớn, có chủ quyền, có tiếng nói trên trường quốc tế lại đặt bút cùng ký kết với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bản Hiệp định Sơ bộ Điều đó

đã khẳng định nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mang tư cách của một quốc gia độc lập, tự do và dân chủ Hiệp định sơ bộ được ký kết như một kỳ tích, khởi đầu quá trình phát triển trên lĩnh vực ngoại giao của Việt Nam

3 Philippe Devillers- Tài liệu lưu trữ chiến tranh 1944-1947, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1993, tr 218

Trang 7

CHƯƠNG II NƯỚC CỜ NGOẠI GIAO KHÉO LÉO CỦA CHÍNH PHỦ

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

2.1 Bối cảnh

2.1.1 Thế giới

Về thuận lợi, sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, phần thắng thuộc

về Liên Xô và các lực lượng đã tạo điều kiện cho sự ra đời của hàng loạt các nước dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa ở Châu Âu và Châu Á, cùng với Liên

Xô trở thành một hệ thống trên thế giới, mở rộng phong trào chống đế quốc trở trên các thuộc địa và thế giới

Về khó khăn, Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc cũng là lúc quan hệ quốc tế

có sự thay đổi Tình trạng "chiến tranh lạnh" giữa hai phe: Tư bản chủ nghĩa và

xã hội chủ nghĩa, kéo dài trên 40 năm (1945 - 1989) Cuộc đối đầu này đã lôi kéo rất nhiều nước tham gia, trong đó có Việt Nam

2.1.2 Trong nước

Ở trong nước, sau thành công của Cách mạng Tháng 8 năm 1945, Việt Nam bước sang kỉ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do, nhân dân lao động làm chủ đất nước Cách mạng nước ta có Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng suốt, dày dạn kinh nghiệm lãnh đạo tiếp tục xây dựng và bảo vệ cách mạng

Mặc dù những thuận lợi chúng ta đạt được sau Cách mạng Tháng 8 tuy lớn,

cơ bản nhưng chủ yếu là về mặt tinh thần Đất nước vẫn còn phải đối mặt với vô vàn khó khăn như: Nạn đói, nạn dốt, kinh tế tiêu điều, tiêu cực xã hội tràn lan Bên cạnh đó, thách thức lớn nhất, nghiêm trọng nhất đối với cách mạng Việt Nam lúc này là vấn đề thù trong giặc ngoài, âm mưu và hành động xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Pháp muốn quay trở lại thống trị Việt Nam một lần nữa, các thế lực thù địch, phản cách mạng trong và ngoài nước gây nhiều khó khăn Tình hình đất nước lúc này vẫn còn trong tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc”

Trang 8

Cùng với đó, theo Hội nghị Potsdam (1945) đã quyết định đưa quân đồng minh vào Việt Nam để rải giáp quân Nhật Theo đó, từ vĩ tuyến 16 đổ ra Bắc giao cho 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch, kèm theo đó là Việt Quốc, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội (Việt Cách) với mục tiêu rất rõ ràng: “diệt Cộng, cầm Hồ, phá Việt Minh” - xoá sổ Đảng Cộng Sản Đông Dương, bắt giam Hồ Chí Minh, phá tan Mặt trận Việt Minh Đồng thời, từ vĩ tuyến 16 trở vào miền Nam, quân viễn chinh Pháp núp bóng dưới 2 vạn quân Anh để gây hấn, khủng

bố, lấn chiếm, mưu toan phá bỏ thành quả cách mạng, dọn đường cho Pháp trở lại xâm lược nước ta Ngoài ra, trên đất nước ta còn hơn 6 vạn quân Nhật, cùng nhiều đảng phái phản động lăm le lật đổ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ, lập lại chính quyền tay sai và cướp nước ta lần nữa Tình hình đất nước thù trong, giặc ngoài đe doạ nghiêm trọng đến nền độc lập, tự do của đất nước, vận mệnh chính quyền cách mạng tiếp tục bị đe doạ Đảng Cộng sản cầm quyền, Chính phủ Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức hết sức to lớn,

nghiêm trọng và những biến động phức tạp khôn lường

2.2 Hoà hoãn, nhân nhượng với quân Tưởng ở miền Bắc

Trước tình hình phải đối đầu với nhiều mũi nhọn tấn công của kẻ thù và để tập trung lực lượng chống Pháp xâm lược ở miền Nam, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã thực hiện chủ trương hoà hoãn, nhân nhượng, đẩy lùi từng bước âm mưu chính trị quân sự của quân đội Tưởng và tay sai ở miền Bắc Nhờ vào sự ủng hộ mạnh mẽ của khối đoàn kết toàn dân, Nhà nước ta đã đấu tranh hoà hoãn, nhân nhượng với Tưởng về kinh tế và chính trị , tránh mọi hành động khiêu khích, xung đột, khéo léo giải quyết những vụ xung đột đã xảy ra theo sách lược “biến xung đột to thành xung đột nhỏ, biến xung đột nhỏ thành không có xung đột” Đảng đã cung cấp lương thực cho 20 vạn quân Tưởng, chấp nhận tiêu tiền “quan kim” và “quốc tệ” của chúng, mở rộng thêm 70 ghế đại biểu Quốc hội cho Việt Quốc, Việt Cách không thông qua bầu cử,…

Chủ trương nhân nhượng của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà là một

bước đi đúng đắn, kịp thời và táo bạo Việc nhân nhượng của Đảng và Nhà nước

ta đã hạn chế và vô hiệu hoá đến mức thấp nhất mọi hoạt động chống phá của

Trang 9

quân Tưởng và tay sai, làm thất bại âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng của chúng, tạo điều kiện cho kiến quốc và kháng chiến chống thực dân Pháp

2.3 Đàm phán ngoại giao với Pháp và Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946

Ngày 28/2/1946, Chính phủ Pháp và Chính phủ Trung Hoa dân quốc đã ký kết với nhau bản “Hiệp ước Pháp-Hoa” Theo đó, Trung Hoa Dân quốc đồng ý

để cho quân Pháp ra miền Bắc làm tiếp nhiệm vụ tước vũ khí và hồi hương quân Nhật trên cơ sở phía Pháp thỏa thuận nhượng cho Trung Hoa Dân quốc các tô giới và nhượng địa của Pháp trên đất Trung Hoa

Trước tình hình đó, chúng ta đã đánh giá được kẻ thù Về phía quân Tưởng, sau một thời gian dung túng cho quân Việt Quốc, Việt Cách, đã nhận ra không thể dựa vào lực lượng này để phá cách mạng Việt Nam bởi ảnh hưởng trong nhân dân Việt Nam rất thấp Đồng thời, tại thời điểm đó tình hình nội bộ Trung Quốc đang có nhiều vấn đề, đặc biệt là tình trạng Đảng Cộng Sản và Quốc Dân Đảng chuyển sang đối đầu, lực lượng Đảng Cộng Sản ngày một phát triển, đe dọa tới

vị trí của Quốc Dân Đảng Chính vì thế, Tưởng muốn rút khỏi Việt Nam để tiếp tục chống Đảng Cộng Sản Về phía quân Pháp, thực tế lực lượng của Pháp tương đối mỏng chỉ khoảng 6 vạn quân nên việc đồng thời đánh cả 3 miền (Bắc, Trung, Nam) sẽ khiến quân Pháp bị dàn trải Nếu mạo hiểm đánh ra Bắc sẽ gặp chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và gặp 20 vạn quân Tưởng Điều này sẽ khiến Pháp động chạm đến quyền lợi của quân Tưởng Việc Pháp và Trung Hoa Dân Quốc “bắt tay” nhau khiến tình hình trở nên cấp bách đòi hỏi Đảng ta phải

có chủ trương đối phó Tình thế đó đã đặt ra cho Việt Nam buộc phải lựa chọn

“đánh hay hoà”

Ngày 3/3/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp do Hồ Chí Minh chủ

trì, đã chọn giải pháp “hoà để tiến” Hội nghị nhận định rằng: “Vấn đề lúc này

không phải là muốn đánh hay không muốn đánh Vấn đề là biết mình biết người, nhận định một cách khách quan những điều lợi hại trong nước và ngoài nước

4 Nguyễn Văn Hoa, Giáo trình lịch sử Việt Nam 1945 – 1954, ĐHSP Huế, Huế, 2003

Trang 10

pháp đàm phán, hoà hoãn, nhân nhượng với mục đích: Quân Tưởng rút về nước, tránh được tình thế cùng một lúc phải chống lại nhiều kẻ thù, bảo toàn lực lượng, tranh thủ thời gian hoà hoãn để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới

Cuộc đàm phán giữa ta và Pháp đã diễn ra khẩn trương và căng thẳng, trong

đó vấn để gay go, bế tắc lớn là: Tính chất của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phía ta yêu cầu Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia “độc lập” nằm trong Liên bang Đông Dương và khối Liên hiệp Pháp, trong khi Pháp chỉ thừa nhận Việt Nam là một quốc gia “tự trị” Sau khi thống nhất với Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra yêu cầu: “Nước Pháp công nhận nước Việt Nam là một quốc gia tự do” làm giải pháp trung hòa cho quan điểm của hai bên và đã được Pháp chấp nhận

Chiều ngày 6/3/1946, trước sự chứng kiến của đại diện ngoại giao Mỹ, Anh, Trung Hoa Dân quốc, tại số nhà 38 phố Lý Thái Tổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và

Vũ Hồng Khanh, đại diện phía Việt Nam ký với Jean Sainteny, đại diện Chính

phủ Pháp bản “Hiệp định Sơ bộ”

Sau khi ký kết Hiệp định Sơ bộ, nước ta tiếp tục ký kết với Chính phủ Pháp bản “Tạm ước” ngày 14/9/1946 Với bản tạm ước này, phía ta tiếp tục nhân nhượng Pháp một số quyền lợi về kinh tế - văn hóa ở Việt Nam Bản Tạm ước

đã tạm thời đẩy lùi được cuộc đấu tranh nổ ra ở Đông Dương, kéo dài thêm thời gian hòa hoãn để xây dựng, củng cố lực lượng cách mạng và chuẩn bị cho cuộc đấu tranh lâu dài Có thể thấy, tạm ước 14/9 chính là bước nhân nhượng cuối cùng của Đảng ta với Pháp Nếu nhân nhượng nữa là phạm đến chủ quyền của đất nước, hại đến quyền lợi cao trọng của dân tộc

Hơn hết, bản Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 đã khẳng định Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ chỗ bị gạt ra ngoài thỏa thuận Pháp - Hoa đã trở thành một bên chủ thể quyết định đến việc thực hiện các điều khoản thay quân trong Hiệp ước Trùng Khánh, để kết thúc về mặt pháp lý vai trò của quân Tưởng tại Việt Nam, theo quy định của Hội nghị Postdam Đây là quyết định “nhất cử lưỡng tiện”, vừa tránh phải đối đầu với Pháp trong điều kiện bất lợi cả về thế và lực, vừa mượn tay Pháp đuổi 20 vạn quân Tưởng ra khỏi bờ cõi Cũng phải khẳng định rằng, Hiệp định Sơ bộ là một bước đi cần thiết, hy sinh không gian để đổi

Ngày đăng: 15/12/2021, 18:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: “Văn kiện Đảng Toàn tập” (2000), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 8, tr. 26-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng Toàn tập”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam: “Văn kiện Đảng Toàn tập”
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2000
2. Trung Hiếu (2016), “Hiệp định sơ bộ 6/3/1946: Nước cờ sắc sảo của Hồ Chủ tịch và Đảng ta”, Báo Dân trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hiệp định sơ bộ 6/3/1946: Nước cờ sắc sảo của Hồ Chủ tịch và Đảng ta”
Tác giả: Trung Hiếu
Năm: 2016
3. Philippe Devillers (1993), “Tài liệu lưu trữ chiến tranh 1944-1947” , Nxb Tp. Hồ Chí Minh, tr. 218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tài liệu lưu trữ chiến tranh 1944-1947”
Tác giả: Philippe Devillers
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1993
4. Nguyễn Văn Hoa (2003),“Giáo trình lịch sử Việt Nam 1945 – 1954” , ĐHSP Huế, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo trình lịch sử Việt Nam 1945 – 1954”
Tác giả: Nguyễn Văn Hoa
Năm: 2003
5. TS. Nguyễn Thị Mai Hoa (2011), “Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) - một quyết sách lịch sử”, ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS. Nguyễn Thị Mai Hoa (2011), "“Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) - một quyết sách lịch sử”
Tác giả: TS. Nguyễn Thị Mai Hoa
Năm: 2011
6. Giáo trình học phần Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam (2019), Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 67-68, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm