1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIU LUN GIA k t CHC b MAY NHA n

27 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 582,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiến pháp Hiểu một cách khái quát, hiến pháp là đạo luật cơ bản của một quốc gia, dùng để xác định thể chế chính trị, cách thức tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và bảo vệ các quy

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

KHOA LỊCH SỬ

-***-

TIỂU LUẬN GIỮA KỲ

TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRUNG ƯƠNG Ở CÁC NƯỚC TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

Học phần: Hệ thống chính trị - xã hội thế giới đương đại

Giảng viên: PGS.TS Hoàng Văn Việt

Sinh viên thực hiện:

VÕ PHẠM KHÁNH ĐĂNG (1756040018) PHẠM NGUYỄN KIM HUYÊN (1756040046)

Thành phố Hồ Chí Minh, 2019

Trang 2

Mục lục

ĐẶT VẤN ĐỀ 3

I QUAN ĐIỂM VÀ MỤC ĐÍCH 3

II NGUYÊN TẮC VÀ NHỮNG CƠ CHẾ RÀNG BUỘC 4

2.1 Hiến pháp 4

2.2 Bầu cử và hệ thống bầu cử 6

2.3 Tam quyền phân lập 7

III CẤU TRÚC 8

3.1 Nguyên thủ quốc gia 8

3.2 Cơ quan lập pháp 9

3.3 Cơ quan hành pháp 11

3.4 Cơ quan tư pháp 13

IV TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC HÀN QUỐC, HOA KỲ, LIÊN BANG NGA 14

4.1 Hàn Quốc 14

5.2 Hoa Kỳ 18

5.3 Liên bang Nga 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong mọi xã hội có giai cấp, quyền lực của giai cấp cầm quyền được thực hiện bằng một hệ thống thiết chế và tổ chức chính trị nhất định Đó là hệ thống chính trị Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị hợp pháp trong xã hội, bao gồm các đảng phái chính trị, nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội được liên kết với nhau trong một

hệ thống tổ chức, nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội; củng cố, duy trì và phát triển chế độ chính trị phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền

Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp nhằm thực hiện đường lối chính trị của giai cấp đó Do vậy, hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp Trong chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản và một bộ phận tiểu tư sản là chủ thể thực sự của quyền lực,

tự mình tổ chức và quản lý xã hội, quyết định nội dung hoạt động của hệ thống chính trị tư bản chủ nghĩa

Biểu hiện dễ thấy nhất của hệ thống chính trị tư bản chủ nghĩa là bộ máy nhà nước trung ương và cách thức bộ máy này hoạt động tại các quốc gia tư bản Các nhà nước tư bản, cũng như bao nhà nước khác từng tồn tại trong lịch sử loài người, đều có những quan điểm

và mục đích tồn tại của riêng nó, đều có những nguyên tắc và những cơ chế ràng buộc nhất định, và quan trọng hơn hết, đều chịu những tác động và biến đổi trong những điều kiện cụ thể của thế giới và nội tại mỗi quốc gia

Vì thế cho nên, việc tìm hiểu, phân tích và đánh giá các khía cạnh của bộ máy nhà nước

đó, trên cơ sở những tổng hợp từ các tài liệu sẽ cho chúng ta cái nhìn toàn cảnh, khách quan về những mặt tiến bộ cũng như hạn chế của mô hình tư bản chủ nghĩa trong thời đại ngày nay

I QUAN ĐIỂM VÀ MỤC ĐÍCH

Kể từ khi xác lập vị thế thống trị trên toàn thế giới, chủ nghĩa tư bản đã không ngừng đổi mới và phát triển mạnh mẽ trước những thách thức của lịch sử Bằng khả năng thích

Trang 4

ứng và biến chuyển linh hoạt của mình, chủ nghĩa tư bản đã xây dựng hàng loạt mô hình chính trị-xã hội tư bản chủ nghĩa trong tất cả những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia mà nó bén rễ Các mô hình này, đến lượt chúng, lại phát triển theo nhiều hướng khác nhau, tạo nên tính đa dạng và đặc sắc cho hệ thống chính trị từng nước Thế nhưng,

dù tồn tại ở hình thức nào, các mô hình chính trị-xã hội này đều chia sẻ những giá trị cơ bản và chung nhất của chủ nghĩa tư bản

Cụ thể, quan điểm “Khế ước xã hội” và tinh thần “respublica” (việc chung) là một trong những giá trị quan trọng mà mọi mô hình chính trị-xã hội tư bản chủ nghĩa đều hướng tới, nhờ đó mà tính đa nguyên và dân chủ được thiết lập Vì thế, bộ máy trung ương ở các nước

tư bản chủ nghĩa thường được vận hành theo hướng cởi mở, tạo điều kiện cho các tổ chức, đảng phái chính trị hoạt động mạnh mẽ Thông qua tranh cử, các tổ chức này giành lấy các

vị trí trong bộ máy nhà nước nhằm quản lý và vận hành xã hội theo ý chí của chúng Tuy nhiên, tính đa nguyên ấy cũng không được đi quá giới hạn của nó Nhằm tránh việc đảng cầm quyền thi hành đường lối cực đoan, duy ý chí, xâm phạm đến quyền lợi của nhân dân, mô hình “Tam quyền phân lập” của Montesquieu được áp dụng Mô hình này đã tạo nên một cơ chế kiểm soát và quản lý bộ máy nhà nước chặt chẽ, phối hợp và giám sát giữa các nhánh quyền lực nhằm kìm chế lẫn nhau, nhờ đó hạn chế tối đa khả năng vượt quá quyền hạn và lạm dụng quyền lực Chính vì thế, quyền và lợi ích của toàn thể nhân dân được bảo toàn

Thông qua những giá trị căn bản ấy, năng lực chính trị sẽ được giải phóng, môi trường chính trị trở nên cởi mở, bộ máy chính trị sẽ tạo được niềm tin với toàn thể nhân dân và quyền tự do, quyền con người, nhất là quyền tư hữu của được bảo toàn Đó là những cơ sở pháp lý quan trọng để bộ máy nhà nước trung ương hoạt động hiệu quả, phát huy chức năng tổ chức và quản lý xã hội

II NGUYÊN TẮC VÀ NHỮNG CƠ CHẾ RÀNG BUỘC

2.1 Hiến pháp

Hiểu một cách khái quát, hiến pháp là đạo luật cơ bản của một quốc gia, dùng để xác định thể chế chính trị, cách thức tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân 1 Trong hệ thống pháp luật của quốc gia, hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất Tất cả các văn bản pháp luật khác phải phù hợp, không được trái với hiến pháp Vị trí tối cao của hiến pháp là do nó phản ánh sâu sắc nhất chủ quyền của nhân dân và về nguyên tắc phải do nhân dân thông qua (qua hội nghị lập hiến, quốc hội lập hiến hoặc trưng cầu ý dân) Điều này khác với các đạo luật bình thường chỉ do quốc hội (nghị viện) gồm những người đại diện do dân bầu và uỷ quyền xây dựng

Xét hình thức biểu hiện, có hai loại hiến pháp: hiến pháp thành văn và hiến pháp không thành văn:

1 Nguyễn Đăng Dung (chủ biên), ABC về Hiến pháp, NXB Thế Giới, 2013

Trang 5

+ Hiến pháp thành văn được lập thành một văn bản riêng và được tuyên bố chính thức là luật cơ bản của nhà nước, có hiệu lực pháp lý tối cao Hiện tại, hầu hết quốc gia trên thế giới có hiến pháp thành văn, do ở dạng thức này hiến pháp có nội dung rõ ràng, cụ thể, dễ áp dụng hơn hiến pháp không thành văn Hiến pháp thành văn thông thường có một văn bản duy nhất, nhưng đôi khi ngoài văn bản chính còn kèm theo các bản tu chính (như Hiến pháp Hoa Kỳ…), hoặc một văn bản khác (như Hiến pháp Cộng hoà Pháp 1958…) + Hiến pháp không thành văn là tập hợp các quy phạm, tập quán và tư tưởng phản ánh những giá trị cốt lõi của một quốc gia, được thể hiện trong một số đạo luật, văn bản chính trị, pháp lý và thậm chí cả án lệ Các quy phạm, tập quán và tư tưởng này được coi như là các quy tắc mang tính hiến pháp, có hiệu lực tối cao, cho dù chúng không cấu thành một văn bản riêng và không được tuyên bố chính thức là luật cơ bản của nhà nước Hiện tại chỉ có hiến pháp của một vài nước (bao gồm Anh, New Zealand, Israel) thuộc dạng này Nước Anh là một ví dụ điển hình của dạng hiến pháp không thành văn Hiến pháp nước này được hình thành từ các nguồn:

a) Một số văn kiện pháp lý mang tính lịch sử (Đại Hiến chương Magna Carta năm

1215, Luật về các quyền năm 1689 );

b) Một số đạo luật quan trọng hiện hành (Luật nhân quyền năm 1998, Luật tự do thông tin năm 2000, Luật cải cách Hiến pháp năm 2005 );

c) Một số tập quán chính trị (chẳng hạn, tập quán Nhà Vua (hay Nữ hoàng) tham vấn các bộ trưởng trước khi ra quyết định );

d) Một số án lệ của Tòa án (chẳng hạn, phán quyết trong vụ Entick kiện Carrington, trong đó xác lập những nguyên tắc giới hạn quyền lực của ngành hành pháp); e) Học thuyết của một số chuyên gia về hiến pháp (chẳng hạn như John Locke, Walter Bagehot, A.V Dicey )

Căn cứ vào thủ tục sửa đổi, có thể chia hiến pháp thành hai loại “cứng” (rigid constitution) và “mềm dẻo” (flexible constitution), trong đó hiến pháp cứng đòi hỏi việc

sửa đổi phải tuân theo những thủ tục đặc biệt, còn hiến pháp mềm dẻo thì có thể sửa đổi theo thủ tục lập pháp thông thường của nghị viện

Sỡ dĩ chúng tôi xem đó là một nguyên tắc và tiêu chí ràng buộc bộ máy nhà nước tư bản

chủ nghĩa vì 2 lí do: Thứ nhất, bản thân Hiến pháp khi ra đời đã thiết lập và trao quyền cho bộ máy nhà nước, tức Hiến pháp quy định cơ cấu của bộ máy nhà nước và trao quyền

hạn cho các cơ quan nhà nước chính (quyền lập pháp cho Nghị viện/Quốc hội, quyền hành pháp cho Chính phủ, quyền tư pháp cho Tòa án) Chỉ khi được quy định trong hiến pháp, các cơ quan nhà nước và quyền lực của các cơ quan đó mới có tính pháp lý chính đáng

Thứ hai, cùng với việc trao quyền, Hiến pháp còn giới hạn và kiểm soát quyền lực của các

cơ quan nhà nước, bằng cách thiết lập các cơ chế và thiết chế để giám sát, kiểm soát và xử

lý việc lạm dụng quyền lực (ví dụ, cơ chế giám sát nội bộ giữa các cơ quan nhà nước; cơ

Trang 6

chế giám sát của xã hội thông qua các quyền con người, quyền công dân; cơ chế giám sát thông qua các cơ quan hiến định độc lập)

Trong bộ máy nhà nước tư bản chủ nghĩa, vai trò của Hiến pháp là vô cùng quan trọng,

nó là nền tảng chính để xác định thể chế chính trị mà quốc gia đó lựa chọn, là cội rễ để bộ máy nhà nước thực thi quyền lực lên xã hội và thúc đẩy xã hội đó phát triển theo định hướng tư bản chủ nghĩa, là căn nguyên để minh chứng cho sự dân chủ và minh bạch trong

bộ máy nhà nước, là công cụ cũng như phương tiện để người dân các quốc gia này kiểm soát hoạt động của bộ máy công quyền, đồng thời, đó còn là biểu hiện cao nhất của cái gọi

là pháp quyền (hay nhà nước pháp quyền, theo cách gọi của Việt Nam) tư sản

2.2 Bầu cử và hệ thống bầu cử

Nói đến bầu cử là nói đến câu chuyện về dân chủ, hay quyền lực thuộc về nhân dân Ở nghĩa gốc nguyên thủy, “bầu cử” được hiểu đơn giản là “lựa chọn” hoặc “ra quyết định” Trên thực tế, trong các nền dân chủ đại diện hiện đại, bầu cử là cơ chế phổ biến nhất để chọn lựa ra người đại diện vào nắm giữ vị trí công quyền, thực thi quyền lực nhà nước Do

đó, bầu cử có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các công dân Trong “Tinh thần pháp luật”, Montesquieu cho rằng trong bầu cử, cử tri thay đổi vị trí từ người bị cai trị thành người cai trị, tức là thông qua hành vi bầu cử, người dân thực hiện chủ quyền của mình với

tư cách là người chủ để lựa chọn ra chính quyền của mình Với ý nghĩa đó, hệ thống bầu

cử là một trong những thiết chế quan trọng hàng đầu đối với bất cứ nền dân chủ nào Hơn nữa, hệ thống bầu cử được coi là một thiết chế chính trị vô cùng quan trọng bởi lẽ nó tạo lập ra luật chơi trong các nền dân chủ

Xét tổng quan trên thế giới, các hệ thống bầu cử rất đa dạng và khác nhau tùy theo từng quốc gia Tuy nhiên, dù có sự đa dạng như vậy, nhưng về đại thể, các hệ thống bầu cử có thể được phân loại thành hai nhóm lớn là hệ thống bầu cử theo quy tắc tỷ lệ đại diện và hệ thống bầu cử theo quy tắc lấy đa số Hệ thống bầu cử phải được thiết kế sao cho cử tri thấy rằng, bầu cử đem lại cho họ một biện pháp gây ảnh hưởng đối với chính phủ và các chính sách của chính phủ, rằng lá phiếu của họ thực sự có ý nghĩa tác động đến đời sống chính trị và quyền lực nhà nước, trực tiếp thông qua kết quả bầu cử Điều đó thể hiện tính dân chủ và chủ quyền của nhân dân được thực thi Hệ thống bầu cử có ảnh hưởng đáng kể đến

hệ thống chính trị, giúp tạo lập sự ổn định, tăng cường trách nhiệm giải trình của chính phủ… nhưng cũng không phải là thần dược để chữa tất cả các căn bệnh của hệ thống chính trị2

Như vậy, trên đại thể, ta có thể khái quát lên mấy nét chính sau đây về vai trò của bầu

cử và hệ thống bầu cử đối với tổ chức bộ máy nà nước ở các quốc gia tư bản chủ nghĩa:

Thứ nhất, bầu cử là nền tảng của chế độ đại diện - trước hết tạo ra sự chính danh của nhà nước Bầu cử như là một định chế trọng tâm của các chính thể dân chủ đại diện

Không thể có chính thể đại diện nếu không có bầu cử Trong chính thể dân chủ đại diện,

2 Bùi Hải Thiêm, So sánh một số hệ thống bầu cử trên thế giới, tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 8 (193), tháng

4/2011

Trang 7

nhà nước chỉ có thể được thiết lập và thực thi quyền lực quản lý xã hội khi có sự nhất trí của người dân – chủ thể duy nhất và đích thực của quyền lực nhà nước Nói cách khác, bầu

cử là “phương thức chính thống thay đổi quyền lực nhà nước” Chính vì tầm quan trọng

của bầu cử nên với tư cánh là đạo luật tối cao, mặc dù Hiến pháp có rất nhiều chức năng điều chỉnh khác nhau vẫn giành nhiều quy định của mình cho bầu cử Những quy định này của Hiến pháp góp phần tạo nên cơ sở chính danh cho quyền lực nhà nước Đó là các quy định về bầu cử của Hiến pháp Việc thực đúng và đầy đủ các quy định về bầu cử này góp phần tạo nên cơ sở pháp lý cho sự chính danh của nhà nước dân chủ

Thứ hai, bầu cử - hình thức kiểm tra giám sát chính quyền của người dân Bản chất

của con người là đam mê quyền lực Hay một cách khác theo Huân tước, đồng thời cũng

là nhà triết học người Anh thế kỷ XIX Acton: “Quyền lực có xu hướng đồi bại, quyền lực càng tuyệt đối bao nhiêu thì lại càng có xu hướng đồi bại bấy nhiêu” Bầu cử có định kỳ

là công cụ quan trọng để nhân dân giám sát quyền lực nhà nước, chế ngự sự tha hóa, lạm quyền của quyền lực nhà nước Thực chất, đây là sự chuyển giao quyền lực nhân dân sang nhà nước Khi chuyển giao quyền lực từ tay nhân dân sang cho những người đại diện cho nhà nước, không phải ở đâu, bao giờ, những người đại diện cũng phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân và không phải bao giờ, quyền lực nhà nước cũng được thực hiện trong phạm vi, mức độ mà nhân dân trao cho Do vậy, quyền lực nhà nước cần phải được kiểm soát và giới hạn nhằm loại trừ một nghịch lý là quyền lực nhà nước của nhân dân nhưng

nó lại đe dọa chính nhân dân

Thứ ba, bầu cử là phương thức quan trọng để giải quyết mâu thuẫn, xung đột xã hội bằng phương pháp hòa bình Bằng sự quyến định một cách hoà bình ai sẽ nắm chính quyền,

và bằng sự hợp pháp hoá các quyến định của những nhà cầm quyền, những cuộc bầu cử sẽ đem lại những giải pháp cho những vấn đề thiết yếu nhất của bất cứ chế độ chính trị dân chủ nào Nhưng mục đích này chỉ có thể đạt được dẽ dàng khi chế độ bầu cử bảo đảm một nhân thức sâu sắc về những cuộc bầu cử tư do và công bằng Chế độ bầu cử khi mới ra đời

đã trải qua một thời kỳ gọi là đầu phiếu hạn chế Theo đó, viêc bẩu cử chỉ đươc dành cho một số ít người do những giới hạn về: tài sản, giới tính, độ tuổi, nơi cư trú, chủng tộc, quân nhân Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của dân chủ, ngày nay bầu cử đã tiến triến đến chế

độ phổ thông đầu phiếu

2.3 Tam quyền phân lập

Tam quyền phân lập là nội dung học thuyết của Montesquieu, trong đó phân chia quyền lực nhà nước cho ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp Mục đích là để tạo cơ chế nội

bộ giám sát, ngăn ngừa sự lạm quyền trong bộ máy nhà nước

Trong thực tế, tư tưởng về việc phân chia quyền lực trong tổ chức nhà nước đã được đề cập bởi một số nhà triết học khác, bao gồm John Locke, và đã được áp dụng (ở mức độ nhất định) từ thời La Mã cổ đại Tuy nhiên, chỉ đến Montesquieu thì tư tưởng này mới được phát triển thành một học thuyết độc lập, hoàn chỉnh

Trang 8

Học thuyết tam quyền phân lập được áp dụng một cách phổ biến trong hiến pháp của các nước tư sản (mà điển hình là Hiến pháp Hoa Kỳ) Dựa trên học thuyết này, hiến pháp của các nước tư sản giao quyền lập pháp cho nghị viện (là cơ quan đại diện được bầu ra bằng tuyển cử, được coi là biểu hiện ý chí chung của quốc gia), quyền hành pháp cho chính phủ (là cơ quan có trách nhiệm thực thi luật pháp đã được nhà nước ban hành), quyền tư pháp cho toà án (để phán xử những vi phạm pháp luật) Bên cạnh đó, tuỳ quốc gia, hiến pháp còn có nhiều quy định về mối quan hệ ràng buộc giữa ba cơ quan lập pháp, hành pháp

và tư pháp Ví dụ, theo Hiến pháp Hoa Kỳ, Nghị viện có quyền thông qua luật nhưng để

có hiệu lực phải được Tổng thống ký phê chuẩn Ngược lại, Tổng thống có quyền ký kết các điều ước quốc tế nhưng phải được Thượng viện phê chuẩn Từ sau vụ Marbury kiện Madison, nhánh tư pháp ở Hoa Kỳ có quyền xem xét các đạo luật đã được ban hành liệu

có vi hiến hay không …

Tính đến nay, sự phân quyền và ràng buộc theo học thuyết tam quyền phân lập tạo ra

cơ chế nội bộ hữu hiệu nhất để các nhánh quyền lực nhà nước giám sát, kiềm chế và đối trọng nhau, ngăn ngừa sự lạm quyền; đồng thời vẫn bảo đảm những mối liên hệ cần thiết giữa các nhánh quyền lực bị chia tách để những cơ quan này có thể cộng tác với nhau vì lợi ích chung của đất nước…Chính vì vậy, không chỉ hiến pháp các nước tư sản mà hiến pháp của hầu hết quốc gia trên thế giới hiện nay đều được xây dựng dựa theo lý thuyết tam quyền phân lập, dù mức độ và cách thức áp dụng ít nhiều khác nhau Do đó, chúng tôi cho rằng: Bản thân học thuyết tam quyền phân lập cũng là một trong những nguyên tắc và cơ chế ràng buộc bộ máy nhà nước hữu hiệu, bên cạnh Hiến pháp và bầu cử

III CẤU TRÚC

3.1 Nguyên thủ quốc gia

Trong bộ máy nhà nước bất kỳ quốc gia tư bản chủ nghĩa nào hiện nay, nguyên thủ quốc gia là một chế định đặc biệt, thường được dành riêng trong một chương của Hiến pháp và một đạo luật Dù có tên gọi khác nhau nhưng nguyên thủ quốc gia các nước đều được ghi nhận là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước về mặt đối nội, đối ngoại, đại diện cho sự đoàn kết quốc gia, dân tộc và sự bền vững, tập trung của bộ máy nhà nước

Tại các nước quân chủ đại nghị, nguyên thủ quốc gia là nhà vua (quốc vương/nữ vương) Tùy theo Hiến định mà quyền lực của quân chủ sẽ ít hay nhiều, tuy nhiên, điều đó không

có nghĩa là trong nền chính trị đại nghị, nhà vua không có bất cứ thực quyền nào Trước hết, sự tồn tại của vị nguyên thủ đứng trên mọi thiết chế khác, trên cả mọi giai cấp, đảng phái sẽ tượng trưng cho sự đoàn kết dân tộc, hạn chế khả năng chia rẽ trong xã hội, bảo đảm sự thống nhất của quyền lực nhà nước Thứ hai, chính cơ chế nguyên thủ cơ bản không nắm thực quyền và giữ chức vụ suốt đời sẽ hạn chế khả năng tranh giành quyền lực tới mức thủ tiêu dân chủ, gây bất ôn, đảm bảo nguyên thủ luôn đưa ra những quyết định khách quan, bảo vệ Hiến pháp và quyền tự do của công dân

Tại các nước cộng hòa tổng thống hay cộng hòa hỗn hợp, tổng thống do cử tri trực tiếp bầu ra, có quyền hành pháp rộng rãi, không chỉ đứng đầu nhà nước mà còn đứng đầu hay

Trang 9

chỉ đạo chính phủ Tổng thống không chịu trách nhiệm trước nghị viện mà chịu trách nhiệm trước nhân dân Tổng thống có thể bị nghị viện luận tội, phế truất theo thủ tục đàn hạch hay phải rời bỏ chức vụ qua một cuộc trưng cầu dân ý theo quy định của mỗi nước Thẩm quyền của nguyên thủ quốc gia các nước phụ thuộc nhiều vào cơ chế chính trị và hình thức chính thể Tại các nước cộng hòa hỗn hợp, nguyên thủ có quyền hành pháp rộng lớn và can thiệp đáng kể vào lĩnh vực lập pháp Ngược lại, tại các nước đại nghị, cả cộng hòa và quân chủ, mặc dù Hiến pháp các nước này quy định nguyên thủ nắm quyền hành pháp và cùng nghị viện nắm quyền lập pháp nhưng trên thực tế, nguyên thủ chủ yếu đóng vai trò nghi lễ, quyền lực mang tính tượng trưng Quyền lực của nguyên thủ, với vai trò là người đứng đầu nhà nước, trải trên nhiều lĩnh vực thuộc hành pháp, lập pháp và tư pháp Nhìn chung, tại các quốc gia tư bản, nguyên thủ quốc gia là mắt xích quan trọng nằm giữ hành pháp và lập pháp, điều phối và đảm bảo thế cân bằng quyền lực giữa các nhánh quyền lực Nguyên thủ một số nước còn là người đảm bảo cho tư pháp độc lập với các thiết chế nhà nước khác và các thiết chế chính trị nói chung, là người đảm bảo cho sự thống nhất

và ổn định của bộ máy nhà nước, bảo vệ sự thống nhất của quốc gia, sự đoàn kết dân tộc

3.2 Cơ quan lập pháp

Cơ quan lập pháp (còn gọi là Quốc hội hay Nghị viện) với nghĩa như ngày nay chỉ thật

sự xuất hiện từ khi nhà nước tư sản ra đời, sau các cuộc cách mạng hoặc cải cách chính trị rộng lớn, gắn liền với sự ra đời của các bản hiến pháp tư sản3 Nếu như chính phủ (hay cơ quan hành pháp) được hình thành trên cơ sở tín nhiệm của một đa số dân, thì nghị viện lại khác, nó đại diện cho nhân dân cả nước, có trách nhiệm bảo vệ lợi ích của toàn dân, kể cả những nhóm người thuộc thiểu số

Trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản (tư bản tự do cạnh tranh), nghị viện là cơ quan chiếm ưu thế hơn hẳn so với các cơ quan quyền lực nhà nước khác Tuy nhiên, sang đến thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền lũng đoạn, vai trò của nghị viện suy giảm Nghị viện trở thành cơ quan hoạt động mang tính hình thức, thậm chí nhiều nơi nó còn không tồn tại4 Trong vài thập niên gần đây, tại các nước tư sản châu Âu, nghị viện đóng vai trò khá quan trọng trong việc ngăn ngừa sự lạm quyền của hành pháp, bảo đảm dân chủ Dù vậy, bản thân nghị viện cũng phải chịu những ràng buộc nhất định, để tránh chính nó lạm quyền, tránh vượt quá sự ủy quyền của nhân dân Về cơ bản, nghị viện các quốc gia tư bản chủ nghĩa đều do các đảng hay liên minh các đảng chính trị tư sản dẫn dắt, cho nên, trước hết,

nó phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản

3 Thái Vĩnh Thắng – Nguyễn Đăng Dung – Nguyễn Chu Dương, Thể chế chính trị các nước châu Âu, NXB Chính

trị Quốc gia, 2008

4 Chế độ độc tài – phát xí được thành lập tài nhiều nước: Litvia (1926 – 1940), Latvia (1936 – 1940), Rumani (1938 – 1944), Ba Lan (1935 – 1939), Đức (1934 – 1945), Bồ Đào Nha (1932 -1968), Tây Ban Nha (1939 – 1975)

Trang 10

Nghị viện tại các nước tư bản chia thành 2 dạng chính: lưỡng viện hoặc đơn viện Điển hình cho cơ chế lưỡng viện hiện nay có Mỹ và khoảng hơn 19 nước châu Âu, mục đích xuất hiện của cơ chế này xuất phát từ:

- Hạ viện đại diện cho toàn thể dân chúng trong khi thượng viện đại diện cho các chủ thể liên bang (hay các đơn vị hành chính trực thuộc quốc gia), điều này đảm bảo cân bằng lợi ích giữa các địa phương

- Hạ viện do dân chúng bầu ra, do các đảng chính trị kiểm soát, thao túng trong khi đó, thượng viện do những người không đảng phái, hay những người có học vấn cao đại diện

- Hạ viện đại diện cho quần chúng bình dân, thượng viện đại diện cho tầng lớp quý tộc

- Sự xuất hiện của thượng viện sẽ hạn chế quyền của hạ viện đồng thời cũng kiềm chế sự thao túng của chính phủ, buộc 2 cơ quan này phải thận trọng hơn khi sử dụng quyền lực của mình

- Sự ra đời của cơ chế lưỡng viện chủ yếu do những lý do chính trị thuần túy, nhằm đảm bảo sự phân chia quyền lực giữa các lực lượng chính trị

Về cơ chế bầu cử vào nghị viện, hiện nay, có 2 cơ chế chủ yếu: ràng buộc và tự do; cũng như tồn tại song song đó là cơ chế xác định kết quả bầu cử: theo đa số hoặc theo tỷ lệ Chủ trì công tác bầu cử là các ủy ban bầu cử, ở hầu hết các quốc gia tư sản, đây là các ủy ban độc lập Tiêu chuẩn ứng cử viên nghị sĩ mỗi nước không giống nhau, nhưng nhìn chung đều khá chặt chẽ Ngoài các tiêu chuẩn về đạo đức, trình độ chuyên môn, tại rất nhiều quốc gia quy định thời gian tối thiểu ứng cử viên phải sinh sống trên địa bàn mình ứng cử Quy định này nhằm bảo đảm cho đại biểu thật sự là người đại diện cho cư dân mình sinh sống, mặt khác, nhằm ưu tiên các đảng lớn, có địa bàn hoạt động rộng

Nghị viện (Quốc hội) với tư cách là cơ quan do nhân dân bầu ra, thay mặt nhân dân nắm giữ chủ quyền vì thế phần lớn các nước quy định nó là cơ quan quyền lực cao nhất, nắm giữ các quyền quan trọng như lập pháp và quyết định các vấn đề hệ trọng của quốc gia Một đất nước được coi là dân chủ khi nó đề cao vai trò của nghị viện Bên cạnh đó, đây còn là cơ quan thay mặt nhân dân chọn ra một bộ máy chính phủ tốt, kiểm soát và kiềm chế quyền lực của chính phủ Nghị viện đứng trung gian giữa nhân dân và chính phủ, chịu trách nhiệm trớc nhân dân khi thực hiện quyền của mình

Tại hầu hết các quốc gia tư sản, nghị viện hay quốc hội đều có quyền và đặc quyền trong việc lập hiến và lập pháp, quyền thông qua chi tiêu ngân sách, an ninh và đối ngoại, cũng như quyền thành lập chính phủ và bãi miễn chính phủ bất tín nhiệm Tuy nhiên, song song với các quyền ấy là những ràng buộc bởi Hiến pháp và quan điểm về tam quyền phân lập Các nhánh quyền lực khác cũng nảy sinh nhiều cơ chế khác để kiềm chế và kiểm soát ngược lại nghị viện, tránh trường hợp nghị viện lạm quyền, phương hại đến quyền lợi các

cá nhân và lợi ích quốc gia

Trang 11

3.3 Cơ quan hành pháp

Chính phủ đóng một vai trò hết sức quan trọng trong bộ máy nhà nước Sự hưng thịnh hay suy vong của một quốc gia phần lớn phụ thuộc vào những hoạt động của chính phủ Chính phủ luôn tồn tại, kể cả trong thời chiến, khi nghị viện và các cơ quan quyền lực khác

có thể ngừng hoạt động Giành được quyền kiểm soát chính phủ là mục tiêu của bất kỳ cuộc cách mạng xã hội nào cũng như bất kỳ cuộc chơi trên cơ chế nghị trường của các lực lượng chính trị

Một chính phủ dân chủ phải đảm bảo quyền lựa chọn của quần chúng nhân dân, có trách nhiệm thi hành Hiến pháp và các đạo luật do nghị viện ban hành Trên thực tế, lĩnh vực quản lý của chính phủ rất rộng, bao gồm những điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo pháp luật, và không chỉ có chức năng cai trị mà còn có chức năng xã hội

Chính phủ với nghĩa là cơ quan hành pháp chỉ ra đời khi có nhà nước tư sản Tại hầu hết các quốc gia tư bản chủ nghĩa, chính phủ do các đảng chính trị tư sản thâu tóm thông qua các cuộc bầu cử Đảng cầm quyền hay liên minh các đảng chính trị có quyền thành lập chính phủ và chi phối các hoạt động của chính phủ đó Tuy nhiên, tuỳ theo thể chế chính trị mỗi nước (cộng hoà tổng thống, cộng hoà hỗn hợp, quân chủ lập hiến, ) mà mối quan

hệ giữa chính phủ và nghị viện có những thay đổi nhất định:

+ Nếu như chính phủ được thành lập bởi một đảng có đa số trong nghị viện thì khả năng chính phủ chi phối các quyết định của nghị viện là rất cao Khả năng này còn cao hơn nữa khi đảng cầm quyền đó là một đảng được tổ chức theo nguyên tắc tập trung, có tính kỷ luật cao

+ Nếu là chính phủ liên minh, bất đồng với các đảng phái có chân trong chính phủ chắc chắn sẽ xảy ra, có khi được biểu hiện bằng những mâu thuẫn giữa hành pháp

và lập pháp

Tại hầu hết các nước cộng hoà hỗn hợp, chính phủ được thành lập trên cơ sở thương thảo giữa nguyên thủ và nghị viện Chính phủ các nước đó phải chịu trách nhiệm trước nghị viện Cũng như thế, mối quan hệ giữa nguyên thủ quốc gia và chính phủ cũng phụ thuộc vào thể chế chính trị mỗi nước

Đối với các quốc gia tư bản chủ nghĩa, mối quan hệ giữa hành pháp và tư pháp chỉ là mối quan hệ hỗ trợ, phối hợp và trong chừng mực nào đó kiềm chế quyền lực của nhau Chính phủ tại các nước tư bản thường được cấu trúc theo kiểu hoạt động tập thể có sự kết hợp với cơ chế thủ trưởng Người đứng đầu chính phủ phần lớn là thủ tướng, một số là tổng thống hoặc quốc vương Chính phủ có các cơ quan giúp việc như Văn phòng chính phủ và các bộ ngành chuyên môn, ngoài ra, ở một số nước cũng thành lập Hội đồng kinh

tế - xã hội độc lập để giúp chính phủ xây dựng, hoạch định, triển khai chính sách kinh tế -

xã hội

Kết cấu hạ tầng của chính phủ các nước tư bản là bộ máy hành chính, gồm các công chức được tuyển dụng hay bổ nhiệm làm việc thường xuyên hưởng lương, không bị thay

Trang 12

đổi theo sự thay đổi của chính phủ Cơ chế này giúp cho nhiều nước duy trì được sự ổn định của xã hội, đảm bảo hoạt động của bộ máy hành chính có hiệu quả Các công chức hành chính gồm các thứ trưởng hoặc vụ trưởng, cục trưởng trở xuống, họ là những người

có trình độ chuyên môn kỹ thuật, tại nhiều nước các công chức này không gắn với chính trị Thậm chí, nhiều nước, công chức chuyên môn không là thành viên các đảng chính trị Trong một chừng mực nào đó, các công chức hành chính còn là một yếu tố ngăn cản sự lạm quyền của các công chức chính trị

Tại phần lớn quốc gia tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là các nước đại nghị, Hiến pháp không quy định cụ thể quyền hạn của chính phủ, bởi lẽ lĩnh vực quản lý của chính phủ bao quát rộng trên toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội, nếu liệt kê thì có thể dẫn đến sự tiếm quyền của các cơ quan quyền lực khác Tại các nước cộng hoà tổng thống, quyền hành pháp của tổng thống được ghi nhận khá rõ ràng trong Hiến pháp Tại các cộng hoà hỗn hợp

có sự phân nhiệm quyền hành pháp giữa tổng thống và chính phủ, cụ thể: quyền hoạch định chính sách, thực hiện các chính sách đối ngoại, quốc phòng, an ninh thuộc về tổng thống, còn chính phủ tổ chức thi hành các quyết định của tổng thống, quản lý kinh tế - xã hội Tuy nhiên, nhìn chung, thẩm quyền của cơ quan hành pháp tại các quốc gia tư bản thể hiện trên các nội dung sau:

- Thẩm quyền trong việc khởi thảo, hoạch định chính sách đối nội và đối ngoại của nhà nước: đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của bất kỳ chính

phủ quốc gia nào Tuỳ theo quy định của mỗi nước, chính phủ là cơ quan duy nhất hoặc cơ quan chủ yếu soạn thảo, hoạch định đường lối, chính sách trình lên cấp có thẩm quyền, phê chuẩn Đây cũng được xem là thẩm quyền nhằm đảm bảo cho chính phủ hạn chế quyền lập pháp và tổ chức thi hành đường lối, chính sách có hiệu quả

- Thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý nhà nước: chính phủ là cơ quan quản lý cao

nhất của nhà nước, thẩm quyền quản lý theo quy định của mỗi nước nhưng thường rất rộng, bao quát các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội từ kinh tế, văn hoá, xã hội đến quốc phòng, an ninh, Đây chính là thẩm quyền quan trọng nhất và thường xuyên của chính phủ Để thực hiện chức năng này, chính phủ phải điều hoà, phối hợp hoạt động của các bộ ngành trực thuộc Vai trò của người đứng đầu chính phủ rất quan trọng Ông ta có thể ban hành lệnh, chỉ thị buộc các bộ trưởng phải thi hành

- Thẩm quyền trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và ngoại giao: chính phủ có quyền

đệ trình cấp có thẩm quyền ban hành các quyết định liên quan đến chiến tranh và hoà bình, ban hành thiết quân luật hay tình trạng khẩn cấp, quyết định tổng động viên hay động viên cục bộ, thực thi mọi quyền lực mà Hiến pháp và pháp luật cho phép để gìn giữ chủ quyền và an ninh lãnh thổ, sự ổn định của đất nước Trong lĩnh vực ngoại giao, chính phủ đệ trình hoặc tự mình đàm phán và ký kết các hiệp ước quốc tế, liên lạc với nước ngoài Chính phủ có quyền đệ trình nguyên thủ bổ nhiệm các đại sứ, đại diện ngoại giao tại nước ngoài

Trang 13

- Thẩm quyền trong lĩnh vực lập pháp và lập quy: Hiến pháp hầu hết các nước tư

bản đều quy định quyền này cho tập thể chính phủ hay các thành viên chính phủ Thẩm quyền trình dự luật của chính phủ rất rộng, bao quát mọi lĩnh vực của đời sống xã hội liên quan đến phạm vi quản lý của nó Chính phủ không chỉ là cơ quan hành pháp - chịu trách nhiệm thi hành các đạo luật của nghị viện mà còn ban hành các văn bản quy phạm để cụ thể hoá luật hay bổ khuyết cho sự thiếu hụt của luật áp dụng vào đời sống

Như vậy, chính phủ tại các quốc gia tư bản chủ nghĩa là trung tâm của bộ máy quyền lực nhà nước, là công cụ của giai cấp thống trị, vừa có chức năng cai trị vừa có chức năng

xã hội Tuy nhiên, đây cũng là cơ quan dễ có khả năng lạm quyền nhất, dễ vi phạm dân chủ và phương hại đến lợi ích nhân dân nhất nên, để đảm bảo cơ quan này luôn trong sạch, minh bạch thì vai trò của các tổ chức và giới truyền thông cũng rất quan trọng để giám sát

bộ máy chính phủ, đảm bảo cho nó hoạt động đúng với Hiến pháp và pháp luật, vì quyền lợi của cộng đồng xã hội

3.4 Cơ quan tư pháp

Trong tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội”, Rousseau có đề cập đến đến nhiệm vụ cũng

như vai trò của cơ quan tư pháp, theo đó, “Cơ quan này đặt mỗi bộ phận vào đúng vị trí của nó, làm mối dây liên lạc trung gian giữa chính phủ với nhân dân, hoặc giữa chính phủ với cơ quan quyền lực tối cao, hoặc cả ba vế ấy khi cần” 5 Tư tưởng tiến bộ ấy của ông đã được các nhà nước tư sản châu Âu sau đó áp dụng Có một thực tế là chế độ tư sản nhất là trong thời kỳ cách mạng đã bỏ nhiều công sức để đấu tranh cho sự độc lập của tòa án Sự tách ra độc lập của toàn án khỏi lập pháp và hành pháp bảo đảm cho nó làm việc kiên quyết, đưa ra các phán xét công minh, đảm bảo quyền bình đẳng, tự do của mọi cá nhân trong xã hội Ý nghĩa sự độc lập của tư pháp tại các nước tư bản còn nhằm bảo vệ trật tự xã hội và chế độ tư bản, giải quyết các mối bất hòa giữa nhánh lập pháp và hành pháp – là các nhánh quyền lực chính trị, kiềm chế quyền lực chính trị, hạn chế sự xung đột giữa các thế lực chính trị, giữa các giai cấp luôn tồn tại mâu thuẫn, đối kháng trong xã hội tư bản

Trên thực tế, trong cơ chế chính trị tư sản, quyền lực luôn thuộc về những kẻ nhiều tiền lắm của và đồng tiền có thể làm chao đảo cán cân công lý, nhưng ta cũng không thể phủ nhận sự độc lập của tư pháp chí ít về hình thức hay lý thuyết sẽ giúp cho nó không bị lệ thuộc vào các nhánh quyền lực khác và các thế lực chính trị, thế lực kinh tế, có thể tự do đưa ra các quyết định có tính khách quan và vô tư, chỉ dựa vào pháp luật Tại nhiều nước

tư bản, người dân coi thẩm phán như là một vị thần giữ ngôi đến công lý và xem tòa án là thành trì cuối cùng của công lý và tự do

Pháp luật nhiều nước quy định đảm bảo cho thẩm phán được độc lập Cụ thể:

+ Thẩm phán không thể là người thuộc các tổ chức chính trị, kinh tế hay bất kì cơ quan nhà nước nào khác

5 J.J Rousseau, Bàn về khế ước xã hội, bản dịch của Hoàng Thanh Đạm, NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2004

Ngày đăng: 14/12/2021, 19:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w