Tham luận dự Hội thảo về công tác Tạp chí – Xuất bản của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam VASS ngày 20/6/2017 Tạp chí khoa học và hội nhập quốc tế: Vài suy nghĩ về công bố quốc tế
Trang 1(Tham luận dự Hội thảo về công tác Tạp chí – Xuất bản của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VASS) ngày 20/6/2017)
Tạp chí khoa học và hội nhập quốc tế:
Vài suy nghĩ về công bố quốc tế trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam đầu thế kỉ 21
Nguyễn Tuấn Cường (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, VASS)
Tóm tắt: Từ kinh nghiệm học thuật quốc tế của mình, tác giả bài viết trình bày một số suy
nghĩ về công bố quốc tế trong các ngành KHXHNV ở Việt Nam nói chung Về cấu trúc, bài viết đi
từ những yêu cầu mới trong công bố quốc tế, đến phác hoạ một số đặc điểm thông thường của một vài viết tiêu chuẩn (theo thiên kiến chủ quan của tác giả); tiếp đó là phần trình bày về quy trình công
bố và kinh nghiệm ở từng giai đoạn của quy trình; cuối cùng là phần đề xuất một số ý kiến để quốc
tế hoá công tác tạp chí của VASS Bài viết cho rằng, công bố quốc tế vừa khó vừa không khó Sẽ là không khó với những người đầu tư đủ thời gian, tâm sức, chất xám, sự kiên trì, nghiêm túc; nhưng
sẽ là “thiên nan vạn nan” với những trường hợp muốn “hưởng nhàn” và không chịu thay đổi mình
Để thúc đẩy công bố quốc tế và phát triển tạp chí khoa học trong nước theo hướng chuẩn hoá quốc
tế trong lĩnh vực KHXHNV, cần có sự hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lí khoa học bằng chính sách quản lí và đầu tư cho khoa học; cần có nỗ lực “tự thay đổi mình” của cả các nhà nghiên cứu và hệ thống thiết chế quản lí tạp chí
Từ khoá: công bố quốc tế, hội nhập quốc tế, tạp chí quốc tế, khoa học xã hội và nhân văn (KHXHNV), Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VASS)
Cấu trúc bài viết:
1 “Publish or Perish”: Công bố quốc tế trong KHXHNV ở Việt Nam
2 Phác hoạ yêu cầu thông thường của một bài viết công bố quốc tế
3 Công bố trên tạp chí quốc tế: Quy trình và kinh nghiệm
4 Một số suy nghĩ để quốc tế hoá công tác tạp chí của VASS
5 Kết luận
***
Trang 21 “Publish or Perish”: 1 Công bố quốc tế trong KHXHNV ở Việt Nam
Yêu cầu mới
Trong 50 năm qua trên thế giới, một trong những thay đổi lớn nhất trong KHXHNV
chính là sự quốc tế hoá đội ngũ các nhà nghiên cứu Đặc điểm này cùng với việc toàn cầu hoá chính sách công và tư nhân hoá các khoản tài trợ nghiên cứu đã hợp lực trở thành ba nhân tố chính yếu tạo ra sự thay đổi cơ bản về nội dung của các vấn đề nghiên cứu.2 Quốc tế hoá và toàn cầu hoá đã trở thành hai đặc điểm quan trọng hàng đầu của KHXHNV trên thế giới, từ đó đặt ra nhu cầu bức thiết phải hội nhập quốc tế đối với các ngành KHXHNV Việt Nam
Vấn đề hội nhập quốc tế đã được đặt ra một cách cấp thiết ở Việt Nam thông qua Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, cũng như Nghị quyết số 31/NQ-CP ngày 13/5/2014 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực để hiện Nghị quyết số 22 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế Hội nhập
quốc tế cũng là vấn đề then chốt nằm trong chương trình phát triển chung của VASS Báo
cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam lần thứ XVIII, nhiệm kì 2015-2020 đã nhấn mạnh việc “thúc đẩy hội nhập quốc tế và khu vực về
khoa học xã hội, tham gia mạng các viện hàn lâm quốc tế cũng như các mạng nghiên cứu quốc tế chuyên ngành, liên ngành và đa ngành.” Gần đây nhất, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (2016) đã tiếp tục nhấn mạnh chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, […] đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hoá, xã hội, khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo và các lĩnh vực khác.”3 Hội nhập quốc tế đã trở thành xu thế tất yếu trong toàn bộ đời sống văn hoá xã hội Việt Nam, trong đó giới nghiên cứu khoa học cũng cần có nhận thức đúng đắn, đầy đủ, và có trách nhiệm thực hiện một cách nghiêm túc, tích cực GS.TS Phạm Quang Minh, Hiệu trưởng Trường Đại học KHXHNV – Đại học Quốc gia
Hà Nội, với tư cách là lãnh đạo của một trong những đơn vị giảng dạy và nghiên cứu
KHXHNV hàng đầu trong cả nước đã khẳng định: “đã đến lúc phải đổi mới trong nghiên cứu
KHXHNV.”4 TS Nguyễn Công Thảo (VASS) cũng nói hết sức riết róng: “Sẽ là vô cùng phi
1 Publish or Perish (công bố hay lụi tàn): cụm từ trong học giới Âu – Mĩ mô tả áp lực phải công bố nhanh và liên tục các công trình khoa học, để duy trì hoặc phát triển sự nghiệp khoa học “Publish or Perish” chính là “to be or not to be” (tồn tại hay không tồn tại) trong lĩnh vực học thuật, đặc biệt là với các nhà nghiên cứu trẻ, trong thời gian làm Nghiên cứu sinh hoặc lúc mới nhận bằng Tiến sĩ, cần khẳng định năng lực bằng các công bố khoa học nhanh và liên tục để làm đầy đặn lí lịch khoa học, từ đó có thể tìm được một vị trí công việc xứng đáng trong các trường đại học hoặc viện nghiên cứu
2 Phạm Quang Minh, “Một vài suy nghĩ về khoa học xã hội và nhân văn trên thế giới trong bối cảnh
toàn cầu hoá,” in trong: 100 năm nghiên cứu và đào tạo các ngành khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam,
Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006, tr 381-387
3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Hà Nội: Văn phòng Trung
ương Đảng, 2016
4 Phạm Quang Minh, “Đã đến lúc phải đổi mới trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn,” Tạp
chí Tia sáng, bản điện tử ngày 24/1/2017, http://tiasang.com.vn/-quan-ly-khoa-hoc/Da-den-luc-phai-doi-moi-trong-nghien-cuu-KHXHNV-10389
Trang 3lí nếu nhà khoa học cứ hết đề tài này lại đến đề tài khác, tiêu tốn ngân sách hàng tỉ đồng mà không thể công bố nổi vài bài trên tạp chí [quốc tế] có uy tín.”5
“Công bố hay lụi tàn” – Một lời kêu
gọi phải hành động
Bức ảnh minh hoạ cho rằng, trong học thuật, chỉ những người có công bố (publish) mới tồn tại được, rồi sẽ làm lại (repeat) một quá trình mới với những sức
ép như trước; còn nếu không làm gì, hoặc chỉ dừng lại ở ý tưởng (idea), hoặc là thực hiện nghiên cứu (research), thậm chí viết (write) xong công trình nghiên cứu (nhưng không xuất bản) thì đều bị coi như là lụi tàn (perish, chết).
(nguồn ảnh: Internet)
Tình hình chung trong nước
Thực tế cho thấy, trên lĩnh vực KHXHNV, trong thời gian khoảng 10 năm trở lại đây, ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng khắc phục những khó khăn về điều kiện nghiên cứu ở trong nước để chủ động hội nhập quốc tế về học thuật, tăng cường trao đổi với các học giả nước ngoài, học hỏi về phương pháp và kĩ năng nghiên cứu, thâm nhập vào các kho tư liệu nước ngoài để mở rộng phạm vi học thuật, từ đó công bố các công trình nghiên cứu khoa học ở nước ngoài.6 Bên cạnh đó, nhu cầu toàn cầu hoá đã tạo điều kiện để kiện toàn cơ chế quản lí vĩ mô, khiến cho các đơn vị nghiên cứu và đào tạo nói chung, trong đó
có nghiên cứu KHXHNV, ngày càng hướng đến khuyến khích hội nhập quốc tế, giao lưu trao đổi học thuật với nước ngoài, đó là một sự thuận lợi đáng kể để hội nhập quốc tế, xét từ bình diện cơ chế quản lí
Từ năm 2015, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) đã đưa tiêu chí công bố quốc tế thứ hạng cao (bài thuộc danh mục ISI7 - nay đã đổi thành “Web of
5 Nguyễn Công Thảo, “Xuất bản quốc tế: vì tâm và vì tầm,” Tạp chí Tia sáng, bản điện tử ngày
23/6/2016, http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/xuat-ban-quoc-te-vi-tam-va-vi-tam-9730
6 Một ví dụ gần nhất về công bố quốc tế của ngành Hán Nôm: Tạp chí Nghiên cứu chữ Hán 漢字研究
(tạp chí có chỉ số cao nhất của Hàn Quốc “KSCI” - Korea Science Citation Index, in tại Busan bằng tiếng Trung Quốc), số 14, ra cuối tháng 4/2016 vừa đăng “Số chuyên đề nghiên cứu văn tự Việt Nam” (越南漢字 研究專輯), trong đó có 7 bài của cán bộ Viện NCHN: Nguyễn Quang Hồng, Đinh Khắc Thuân, Nguyễn Thị Oanh, Lã Minh Hằng, Hoàng Phương Mai, Trần Trọng Dương, Nguyễn Tuấn Cường Ngoài ra còn có bài của các tác giả Việt Nam: Nguyễn Tú Mai, Phạm Văn Hưng, Quách Thị Nga Đây là lần đầu tiên có một tập san khoa học nước ngoài đăng số chuyên đề về văn tự học Việt Nam, chủ yếu do các nhà khoa học của Viện Nghiên cứu Hán Nôm thực hiện Các bài viết này được tuyển lựa từ các tham luận trong Hội thảo quốc tế
Văn tự với văn hóa Đông Á (東亞文字與文化 - East Asia: Scripts and Culture) do Viện NCHN chủ trì, Hội
Hán tự học thế giới (世界漢字學會) và Viện Nghiên cứu Hán tự Hàn Quốc (韓國漢字研究所) phối hợp tổ chức tại VASS ngày 15/8/2015 Trong năm 2017 này, dự kiến sẽ có thêm 2 số chuyên đề tạp chí nữa được Viện Nghiên cứu Hán Nôm phối hợp với tạp chí nước ngoài thực hiện và công bố ở nước ngoài
7 ISI: viết tắt từ “Institute for Scientific Information” (Viện Thông tin khoa học), thành lập từ năm 1960, sau sáp nhập vào tập đoàn Thomson Reuters ISI tiến hành thống kê, đánh giá, xếp hạng hàng chục nghìn tạp chí khoa học thuộc hầu khắp các lĩnh vực nghiên cứu, để cung cấp cơ sở thông tin đáng tin cậy nhằm đánh
Trang 4Science,” danh mục Scopus, hoặc danh mục tạp chí do Quỹ quy định) vào quy trình xét duyệt đầu vào bắt buộc (chứ không linh động như trước) đối với các ngành KHXHNV, điều này khiến cho số lượng đề tài đăng kí sụt giảm nhiều trong 2 năm qua, nhưng Quỹ vẫn giữ vững tiêu chí công bố quốc tế Điều đó cho thấy sự quyết tâm nâng cao chất lượng học thuật của một quỹ tài trợ quy mô lớn cho khoa học và công nghệ trong nước, chủ trương này được đánh giá là “yêu cầu hợp lý để nâng cao chất lượng công bố của Việt Nam trong lĩnh vực
KHXHNV.”8 Tiếp sau quỹ NAFOSTED, đến lượt Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất yêu cầu bài báo quốc tế đối với đầu ra của Nghiên cứu sinh, bài báo quốc tế thứ hạng cao đối với các giáo sư nếu muốn đủ tiêu chuẩn hướng dẫn Nghiên cứu sinh Tiếp đó đến lượt Hội đồng chức danh nhà nước đề ra dự thảo yêu cầu công bố quốc tế thứ hạng cao đối với các ứng viên Phó giáo sư và Giáo sư Từ cuối năm ngoái, VASS cũng đưa ra đề xuất bắt buộc có công bố quốc tế với các đề tài cấp Bộ (mặc dù tạm thời chưa thực hiện) Tất cả những động thái này cho thấy, nắm bắt được xu thế phát triển chung của học thuật thế giới, sau khi có chỉ đạo từ Đảng và Nhà nước, hệ thống học thuật cao cấp thuộc lĩnh vực KHXHNV nước ta đã dần quán triệt và từng bước thể chế hoá những yêu cầu mới trong nghiên cứu và công bố khoa học để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
Tình hình chung trong khu vực Đông Nam Á: lĩnh vực KHXHNV ít có công bố quốc
tế hơn lĩnh vực khoa học tự nhiên
giá chất lượng khoa học của các tạp chí cũng như bài báo được đăng tải ở các tạp chí ấy Gần đây ISI đã đổi thành “web of science,” bài viết này tạm dùng tên gọi cũ đã quen thuộc ở Việt Nam
8 Thanh Nhàn, “Giữ vững tiêu chí công bố quốc tế,” Tạp chí Tia sáng, bản điện tử ngày 13/7/2016,
http://tiasang.com.vn/-tin-tuc/giu-vung-tieu-chi-cong-bo-quoc-te-9907 Thanh Nhàn, “Đề tài Nafosted: Vẫn
“nóng” tiêu chí công bố quốc tế trong lĩnh vực KHXH&NV,” Tạp chí Tia sáng, bản điện tử ngày 26/4/2017,
http://tiasang.com.vn/-tin-tuc/De-tai-Nafosted-Van-%E2%80%9Cnong%E2%80%9D-tieu-chi-cong-bo-quoc-te-trong-linh-vuc-KHXHNV-10621
Trang 5Các chỉ số thống kê cho thấy, trong 5 năm qua, giới khoa học Việt Nam đã có tiến bộ vượt bậc trong công bố quốc tế thứ hạng cao Số bài tạp chí ISI đã tăng gấp đôi, từ khoảng
1500 bài của năm 2011 lên hơn 3000 bài trong năm 2016, mặc dù có ý kiến cho rằng số lượng chưa chắc đã phản ánh chất lượng.9 Vấn đề đặt ra là, số lượng bài viết trong ngành
KHXHNV chiếm tỉ trọng bao nhiêu trong tổng số công bố ISI? Nguyễn Hồng Cổn dựa trên việc so sánh số liệu thống kê các bài báo ISI nói chung và các bài báo ISI về KHXHNV nói riêng của Việt Nam và 5 nước ASEAN khác (Singapore, Malaysia, Thailand, Indonesia và Philippines) trong các năm 2010-2015, đã rút ra kết luận:
“- Thứ nhất, nếu tính theo quốc gia thì ở cả 6 nước, số bài công bố quốc tế của KHXH đều rất thấp so với KHTN, chỉ chiếm từ 4,7% (Malaysia) đến cao nhất là 9.6% (Philippines) trên tổng số công bố ISI của nước đó Tỷ lệ này ở Việt Nam là 5.5% (cao hơn Thailand, Malaysia, và Singapore nhưng thấp hơn Indonesia và Philippines)
- Thứ hai, nếu tính theo các trường đại học, thì ngoại trừ Singapore trung bình mỗi năm một trường công bố khoảng từ 15 đến 20 bài ISI về KHXH, còn các nước còn lại có mức công bố rất thấp chỉ khoảng 1-2 bài/trường/năm (xin lưu ý trên 1 trường đại học chứ không phải là là 1 giáo sư hay tiến sĩ) Tỷ lệ này ở KHTN từ khoảng 15 bài (Việt Nam, Indonesia, Philippines) đến 300 bài/trường/năm (Singapore)
9 Lê Văn, “Công bố quốc tế của Việt Nam: Lượng tăng nhưng chất giảm,” Vietnamnet.vn, ngày 13/6/2016, http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/cong-bo-quoc-te-cua-viet-nam-luong-tang-nhung-chat-giam-308651.html Bảng thống kê trên cũng lấy từ nguồn này
Trang 6Số liệu trên đây cho thấy không chỉ ở Việt Nam mà ở cả các nước khác trong khu vực,
kể cả các nước có trình độ phát triển hơn Việt Nam, KHXH có công bố quốc tế rất hạn chế
so với KHTN.”10
2 Phác hoạ yêu cầu thông thường của một bài công bố quốc tế
Công bố thì ở đâu cũng là công bố Dù trong nước hay ngoài nước, công trình khoa học đều có dáng dấp như nhau Khái niệm “công bố quốc tế” lẽ ra chỉ nên là “công bố trên tạp chí có uy tín” bất kể là tạp chí ở nước ngoài hay ở Việt Nam Có điều, ở những quốc gia có nền học thuật nghiêm cẩn và khắt khe, thì họ riết róng hơn với các tiêu chuẩn học thuật của bài viết; trong khi ở một số nước khác, thì điều này có thể linh động, thậm chí tuỳ tiện Sự nghiêm cẩn tạo ra nền học thuật tốt, còn sự tuỳ tiện gây ra những hậu quả xấu cho học thuật
Đã có nhiều tài liệu của giới học thuật quốc tế hướng dẫn viết và xuất bản một bài viết
(hoặc luận văn) Nổi tiếng nhất vẫn là cuốn sách How to Write and Publish a Scientific Paper
(Làm thế nào để viết và công bố một bài nghiên cứu khoa học) của Robert A Ray được xuất bản lần đầu năm 1979, hiện đã được tái bản 8 lần, với nhiều bổ sung cập nhật liên tục.11 Một vài tài liệu đã được dịch và xuất bản ở Việt Nam, như các sách của Umberto Eco12 và Michel Beaud.13 Nếu độc giả muốn đọc một công trình đầy đủ, toàn vẹn, có tính lí thuyết và phổ quát, thì ba cuốn sách trên là những lựa chọn đầu bảng Phần trình bày dưới đây chỉ là nhận thức qua kinh nghiệm của một người làm thực hành, chứ không phải người làm lí thuyết về vấn đề làm sao để nghiên cứu và xuất bản công trình khoa học, như các tác giả trên
Cấu trúc hình thức của một bài viết quốc tế
(a) Các thành phần bắt buộc:
- Nhan đề (title): Có hai cách đặt nhan đề: (1) Nhan đề một khối, ví dụ “Sự hội nhập
của Việt Nam nhìn từ góc độ lịch sử văn minh nhân loại”; (2) Nhan đề hai khối, ngăn cách
bằng dấu hai chấm, ví dụ: “Silk for Silver: Dutch-Vietnamese Relations, 1637-1700” (Đổi
lụa lấy bạc: Quan hệ Hà Lan – Việt Nam, 1637-1700) Học giới Anh ngữ thường dùng loại
nhan đề hai khối, để giảm bớt sự “khô khan” của học thuật hàn lâm, thường tạo được hứng thú cho độc giả ngay từ khi đọc nhan đề
- Thông tin tác giả (author): tên tác giả, nơi công tác Ngoài ra có các thành phần linh
hoạt: học hàm học vị, hướng nghiên cứu chính
10 Nguyễn Hồng Cổn, “Công bố quốc tế của khoa học xã hội dễ hay khó?”, Văn hoá Nghệ An bản
online ngày 8/6/2017 https://vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/van-hoa-hoc-duong40/cong-bo-quoc-te-cua-khoa-hoc-xa-hoi-de-hay-kho
11 Robert A Ray, How to Write and Publish a Scientific Paper, Philadelphia: ISI Press, 1979 (xuất bản
lần đầu) Bản in lần thứ 8 vừa được phát hành năm 2016 Ở lần tái bản thứ 6 (năm 2006) bắt đầu có thêm sự tham gia của tác giả thứ hai là Barbara Gastel Chỉ cần gõ tên sách tiếng Anh vào trang Google là có thể dễ dàng tìm thấy bản điện tử của cuốn sách này
12 Umberto Eco, Luận văn Umberto Eco (dành cho sinh viên ngành khoa học xã hội), Phạm Nữ Vân
Anh dịch, Hà Nội: NXB Lao động, 2010
13 Michel Beaud, Nghệ thuật viết luận văn, Nguyễn Phấn Khanh dịch, Hà Nội: NXB Tri thức, 2014
Trang 7- Tóm tắt (abstract): từ 200-400 chữ (words), trong đó có nêu kết luận chính, chứ không
chỉ nêu ý tưởng nghiên cứu, hoặc dự định nghiên cứu
- Từ khoá (key words): thường không quá 5 đơn vị, có tính thuật ngữ cao
- Chính văn (main text): có độ dài tuỳ theo quy định của từng tạp chí, nhưng thường từ
5.000-15.000 chữ (words),14 trong khi bài tạp chí trong VASS thường chỉ hạn định trong khoảng 3000-5000 chữ Đặc biệt có những tạp chí quốc tế chỉ có giới hạn số chữ tối thiểu, chứ không giới hạn tối đa, tức là có thể viết dài bao nhiêu tuỳ thích, miễn là trình bày hoàn chỉnh một vấn đề nghiên cứu
- Chú thích (note): Chú thích được trình bày tự động bằng phần mềm theo dạng Chú
thích chân trang (footnote) hoặc Chú thích cuối bài (endnote) Về nội dung chú thích, có hai nhóm: (1) Chú thích dẫn nguồn, nếu là dẫn nguồn chi tiết thì đưa vào Chú thích, nhưng cũng
có thể xen vào phần chính văn theo dạng kí hiệu rút gọn, ví dụ [Nguyễn Văn A 2015: 189], điều này tuỳ theo quy chế của từng tạp chí; và (2) Chú thích diễn giải, tức bổ sung cho phần nội dung chính, nhưng không cần thiết phải đưa vào chính văn để tránh làm loãng mạch văn
Sẽ rất kì lạ khi một công trình nghiên cứu mà lại không có một chú thích nào, trong khi điều này tồn tại khá phổ biến ở Việt Nam (và cả Trung Quốc đại lục), nhưng gần đây đã được cải thiện đáng kể
(b) Các thành phần không bắt buộc:
- Danh mục tài liệu tham khảo (References) hoặc Danh mục tài liệu trích dẫn (Works
Cited) Thông thường chỉ dùng Tài liệu trích dẫn, để tránh việc liệt kê danh sách tràn lan để
“lấy oai” mà không đóng góp cho nội dung bài viết Phần này cần tương ứng với phần Chú thích, nếu trong Chú thích đã ghi đầy đủ nguồn dẫn của từng tài liệu (chứ không ghi tắt theo dạng kí hiệu rút gọn) thì không nhất thiết cần thêm Danh mục tài liệu tham khảo/trích dẫn ở cuối bài
- Minh hoạ (illustration, gồm tranh, ảnh, biểu đồ, bảng thống kê…): lưu ý cần dẫn nguồn
rõ ràng nếu không phải sản phẩm mình làm ra Ở một số nước có nền học thuật phát triển cao (Âu - Mĩ, Nhật Bản, Đài Loan…), nếu sử dụng tư liệu minh hoạ không phải do tự mình
làm ra, thì thường yêu cầu phải có văn bản đồng ý của cá nhân hoặc tổ chức sở hữu quyền
xuất bản (publishing right) tư liệu minh hoạ đó
- Lời cảm ơn (acknowledgment): gồm lời xác nhận nhà tài trợ nghiên cứu, lời cảm ơn
các cá nhân và tổ chức đã giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu và công bố Kinh nghiệm
là chưa nên ghi lời cảm ơn trong bản gửi bình duyệt (peer review –, nghĩa đen là “thẩm bình đồng cấp”, tiếng Trung Quốc thường dịch là “同行評審”), mà chỉ nên ghi vào bản sửa chữa sau khi bình duyệt Nguyên tắc là nếu đã ghi lời cảm ơn cá nhân nhà khoa học nào, thì Ban
14 Thông thường, bài viết thuộc các ngành nhân văn thường dài hơn (8.000-15.000 chữ), còn các ngành khoa học xã hội có thể có số chữ ít hơn (5.000-10.000 chữ), tuỳ theo quy định của từng tạp chí
Trang 8biên tập tạp chí chắc chắn không mời nhà khoa học ấy làm người bình duyệt (peer reviewer) cho bài viết ấy, điều này khiến tác giả bài viết mất một lợi điểm
- Phụ lục (appendix): thông tin bổ sung cho phần chính văn, hoặc các bảng biểu thống
kê dài mà tác giả không muốn đưa vào chính văn
Một số yêu cầu thường thấy về nội dung của một bài viết quốc tế
- Chủ đề: nên nêu rõ bài viết nghiên cứu vấn đề gì, và tại sao vấn đề ấy lại quan trọng
và cần nghiên cứu? Giả thiết (hypotheses) khoa học của bài viết là gì? Bài viết muốn chứng minh điều gì, hoặc muốn phủ định điều gì?
- Cách tiếp cận (approach, hoặc phương pháp – method) mà bài viết lựa chọn khác gì
với những cách tiếp cận trước với cùng chủ đề nghiên cứu Vì vậy, tác giả cần liên tục cập nhật những phương pháp nghiên cứu mới, các trào lưu khoa học mới trong lĩnh vực chuyên môn của mình
- Cách tiếp cận liên ngành (interdisciplinary approach): điều này quan trọng và được
khuyến khích, nhưng không bắt buộc ở tất cả các bài viết Nghiên cứu liên ngành thường lấy đối tượng nghiên cứu làm bản vị, áp dụng tổng hợp nhiều phương pháp của các chuyên ngành lân cận và cần thiết ở những mức độ khác nhau để thảo luận các vấn đề xoay quanh một thực thể là đối tượng nghiên cứu Đề cao tính liên ngành không có nghĩa là hạ thấp tính chuyên ngành trong nghiên cứu khoa học
- Lịch sử vấn đề đã có những gì? Bao quát được những điểm chính trong lịch sử vấn đề
nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước Tác giả bài viết có trách nhiệm điểm lại những thành
tựu trong các công trình nghiên cứu bằng nhiều thứ tiếng Những bài bị đánh giá thấp thường
là những bài không có khả năng bao quát lịch sử vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài Điều này
dù thực sự khó khăn nếu tác giả chưa có quá trình thâm nhập vào học thuật quốc tế, nhưng lại thuộc về trách nhiệm chuyên môn của nhà nghiên cứu Nếu chọn chủ đề nghiên cứu chưa từng được học giới quốc tế thảo luận (tức là chủ đề thuần tuý trong nước, chỉ Việt Nam quan tâm), thì lại khó thu hút sự quan tâm của Ban biên tập tạp chí quốc tế, và bị loại từ sớm, bởi không nằm trong phạm vi quan tâm của tạp chí ấy
- Quá trình xử lí tư liệu và áp dụng cách tiếp cận được lựa chọn để phân tích tư liệu Phần này tương đối dài, cần biện giải với các luận cứ, luận chứng có tầng bậc, lớp lang, phân chia theo phần mục
- Tính mới của bài viết thường được nhấn mạnh trong kết luận về các phát hiện về tư
liệu, phương pháp, hoặc kết quả nghiên cứu Càng có nhiều điểm mới, bài viết càng có sức thuyết phục Tuy nhiên, với sự phát triển của học thuật thế giới, tìm ra một điểm mới mà đồng đạo quốc tế chưa biết thì đã là quý lắm rồi
3 Công bố trên tạp chí quốc tế: Quy trình và kinh nghiệm
Sau đây tôi xin chia sẻ một số điều về quy trình và kinh nghiệm để công bố quốc tế, từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng Đây là kinh nghiệm tôi có được trong công bố quốc tế
Trang 9thuộc lĩnh vực Hán Nôm, Hán học, Trung Quốc học, ngữ văn học cổ điển, Việt Nam học, cho nên có tính hạn chế của nó, hẳn là không thể áp dụng cho tất cả các lĩnh vực KHXHNV
[1] Chuẩn bị Hình thành ý tưởng nghiên cứu, chuẩn bị tư liệu
[2] Tạp chí nào? Xác định vấn đề nghiên cứu phù hợp với tạp chí nào mà mình muốn
hướng tới Có thể xin ý kiến tư vấn của những người có nhiều kinh nghiệm Thận trọng kiểm tra các nguồn thông tin để tránh các “tạp chí nguỵ tạo” (“sham journal” hoặc “predatory journal”, thường yêu cầu nộp nhiều lệ phí đăng bài, và rất dễ chấp nhận đăng bài).15
[3] Tìm hiểu về tạp chí Đọc các yêu cầu của tạp chí về hình thức và nội dung, đọc một
số bài viết đã xuất bản trong tạp chí ấy có liên quan gần với vấn đề mình nghiên cứu để biết cái “gu” của họ Với các nhà nghiên cứu có kinh nghiệm công bố quốc tế, không khó để xác định một tạp chí thuộc lĩnh vực gần với vấn đề mà bài viết của mình nêu ra
[4] Hoàn thành bài viết của mình theo yêu cầu về hình thức và nội dung của tạp chí đó
Khi viết, cần đặt mình vào vị trí của một học giả nước ngoài, khác nền tảng (background) văn hoá học thuật với mình để viết cho phù hợp Bởi có những điều ở trong nước thì quen thuộc nhưng với người nước ngoài thì chưa chắc, và ngược lại Lưu ý đảm bảo các yêu cầu
về hình thức của tạp chí, như độ dài, quy cách đặt tiêu mục, chú thích, tài liệu tham khảo… Trong quá trình hoàn thành bài viết, ngoại ngữ có thể là một trở lực lớn với nhiều nhà nghiên cứu Tác giả có thể viết trực tiếp bằng ngoại ngữ, hoặc viết tiếng Việt rồi thuê dịch, tuỳ điều kiện cụ thể Tuy nhiên, một nhà nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay nếu có quyết tâm quốc tế hoá thì cần có trách nhiệm thành thạo ngoại ngữ, đặc biệt là các ngoại ngữ mạnh (Anh, Pháp, Đức, Nga, Tây Ban Nha, Trung, Nhật, Hàn) Sẽ rất khó khăn khi làm việc với văn bản bình duyệt mà không biết ngoại ngữ TS Nguyễn Công Thảo cho rằng:
“Công bằng mà nói, ngoại ngữ cũng là một rào cản khiến nhiều nhà khoa học ngại ngần đưa công trình của mình ra quốc tế Dẫu rằng việc thuê dịch đã trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết nhưng đạt được trình độ ngoại ngữ căn bản để có thể chủ động trao đổi qua lại với phía xuất bản nước ngoài dường như vẫn còn là giấc mơ chia ở thì tương lai…xa Sự non kém về ngoại ngữ không chỉ khiến người ta e ngại mà còn mơ hồ về những gì đang diễn ra bên ngoài; khiến người ta bị gạt ra một bên hoặc cứ lầm lũi lê bước sau những bước nước rút thần tốc của đồng nghiệp đâu đó.”16
[5] Sửa ngoại ngữ Tìm một người bản ngữ, tốt nhất là một nhà nghiên cứu gần chuyên
môn, để nhờ đọc sửa ngoại ngữ Nên sửa ở dạng “track changes” trong WinWord để tác giả biết bài bị sửa chỗ nào, đó cũng là một cách nâng cao ngoại ngữ học thuật
15 Về tạp chí nguỵ tạo, xem bài gần đây trên tạp chí Nature bản điện tử: “Predatory journals recruit fake editor” (Các tạp chí nguỵ tạo tuyển dụng biên tập viên giả mạo), Nature, 22 March, 2017; bản lược dịch
ra tiếng Việt của Vũ Nhàn nhan đề: “Vấn nạn tạp chí khoa học nguỵ tạo” đăng trên Tia sáng bản điện tử,
11/4/2017, http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/Van-nan-tap-chi-khoa-hoc-nguy-tao-10580
16 Nguyễn Công Thảo, “Xuất bản quốc tế: vì tâm và vì tầm,” bài đã dẫn
Trang 10[6] Gửi bài cho tạp chí qua email và chờ hồi đáp báo nhận Nên gửi một bản WinWord
và một bản PDF Trong bản gửi đi nên chèn vào phần footer của văn bản câu “Preliminary
draft, do not cite or circulate without author's permission” (Bản thảo, đề nghị không trích
dẫn và lưu chuyển nếu không được tác giả cho phép) Lưu ý rằng các tạp chí chuyên nghiệp chắc chắn sẽ hồi đáp báo nhận bài trong một vài ngày Đó là quy trình, và cũng để đảm bảo phép lịch sự tối thiểu trong giao tiếp quốc tế Nếu chưa có hồi đáp tức là có thể bài viết bị gửi sai địa chỉ email, hoặc bị rơi vào hòm thư spam
[7] “Vòng gửi xe”: Ban biên tập (bao gồm Tổng biên tập và Phó Tổng biên tập, đều là
các nhà chuyên môn) đọc duyệt trước, họ có thể từ chối bài ngay từ “vòng gửi xe” này nếu thấy bài viết không liên quan đến lĩnh vực của tạp chí, hoặc chất lượng nội dung quá thấp, không biết bài viết muốn làm rõ cái gì, tức là không xác định được cái “argument” trong bài Nếu bài viết có thể chấp nhận được, và Ban biên tập cảm thấy hứng thú với bài viết, họ có thể có ngay một số gợi ý, đề nghị để chỉnh sửa bài và gửi lại, sau đó mới gửi bình duyệt Ở khâu này, vấn đề hình thức trình bày chưa quan trọng
[8] “Hiệp một”: Nếu qua được “vòng gửi xe” trên, bài viết sẽ được chủ ý xoá tên tác
giả và những thông tin hiển nhiên có thể cung cấp thông tin tác giả là ai, rồi sau đó được gửi tới người bình duyệt (peer reviewer), thường là ít nhất hai người Về nguyên tắc, tác giả và những người bình duyệt không (được) biết nhau, điều này cũng tương tự như quá trình phản biện kín đối với các luận án tiến sĩ tại Việt Nam hiện nay Quá trình bình duyệt có thể kéo dài một vài tháng, tuỳ trường hợp Người bình duyệt thường làm việc không nhận thù lao,
dù công việc khá vất vả, nhưng đó là trách nhiệm với lĩnh vực học thuật của họ Thông thường, người bình duyệt không nằm trong danh sách Hội đồng biên tập của tạp chí
Ban biên tập nhận bản nhận xét chi tiết của những người bình duyệt, ở mục kết luận của các bản nhận xét thường liệt kê sẵn bốn khuyến nghị:
(1) Cho đăng không cần sửa - Accept without revision;
(2) Cho đăng nhưng cần sửa chữa nhỏ - Accept with minor revisions;
(3) Cho đăng nhưng cần sửa chữa lớn - Accept with major revisions, kèm theo yêu cầu
có cần gửi lại cho người bình duyệt sau khi sửa hay không – Send back to reviewer or not; (4) Không đăng - Reject
Trường hợp thứ nhất hầu như không xảy ra Còn nếu các bình duyệt đều chọn trường hợp 4 thì coi như bạn đã gặp tình huống bóng đá “cái chết bất ngờ” (sudden death), và chỉ còn cách (tự sửa và) gửi tạp chí khác Nếu hai người bình duyệt có ý kiến quá lệch nhau trong đó một người ủng hộ còn một người không (ví dụ loại 1 và 4, hoặc 2 và 4, hoặc 1 và 3), thì Ban biên tập có thể chủ động đề nghị tác giả quan tâm nhiều hơn đến ý kiến của người bình duyệt nào; hoặc mời thêm một người bình duyệt nữa để đối chiếu (tất nhiên sẽ mất thêm thời gian một vài tháng)