MỞ ĐẦU 1. Sự cấp thiết của việc chọn đề tài: Chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng thì “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân”. Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và trưởng thành, với tính cách là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, Nhà nước ta đã thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình trong mọi giai đoạn cách mạng. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, bộ máy Nhà nước còn có nhiều khuyết điểm, chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ mới. Đó là bộ máy Nhà nước chưa thật sự trong sạch, vững mạnh, tình trạng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, ức hiếp nhân dân còn xảy ra khá trầm trọng; tổ chức bộ máy nhà nước còn công kềnh, nặng nề, kém hiệu quả. Tình trạng kỷ cương xã hội còn bị buông lỏng, hiệu lực điều hành, quản lý của nhà nước chưa nghiêm, hiện tượng “Phép Vua thua lệ làng”, “trên bảo dưới không nghe” còn xảy ra ở nhiều nơi. Nạn tham nhũng, sử dụng lãng phí và thất thoát tài sản công xảy ra khá nghiêm trọng, gây bất bình trong nhân dân. Một bộ phận không nhỏ cán bộ công chức Nhà nước thiếu kiến thức, yếu kém về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thoái hoá về phẩm chất, đạo đức và lối sống…Những yếu kém đó đã làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Chính vì vậy mà đòi hỏi về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang là điều kiện sống còn sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay. Ở quận Bình Tân, thực trạng bộ máy chính quyền địa phương cũng không nằm ngoài những thiếu sót và yếu kém nói trên. Cho nên, việc xây dựng bộ máy chính quyền địa phương trong sạch, vững mạnh, thật sự là của nhân dân, co dân và vì dân đang đặt ra như một đòi hỏi bức xúc. Vì vậy, chọn đề tài: “Vận dụng lý luận về Nhà nước Pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trong việc nâng cao vai trò lãnh đạo của UBND quận Bình Tân hiện nay” là việc làm vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Sự cấp thiết của việc chọn đề tài:
Chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng thì
“Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân” Nhân dân sử dụng quyền lựcNhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đạidiện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu tráchnhiệm trước nhân dân
Trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và trưởng thành, với tính cách làcông cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, Nhà nước ta đãthực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình trong mọi giai đoạn cách mạng.Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, bộ máy Nhà nướccòn có nhiều khuyết điểm, chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ mới Đó là
bộ máy Nhà nước chưa thật sự trong sạch, vững mạnh, tình trạng quan liêu,cửa quyền, sách nhiễu, ức hiếp nhân dân còn xảy ra khá trầm trọng; tổ chức
bộ máy nhà nước còn công kềnh, nặng nề, kém hiệu quả Tình trạng kỷ cương
xã hội còn bị buông lỏng, hiệu lực điều hành, quản lý của nhà nước chưanghiêm, hiện tượng “Phép Vua thua lệ làng”, “trên bảo dưới không nghe” cònxảy ra ở nhiều nơi Nạn tham nhũng, sử dụng lãng phí và thất thoát tài sảncông xảy ra khá nghiêm trọng, gây bất bình trong nhân dân Một bộ phậnkhông nhỏ cán bộ công chức Nhà nước thiếu kiến thức, yếu kém về trình độchuyên môn, nghiệp vụ, thoái hoá về phẩm chất, đạo đức và lối sống…Nhữngyếu kém đó đã làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.Chính vì vậy mà đòi hỏi về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam đang là điều kiện sống còn sự nghiệp đổi mới của nước ta hiện nay
Ở quận Bình Tân, thực trạng bộ máy chính quyền địa phương cũngkhông nằm ngoài những thiếu sót và yếu kém nói trên Cho nên, việc xâydựng bộ máy chính quyền địa phương trong sạch, vững mạnh, thật sự là củanhân dân, co dân và vì dân đang đặt ra như một đòi hỏi bức xúc
Trang 2Vì vậy, chọn đề tài: “Vận dụng lý luận về Nhà nước Pháp quyền Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam trong việc nâng cao vai trò lãnh đạo của UBND quận Bình Tân hiện nay” là việc làm vừa có ý nghĩa lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay đã có nhiều tài liệu, sách báo viết về Nhà nước Phápquyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Ở thành phố Hồ Chí Minh cũng đã cónhiều người từng đề cập đến nội dung xây dựng chính quyền địa phươngnhưng chưa có ai nghiên cứu về đề nâng cao vai trò hoạt động của UBNDquận với tư cách là một tiểu luận lý luận chính trị Vì vậy, đề tài này sẽ khôngtrùng lắp với bất kỳ công trình nào đã được công bố
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục tiêu của đề tài là đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng caovai trò của UBND quận Bình Tân đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mớihiện nay ở địa phương
Để thực hiện mục tiêu trên, đề tài tiến hành những nhiệm vụ chủ yếusau đây:
- Làm rõ cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cấpquận ở nước ta hiện nay
- Làm rõ thực trạng việc thực thi vai trò lãnh đạo của UBND quận BìnhTân đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
- Trên cơ sở đó, đề ra phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao vaitrò của UBND quận
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng của đề tài là vai trò lãnh đạo của UBND quận Bình Tân Đềtài không nghiên cứu toàn bộ tổ chức bộ máy, cũng như không nghiên cứutoàn bộ hoạt động của UBND quận Bình Tân mà tập trung làm rõ vai trò lãnhđạo của UBND quận Bình Tân mà tập trung làm rõ vai trò lãnh đạo củaUBND quận Bình Tân đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
Trang 35 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Cơ sở lý luận của đề tài này là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, và quan điểm, đường lối của Đảng ta về Nhà nước, về Nhà nước phápquyền và về Hội đồng nhân dân
Đề tài sẽ quán triệt các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử mà trực tiếp là: phương pháp lôgic và lịch sử,trừu tượng và cụ thể, hệ thống hoá…
Các phương pháp cụ thể là: nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu sách vàkhảo sát thực tế tại địa phương… Tất cả đều gắn lý luận với thực tiễn
6 Ý nghĩa của đề tài.
Với kết quả nghiên cứu, Đề tài có thể sẽ góp phần làm rõ thêm thựctrạng và giải pháp trong việc nâng cao vai trò lãnh đạo của UBND quận
Đề tài cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, giảngdạy về chính trị học và các vấn đề khác có liên quan
7 Kết cấu của tiểu luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Tiểu luậnđược gồm 3 chương với 07 tiết được thể chế trong 34 trang
Trang 4Chương 1NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1 Khái niệm về Nhà nước Pháp quyền.
Trước hết, cần phải khẳng định rằng, nhà nước pháp quyền không phải làmột kiểu nhà nước như một số người đã lầm tưởng Trong lịch sử chỉ có bốn nhànước là: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản và nhà nước
xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, không có kiểu nhà nước thứ năm nào khác
Có thể nói một cách đơn giản: Nhà nước Pháp quyền, đó là hệ thống cácquan điểm và kinh nghiệm thực tiên đề cao pháp luật trong tổ chức và hoạt độngcủa bộ máy nhà nước và trong đời sống xã hội Các tư tưởng, quan điểm này đã
ra đời từ rất sớm và ngày càng được phát triển, hoàn thiện hơn
1.1.1 Sự hình thành của Nhà nước pháp quyền trong lịch sử.
Một là, Những quan điểm cai trị của Phương Đồng Cổ đại như là những
mầm móng về Nhà nước pháp quyền Bên cạnh những quan điểm cai trị mang
tính nhân văn - coi trọng mạng sống của con người, đời sống của dân Thời Cổđại Trung Quốc mà tiêu biểu là các học thuyết “Đức trị” , “Kiêm ái trị”, “Vô vitrị” thì tư tưởng “Pháp trị” lại đề cao vai trò của pháp luật trong tổ chức, hoạtđộng của nhà nước và quản lý xã hội
Tư tưởng trị quốc bằng pháp luật vốn đã có từ thời Xuân Thu do QuảnTrọng (nước Tề) đề xướng, sau đó được Tử Sản (nước Trịnh) phát triển và xâydựng lên thành “Hình thư” Đến thời Chiến Quốc, phát triển thành ba hệ phái
“Pháp gia”: Phái “Trong pháp” (pháp luật) do Thương Ưởng làm đại biểu; Pháp
“Trọng thế” (quyền lực) do Thận Đáo cầm đầu; Phái “Trọng thuật” (thủ đoạn) màđại diện là Thân Bất Hại Hàn Phi - một học giả muộn nhất thời Chiến Quốc đãhợp nhất ba phái trên thành một học thuyết “Pháp trị” hoàn chỉnh với “Pháp” làtrung tâm, còn “Thế” và “Thuật” là điều kiện tối cần thiết để thực thi “Pháp trị”
Trang 5Theo Hàn Phi Tử, cai trị dân phảo lập pháp luật mà cai trị - Pháp luậtlại phải chuyển biến theo thời thế, thời thế chuyển mà phép cai trị không đổithì sẽ loạn Cũng theo ông, pháp luật viết thành văn và công bố rộng rãi chomọi người, pháp luật phải nghiêm minh và có chế độ thưởng, phạt đúng đắn
vì lẽ phải và lợi ích chung…
Hai là, Các nhà cải cách dân chủ Hy Lạp Thời Cổ đại đã xác lập trên
thực tế những thiết hạn chế dân chủ của nhân dân mang tính pháp quyền đầu tiên trong lịch sử nhân loại Trong cuộc đấu tranh chống bọn quý tộc
gian ác, Solon đã tổ chức bộ máy nhà nước do dân cử theo nguyên tắc đạibiểu nhiều đẳng cấp, kể cả đẳng cấp thứ tư (tá điền) gồm: Đại hội nhân dân
“Hội đồng bốn trăm”, Toà án nhân dân Tiếp theo Solon, Côlisten đã tổ chứcbầu cử chính quyền theo tỷ lệ của dân cư ở từng địa vực cư trú của công dân;Đại hội nhân dân là cơ quan quyền lực tối cao được điều hành bằng sự luânphiên bởi các đại biểu của từng khu vực; công việc hàng ngày của Nhà nước
do một uỷ ban thường trực điều khiển Kế thừa và phát triển thành tựu củangười đi trước, Ephiantet đã xác lập bộ máy nhà nước dân cử theo tư tưởng:
“Tam quyền dân lập”: Quyền lập pháp thuộc về Đại hội nhân dân, Quyềnhành pháp thuộc về Hội động nhân dân và các cơ quan hành chính nhà nước,Quyền tư pháp thuộc về Toà án nhân dân Ông cũng đã đặt ra chế độ “Quytrách nhiệm” trước nhân dân đối với những người lập pháp về hậu quả củanhững dự luật mà họ đề nghị thông qua trước Hội đồng nhân dân
Ba là, các triết gia Cổ đại Hy Lạp – La Ma đã đề cao vai trò của
pháp luật mang tính pháp quyền trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước.
Về vân đề này, Socrate (469 – 399tcn) là người ủng hộ triệt để nguyên tắctuân thủ pháp luật Ông cho rằng, công lý ở trong sự tuân thủ pháp luật hiệnhành; sự công minh và sự hợp pháp đều là một; nếu không tuân thủ phápluật thì cũng không thể có Nhà nước và trật tự pháp luật Công dân của nhànước nào tuân thủ pháp luật thì nhà nước đó sẽ vững mạnh và phồn vinh.Tiếp theo Socrate, Phaton đã xem hoạt động xét xử là để bảo vệ pháp luật,
Trang 6nhà nước sẽ ngưngd tồn tại nếu như trong nhà nước ấy không được tổ chứcmột cách thoả đáng Đặc biệt là luận điểm: “Ta nhìn thấy sự diệt vong củacái Nhà nước mà trong đó pháp luật không là sức mạnh và ở dưới quyền lựccủa ai đấy ” Aristote (384 – 322tcn) đã tiếp tục phát triển và làm sâu sắcthêm các quan điểm chính trị pháp lý của Phaton Theo Aristote, yếu tố cấuthành cơ bản của phẩm chất chính trị trong các đạo luật là sự phối hợp củatính đúng đắn về chính trị của nó với tính pháp quyền Ông cực lực lên ánviệc cầm quyền không những không tuân theo luật, mà còn chà đạp lên luật,những mưu toan thống trị bằng bạo lực Tất cả những điều đó mâu thuẫn với
tư tưởng Nhà nước pháp quyền Còn Ciceron (106 – 43 tcn) đưa ra nguyêntắc: Tất cả mọi người đều ở dưới hiệu lực của Pháp luật Các đạo luật do conngười quy định phải phù hợp với tính công minh và quyền tự nhiên Tiêuchuẩn để đánh giá tính công minh của các đạo luật là sự phù hợp với quyền
tự nhiên của con người
Bốn là, Những tư tưởng cơ bản về Nhà nước pháp quyền được phát
triển và xác lập khá vững chắc bởi các Triết gia Phương Tây Thời Cận đại.
Những nhà tư tưởng thời này đã xây dựng cơ sở lý luận làm nền tảng vữngchắc cho việc xây dựng một nhà nước mà chủ quyền về nhân dân mà tiêubiểu là tư tưởng của một số nhà lý luận nổi tiếng như:
- J Lokce (1632 - 1704) đã khẳng định các quyền của con người (baogồm quyền tự do, bình đẳng và sở hữu) là tự nhiên và không bị tước đoạt,nhà nước lập ra là để bảo vệ các quyền của con người Ông đã xây dựng họcthuyết về toàn bộ quyền lực nhà nước của nhân dân Theo ông, do quy luật
tự nhiên cùa cuộc sống, quyền tự nhiên của con người bị xâm phạm Để bảo
vệ quyền tự nhiên của mình, mọi người cùng “ký kết” hình thành một chínhquyền có quyền lực chung Đó là sự uỷ quyền của mọi thành viên trong xãhội Từ đó, J Lokce đã đưa ra ba kết luận quan trọng: Một, quyền lực nhànước, về bản chất, là quyền lực của nhân dân; quyền lực của dân là cơ sở, lànền tảng của quyền lực nhà nước; trong quan hệ với dân, Nhà nước không
Trang 7có quyền mà chỉ thực hiện sự uỷ quyền của nhân dân Hai, Nhà nước - xãhội chính trị, xã hội công dân thực chất là một “Khế ước xã hội” trong đó,công dân nhượng một phần quyền lực của mình để hình thành quyền lựcchung - quyền lợi nhà nước để điều hành, quản lý xã hội nhằm bảo toànquyền tự nhiên của mỗi con người Ba, bảo toàn quyền tự nhiên của mỗi cánhân con người, đó cũng là tiêu chí căn bản xác định giới hạn và phạm vihoạt động của nhà nước đi qua giới hạn này, chính quyền trở thành chuyênchế, kẻ thù của tự do, đối tượng của Cách mạng.
Ông cũng xem việc phân quyền lực nhà nước thành các quyền khácnhau do các cơ quan khác nhau đảm nhiệm là một “tất yếu kỹ thuật” củanhững thể chế chính trị tự do để ngăn chặn chuyên chế và hống độc tài.Theo đó, Quyền lập pháp là tiêu biểu hiện ý chí chung của quốc gia, thuộc
về toàn thể nhân dân và là Quốc hội hay Nghị viện; Quyền hành pháp làthực hiện pháp luật đã được thiết lập bởi lập pháp thuộc về Chính phủ vàcác cơ quan hành chính nhà nước; Quyền tư pháp là quyền trừng trị tộiphạm và giải quyết sự đụng độ giữa các cá nhân được thực hiện từ nhữngthẩm phán do nhân dân lựa chọn và việc xét xử chỉ tuân theo pháp luật.Việc phân quyền phải tạo cho “Cân bằng” để lấy “Quyền lực kiểm soátquyền lực”; Các quyền phải cân bằng và chế ước lẫn nhau để bảo đảm tự dochính trị của nhân dân
Roussau (1712 - 1788) đã xây dựng lý luận về chủ quyền tối thượngcủa nhân dân dối với quyền lực nhà nước Từ sự phân tích về trạng thái tựnhiên, lý tưởng của con người, ông cho rằng, sự xuất hiện chế độ tư hữu làmnày sinh khoảng cách giàu - nghèo cùng những bất công xã hội, con người
có nguy cơ bị diệt vong về vật chất Để thoát khỏi tình trạng đó, người taphải liên hiệp lại với nhau hình thành nên xã hội công dân; và nhân dân thiếtlập nhà nước như một “Khế ước xã hội” nhằm bảo vệ quyền tự do tự nhiêncủa mỗi người Do sự chuyển hoá của chính quyền thành chuyên chế, lộngquyền và bạo ngược làm cho mọi người trở thành vô quyền trước những kẻ
Trang 8chuyên quyền Từ đó, Roussau đề ra thuyết hoc về chủ quyền tối thượng củanhân dân Nhân dân có quyền bãi bỏ “Khế ước” một khi nhà nước (nảy sinh
“Triết học pháp quyền” (1821), Hegel (1770 - 1831), đã lập luận rằng, cấu trúccủa nhà nước pháp quyền với các yếu tố xã hội công dân, trật tự pháp luật và cácđạo luật mang tính pháp quyền tạo thành
Có thể nói rằng, các nhà tư tưởng trong thời kỳ này tuy còn có những hạnchế về thế giới quan, nhưng đã nêu ra được những ý niệm cụ thể về mối quan hệgiữa nhà nước và pháp luật Họ đều cho rằng, nhà nước phải tuên theo pháp luật,đặt mình dưới pháp luật do nhân dân tuyên bố và hiễu rõ về chúng
1.1.2 Đặc trưng của nhà nước pháp quyền.
Tại hội nghị khoa học quốc tế học tại BÊ NANH (9/1991) với sự tham
dự của 40 nước trên thế giới đã đi đến quan niệm chung về nhà nước phápquyền với những đặc trưng cơ bản là:
- Nhà nước Pháp quyền là một chế độ chính trị mà ở đó nhà nước vàcác cá nhân phải tuân thủ pháp luật; mọi quyền, nghĩa vụ của tất cả mọingười và của mỗi người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, các quy phạmpháp luật được bảo đảm thực hiện bằng một hệ thống Toà án độc lập
- Nhà nước Pháp quyền có nghĩa vụ tôn trọng giá trị cao nhất của conngười và bảo đảm cho công dân có khả năng chống lại sự tuỳ tiên của các cơquan nhà nước bằng việc lập ra cơ chế chặt chẽ để kiểm tra tính hợp hiến vàhợp pháp của pháp luật cũng như hoạt động của bộ máy hành chính
Trang 9- Nhà nước Pháp quyền phải tạo cho công dân sự bảo đảm rằng, người
ta không bị đòi hỏi bởi các ngoài (hoặc trên) những điều đã được ghi trongHiến pháp và các đạo luật, nên trong hệ thống pháp luật nhà nước thì hiếnpháp giữ vị trí tối cao và nó phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm tự do vàquyền công dân
Hiện nay, còn nhiều cách định nghĩa khác nhau về Nhà nước pháp quyền,nhưng tựu chung lại của toàn bộ nói trên, nội hàm cơ bản của khái niệm Nhànước pháp quyền có thể là những dấu hiệu đặc trưng cơ bản như sau:
- Nhà nước Pháp quyền là Nhà nước dựa trên cơ sở Pháp luật, đượcthực hiện thông qua Pháp luật và bị hạn chế bởi chính Pháp luật
- Nhà nước Pháp quyền là nhà nước mà hoạt động của nó dựa hẳn vàocác đạo luật và nhằm thực hiện nghiêm chỉnh các đạo luật Tuân thủ và bảo
vệ các quyền của công dân, của các đơn vị kinh tế và các tổ chức xã hội;giữa chính có sự liên kết hệ chặt chẽ với nhau bởi trách nhiệm Pháp lý
- Nhà nước Pháp quyền là tổ chức chính trị của xã hội thông qua Phápluật để tạo ra các điều kiện cho sự tồn tại và hoạt động của xã hội công dân,một xã hội bảo gồm hệ thống các thiết chế xã hội để mỗi công dân và cácliên hiệp của họ thực hiện tự do những khả năng sáng tạo của mình
1.2 Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
1.2.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin và Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền.
Một là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xây
dựng trên cơ sở những quan điểm Mác - Lênin về Nhà nước pháp quyền.
Mác cho rằng, tư tưởng trung tâm của Nhà nước Pháp quyền là việckhẳng định chủ quyền của nhân dân - lực lượng được xem là nguồn gốc củaquyền lực Trong nhà nước Pháp quyền, sự tự do của nhân dân được bảođảm bởi nhà nước, với sự phụ thuộc nhà nước vào xã hội Mác khẳng địnhrằng: Tự do là ở chỗ biến nhà nước từ cơ quan đứng trên xã hội thành cơquan hoàn toàn phụ thuộc vào xã hội Các hình thức Nhà nước tự do hay
Trang 10không tự do tuỳ thuộc ở chỗ trong những hình thức ấy, sự tự do của Nhànước bị hạn chế tới mức độ nào
Lênin đã chỉ rõ sự khác biệt giữa nhà nước XHCN và nhà nước bóc lột
là ở chỗ Nhà nước XHCN thực hiện dân chủ trong tổ chức, hoạt động củamình, là cơ quan đại diện cho ý chí và quyền lực của nhân dân lao động Ngườiviết: Chính quyền với tính cách là chuyên chính của đại đa số, đac có thể đượcduy trì và đã được duy trì là nhờ vào sự tín nhiệm của quần chúng đông đảo…
Đó là chính quyền công khai với mọi người, làm mọi việc trước mặt quầnchúng, quần chúng dễ dàng gần gũi nó, nó trực tiếp sinh ta từ quần chúng, là cơquan trực tiếp đại diện cho quần chúng nhân dân và cho ý chí của họ
Hai là, Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xây
dựng trên cơ sở Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước Pháp quyền.
Trong kho tàng đồ sộ của Tư tưởng Hồ Chí Minh - di sản vô giá củadân tộc Việt Nam và của cả nhân loại, thì tư tưởng về một nhà nước kiểumới - Nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân - là di sản vô cùng quýbáu về xây dựng nhà nước Pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay Đã cónhiều công trình khoa nghiên cứu về đề tài này mà ở đây chúng ta có thểnêu một số nội dung cơ bản như sau đây:
- Trong tác phẩm “Đường kách mệnh” (năm 1972) Người đã đề cậpmột cách trực tiếp những vấn đề lý luận cách mạng Việt Nam; trình bày mộtcách có hệ thống những đặc trưng, tính chất, những bài học có thể rút ra từcuộc cách mạng tiêu biểu của thế giới lúc bấy giờ; từ cách mạng Mỹ, cáchmạng Pháp đến cách mạng Tháng Mười Nga Từ sự so sánh, Người đã điđến kết luậtn: Chúng ra đã hy sinh làm cách mạng, thì nên làm cho đến nơi,nghĩa là làm xong cách mạng rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ
để trong tay một bọn ít người Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thì dân chúngmới được hạnh phúc
- Ngay khi mới ra đời, trong “Chính cường vắn tắt” - Cương lĩnh đầutiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, Người đã đề ra việc xây dựng
Trang 11“Chính phủ công nông binh” – Đây là một nội dung quan trọng trong cươnglĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
- Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền về tay nhân dân,với bản tuyên ngôn độc lập (2/9/1945) và Hiến pháp 1946 ra đời đã thể hiệntập trung tập trung tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về một nhà nước thật
sự của dân, do dân và vì dân Người đã nêu quan điểm “Tất cả quyền bínhtrong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam” Người khẳng định: Ngườikhẳng định nước ta là một nước dân chủ Tất cả quyền hành và lực lượngđều ở nơi dân, bao nhiêu quyền hạn của dân Người viết: “Công cuộc đổimới và xây dựng là trách nhiệm của dân, sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc
là công việc của dân Chính quyền từ xã đến trung ương đều do dân cử ra.Đoàn thể từ xã đến trung ương do dân tổ chức nên”
Người nêu rõ: “… Do tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội Quốchội sẽ cử ra chính phủ Chính phủ dó thật sự là chính phủ của toàn dân”
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh nhà nước của dân cũng có nghĩa là dân
có quyền kiểm soát nhà nước Như vậy, dân được đặt ra ở vị trí tối thương
và quyền đó được bảo đảm trong thực tế chứ không phải là chỉ trên lời nói
“Chính phủ là chính phủ của dân, chỉ có một mục đích là phụng sựcho lợi ích của nhân dân…” Người chỉ rõ: “Nhân dân có quyền bãi miễn đạibiểu Quốc hội và đạo biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ rakhông xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân…”
Tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà nước Pháp quyền được thểhiện rõ nét ở quan điêm: Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và phápluật và quan điểm: Pháp luật phải lấy chữ nhân làm trọng
Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc đưa Hiến pháp, Pháp, luật vàothực hiện có kết quả trong cuộc sống Trong đó, theo Hồ Chí Minh, vấn đềthen chốt phải gương mẫu chấp hành Ngay cả Đảng cầm quyền cũng phảihoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Pháp luật
Trang 12Quan điểm Pháp luật phải lấy chữ nhận làm trọng là một điểm rất đặcsắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước Pháp quyền Tư tưởng ấy của
Hồ Chí Minh thấm đượm chủ nghĩa nhân đạo, tinh thần nhân văn cao cả,luôn luôn chú trọng đến con người, vì sự nghiệp giải phóng con người
Người nói: “Nếu thuộc bao nhiêu sách của chủ nghĩa Mác - Lênin màsống với nhau không có tình có nghĩa thì coi như không hiểu chủ nghĩa Mác
- Lênin” và “Nghĩ cho cùng, vấn đề tư pháp cũng như mọi vấn đề khác làvấn đề ở đời và làm người…”
1.2.2 Sự phát triển tư tưởng về Nhà nước pháp quyền của Đảng ta.
Nhà nước Pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân và vì dân làsản phẩm lâu dài của sự phát triển tư tưởng của Đảng ta về nhà nước xã hộichủ nghĩa
Ngay từ khi mới ra đời, trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của mình,Đảng ta đã khẳng định phải có pháp luật để bảo hộ lợi ích của dân cày Saucách mạng Tháng Tám (1945) thành công, ngày 2/9/1945 trong bản Tuyênngôn độc lập nổi tiếng, chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố trướcquốc dân đồng bào và toàn thế giới về một nhà nước dân chủ nhân dân đầutiên ở Đông Nam Á - Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹxâm lược, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng chính quyền nhan dân và tăngcường pháp chế XHCN
Từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, với chủ trương xây dựng nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lýcủa nhà nước theo định hướng XHCN; Đảng ta đã đặc biệt coi trọng việc cảicách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợpvới điều kiện mới Đặc biệt tại hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ(1994) Đảng ta đã khẳng định phương hướng xây dựng nhà nước Phápquyền Việt Nam Phương hướng đó đã được cụ thể hoá một bước tại HộiNghị BCH TW lần thức 8 (khoá VII) vào đầu năm 1995 với 5 quan điểm cơ
Trang 13bản để tiến hành cải cách bộ máy nhà nước theo định hướng xây dựng nhànước Pháp quyền được xác định.
Thuật ngữ “Nhà nước Pháp quyền” được chính thức đưa vào các vănkiện của Đảng từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ (khoá VII) trong những quan điểm
cơ bản nhằm tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng và hoàn thiện nhànước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đến đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã xác định nhànước là trụ cột của hệ thống chính trị, tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước làmột trong 10 nhiệm vụ và định hướng cơ bản để phát triển đất nước Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tăng cường Phápchế XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Quản lý xã hội bằngpháp luật đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 BCH TW (khoá VIII) đã cụ thể hoá
“Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng nhà nước Cộnghoà XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh” Hội nghị CBH TW (khoáVIII) cũng đã đề ra 3 yêu cầu cụ thể về xât dựng và hoàn thiện nhà nướcCộng hoà XHCN Việt Nam
Đại hội đại biều toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định:
“Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhândân lao động, là Nhà nước Pháp quyền của dân, do dân, vì dân Quyền lựcnhà nước là thống nhân, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhànước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Nhà nướcquản lý xã hội bằng pháp luật Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọicông dân có nghĩa vụ chấp hành hiến pháp và pháp luật”
Quan điểm nói trên của Đảng ta đã được thể chế hoá trong Hiến phápcủa nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung25/12/2001) tại điều 2 đã ghi rõ: “Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩaViệt Nam là nhà nước Pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vìnhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…”
Trang 14Như vậy, từ khi ra đời đến nay, trong đường lối của Đảng Cộng SảnViệt Nam luôn luôn quán triệt tư tưởng xây dựng nhà nước của dân, do dân
và vì dân và coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống Pháp luật –phương tiện quan trọng trong quản lý của Nhà nước Ngày nay trong sựnghiệp đổi mới thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì xâydựng nhà nước Pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân đã trở thành tưtưởng chủ đạo của Đảng ta trong xây dựng Nhà nước XHCN ở Việt Nam
1.2.3 Đặc trưng cơ bản của Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nhà nước Pháp quyền mà Đảng và nhân dân ta xây dựng, kế thừanhững tư tưởng về Nhà nước Pháp quyền trong lịch sử Trên cơ sở nhữngnguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nướcPháp quyền, với những đặc trưng cơ bản là:
- Đó là một nhà nước mà tất cả quyền lực của nó thuộc về nhân dân.
Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước domình trực tiếp bầu ra, vừa tự mình sử dụng quyền lực một các trực tiếp bằngcác hoạt động giám sát, kiểm tra và các hình thức dân chủ trực tiếp khác đốivới các cơ quan nhà nước trong việc sử dụng quyền lực nhà nước mà nhandân uỷ thác cho
- Nhà nước Pháp quyền là một nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc
mà quyền lực của nó là thống nhất và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Quyền
lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân công rành mạch trong việcthực hiện 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để thể hiện chức năng kiểmtra, giám sát hoạt động quyền lực nhằm hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền, xâmhại tới lợi ích hợp pháp của công dân từ phía nhà nước
- Nhà nước Pháp quyền là nhà nước mà trong đó pháp luật, trước hết
là Hiến pháp và các đạo luật phải giữa địa vị tối cao Pháp luật đó phải có
chất lượng tốt, nghĩa là phải thể hiện đúng đắn ý chí của nhân dân, phù hợpvới hiện thức khách quan, thúc đầy tiến độ xã hội… Pháp luật đó phải đượcnhà nước và nhân viên các cơ quan nhà nước và mọi người trong xã hội tôn
Trang 15trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Mọi hành động vi phạm pháp luật được
xử lý nghiêm minh
- Nhà nước Pháp quyền là nhà nước luôn xem con người là giá trị cao nhất và cũng là mục tiêu phục vụ duy nhất của xã hội Tất cả lợi ích thuộc về
nhân dân Do đó, nhà nước bảo đảm cho họ khi các quyền tự do cơ bản đó
bị xâm phạm Nhà nước tạo ra cơ hội và điều kiện cho mọi thành viên tự dophát triển các mối quan hệ tốt đẹp giữa người và người, phát triển tiềm năng
và nhân cách toàn diện
1.2.4 Nguyên tắc xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trong quá trình xây dựng nhà nước Pháp quyền XHCN Việt Nam cầnquán triệt và thực hiện những nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Xây dựng nhà nước XHCN của dân, do dân và vì dân, lấy liên minhgiai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức là nền tảng, doĐảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Thực hiện đầy đủ quyền làm chủ củanhân dân lao động, giữ vững kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hànhđộng xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân
- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt độngcủa nhà nước Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phốihợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,hành pháp và tư pháp
- Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, mọi cơ quan, tổ chức, cán
bộ công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và Pháp luật.Không một ai được đứng trên hoặc đứng ngoài pháp luật, đi ngược lại ý chí
và lợi ích của nhân dân
- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước, cải cách tổchức và hoạt động của nhà nước gắn liền với việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng.Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước
Trang 16Chương 2THỰC TRẠNG VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA UBND
QUẬN BÌNH TÂN HIỆN NAY
2.1 Tình hình hoạt động của UBND quận Bình Tân hiện nay.
2.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội của quận Bình Tân.
Quận Bình Tân là đô thị mới được thành lập bao gồm 10 phường: AnLạc, An Lạc A, Bình Trị Đông, Bình Trị Đông A, Bình Trị Đông B, BìnhHưng Hoà, Bình Hưng Hoà A, Bình Hưng Hoà B, Tân Tạo, Tân Tạo A theonghị định 130/NĐ – CP ngày 05/11/2003 của Chính phủ, từ Thị trấn An Lạc,
xã Bình Hưng Hoà, xã Bình Trị Đông và xã Tân Tạo của huyện Bình Chánhtrước đây Trong những năm gần đây tốc độ đô thị hoá diễn ra khá nhanh, cóphường hầu như không còn đất nông nghiệp Hiện nay nhiều mặt kinh tế - xãhội của quận phát triển nhanh theo hướng đô thị
* Vị trí địa lý:
+ Phía Bắc: giáp Quận 12, huyện Hóc Môn
+ Phía Nam: giáp Quận 8, xã Tân Kiên, xã Tân Nhựt (huyện Bình Chánh).+ Phía Đông: giáp Quận Tân Bình, Quận 6, Quận 8
+ Phía Tây: giáp xã Vĩnh Lộc A, Vĩnh Lộc B, Lê Minh Xuân (huyệnBình Chánh)
* Địa hình, thổ nhưỡng địa chất công trình:
- Địa hình quận Bình Tân thấp dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam,được chia làm hai vùng:
+ Vùng 1: Vùng cao dạng địa hình bào mòn sinh tụ, cao độ từ 3 - 4 m,
độ dốc 0 - 4 m tập trung ở phường Bình Trị Đông, phường Bình Hưng Hoà
+ Vùng 2: Vùng thấp dạng địa hình tích tụ bao gồm: phường Tân Tạo
và phường An Lạc
- Về thổ nhưỡng quận Bình Tân có 03 loại chính:
Trang 17+ Đất xám nằm ở phía Bắc thuộc các phường Bình Hưng Hoà, BìnhTrị Đông thành phần cơ học là đất pha thịt nhẹ kết cấu rời rạc.
+ Đất phù sa thuộc phường Tân Tạo và một phần của phường Tân Tạo A.+ Đất phèn phân bố ở An Lạc và một phần ở phường Tân Tạo
Nhìn chung vị trí địa lý thuận lợi cho hình thành phát triển đô thị mới
* Đặc điểm dân số và nguồn nhân lực:
Dân số quận Bình Tân trung bình năm 2003 là 265.411 người, trong
đó nữ chiếm 52,55% nam chiếm 47,45% Do tóc động của quá trình đô thịhoá, dân số quận Bình Tân tăng rất nhan trong thời gian qua, tốc độ tăng dần
số bình quân năm giai đoạn 1999 – 2003 là 16,07% Mật độ dân cư bìnhquân năm 2003 là 5.115 người/km2, nơi có mật độ dân cư đông nhất làphường An Lạc A có16.680 người/km2 và thấp nhất là phường Tân Tạo1.592 người/km2 Dân cư phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung vàocác phường có tốc độ đô thị hoá nhanh như: An Lạc A, Bình Hưng Hoà A,Bình Trị Đông
Trên địa bàn quận Bình Tân có nhiều dân tộc khác nhau sinh sống,trong đó chủ yếu là dân tộc Kinh chiếm 91,27% so với tổng dân số, dân tộcHoà chiếm 8,45%, còn lại là các dân tộc Khơme, Chăm, Tày, Thái, Mường,Nùng, người nước ngoài… Tôn giáo có phật giáo, Thiên chúa giáo, TinLành, Cao Đài, Hoà Hảo, Hồi Giáo… trong đó phật giáo chiến 27,26% trongtổng số dân có theo đạo
Khi mới thành lập, quận có những thuận lợi và khó khăn thách thứcđan xen nhau; bên cạnh những thuận lợi để quận phát triển vẫn tồn tại nhiềukhó khăn như kinh tế phát triển chưa vững chắc, sức cạch tranh thấp, cơ sở
hạ tầng kỹ thuật - xã hội nông thôn còn nhiều yếu kém; trật tự an toàn xã hộidiễn biến phức tạp…
2.1.2 Kết quả hoạt động của UBND quận Bình Tân.
Trước tình hình trên, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân quận đã nỗlực, quyết tâm đề ra nhiều giải pháp chỉ đạo khắc phục khó khăn, tập trung
Trang 18quán triệt các Nghị quyết của Trung ương, của Thành phố; cụ thể hoá, lãnhđạo xây dựng và triển khai các chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyếtĐại hội X của Đảng, các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương; Nghị quyếtĐại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quậnlần thứ IX và các Nghị quyết Hội nghị Thành uỷ về nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và xây dựng hệ thống chính trị thành phố,các Nghị quyết, Chương trình hành động của Quận uỷ Bình Tân về thực hiệnnhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
Trong 5 năm qua (giai đoạn 2004 - 2008), kinh tế trên địa bàn khôngngừng phát triển theo hướng tăng cao và liên tục qua các năm; cơ sở vậtchất, hạ tầng kỹ thuật - xã hội được chú trọng đầu tư từ nhiều nguồn vốnnăm sau cao hơn năm trước, đời sống nhân dân từng bước được nâng lên cảvật chất và lượng; an ninh trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo, niềm tin củanhân dân vào Đảng bộ, chính quyền địa phương ngày càng được củng cốvững chắc tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho sự nghiệp phát triển khá toàndiện trên các lĩnh vực như sau
1 Kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng ngày càng cao và liên tục, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng thương mại - dịch vụ, công nghiệp – TTCN, nông nghiệp; cân đối thu - chi ngân sách được đảm bảo:
- Kinh tế quận từng bước phát triển theo hướng nâng cao chất lượng,
ổn định, bền vững; tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm tăng 32%(năm 2004 tăng 35,51%; năm 2005 tăng 34,355%; năm 2006 tăng 31,48%;năm 2007 tăng 32,48%; năm 2008 tăng 34,84%; năm 2009 tăng 30%); cơcấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng các sản phẩmdịch vụ và chuyển dịch theo hướng “dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp”,phù hợp với xu hướng chung của Thành phố; trong đó tốc độ tăng trưởngthương mại - dịch vụ đạt bình quân 30%/năm và nông nghiệp tốc độ tăngtrưởng bình quân hàng năm đạt 2%
Trang 19- Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển mạnh nhờ vào chính sách
hỗ trợ kinh tế tập thể phát triển, chủ trương xã hội hoá, khai thác các nguồnlực của các thành phần kinh tế đáp ứng yêu cầu đầu tư phát triển hạ tầng kỹthuật - xã hội, sản xuất - kinh doanh đạt kết quả tích cực, kinh tế khu vực tưnhân tăng trưởng nhanh đã góp phần quan trọng vào mụ tiêu phát triển kinh
- Thu ngân sách hàng năm bảo đảm nhu cầu chi ngân sách địaphương: Thu ngân sách nhà nước bình quân hàng năm tăng 26% (năm 2004thu 331,363 tỷ đồng; năm 2005 thu 395,877 tỷ đồng; năm 2006 thu 387,22
tỷ đồng; năm 2007 thu 512,17 tỷ đồng; năm 2008 thu 1.010 tỷ đồng, năm
2009 ước đạt 1.100 tỷ đồng) Chi ngân sách hàng năm tăng 25,51% (năm2004: 515,869 tỷ đồng; năm 2005: 185,191 tỷ đồng; năm 2006: 164,144 tỷđồng; năm 2007: 211,769 tỷ đồng; năm 2008: 297,515 tỷ đồng; năm 2009:
300 tỷ đồng), trong đó, chi đầu tư phát triển chiếm khoảng 39,63%; chi sựnghiệp giáo dục bình quân chiếm 27%; chi sự nghiệp y tế bình quân chiếm4,83%; chi sự nghiệp văn hoá - xã hội, thể dục thể thao bình quân chiếm4,4% tổng ngân sách…
2 Công tác quy hoạch ngành, lĩnh vực; quản lý và phát triển đô thị, tài nguyên và môi trường đã có những chuyển biến tích cực.
Với nhận thức đúng tầm quan trọng của công tác quy hoạch đối vớinhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; bên cạnh đó quận đã chỉ đạo chấn chỉnhkịp thời các yếu kém trên lĩnh vực quản lý đô thị, tập trung đẩy mạnh và