1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GIÁO DỤC HÁN VĂN BẬC TIỂU HỌC TẠI VIỆT NAM THỜI XƯA QUA TRƯỜNG HỢP SÁCH TAM TỰ KINH

53 28 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 5,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM *** NGUYỄN TUẤN CƯỜNG GIÁO DỤC HÁN VĂN BẬC TIỂU HỌC TẠI VIỆT NAM THỜI XƯA QUA TRƯỜNG HỢP SÁCH TAM TỰ KINH Đề tài cấp Cơ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

***

NGUYỄN TUẤN CƯỜNG

GIÁO DỤC HÁN VĂN BẬC TIỂU HỌC TẠI VIỆT NAM THỜI XƯA

QUA TRƯỜNG HỢP SÁCH TAM TỰ KINH

(Đề tài cấp Cơ sở năm 2015)

Primary Education of Sinographs in Premodern Vietnam:

The Case of the Sanzijing (三三字字經經)

(An on-going research by Nguyễn Tuấn Cường, 2015)

Hà Nội, năm 2015

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ NĂM 2015

GIÁO DỤC HÁN VĂN BẬC TIỂU HỌC TẠI VIỆT NAM THỜI XƯA

QUA TRƯỜNG HỢP SÁCH TAM TỰ KINH

Trang 3

MỤC LỤC

9 Danh sách các bài viết của đề tài đã công bố (5 bài viết) 13

CHUYÊN ĐỀ 1: Một số vấn đề văn bản học của Tam tự kinh tại Việt Nam 14

1.2 Quan điểm của người Việt xưa về tác giả Tam tự kinh 17

1.5 Thay đổi trật tự nội dung Tam tự kinh tại Việt Nam 26

CHUYÊN ĐỀ 2: Tam tự kinh với giáo dục Hán văn bậc tiểu học tại Việt Nam 30

2.1 Giáo dục Hán văn tiểu học tại Việt Nam theo các học giả hiện đại 31 2.2 Ghi chép về giáo dục tiểu học của “người trong cuộc” 32 2.3 Ghi chép về giáo dục tiểu học của “người giao thời” 38

Trang 4

BÁO CÁO TỔNG HỢP

1 Đặt vấn đề

Trong lịch sử văn hóa truyền thống Trung Quốc, ba “tài liệu học vỡ lòng”

(啟蒙讀物, khải mông độc vật) căn bản nhất là Tam tự kinh 三字經, Bách gia tính

百家姓 và Thiên tự văn 千字文, gọi tắt là “Tam Bách Thiên” 三百千, trong đó Tam

tự kinh đóng vai trò quan trọng hơn cả ở bình diện cung cấp tri thức vỡ lòng một

cách tương đối toàn diện, cũng như cung cấp một khối lượng chữ Hán cho người

học chữ Hán Vị trí hàng đầu của Tam tự kinh trong các sách vỡ lòng có thể được

xác định bằng một tiêu chí hình thức, đó là chữ “Kinh“ 經 trong nhan đề tác phẩm,

tức là sách này được tôn lên hàng “Kinh Điển“ 經典 Sức ảnh hưởng của Tam tự

kinh đối với lịch sử văn hóa Trung Quốc còn thể hiện ở hàng loạt tài liệu vỡ lòng

của một số ngành đã được phỏng chế (仿製, biên soạn mô phỏng) theo hình thức

“tam tự.”1

Nghiên cứu khoa cử Hán học tại Việt Nam đã có nhiều thành tựu, nhưng có một điểm yếu là do quá thiên về mảng giáo dục bậc cao (“đại học”) mà hầu như chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về lĩnh vực giáo dục “tiểu học” (sơ học, ấu học), tức là những bước đi ban đầu của người theo đuổi nghiệp chữ nghĩa Trong lịch sử giáo dục tiểu học Hán văn tại Việt Nam cũng như Trung Quốc, Nhật Bản,

Hàn Quốc, sách Tam tự kinh luôn được coi là một trong những cuốn sách giáo khoa

phổ biến nhất, được ưa chuộng nhất Những tìm hiểu sơ bộ cho thấy, mặc dù là một

1 Ví dụ một số sách của Trung Quốc phỏng chế hình thức “tam tự kinh”: Phật giáo tam tự kinh 佛教三字經 (của Xuy Vạn Lão Nhân 吹萬老人 cuối đời Minh) là bản phỏng chế sớm nhất,

Da Tô thánh giáo tam tự kinh 耶稣聖教三字經 (1880, của Dương Cách Phi 楊格非), Y học tam tự kinh 醫學三字經 (của Trần Tu Viên 陳修園, 1753-1823), Địa lí tam tự kinh 地理三字經 (của Trình Tư Lạc 程思樂 đời Thanh), Duy thức tam tự kinh 唯識三字經 (của Đường Đại Viên 唐大園 , 1885-1941), Đài Loan tam tự kinh 台灣三字經 (1900, của Vương Thạch Bằng 王石鵬), Đạo giáo nguyên lưu tam tự kinh 道教源流三字經 (của Dịch Tâm Oánh 易心瑩, 1896-1976), Trung y

Trang 5

cuốn sách có nguồn gốc từ Trung Quốc, nhưng các nhà Nho Việt Nam xưa đã có nhiều cải biên để phong phú hoá nội dung, hệ thống hoá hình thức của cuốn sách giáo khoa này Điều đó thể hiện tính chất tiếp biến văn hoá của Việt Nam, hoà nhập chứ không hoà tan trong bối cảnh giáo dục Hán văn Đông Á

Đề tài này tập trung khai thác các tư liệu gốc bằng chữ Hán và chữ Nôm trong kho sách Hán Nôm để tìm hiểu việc giáo dục Hán văn bậc tiểu học thông qua

trường hợp sách Tam tự kinh, từ đó phác hoạ một cái nhìn sơ khởi về khung cảnh

giáo dục Hán văn bậc tiểu học, làm tiền đề cho một nghiên cứu có quy mô hơn về toàn cảnh giáo dục Hán văn bậc tiểu học Vì vậy, đây là một nghiên cứu trường hơn

(case study) với đối tượng là tư liệu Tam tự kinh tại Việt Nam, bổ sung vào khoảng

trống trong nghiên cứu lịch sử giáo dục khoa cử Hán học bậc tiểu học tại Việt Nam thời trung đại

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu lịch sử giáo dục Hán văn bậc tiểu học thông qua nghiên cứu sự truyền bá, ảnh hưởng, cải biên, phiên dịch, chú giải, ứng dụng giảng dạy

của sách Tam tự kinh tại Việt Nam

Mục tiêu cụ thể:

- Nghiên cứu lịch sử lưu truyền của sách Tam tự kinh tại Việt Nam

- Nghiên cứu văn bản học các văn bản Hán Nôm Tam tự kinh

- Nghiên cứu về những ghi chép của các nhà Nho xưa về sách Tam tự kinh

- Nghiên cứu việc áp dụng giảng dạy sách Tam tự kinh tại Việt Nam với tư

cách là một cuốn sách giáo khoa về giáo dục Hán văn bậc tiểu học

3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Các tài liệu nghiên cứu hiện đại về lịch sử giáo dục Việt Nam đều rất thống

nhất xếp Tam tự kinh ở vị trí quan trọng trong nhóm sách nhập môn của giáo dục Hán văn tại Việt Nam, cùng với các sách Sơ học vấn tân, Ấu học ngũ ngôn thi,

Minh tâm bảo giám, và Minh Đạo gia huấn Tuy nhiên, ở đây có một điều dễ nhận

ra là, các tác giả Nguyễn Q Thắng [1993], Nguyễn Thế Long [1995], Trần Bá Chí [2002], Nguyễn Thị Chân Quỳnh [2003], Thế Anh [2008] nhà nghiên cứu người Trung Quốc là Trần Văn [2006], cũng như nhiều nhà nghiên cứu hiện đại khác, đều

Trang 6

là những người sinh ra sau khi khoa cử đã bị phế bỏ vào năm 1919, thậm chí là sau khá xa Họ không tham gia việc học tập theo lối cử nghiệp xưa, cho nên khi viết về vấn đề giáo dục chữ Hán, họ thường viết theo lời truyền mà không đưa ra chứng cứ (như Nguyễn Thế Long, Trần Bá Chí), hoặc là trích lại các tài liệu bằng chữ Quốc ngữ của người khác (như Nguyễn Q Thắng trích Dương Quảng Hàm, Nguyễn Thị Chân Quỳnh trích lại của nhiều tác giả) Ví dụ, Trần Bá Chí [2002] mô tả vắn tắt nhưng tương đối toàn diện về “việc học chữ Nho ở cấp cơ sở thời xưa”, từ cách thức tổ chức dạy và học, thủ tục nhập học và quan hệ thầy trò, sách giáo khoa và phương pháp dạy và học, đến các môn Nho học thực dụng, nhưng tác giả không đưa

ra bất kì một nguồn tài liệu trích dẫn nào, đặc biệt là nguồn tài liệu gốc bằng chữ Hán chữ Nôm; hơn nữa tác giả là người sinh năm 1931, cách xa thời điểm phế bỏ khoa cử tại Việt Nam năm 1919, cho nên bản thân tác giả cũng không có kinh nghiệm học khoa cử thực tế, khó có thể đưa ra những kiến giải đáng tin cậy Đề tài này quan tâm tới quan điểm của những người Việt Nam sống trong thời đại văn hóa

cổ, trực tiếp học Nho học từ nhỏ với mục đích khoa cử, sau đó họ nói về việc học

Tam tự kinh với tư cách hồi cố; chứ không đặt trọng tâm vào những tác giả hiện đại,

không có kinh nghiệm thực tế học Nho học theo lối cử nghiệp từ nhỏ, vì vậy cho nên các nhận xét của họ thường chỉ là trích dẫn những người đi trước vốn cũng có thể không phải là “người trong cuộc”

Tóm lại, mặc dù đã có một số nhà nghiên cứu đề cập tới Tam tự kinh tại Việt Nam, nhưng chưa có ai coi Tam tự kinh là đối tượng nghiên cứu chủ đạo, chưa

đi sâu nghiên cứu, cũng như không đưa ra được những nguồn tư liệu gốc là quan điểm của bản thân các nhà ngữ văn trong truyền thống Hiện chưa có bất kì nghiên cứu nào về lịch sử lưu truyền, phiên dịch, chú giải, ảnh hưởng, và áp dụng giảng

dạy sách Tam tự kinh tại Việt Nam

4 Kết quả nghiên cứu của Chuyên đề 1 (tóm lược)

Qua khảo cứu các nguồn tư liệu gốc bằng chữ Hán và chữ Nôm về Tam tự

kinh tại Việt Nam, có thể tạm thời xác định thời điểm cuốn sách này truyền nhập

Trang 7

kinh đã có một đời sống khá phong phú, thể hiện bằng việc người Việt xưa đã tác

động tới cuốn sách này từ nhiều khía cạnh: tạo dị bản, tăng bổ nội dung, thay đổi trật tự nội dung

5 Kết quả nghiên cứu của Chuyên đề 2 (tóm lược)

Chuyên đề 2 dựa trên hai nguồn tư liệu: (1) những ghi chép của „người trong cuộc“, tức các nhà Nho truyền thống từng trực tiếp sống trong môi trường giảng dạy

Tam tự kinh; và (2) những ghi chép của „người giao thời“, tức những người từng có

quá trình học Nho học theo lối khoa cử, có học qua Tam tự kinh, nhưng sau này chủ

yếu trước tác bằng chữ Quốc ngữ Công trình trước hết liệt kê 5 đơn vị ghi chép bằng chữ Hán của những người trong cuộc, tức Gia Long (1803), Tôn Thọ Đức (1837) và Minh Mệnh (1937), Phạm Vọng (1853), Hi Thành Trai Trương lão phu (1874), Trần Trọng Hàng (1910), Nguyễn Bá Học (1921); và năm ghi chép của những người giao thời gồm: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Dương Quảng Hàm, Trần Huy Liệu, Đặng Thai Mai, và Vũ Đình Hoè Trên cơ sở đó, công trình đánh giá về các khía cạnh: độ tuổi đi học, học liệu tương ứng, việc biên soạn tài liệu giảng dạy

Tam tự kinh (gồm tài liệu chú giải, tài liệu phiên dịch, tài liệu văn mẫu luyện thi),

cách thức tiến hành buổi học Tam tự kinh, hiệu quả giáo dục của Tam tự kinh

6 Kết luận của đề tài

Lịch sử giáo dục khoa cử, giáo dục Hán văn tại Việt Nam từ lâu đã là một đề tài quen thuộc với rất nhiều sách phiên dịch tư liệu, chuyên luận nghiên cứu và bài nghiên cứu, nhưng có một điểm chung của các công trình đó là thường lưu ý nhiều hơn đến các bậc học cao của sĩ tử, chứ không mấy học giả để tâm nghiên cứu bậc học đầu tiên khi trẻ em bắt đầu đến trường Ngay cả đối với bậc học cao học, thì các

học giả cũng thường mới lưu ý nhiều đến nội dung học và cách thức làm bài thi, chứ chưa đặt nhiều nghiên cứu vào hoạt động giáo dục với tư cách là mối quan hệ

giữa các yếu tố giáo dục gồm: người dạy, người học, nội dung học, học liệu, học

phí, cách thức thi cử, mục đích giáo dục, hiệu quả giáo dục, nhu cầu xã hội… Sự

thiếu lưu tâm đến giáo dục tiểu học dường như đã là “truyền thống” tại Việt Nam, khi mà ngay từ thời tiền hiện đại, những “người trong cuộc” của giáo dục khoa cử cũng đã không mấy lưu tâm ghi chép về quá trình mà họ bắt đầu học Hán văn; điều

Trang 8

này khác hẳn với tình hình đã diễn ra tại Trung Quốc, “nguyên địa” của nền giáo dục khoa cử, khi mà cả tư liệu ghi chép của “người trong cuộc” lẫn những nghiên cứu của các học giả hiện đại đều tương đối phong phú2 Một nhận thức như thế về lịch sử giáo dục khoa cử Việt Nam sẽ đặt ra yêu cầu đối với chúng ta là phải nghiên cứu để bù lấp khoảng trống đó, để hình dung ra quá trình giáo dục Hán văn một cách toàn diện hơn, xuất phát từ ngay những bước khởi đầu, chứ không chỉ chú tâm tới những bậc học cao cấp Nhưng để thỏa mãn yêu cầu ấy, người nghiên cứu cũng phải đối mặt với một thách thức lớn bắt nguồn từ việc thiếu hụt tư liệu gốc cho nghiên cứu Trong đề tài này, tôi cố gắng phác hoạt giai đoạn sơ khởi của giáo dục khoa cử, thông qua việc “nghiên cứu trường hợp” về đời sống của một cuốn sách

giáo khoa quan trọng bậc nhất trong giáo dục Hán văn: cuốn Tam tự kinh

Qua khảo cứu các nguồn tư liệu gốc bằng chữ Hán và chữ Nôm về Tam tự

kinh tại Việt Nam, có thể tạm thời xác định thời điểm cuốn sách này truyền nhập

Việt Nam là năm 1836, hoặc sớm hơn một chút là quãng năm 1820-1830, theo các

chứng cứ văn hiến học khả khảo hiện còn Sau khi truyền vào Việt Nam, Tam tự

kinh đã có một đời sống khá phong phú, thể hiện bằng việc người Việt xưa đã tác

động tới cuốn sách này từ nhiều khía cạnh: tạo dị bản, tăng bổ nội dung, thay đổi trật tự nội dung, làm chú giải, phiên dịch, và ảnh hưởng tới việc trước thuật của các

tác gia trung đại về mặt hình thức văn thể và nội dung trước tác Tam tự kinh cũng

được sử dụng vào việc giáo dục cử nghiệp ở cấp tiểu học cho trẻ em khoảng 6-9 tuổi, dù có thể trẻ em còn khó tiếp thu giáo trình này từ góc độ giáo dục ngữ văn, nhưng từ góc độ giáo dục đạo nghĩa và lịch sử thì cũng đã có nhiều tác dụng tích cực

Qua chuyên khảo này, chúng ta có thể nhận ra thêm một vài lỗ hổng trong việc nghiên cứu lịch sử giáo dục khoa cử tại Việt Nam, đó là giai đoạn giáo dục tiểu học Để khỏa lấp các lỗ hổng ấy, một loạt các vấn đề nghiên cứu đang được đặt ra: đối tượng của giáo dục khoa cử tiểu học là ai, với độ tuổi cụ thể nào? Thầy dạy là

Trang 9

những nhóm người nào trong xã hội? Tài liệu giảng dạy gồm có những gì, là tài liệu ngoại quốc hay tài liệu bản địa, sao chép, in ấn, mua bán và sử dụng tài liệu ấy như thế nào? Quá trình giảng dạy, cách thức tiến hành giảng dạy, các công cụ dạy học, học phí, hiệu quả giảng dạy, quan hệ thầy trò… cũng là những vấn đề không thể không quan tâm Trong quá trình nghiên cứu, cần lưu ý sử dụng những tư liệu gốc,

tư liệu do chính những “người trong cuộc” của giáo dục khoa cử cung cấp, để tránh hiện tượng bàn suông, hoặc dĩ ngoa truyền ngoa Tiếp đó, khi nhìn vấn đề theo chiều lịch đại sẽ đưa đến mối quan hệ giữa giáo dục tiểu học với giáo dục cao cấp, nếu đặt vấn đề theo đồng đại sẽ là những nghiên cứu so sánh với vấn đề tương tự tại các nước Đông Á Qua đó, chúng ta có thể hình dung ra lịch sử giáo dục Hán văn đã diễn ra một cách sinh động như thế nào, với đầy đủ các khía cạnh của nó, chứ không phải là một sự buồn tẻ của những nội dung Nho học được lặp đi lặp lại và những bài thi khoa cử mang nặng tính khuôn mẫu Thiết nghĩ, đó là một công việc khá lâu dài và cần được quan tâm từ nhiều nhà nghiên cứu, để bổ khuyết cho bức tranh giáo dục Hán văn tại Đông Á

7 Danh mục sách Hán Nôm sử dụng

1 Ấu học Hán tự tân thư 幼學漢字新書 (VHv.1485), Dương Lâm 楊琳, Đoàn Triển 段

展, Bùi Hướng Thành 裴向誠 đồng biên tập; Đỗ Văn Tâm 杜文心 duyệt đính; Đông Dương Nghị học hội đồng 東洋議學會同 duyệt y; 遠東印堂藏板 Viễn Đông ấn đường tàng bản (ván khắc lưu ở nhà in Viễn Đông) Trang đầu sách có ghi niên đại

“Ngày tháng Năm năm Duy Tân thứ hai – 1908) (Duy Tân nhị niên ngũ nguyệt nhật 維

新二年五月日), chưa rõ đây là niên đại biên tập và hiệu duyệt, hay niên đại khắc ván

2 Chu Ngọc Chi 朱玉芝 dịch, Tam tự kinh thích nghĩa 三字經釋義 (G-Vietnam-118.1, bản lưu tại Tư Đạo văn khố - Shido Bunko, Đại học Keio, Nhật Bản) Khắc in năm

1874 (Tự Đức 27), Phúc Văn đường tàng bản Kinh văn, dịch Nôm, phiên Hán và phiên Quốc ngữ cho từng chữ kinh văn

3 Đại Việt tam tự sử kí 大越三字史記 (VHv 1279, A 2318) Sách chép tay

4 Hi Thành Trai Trương lão phu 希誠齋張老夫 Tân soạn Tam tự kinh đồng tập sách

văn 新撰三字經童習策文 (A.1863) Chép tay năm 1874

5 Lê triều Nguyễn tướng công gia huấn ca 黎朝阮相公家訓歌 Khắc in năm 1907 In

trong: Vũ Văn Kính phiên khảo 1994 Gia huấn ca TP HCM: Trường Hán Nôm

Nguyễn Trãi

Trang 10

6 Nguyễn Bá Học 阮伯學 Cố giáo học hưu trí Nguyễn Bá Học tiên sinh tùng đàm di

thảo - Ấu học 故教學休致阮伯學先生叢談遺草- 幼 學 Nam Phong, số 54 (tháng

11 Nữ huấn tam tự thư 女訓三字書 (AB.22) Khắc in trong khoảng 1840-1848

12 Phạm Nguyễn Hải Châu 范阮海珠 Thánh giáo tam tự kinh 聖教三字經 (A.2972) Chép tay sau năm 1848

13 Phạm Vọng 范望 (?-?) Khải đồng thuyết ước 啟童說約 (R.562) Bài Tựa viết năm Tự Đức 6 (1853)

14 Tam tự giải âm 三字解音 (AB.474) Chép tay sau năm 1848

15 Tam tự kinh diễn âm 三字經演音 (R.2042) Chép tay sau năm 1848

16 Tam tự kinh giải âm diễn ca 三字經解音演歌 (AB.304) Khắc in năm 1836

17 Tam tự kinh giải âm diễn ca 三字經解音演歌 (R.653) Khắc in năm 1887

18 Tam tự kinh giải âm diễn ca 三字經解音演歌 (trong sách Thi ca phú tạp lục 詩歌賦雜

錄, VNb.1, tr 66a-77a) Chép tay, không rõ niên đại

19 Tam tự kinh giải âm diễn ca 三字經解音演歌 (VNv.185) Chép tay, 1914

20 Tam tự kinh giải âm diễn ca 三字經解音演歌 (VNv.225) Chép tay, không rõ niên đại

21 Tam tự kinh huấn hỗ 三字經訓詁 (VHv.2033) Chép tay sau năm 1848

22 Tam tự kinh lục bát diễn âm 三字經六八演音 (R.129) Khắc in năm 1905

23 Tam tự kinh quốc âm ca 三字經國音歌 (VNv.276) Chép tay, không rõ niên đại

24 Tam tự kinh thích nghĩa 三字經釋義 (bản của PGS.TS Tạ Ngọc Liễn, đã tặng cho Nguyễn Tuấn Cường, gọi là “bản Tạ Ngọc Liễn”) Khắc in năm 1873 (Tự Đức 26)

25 Tam tự kinh thích nghĩa 三字經釋義 (Viện Nghiên cứu Ngôn ngữ và Văn hoá, Đại học Keio, Nhật Bản, gọi là “bản Keio”) Khắc in năm 1937 (Bảo Đại Đinh Sửu), Phúc Văn đường tàng bản

26 Tam tự kinh thích nghĩa 三字經釋義 (VNv.257) Chép tay sau năm 1848

27 Tam tự kinh 三字經 (bản của Ngô Quynh – sinh viên ngành Hán Nôm K56, gọi là “bản Ngô Quynh”) Chưa rõ niên đại, 40 trang khắc in; 4 trang đầu và 2 trang cuối chép tay

28 Trần Trọng Hàng 陳仲杭 Tam tự thư tân vựng 三字書新彙 (AB.279) Khắc in 1910

29 Việt sử tam tự tân ước toàn biên 越 史 三 字 新 約 全 編 (VHv.1697, VHv.1820,

Trang 11

30 Vũ Duy Thanh 武惟清 (1811-1863) Tam tự kinh toát yếu 三字經撮要 (A.1044) Chép tay, không rõ niên đại

31 Y học tam tự kinh 醫學三字經 (VHv.50, VHv.791, VHv.43) Sách chép tay

8 Danh mục tài liệu tham khảo

1 Cung Lệ Diễm 宫丽艳, Lưu Kinh Vĩ 刘经纬 2013 《近年来〈三字经〉研究述评》 载《宁波党校学报》第3 期, 第 24-28 页

2 Dương Duy Hoa 杨维华 2010.《医学三字经助读》, 长沙: 湖南科学技术出版社

3 Dương Quảng Hàm 1941 Việt Nam Văn Học Sử Yếu Saigon: Bộ Quốc gia Giáo dục, 1950

(tiếng Nhật)

学学报(社会科学版) 》第 1 期, 第 71-74 页

6 Đặng Thai Mai, Hồi kí, Hà Nội: Tác phẩm mới, 1985

7 Hứa Nhiên 许然, Lư Lợi 卢莉 2009.《略论〈三字经〉在海内外的传播》 载《天中学刊》第3 期, 第 128-130 页

8 Lê Quang Trường dịch 2005 Tam tự kinh TP Hồ Chí Minh: Văn Nghệ

13 Liu T.C James 1985 “The Classical Chinese Primer: Its Three-Character Style and

Authorship” Journal of the American Oriental Society, Vol 105, No 2, pp 191-196

17 Michels, Abel des trans 1882 Tam Tu Kinh ou le Livre des Phrases de Trois

Caractères Paris: Ernest Leroux

18 Ngô Hồng Thành 吴洪成主编 2006 《中国小学教育史》 太原: 山西教育出版社

19 Ngô Đức Thọ chủ biên, Các nhà khoa bảng Việt Nam, Hà Nội: Văn học, 2006

20 Ngô Mông tiêu điểm 吴蒙 标点 1988 《三字经-百家姓-千字文》 上海:上海古籍

Trang 12

21 Ngô Quang 吴光 2007 《〈三字经〉的作者及文化意义管见》 载《宁波党校学报》第2 期, 第 100-103 页

22 Ngũ Vũ Tinh 伍宇星 2007.《〈三字经〉在俄国》 载《学术研究》第 8 期, 第

110-115 页

23 Nguyễn Hữu Sanh 1911 Le “Tam-Tự-Kinh”: Livre des Phrases de trois Caractères

Saigon: Imprimerie Commerciale Marcellin Rey

24 Nguyễn Khắc Bỉnh 1928 Hán học nhập môn tam tự văn (漢學入門三字文), Hà Nội:

27 Nguyễn Tá Nhí 2008 “Vài nét về bộ giáo trình giảng dạy chữ Hán do người Việt Nam

biên soạn trước thế kỉ XX” Hán Nôm học trong nhà trường, Hà Nội: Khoa học Xã hội,

2008, tr 241-253

28 Nguyễn Thế Long 1995 Nho Học ở Việt Nam: Giáo Dục và Thi Cử Hà Nội: Giáo dục

29 Nguyễn Thị Chân Quỳnh 2003 Khoa cử Việt Nam, quyển thượng: Thi Hương, Hà Nội:

Văn học

30 Nguyen Tuan Cuong 2013 “Primary Textbooks for Classical Chinese in Pre-modern

Vietnam: The Case of Sanzijing( 三 字 經 ).” Paper for to the international conference Pedagogical access to the cosmopolitan code in the Sinographic

Cosmopolis:Evidence from mokkan to the 20th century, hosted jointly by Waseda

University’s Ajia Kenkyu Kikō ( ア ジ ア 研 究 機 構 ) and University of British Columbia’s Department of Asian Studies, Tokyo, Japan, June 2013 (in printing)

31 Oger Henri 1909 Technique du peuple annamite (Kỹ thuật của người An Nam) Hà

Nội: Thế giới, 2009 (tái bản)

学研究』(4), 157-205

33 Phạm Văn Khoái 1995 “Một vài vấn đề về sách giáo khoa dạy chữ Hán trong kho sách

Hán Nôm”, Thông báo Hán Nôm học năm 1995, Hà Nội: Khoa học Xã hội, tr 136-149

34 Phạm Văn Khoái 1999 “Về truyền thống biên soạn sách dạy chữ Hán ở Việt Nam thế

kỷ XVII-XIX” Phan Đại Doan chủ biên, Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, Hà Nội:

Chính trị Quốc gia, tr 237-251

Phạm Văn Khoái 2003 “Đôi điều về việc dạy và học chữ Hán ở Việt Nam sau năm

Trang 13

36 Phạm Văn Khoái 2010 Khoa thi Tiến sĩ cuối cùng trong lịch sử Khoa cử Việt Nam (Kỷ

Mùi, Khải Định năm thứ tư, 1919) Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà Nội

37 Thế Anh 1999 “Những cuốn sách giáo khoa truyền thống của Trung Quốc dành cho

lứa tuổi vỡ lòng” Tạp chí Hán Nôm, số 2, tr 89-93

38 Thế Anh 2008 “Sách học chữ Hán cho học sinh nhỏ tuổi ngày xưa” Hán Nôm học

trong nhà trường, Hà Nội: Khoa học Xã hội, 2008, tr 271-275

42 Tổ lí luận công nhân xưởng cơ khí Vĩnh Định 永定机械厂工人理论组, Tổ phê chú

Tam tự kinh thuộc Khoa giáo dục Đại học Sư phạm Bắc Kinh 北京师范大学教育系

46 Tuyển tập Tản Đà, Hà Nội: Hội Nhà văn, 2002

47 Từ Tử 徐梓, Vương Tuyết Mai 王雪梅 编注 1991a.《蒙学要义》 太原: 山西教育出

52 Trần Bá Chí 2002 “Nhìn lại việc học chữ Nho ở cấp cơ sở thời xưa” Những vấn đề

Hán Nôm học, tập 1, Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 22-31

53 Trần Huy Liệu 1991 Hồi kí Trần Huy Liệu Hà Nội: Khoa học Xã hội

Trang 14

54 Trần Ngọc Thuận 2000 “Về nguồn gốc và tác giả của cuốn Ấu học ngũ ngôn thi” Tạp

9 Danh sách các bài viết của đề tài đã công bố

1 Nguyễn Tuấn Cường 2015a “Lược khảo sách Tam tự kinh tại Trung Quốc và việc lưu

truyền ra nước ngoài”, Từ điển học và Bách khoa thư, số 3, tr 31-37

2 Nguyễn Tuấn Cường 2015b “Tam tự kinh tại Việt Nam: Truyền nhập và cải biên”, Từ

điển học và Bách khoa thư, số 5, tr 19-27

3 Nguyễn Tuấn Cường 阮俊强 2015c 《接受、改編、創新:《三字經》在古代越南

Trung Quốc bằng tiếng Trung Quốc]

4 Nguyễn Tuấn Cường 2015d “The Sanzijing (三字經) and Primary Education in

Premodern Vietnam.” The International Journal of Chinese Character Studies, Vol 1,

No 2, pps 33-54 [in tại Hàn Quốc bằng tiếng Anh]

5 Nguyễn Tuấn Cường 阮俊强,Nguyễn Thị Tú Mai 阮氏秀梅 2016 《《三字经》对

53-72 頁。[in tại Hàn Quốc bằng tiếng Trung Quốc]

Trang 15

CHUYÊN ĐỀ 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VĂN BẢN HỌC CỦA TAM TỰ KINH TẠI VIỆT NAM

Hiện nay có khá nhiều công trình nghiên cứu về Tam tự kinh tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và phương Tây, nhưng dường như vấn đề Tam tự kinh chưa

được chú ý tại Việt Nam dưới góc độ một đối tượng nghiên cứu Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu hiện đại mới chỉ chú ý phiên dịch và giới thiệu tài liệu này cho độc giả, chứ chưa có công trình nghiên cứu nào căn cứ vào các nguồn tài liệu gốc bằng

chữ Hán chữ Nôm để đi sâu mô tả và phân tích đời sống của tác phẩm Tam tự kinh

tại Việt Nam với tư cách một tài liệu giáo dục tiểu học Chính vì vậy, quá trình thực hiện chuyên đề này đã gặp phải một khó khăn lớn là không được kế thừa các nghiên cứu của người đi trước, nên những khảo cứu trình bày sau đây hẳn sẽ phải chờ được

bổ sung và sửa chữa

Chuyên đề này chủ trương tiếp cận vấn đề từ các tài liệu gốc viết bằng chữ Hán

và chữ Nôm Những kí hiệu sách mở đầu bằng “R…” là tài liệu của Thư viện Quốc gia Việt Nam (Hà Nội), những kí hiệu sách còn lại đều lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội)

1.1 Thời điểm truyền nhập Việt Nam

Tư liệu trực tiếp nói đến Tam tự kinh

Khảo cứu nhiều nguồn thư tịch cổ Hán Nôm trọng yếu của Việt Nam,3 có thể nhận thấy một đặc điểm chung là các thư tịch ghi chép khá nhiều về quy chế học

3 Các nguồn tài liệu căn bản của Việt Nam đã được khảo sát nhưng không thấy nhắc đến Tam

tự kinh gồm các tài liệu: Đại Việt sử kí toàn thư 大越史記全書, Khâm định Việt sử thông giám cương mục 欽定越史通鑑綱目, Đại Nam thực lục 大南實錄, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ

欽定大南會典事例, Đại Việt thông sử 大越通史, Lịch triều hiến chương loại chí 歷朝憲章類誌 ,Vân đài loại ngữ 雲薹類語, và một số tài liệu đăng khoa lục Một số cuốn như Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ cũng thảng hoặc ghi chép về giáo dục tiểu học, cũng có ghi chép về các sách Thiên tự văn, Tiểu học, nhưng không ghi chép về Tam tự kinh

Trang 16

tập thời xưa, nhưng lại không chú ý tới cấp tiểu học, mà thường chỉ ghi chép về việc học ở các cấp học sau tiểu học, tức là từ khi sĩ tử đã nắm được một lượng chữ Hán căn bản để bắt đầu đọc trực tiếp các kinh điển Nho gia và các sách lịch sử, văn

thơ… Ví dụ, cuốn Nghi Am sơ định học thức 沂庵初定學式 (VHv.2237) viết bằng

chữ Hán của Nhữ Bá Sĩ (汝伯仕, 1788-1867) ghi chép khá tỉ mỉ về hệ thống sách

giáo khoa và cách trị học ở Việt Nam, nhưng không hề nhắc đến Tam tự kinh Điều

này phù hợp với tôn chỉ biên soạn sách khi tác giả viết một dòng chú thích nhỏ ở

trang 24a: “Cuốn Học thức này soạn cho người lớn, tiểu học thì sẽ định soạn riêng” (式為壯者設,小學倘思另辨 Thức vị tráng giả thiết, tiểu học thượng tư lánh

biện) Tình trạng ấy khiến việc xác định thời điểm Tam tự kinh lưu truyền sang Việt

Nam gặp nhiều khó khăn

Khi mở rộng phạm vi tư liệu khảo sát rộng ra tới những tác phẩm ít phổ biến

hơn thì thấy cuốn Khải đồng thuyết ước 啟童說約 (R.562) của Phạm Vọng 范望

(Phạm Phục Trai 范复齋, ?-?) Phần đầu bài Tựa do tác giả tự viết năm Tự Đức 6

(1853), nhan đề Khải đồng thuyết ước tự tự 啟童說約自序, có đoạn:

“余童年,先君子從俗命之,先讀《三字經》及三皇諸史,次則讀經傳,習時舉業文字,求合場規,取青紫而已。” PHIÊN ÂM: Dư đồng niên, tiên quân

tử tùng tục mệnh chi, tiên độc “Tam tự kinh” cập Tam Hoàng chư sử, thứ tắc độc kinh truyện, tập thì cử nghiệp văn tự, cầu hợp trường quy, thủ thanh tử nhi dĩ DỊCH:

Tôi hồi tuổi nhỏ nghe các bậc quân tử đời trước theo lệ thường dạy mà dạy bảo,

trước hết đọc Tam tự kinh và các sử đời Tam Hoàng, tiếp theo thì đọc kinh truyện,

tập lối chữ nghĩa cử nghiệp thời thượng, sao cho hợp trường quy để được làm quan

mà thôi (Xem Hình 1)

Rất tiếc là hiện nay chưa khảo rõ được hành trạng của Phạm Vọng Theo Trần Văn Giáp, Phạm Vọng tự Phục Trai, hiệu Kim Giang, người làng Kim Đô huyện

Trang 17

Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh, đỗ Cử nhân năm 1841 (năm Tân Sửu đời Thiệu Trị),4không rõ năm sinh năm mất [1971, tr 309] Nếu tính thời gian học của Nho sĩ theo

quan điểm chung là “thập niên đăng hỏa” (mười năm đèn sách) rồi mới đi thi, thì

Phạm Vọng bắt đầu đi học trong khoảng năm 1830 Đó là thời điểm muộn nhất xuất

hiện Tam tự kinh tại Việt Nam, theo khảo sát và suy luận dựa trên tư liệu hiện còn

Để chắc chắn hơn, có một thư tịch cổ khác ghi chép về Tam tự kinh, đó là một bản dịch Nôm của chính sách này, nhan đề Tam tự kinh giải âm diễn ca 三字經解

音演歌 (AB.304) Tờ bìa bản này khắc dòng chữ ngang ở phía trên ghi niên đại

năm 1836: “明命拾柒年新鐫” (Minh Mệnh thập thất niên tân thuyên - Khắc mới

năm Minh Mệnh thứ 17 - xem Hình 2) “Tân thuyên 新鐫” nghĩa là “khắc mới”,

vậy nên có thể trước năm 1836 đã từng có bản khắc cũ, nhưng hiện chưa tìm được Đây là một bản dịch được lưu hành khá rộng rãi, bằng chứng là nó được khắc lại

vào các năm 1887 (R.653), 1888 (B.54, hiện lưu tại Pháp), 1911 (AB.279, nhan đề

Tam tự thư tân vựng 三字書新彚), và được chép tay vào năm 1914 (VNv.185)

Có thể Tam tự kinh vào Việt Nam sớm hơn niên đại 1820-1830 hoặc 1836,

nhưng sử liệu cổ Việt Nam ít quan tâm ghi chép về các sách vỡ lòng, mà thường chỉ

lưu ý tới các bậc học cao hơn (như trong Nghi Am sơ định học thức), nên chuyên đề

này căn cứ trên chứng cứ văn hiến có thể khảo được để xác định niên đại như trên

và chờ bổ sung tư liệu mới

Tư liệu gián tiếp tiếp (trích dẫn Tam tự kinh)

Có một phương pháp khác để xác định thời điểm sớm nhất mà Tam tự kinh

được truyền vào Việt Nam, đó là xem các câu trích dẫn từ nội dung của sách này được các tác gia trung đại Việt Nam nhắc đến sớm nhất là từ khi nào, thì có thể họ

đã đọc Tam tự kinh muộn nhất là ở thời điểm đó Tuy nhiên, phương pháp này không thể đảm bảo chắc chắn là các trích đoạn ấy được trích dẫn trực tiếp từ Tam tự

4 Quốc triều hương khoa lục cũng ghi nhận Phạm Vọng đỗ Cử nhân năm 1841 tại trường thi

Hà Nội, làm quan đến chức Tri huyện Xem: Cao Xuân Dục, Quốc triều hương khoa lục, Nguyễn

Thúy Nga, Nguyễn Thị Lâm dịch, TP Hồ Chí Minh: TP Hồ Chí Minh, 1993, tr 214

Trang 18

kinh chứ không phải trích lại từ những thư tịch cổ của Trung Quốc đã sớm trích dẫn Tam tự kinh Vì tính chất không chắc chắn này, nên tạm thời chuyên khảo này

không khảo cứu theo hướng đó

Tuy nhiên, tưởng cũng nên nhắc tới một tư liệu sớm nhất mà tác giả chuyên

khảo tìm thấy theo hướng khảo cứu này Trong cuốn Sơ học chỉ nam 初學指南 (A.1634) của Nguyễn Huy Oánh 阮輝瑩 (1713-1789) có bài Tự thuyết 敘說 (tờ 3a- 3b), trong đó có câu “Tráng nhi hành giả, ấu chi học dã” 壯而行者、幼之學也

(Lớn mà thực hành, [ấy là do] cái học từ nhỏ) Câu này hoàn toàn trùng ý và gần

như trùng văn với hai câu trong Tam tự kinh: “Ấu nhi học, tráng nhi hành” 幼而

學、壯而行 (Nhỏ mà học, lớn mà thực hành) Bài Tự thuyết trên ghi niên đại “Thời

Cảnh Hưng Quý Tị, Vọng Bách lão nhân đề” 旹景興癸巳望百老人題 (Khi ấy là

năm Quý Tị niên hiệu Cảnh Hưng, Vọng Bách lão nhân đề) Chưa rõ “Vọng Bách lão nhân” ở đây có đích thực là Nguyễn Huy Oánh hay không,5 nhưng năm Quý Tị niên hiệu Cảnh Hưng là năm 1773, khi ấy Nguyễn Huy Oánh 61 tuổi, cũng có thể

tự xưng là “lão nhân” Vậy là, ở thời điểm năm 1773, có một nhân vật hiệu là Vọng

Bách lão nhân đã trích dẫn nội dung gần như trùng hợp với hai câu trong Tam tự

kinh Nhưng như trên đã trình bày, ở đây chưa thể chắc chắn Vọng Bách lão nhân

trích trực tiếp từ Tam tự kinh, hay gián tiếp từ sách khác

1.2 Quan niệm của người Việt xưa về tác giả Tam tự kinh

Trong các văn bản Tam tự kinh chữ Hán Nôm còn lại ở Việt Nam, có bốn văn

bản sau ghi thông tin về tác giả sách này:

 Tam tự kinh giải âm diễn ca (AB.304),6 tờ bìa ghi thông tin: “順德歐適子著

5 Hiện chưa tìm được thông tin gì về nhân vật “Vọng Bách lão nhân”, trong cuốn Tên tự, tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam của Trịnh Khắc Mạnh (Hà Nội: Khoa học Xã hội, 2012) cũng

Trang 19

bản của Âu Thích tử ở Thuận Đức Tống Nho Vương Bá Hậu làm ra Tam tự kinh để

dạy trường nhà Vương Tướng đời Thanh, tự Tấn Thăng, hiệu Nhẫn Am, vừa mới làm huấn hỗ) (Xem Hình 2)

 Tam tự thư tân vựng (AB.279), tờ 6a ghi: “嶺南區適子著。宋儒王伯厚家塾課編。清儒王訒菴訓詁。越儒先達解音演歌。” (Khu Thích Tử ở Lĩnh Nam viết Tống Nho Vương Bá Hậu soạn để dạy trường nhà Thanh Nho Vương Nhẫn

Am làm huấn hỗ Bậc tiền bối Việt Nho giải âm diễn ca) (Xem Hình 3)

 Tân soạn tam tự kinh đồng tập sách văn 新撰三字經童習策文 (AB.1863, tờ 4a) viết: “宋儒王伯厚之作《三字經》藝術以課家塾也。” (Tống Nho Vương Bá

Hậu viết ra quyển Tam tự kinh để dạy ở trường nhà)

 Tam tự kinh giải âm 三字經演音 (R.2042, tờ 1a), phần dịch thơ Nôm lục bát

mở đầu là: “Tống Nho Bá Hậu chép kinh, Câu rằng ba chữ rành rành ngâm nga”

Từ bốn thông tin trên có thể nhận thấy, trong quan niệm của người Việt xưa,

Vương Ứng Lân (tự Bá Hậu) là tác giả viết ra Tam tự kinh để dạy ở trường nhà, và

ở Việt Nam thường dùng dị bản (version) được cho là của Khu Thích Tử, cũng như dùng phần huấn hỗ chú giải của Vương Tướng

Việc phần lớn các bản Tam tự kinh lưu truyền tại Việt Nam xưa không ghi thông tin về tác giả của Tam tự kinh cho thấy vấn đề tác giả sách không phải là vấn

đề mà người Việt xưa quan tâm hàng đầu, mà họ quan tâm đến nội dung của sách

Ngay cả bản Tam tự kinh toát yếu 三字經撮要 (A.1044) của Vũ Duy Thanh chú giải rất tường tận toàn văn Tam tự kinh, nhưng cũng không ghi tên nguyên tác giả

của phần kinh văn

1.3 Việt Nam dùng bản Tam tự kinh nào?

Qua nghiên cứu các dị bản của tác phẩm Tam tự kinh có chữ Hán tại Việt Nam,

có thể nhận thấy bản Tam tự kinh phổ biến tại Việt Nam là một bản châm chước

經解音演歌 ), năm khắc ván (Đồng Khánh tam niên tân thuyên 同慶三年新鐫) và nơi giữ ván

khắc (Quan Văn đường tàng bản 觀文堂藏板) Hai bản Tam tự kinh giải âm diễn ca kí hiệu R.653

và AB.304 chỉ khác nhau tờ bìa, còn nội dung thì giống nhau

Trang 20

giữa hai bản của Vương Ứng Lân và của Khu Thích Tử (nhiều bản Việt Nam viết nhầm thành Âu Thích Tử 歐適子 do lẫn chữ Khu 區 thành chữ Âu 歐) Điều này được chính các văn bản ấy xác nhận:

 Hai bản Tam tự kinh giải âm diễn ca (AB.304, R.653, tờ 1b) đều viết: “歐適

句,字義順者,從之,以備考焉。” PHIÊN ÂM: Âu Thích Tử bản, Vương Bá

Hậu bản, nhị bản phả hữu đồng dị Nhưng tham trước tịnh liệt vu tả Kim thủ kì thặng cú, dữ trạch kì cú, tự nghĩa thuận giả, tùng chi, dĩ bị khảo yên DỊCH: Bản

của Âu Thích Tử, bản của Vương Bá Hậu, hai bản có chỗ giống khác Đều tham khảo và liệt kê sau đây Nay bỏ những câu thừa, và lựa chọn từng câu ở mỗi bản, nếu chữ nghĩa xuôi thuận thì theo, để khảo cho đầy đủ

 Tam tự kinh lục bát diễn âm 三字經六八演音 (R.129, tờ 13a-b) viết: “按:

《三字經》每句三字,便於童幼呫嘩。宋儒王伯厚應麟所作,以課家塾也。歐適子本、伯厚本,二本間有同異。今本取其剩句,與擇其句,字義順者,從之。” PHIÊN ÂM: Án: “Tam tự kinh” mỗi cú tam tự, tiện ư đồng ấu chiếp hoa

Tống Nho Vương Bá Hậu Ứng Lân sở tác, dĩ khóa gia thục Âu Thích Tử bản, Bá Hậu bản, nhị bản gian hữu dị đồng Kim bản thủ kì thặng cú, dữ trạch kì cú, tự nghĩa thuận giả, tùng chi DỊCH: Xét: Tam tự kinh mỗi câu ba chữ, tiện cho trẻ em

nhẩm đọc Nhà Nho đời Tống là Vương Ứng Lân, tên tự là Bá Hậu, viết để dạy ở trường nhà Có bản của Âu Thích Tử và bản của Bá Hậu, giữa hai bản có chỗ giống

và khác nhau Bản này bỏ những câu thừa, và chọn lựa từng câu ở mỗi bản, nếu nghĩa chữ xuôi thuận thì theo

 Tam tự thư tân vựng (AB.279, tờ 6a) viết: “古本參訂以下。今本取其字句,順義者從之。” PHIÊN ÂM: Cổ bản tham đính dĩ hạ Kim bản thủ kì tự cú,

thuận nghĩa giả tùng chi DỊCH: Việc tham đính các bản xưa như ở dưới đây Bản

nay lựa câu chữ [trong các bản xưa], nếu thuận nghĩa thì theo

Trang 21

Kế đó, bốn văn bản trên đều liệt kê các trường hợp dị biệt văn tự giữa hai bản của Vương Ứng Lân và Khu Thích Tử, có thể chỉnh lí thành bảng đối chiếu sau (xem Hình 3):

Stt 王伯厚

(1)

區適子(2) AB.304, R.653 R.129 AB.279

Nhìn chung, văn bản Tam tự kinh chữ Hán lưu hành tại Việt Nam thời trung đại

tương đối thống nhất có 358 câu Phần toàn văn này được thể hiện ở dưới đây,

trong đó những chữ in đậm là khác với bản Trung Quốc của Vương Tướng [1991,

in lại]

Trang 25

So sánh với bản lưu hành phổ biến tại Trung Quốc là bản Tam tự kinh huấn

hỗ của Vương Tướng [1991, in lại] có 356 câu thì thấy, giữa hai bản có 30 câu khác

nhau, trong đó đáng lưu ý hơn cả là bản ở Việt Nam thêm hai câu số 49-50: “Nhất

thái cực, Nhị âm dương” 一太極, 二陰陽 và đổi thứ tự bốn câu 103-106: “Quân tắc kính, Thần tắc trung Trưởng ấu tự, Bằng hữu công” 君則敬, 臣則忠, 長幼序, 朋

1.4 Tăng bổ nội dung Tam tự kinh ở Việt Nam

Phần tăng bổ thứ nhất là thêm hai câu “Nhất thái cực, Nhị âm dương” 一太極

二陰陽 vào trước câu “Tam tài giả, Thiên địa nhân” 三才者天地人 Phần tăng bổ này đã có ngay từ bản Tam tự kinh giải âm diễn ca (AB.304), sau đó lại có trong 5 văn bản khác là Tam tự kinh giải âm diễn ca (R.653), Tam tự kinh lục bát diễn âm

Trang 26

(R.129), Tam tự thư tân vựng (AB.279), Tam tự kinh thích nghĩa (VNv.257) và

Tam tự kinh quốc âm ca (VHv.276)

Bản Trung Quốc sớm nhất có hai câu này là bản Tăng đính phát mông Tam tự

kinh 贈訂發蒙三字經 của Hứa Ấn Phương 許印芳 (1832-1901) soạn năm 1887,

trong khi hai câu ấy đã xuất hiện trong bản trùng san (khắc lại) năm 1836 ở Việt Nam (bản AB.304), điều đó chứng tỏ việc tăng bổ hai câu này ở Việt Nam còn sớm hơn ở Trung Quốc, theo điều kiện tư liệu hiện biết Có thể đặt giả thiết rằng Hứa Ấn Phương khi biên soạn văn bản của mình đã tham khảo bản phổ biến tại Việt Nam, mặc dù không có chứng cứ rõ ràng để chứng minh cho giả thiết này Hợp lí hơn, có

lẽ nên cho rằng học giả hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã cùng chung ý tưởng tăng bổ giống nhau nhưng độc lập với nhau, nhưng ý tưởng đó xuất hiện ở Việt Nam sớm hơn

Việc thêm hai câu này có thể là nhằm hệ thống hóa các nhóm phạm trù khoa học cho liền mạch thành một dãy số tự nhiên bắt đầu từ Một đến Mười (trong khi bản gốc chỉ có từ Ba đến Mười):

Một (nhất thái cực 一太極),

Hai (nhị âm dương 二陰陽),

Ba (tam tài 三才, tam quang 三光, tam cương 三綱),

Ngày đăng: 14/12/2021, 19:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3: Tam tự thư tân vựng (AB.279, tờ 6a) Hình 4: Tam tự thư tân vựng (AB.279, tờ 6b) - GIÁO DỤC HÁN VĂN BẬC TIỂU HỌC TẠI VIỆT NAM THỜI XƯA QUA TRƯỜNG HỢP SÁCH TAM TỰ KINH
Hình 3 Tam tự thư tân vựng (AB.279, tờ 6a) Hình 4: Tam tự thư tân vựng (AB.279, tờ 6b) (Trang 31)
Hình 5: Khâm - GIÁO DỤC HÁN VĂN BẬC TIỂU HỌC TẠI VIỆT NAM THỜI XƯA QUA TRƯỜNG HỢP SÁCH TAM TỰ KINH
Hình 5 Khâm (Trang 35)
Hình 6: Đại Nam thực lục, đệ nhị kỉ, quyển 184, tờ 8b-9a. 15 - GIÁO DỤC HÁN VĂN BẬC TIỂU HỌC TẠI VIỆT NAM THỜI XƯA QUA TRƯỜNG HỢP SÁCH TAM TỰ KINH
Hình 6 Đại Nam thực lục, đệ nhị kỉ, quyển 184, tờ 8b-9a. 15 (Trang 36)
Hình 7: Khải đồng thuyết ước - GIÁO DỤC HÁN VĂN BẬC TIỂU HỌC TẠI VIỆT NAM THỜI XƯA QUA TRƯỜNG HỢP SÁCH TAM TỰ KINH
Hình 7 Khải đồng thuyết ước (Trang 36)
Hình 9:  Nghĩ  thuật nhất  gia  độc pháp, in trong  Tam tự  thư tân vựng - GIÁO DỤC HÁN VĂN BẬC TIỂU HỌC TẠI VIỆT NAM THỜI XƯA QUA TRƯỜNG HỢP SÁCH TAM TỰ KINH
Hình 9 Nghĩ thuật nhất gia độc pháp, in trong Tam tự thư tân vựng (Trang 39)
Hình 10: Bài luận về Ấu học của Nguyễn Bá Học, Nam Phong, số 54 (1921), tr. 214-215 - GIÁO DỤC HÁN VĂN BẬC TIỂU HỌC TẠI VIỆT NAM THỜI XƯA QUA TRƯỜNG HỢP SÁCH TAM TỰ KINH
Hình 10 Bài luận về Ấu học của Nguyễn Bá Học, Nam Phong, số 54 (1921), tr. 214-215 (Trang 40)
Hình 12: Henri Oger, Kĩ thuật của người An Nam (1909)  159 - GIÁO DỤC HÁN VĂN BẬC TIỂU HỌC TẠI VIỆT NAM THỜI XƯA QUA TRƯỜNG HỢP SÁCH TAM TỰ KINH
Hình 12 Henri Oger, Kĩ thuật của người An Nam (1909) 159 (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w