1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN: NỘI DUNG CƠ BẢN ĐƯỜNG LỐI CHUNG XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ Ở MIỀN BẮC TRONG ĐẠI HỘI III(9/1960)

17 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 676,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Trong bài nghiên cứu này , mục tiêu của bài viết là giải quyết những vấn đề sau : - Mục tiêu thứ nhất : Phân tích cơ sở lý luận , tính tất yếu của quá độ lên chủ ngh

Trang 1

ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN:

NỘI DUNG CƠ BẢN ĐƯỜNG LỐI CHUNG XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ Ở

MIỀN BẮC TRONG ĐẠI HỘI III(9/1960)

HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

SINH VIÊN:TRẦN TOÀN MINH

MÃ SINH VIÊN:19050178 LỚP:QH-2019 E KINH TẾ CLC 2

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN THỊ GIANG

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do , tầm quan trọng của vấn đề cần nghiên cứu 4

2 Mục tiêu nghiên cứu 4

3 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Kết cấu của bài nghiên cứu 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG I : ĐƯỜNG LỐI CHUNG XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ Ở MIỀN BẮC 6

1 1 Lý luận chung về thời kỳ quá độ lên CNXH 6

1.1.1 Tính tất yếu quá độ lên CNXH 6

1.1.1.1 Sự tồn tại TKQĐ là tất yếu khách quan 6

1.1.1.2 Tính tất yếu khách quan của TKQĐ lên CNXH ở Việt Nam 7

1.2 Tình hình miền Bắc trước năm 1960 7

1.2.1 Thời kỳ 1954 – 1957 : Đảng lãnh đạo hoàn thành những nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ , khôi phục kinh tế , hàn gắn vết thương chiến tranh 7

1.2.2 Thời kỳ 1958 – 1960 : Cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế và văn hoá 9

1.3 Đại hội III và nội dung đường lối chung 11

CHƯƠNG II : THÀNH TỰU , HẠN CHẾ YẾU KÉM CỦA KẾ HOẠCH 5 NĂM LẦN THỨ NHẤT VÀ ĐÁNH GIÁ CHUNG ĐẠI HỘI III 14

2.1 Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 14

2.2 Đại hội III 15

KẾT LUẬN 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do , tầm quan trọng của vấn đề cần nghiên cứu

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài 21 năm của dân tộc ta đã đi vào lịch

sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc

tế to lớn và tính thời đại sâu sắc

Bằng thắng lợi vĩ đại của mình, nhân dân ta đã đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn nhất, thời gian dài nhất của chủ nghĩa đế quốc kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, làm suy yếu trận địa của chủ nghĩa đế quốc, phá vỡ một phòng tuyến quan trọng của chúng ở khu vực Đông Nam Á, mở đầu sự sụp đổ không thể tránh khỏi của chủ nghĩa thực dân mới, góp phần tăng cường lực lượng của các nước xã hội chủ nghĩa, phong trào độc lập dân tộc, dân chủ và hoà bình thế giới

Làm nên thắng lợi đó có đóng góp không nhỏ của kết quả của sự nghiệp cách mạng

xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, của đồng bào và chiến sĩ miền Bắc vừa chiến đấu vừa xây dựng, hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ của hậu phương lớn, hết lòng hết sức chi viện cho tiền tuyến lớn ở miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược

Bài nghiên cứu này viết lên nhằm góp phần nhận thức đúng đắn hơn nữa về những vấn đề cơ bản của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta , thông qua đại hội III năm

1960 , chúng ta có thể thấy rõ được vai trò to lớn của Đảng trong việc đưa nước ta lên chủ nghĩa xã hội Bên cạnh đó , càng giúp chúng ta càng thêm yêu quý Đảng, yêu quý chế độ chủ nghĩa xã hội ở nước ta

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trong bài nghiên cứu này , mục tiêu của bài viết là giải quyết những vấn đề sau :

- Mục tiêu thứ nhất : Phân tích cơ sở lý luận , tính tất yếu của quá độ lên chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam ta

- Mục tiêu thứ hai : Phân tích được tầm quan trọng , nhiệm vụ , chủ trương của Đảng trong đại hội III năm 1960 đưa miền Bắc ta tiến lên xây dựng chủ nghĩa

xã hội

3 Đối tượng và phạm vị nghiên cứu

Đối tượng của bài nghiên cứu là đường lối của Đại hội III trong việc đưa miền Bắc nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội Do điều kiện về thời gian, về tài liệu cũng như trình độ hiểu biết vấn đề của người viết còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong

Trang 5

nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ quý thầy cô và các bạn để tiểu luận này được hoàn thiện hơn

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thu thập tài liệu từ bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập , lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam – 80 năm phát triển , bên cạnh đó là xử lý các dữ liệu

sơ cấp và thứ cấp qua sách , báo , internet ,…

5 Kết cấu của bài nghiên cứu

Bài nghiên cứu được chia làm 2 phần :

-Chương I : Đường lối chung xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ ở miền Bắc

-Chương II : Thành tựu , hạn chế yếu kém của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất và đánh giá chung Đại hội III

Trang 6

NỘI DUNG

CHƯƠNG I : ĐƯỜNG LỐI CHUNG XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG

THỜI KỲ QUÁ ĐỘ Ở MIỀN BẮC

1 1 Lý luận chung về thời kỳ quá độ lên CNXH

TKQĐ lên CNXH là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc , toàn diện và lâu dài trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội , nhằm cải tạo những tiền đề vật chất tinh thần cho xã hội mới Bắt đầu từ khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền nhà nước , bắt tay vào cải tạo và xây dựng xã hội mới , đến khi những nguyên tắc căn bản của XHCN được thực hiện

TKQĐ là thời kỳ lịch sử mà bất cứ quốc gia nào đi lên CNXH cũng đều phải trải qua , ngay cả những nước có nền kinh tế phát triển , bởi lẽ , ở các nước này , tuy lực lượng sản xuất đã phát triển cao , nhưng vẫn phải cải tạo xây dựng mối quan hệ sản xuất mới , xây dựng nền văn hoá mới Dĩ nhiên , đối với những nước thuộc loại này , về khách quan

có nhiều thuận lợi , TKQĐ có thể diễn ra ngắn hơn Đối với nước ta , một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên CNXH bỏ qua 1 chế độ TBCN , thì lại càng phải trải qua một TKQĐ lâu dài

Toàn thế giới đã bước vào thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH Thực tiễn đã khẳng định CNTB là chế độ xã hội đã lỗi thời về mặt lịch sử , sớm hay muộn cũng phải được thay bằng HTKTXH cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là giai đoạn xã hội XHCN Cho dù hiện nay , với những cố gắng để thích nghi với tình hình mới , CNTB thế giới vẫn đang có những thành tựu phát triển nhưng vẫn không vượt ra khỏi những mâu thuẫn cơ bản của nó , những mâu thuẫn này không dịu đi mà ngày càng phát triển gay gắt và sâu sắc CNTB không phải là tương lai của loài người Đặc điểm của thời đại ngày nay là thời đại quá độ

từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới Quá trình cải biến xã hội cũ , xây dựng

xã hội mới - xã hội XHCN không phải là quá trình cải lương , duy ý chí , mà là quá trình cách mạng sôi động trải qua nhiều giai đoạn phát triển khách quan , hợp với quy luật của lịch sử CNXH khoa học , tự do , dân chủ và nhân đạo mà nhân dân ta và loài người tiến bộ đang vươn tới luôn đại diện cho những giá trị tiến bộ của nhân loại , đại diện lợi ích của người lao động , là HTKTXH cao hơn CNTB Quá trình cách mạng đó vì sự nghiệp cao

cả là giải phóng con người , vì sự phát triển tự do và toàn diện của con người , vì tiến bộ chung của loài người Đi theo dòng chảy của thời đại cũng tức là đi theo quy luật phát triển của tự nhiên của lịch sử

1.1.1 Tính tất yếu quá độ lên CNXH

1.1.1.1 Sự tồn tại TKQĐ là tất yếu khách quan

- Sau khi giai cấp công nhân , nhân dân lao động giành được chính quyền , điểm xuất phát về kinh tế , xã hội của xã hội tiền tư bản và tư bản còn thấp , chưa đủ những tiền

đề vật chất , văn hóa và tinh thần để thực hiện những chuẩn mực , nguyên tắc của CNXH

- Nhiều tàn dư của các xã hội tiên tư bản và tư bản còn tồn tại lâu dài trong lòng xã hội mới , cần có thời gian cải tạo , xây dựng

Trang 7

- Các giai cấp , lực lượng phản động chỉ bị đánh đổ về chính trị , chúng còn có những cơ sở vật chất nhất định , nên đã ra sức đòi lại quyền lợi đã mất , vì vậy cần có thời

kỳ đấu tranh , cải tạo chúng

- Công việc xây dựng CNXH là một công việc mới mẻ , khó khăn , phức tạp , chưa

có tiền lệ trong lịch sử nên cần phải có thời gian để trải nghiệm , xây dựng , củng cố vững chắc

- Sự tồn tại TKQĐ là tất yếu khách quan , nhưng tùy theo điều kiện lịch sử , kinh tế , xã hội ở mỗi nước khác nhau mà thực hiện quá độ gián tiếp hay trực tiếp , với quá trình dài , ngắn khác nhau

- Cần khắc phục mọi biểu hiện nôn nóng đốt cháy giai đoạn , chủ quan duy ý chí , máy móc , siêu hình trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị , kinh tế , văn hóa , xã hội của TKQĐ lên CNXH

1.1.1.2 Tính tất yếu khách quan của TKQĐ lên CNXH ở Việt Nam

Ở nước ta , TKQĐ lên CNXH bắt đầu từ năm 1954 ở miền Bắc và từ năm 1975 , sau khi đất nước đã hoàn toàn độc lập và cả nước thống nhất , cách mạng dân tộc - dân chủ nhân dân đã hoàn toàn thắng lợi trên phạm vi cả nước thì cả nước cùng tiến hành cách mạng XHCN , cùng quá độ lên CNXH

- Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh , TKQĐ lên CNXH ở nước ta là một thời kỳ lịch sử

mà : " nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của CNXH tiến dần lên CNXH , có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại , có văn hoá và khoa học tiên tiến Trong quá trình cách mạng XHCN , chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới , mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài "

1.2 Tình hình miền Bắc trước năm 1960

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam III diễn ra trong bối cảnh miền Bắc Việt Nam vừa hoàn thành khôi phục kinh tế sau Kháng chiến chống Pháp và “Cải cách ruộng đất” cùng với Cải tạo công thương nghiệp; trong khi ở miền Nam một phong trào chống chính quyền Ngô Đình Diệm và Mỹ đang diễn ra từ cuối năm 1959 và trở thành Phong trào Đồng khởi từ đầu năm 1960 Trong bối cảnh như vậy, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã phải trải qua nhiều thời kỳ, với các bước đi, kế hoạch dài hạn và ngắn hạn khác nhau

1.2.1 Thời kỳ 1954 – 1957 : Đảng lãnh đạo hoàn thành những nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ , khôi phục kinh tế , hàn gắn vết thương chiến tranh

Sau chín năm kháng chiến trường kỳ, gian khổ, miền Bắc bị chiến tranh tàn phá nặng nề: 14 vạn hécta ruộng đất hoang hoá; các công trình thuỷ lợi lớn và vừa đều

bị phá hỏng; đê điều không được củng cố; trâu bò, công cụ sản xuất bị cướp phá; thiên tai liên tiếp làm mất mùa, gây đói kém kéo dài từ vụ mùa năm 1954 đến giữa năm 1955; công nghiệp đình đốn; giao thông hư hại nặng; buôn bán sút kém; Đứng trước tình hình đó, Hội nghị Bộ Chính trị tháng 9-1954 đã chỉ rõ: công việc trước mắt là ổn định đời sống nhân dân, chống chính sách cưỡng ép di cư vào Nam của địch, hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi nền kinh tế quốc dân Trong

Trang 8

đó, phục hồi và phát triển sản xuất nông nghiệp là vấn đề trọng tâm Đây là chủ trương đúng đắn của Đảng, có ý nghĩa lớn đối với việc cải thiện đời sống nhân dân, tạo tiền đề cho công cuộc cải tạo nông nghiệp và xây dựng mô hình quản lý nông nghiệp phù hợp với tình hình đất nước

Việc khôi phục kinh tế nông nghiệp có liên quan mật thiết với việc giải quyết vấn

đề ruộng đất nhằm giải phóng lực lượng sản xuất của hàng triệu nông dân, thực hiện khẩu hiệu "Người cày có ruộng" đã được nêu lên trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa II (5- 1955) nêu rõ chủ trương: để củng cố miền Bắc, trước hết cần phải hoàn thành cải cách ruộng đất và coi đây là chính sách bất di bất dịch Để đảm bảo cho công cuộc cải cách ruộng đất giành được thắng lợi, Đảng xác định rõ phương pháp tiến hành là: dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú nông, đánh đổ giai cấp địa chủ, tiêu diệt chế độ phong kiến từng bước Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: cải cách ruộng đất quan

hệ đến củng cố miền Bắc, chẳng những đưa lại quyền làm chủ ruộng đất cho nông dân, mà còn tạo điều kiện cho công cuộc khôi phục và phát triển sản xuất, củng cố quốc phòng, củng cố cơ sở của Đảng và chính quyền ở nông thôn, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất

Tháng 12-1955, cải cách ruộng đất đợt 5 được triển khai ở 1.732 xã, với 6 triệu dân trong 20 tỉnh và 2 thành phố Toàn đợt cải cách ruộng đất và giảm tô (từ tháng 9-

1954 đến tháng 7-1956) đã đạt được kết quả như sau:

+ Tiến hành 8 đợt giảm tô ở 1.777 xã với 1.106.995 ha ruộng đất; 5 đợt cải cách ruộng đất ở 3.653 xã trên toàn vùng đồng bằng, trung du và 280 xã miền núi với 2.435.518 nhân khẩu, can thiệp vào 1,5 triệu hécta; đã tịch thu, trưng thu, trưng mua: 810.000 ha ruộng đất chia cho 2,2 triệu hộ nông dân gồm 9,5 triệu người (72,8% số hộ ở nông thôn được chia ruộng đất)

+ Hoàn thành việc xoá bỏ giai cấp địa chủ và quan hệ sản xuất phong kiến ở miền Bắc; nâng cao quyền làm chủ cho nông dân ở nông thôn, giải phóng một bước sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn

Cùng với việc hoàn thành cải cách ruộng đất, Nhà nước đã ban hành các chính sách kinh tế quan trọng, như: khuyến khích phát triển kinh tế hộ nông dân; bảo đảm quyền sử dụng ruộng đất của nông dân; bảo vệ tài sản của các tầng lớp nhân dân; cho tự do vay mượn và thuê mướn nhân công; khuyến khích các hình thức đổi công; sửa đổi chính sách thuế, nhằm giảm bớt sự đóng góp của nông dân, v.v Những biện pháp đó đã tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong nền kinh tế miền Bắc, góp phần hoàn thành công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh Đến cuối năm 1957, 85% diện tích ruộng hoang hoá đã được khôi phục, nhiều công trình thuỷ lợi được sửa chữa, diện tích tưới nước tăng thêm Sản lượng lương thực trung bình hằng năm đạt gần 4 triệu tấn, vượt mức trước chiến tranh (năm 1939 chỉ đạt 2,4 triệu tấn) Trong công nghiệp, hầu hết các xí nghiệp quan trọng được phục hồi, nâng cấp và xây dựng thêm một số nhà máy mới; chú trọng phát triển tiểu thủ công nghiệp Hệ thống giao thông được cải tạo và nâng cấp, nhất

là các tuyến đường thuỷ, đường bộ và bốn tuyến đường sắt nối Thủ đô Hà Nội với các tỉnh phía Bắc, bảo đảm giao lưu giữa các vùng, phục vụ công cuộc khôi phục

và phát triển kinh tế - xã hội

Trang 9

Bên cạnh những thắng lợi to lớn đó, trong khi tiến hành cải cách ruộng đất và chỉnh Đảng, chúng ta đã phạm một số sai lầm nghiêm trọng trong chỉ đạo thực hiện Với tinh thần tự phê bình và phê bình, với ý thức trách nhiệm cao trước toàn thể nhân dân, Đảng ta một mặt nhanh chóng sửa chữa sai lầm, mặt khác có những biện pháp củng cố và phát huy thắng lợi Cho đến cuối năm 1957, công tác sửa sai đã đưa lại kết quả tốt: nông thôn dần dần ổn định; nội bộ Đảng đoàn kết, nhất trí; lòng tin của quần chúng đối với Đảng được khôi phục; sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh; khối liên minh công - nông được củng cố

Các lĩnh vực giáo dục, văn hoá, y tế phát triển nhanh Sau ba năm đã có hơn một triệu người thoát nạn mù chữ Tổng số học sinh phổ thông lên tới trên 1 triệu Số học sinh trung học chuyên nghiệp là 7.783 người Số sinh viên đại học lên tới 3.664 người, gấp hơn 6 lần số sinh viên thời kỳ chiến tranh, gần 2.000 học sinh được gửi đi học tại các nước xã hội chủ nghĩa

Hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở được củng cố, phát huy tốt vai trò là nhân tố quyết định bảo đảm phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong công cuộc khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh Chính quyền cách mạng đập tan mọi hành động chống phá của bọn phản động đội lốt tôn giáo (Quỳnh Lưu, Nghệ An), các vụ xúi giục dân tộc thiểu số ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, đặc biệt là nhóm "Nhân văn giai phẩm" (1956)

1.2.2 Thời kỳ 1958 – 1960 : Cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế

và văn hoá

Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) tháng 11-1958 đã xác định: Nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân ta là ra sức củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống Mỹ - Diệm nhằm thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ Nhiệm vụ trước mắt của miền Bắc là đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và thành phần kinh tế tư bản tư doanh; đồng thời ra sức phát triển thành phần kinh tế quốc doanh, làm cho thành phần kinh tế này giữ vai trò nền tảng của nền kinh tế quốc dân

Tiếp đó, Hội nghị lần thứ 16 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (4-1959) đã xác định những vấn đề cơ bản của đường lối, chính sách hợp tác hoá nông nghiệp Hội nghị khẳng định chỉ có đi vào con đường hợp tác hoá, làm ăn tập thể mới khắc phục được những khó khăn trong sản xuất, cải thiện đời sống Phương châm tiến

hành hợp tác hoá là: "tích cực lãnh đạo, vững bước tiến lên; quy hoạch về mọi mặt,

sát với từng vùng; làm tốt, vững và gọn" Hình thức, bước đi, tốc độ của quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa phải phù hợp, từ thấp lên cao, tập dượt cho nông dân và thợ thủ công quen dần với cung cách làm ăn tập thể, từ tổ đổi công, hợp tác xã bậc thấp, tiến lên hợp tác xã bậc cao Quy mô cũng phải từ nhỏ lên lớn Việc đẩy mạnh cải tạo quan hệ sản xuất cũ và xây dựng quan hệ sản xuất mới phải tuân thủ nguyên tắc "tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ"

Thực hiện chủ trương của Đảng, phong trào hợp tác hoá được đẩy mạnh từ cuối năm 1958 và nhanh chóng trở thành cao trào Mùa thu năm 1958, tiến hành thí điểm ở 134 hợp tác xã, đến cuối năm 1960 miền Bắc về cơ bản đã hoàn thành cải

Trang 10

tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp, có 41.401 hợp tác xã (chủ yếu là hợp tác

xã bậc thấp) với 85% số hộ nông dân tham gia, chiếm 76% ruộng đất của nông dân Phong trào hợp tác hoá nhanh chóng hoàn thành là do nhiều nhân tố: sự quyết tâm của Đảng và chính quyền các cấp; khí thế cách mạng và khát vọng của nông dân muốn sớm thoát khỏi cuộc sống đói nghèo và niềm tin tuyệt đối vào con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa Phong trào hợp tác hoá nông nghiệp thời gian này đã có tác dụng tích cực trong việc đẩy mạnh sản xuất, đưa mức tăng trưởng bình quân của sản xuất nông nghiệp đạt 5,6%, đưa tổng sản lượng lương thực lên mức cao vào năm 1959 là 5,15 triệu tấn; đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân miền Bắc được cải thiện một bước Bên cạnh những thành công nổi bật đó, quá trình tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp bộc lộ một số thiếu sót Nhiều địa phương chạy theo thành tích, gò ép, áp đặt theo kiểu hành chính mệnh lệnh, cưỡng bức tập thể hoá tư liệu sản xuất, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi, vi phạm nguyên tắc của Đảng

về hợp tác hoá Các hợp tác xã mới thiết lập gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong tổ chức lao động, sản xuất, quản lý và phân phối Tham ô, lãng phí dần xuất hiện Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là do bệnh chủ quan, nóng vội trong quá trình hợp tác hoá; đồng nhất hợp tác hoá với tập thể hoá; chưa chuẩn bị được những điều kiện cần thiết cho hợp tác xã tồn tại và phát triển Đặc biệt là cơ sở vật chất - kỹ thuật còn nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất hàng hoá còn yếu kém; cán bộ quản lý vừa yếu lại vừa thiếu, chưa được đào tạo; quần chúng chưa được chuẩn bị tốt về tư tưởng, v.v

Về cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thợ thủ công và những người buôn bán nhỏ: đến cuối năm 1960 đã có 88% thợ thủ công miền Bắc gia nhập các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp bậc thấp và bậc cao; 45% người buôn bán nhỏ được tổ chức vào hợp tác xã mua bán, gần 5 vạn người được chuyển sang sản xuất Sau hợp tác hoá, thủ công nghiệp dần dần kết hợp với công nghiệp quốc doanh địa phương, phát huy tác dụng hỗ trợ cho công nghiệp quốc doanh trung ương phục vụ sản xuất, đời sống nhân dân và xuất khẩu Khuyết điểm của công tác cải tạo thợ thủ công và người buôn bán nhỏ là tư tưởng nóng vội, mệnh lệnh, gò ép, không tính đến yêu cầu xã hội và hiệu quả thực tế Vì những điều kiện cho sự ra đời và tồn tại của các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp và mua bán chưa hình thành nên không ít hợp tác

xã làm ăn thua lỗ, thậm chí tan rã

Việc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh được tiến hành bằng phương pháp hoà bình với phương châm: tốt, vững, gọn Đảng chủ trương chuộc lại những

tư liệu sản xuất của giai cấp tư sản theo phương thức "trả dần", đồng thời sắp xếp công ăn việc làm hợp lý cho các nhà tư sản và gia đình họ Chính sách này về cơ bản được giai cấp tư sản hưởng ứng Đến tháng 11-1960, đã cải tạo được 2.097 cơ

sở thương nghiệp tư bản tư doanh với tổng số vốn là 25 triệu đồng Song, việc sớm xoá bỏ nền kinh tế nhiều thành phần và "trong sản xuất kinh doanh không áp dụng những quy luật của sản xuất hàng hoá, đã tác động tiêu cực không ít đến đời sống kinh tế, hạn chế việc phát triển lực lượng sản xuất"

Cùng với nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa, Nhà nước tăng cường đầu tư xây dựng một bước cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Từ năm 1958 đến năm

1960, đã xây dựng 130 công trình công nghiệp trên hạn ngạch như: khu gang thép Thái Nguyên, nhà máy Súppe phốt phát Lâm Thao với tổng số vốn là 3.481 triệu đồng và đã đưa được 86 nhà máy, xí nghiệp vào sản xuất Nếu như năm 1957,

Ngày đăng: 14/12/2021, 19:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - 80 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN. (2010). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - 80 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
Tác giả: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - 80 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2010
4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 13, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.148 5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 13, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.240-245 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập", tập 13, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.148 5. Hồ Chí Minh, "Toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG-ST
2. Giáo trình học phần Lịch Sử Đảng cộng sản Việt Nam , Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, ,Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2019 Khác
3. Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009 Khác
6. Tìm hiểu môn học Chủ nghĩa xã hội khoa học dưới dạng hỏi và đáp, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2007 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w