Khái niệm
Học phí
Học phí là số tiền mà học sinh phải nộp định kỳ cho nhà trường để trang trải chi phí tổ chức dạy học Đối với các trường tư thục, học phí thường chiếm phần lớn hoặc toàn bộ nguồn thu của trường Ngược lại, học sinh tại các trường quốc lập thường không phải đóng học phí hoặc chỉ phải đóng một khoản thấp, vì nhà nước đảm nhận phần lớn hoặc toàn bộ chi phí giáo dục.
Học phí, theo định nghĩa của Bộ GD-ĐT, là số tiền mà gia đình hoặc người học phải đóng góp để hỗ trợ chi phí cho các hoạt động giáo dục (Bộ GD-ĐT, 2009).
Học phí là khoản tiền mà sinh viên phải đóng định kỳ để tham gia khóa học, theo Wikipedia tiếng Đức Khoản đóng góp này giúp giảm chi phí của khóa học cho các cơ sở giáo dục đại học, cả công lẫn tư.
Như vậy học phí đại học là khoản thu đối với người học nhằm đảm bảo một phần hay toàn bộ chi phí của chương trình được cung cấp.
Thu thường xuyên
Các khoản thu định kỳ phục vụ cho thanh toán các cấp phát của Nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và địa phương, từ nguồn kinh phí thường xuyên cho đào tạo (không tính học bổng và chương trình mục tiêu) Các nguồn thu này bao gồm tổng thu học phí và lệ phí, thu từ nghiên cứu theo hợp đồng và lao động sản xuất, thu từ dự án viện trợ, quà tặng, và các khoản thu thường xuyên khác.
Chi thường xuyên
Chi phí thường xuyên là các khoản chi xuất hiện liên tục trong ngân sách hàng năm, bao gồm chi phí nhân lực như lương, phụ cấp lương và bảo hiểm xã hội.
4 Tham khảo http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=
1D18aWQ9MTAyNzAmZ3JvdXBpZD0ma2luZD0ma2V5d29yZD1oJWUxJWJiJThkYytwaCVjMyVhZ A==&page=1
Chi thường xuyên tại Việt Nam bao gồm các khoản chi phí như công tác phí, đào tạo cán bộ và chi phí trực tiếp cho giảng dạy và học tập, không bao gồm tiền lương của cán bộ và giảng viên Đặc điểm chính của chi thường xuyên là không dùng để mua sắm tài sản cố định Chi thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngân sách nhà nước, đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hoạt động của các cơ quan nhà nước, an ninh quốc phòng, và thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - văn hóa - xã hội Ở nhiều quốc gia khác, chi thường xuyên được hiểu là các khoản chi cho dịch vụ hoặc hàng hóa có vòng đời dưới một năm.
Thu đầu tư cơ bản
Các nguồn thu không định kỳ phục vụ cho việc thanh toán các công trình và dự án phát triển hạ tầng cơ sở hoặc sửa chữa các công trình hiện có Những nguồn thu này chỉ phát sinh khi có nhu cầu đầu tư cho xây dựng cơ bản được phê duyệt.
Chi đầu tư cơ bản
Là các chi phí để tạo ra hoặc được dùng để mua sắm / xây dựng hay sửa chữa các tài sản cố định
Một số khoản chi từ nguồn ngân sách thường xuyên có khả năng tạo ra hoặc điều chỉnh giá trị tài sản cố định, do đó được xem là chi đầu tư cơ bản.
Chi phí thường xuyên đơn vị
Chỉ số này được tính bằng cách chia tổng chi phí thường xuyên cho tổng số đơn vị được xem xét, như sinh viên hoặc giảng viên Điều này cho thấy mức chi bình quân cho mỗi đối tượng từ nguồn kinh phí thường xuyên.
Bài viết đề cập đến 6 kỹ năng quan trọng trong việc thẩm tra dự toán và quyết toán chi thường xuyên của ngân sách địa phương, nhằm nâng cao năng lực cho các đại biểu HĐND Tài liệu này được phát hành tại Đồng Nai vào năm 2006, nhằm hỗ trợ quá trình đào tạo và phát triển kỹ năng cho các nhà lãnh đạo địa phương trong việc quản lý ngân sách hiệu quả.
7 Tham khảo http://meteor.aihw.gov.au/content/index.phtml/itemId/269132
Trong giáo dục đại học có thể xét tới chi phí thường xuyên bình quân sinh viên (quy chuẩn) như là thang đo chung để so sánh.
Năm học
Năm học tại Việt Nam kéo dài khoảng 10 tháng, bắt đầu từ tháng Chín và kết thúc vào tháng Sáu năm sau Tháng Bảy và tháng Tám được coi là thời gian nghỉ hè, không phục vụ cho các hoạt động giáo dục chính khóa Do đó, chi phí giáo dục thường được tính toán dựa trên năm học Số liệu về sinh viên, giảng viên và các đối tượng khác trong giáo dục đại học thường được thống kê vào đầu hoặc cuối năm học, cụ thể là vào tháng 9/10 hoặc tháng 5/6.
Năm tài chính
Năm tài chính tại Việt Nam bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12, điều này là nền tảng để tổng hợp các số liệu tài chính trong lĩnh vực giáo dục.
Sự khác biệt giữa năm tài chính và năm học có thể gây ra sự không nhất quán trong dữ liệu liên quan đến giáo dục đại học, ảnh hưởng đến cả thông tin chung về giáo dục đại học và tài chính giáo dục đại học.
Sinh viên quy chuẩn
Việc sử dụng số liệu tổng số sinh viên từ các trường có thể gây ra sai sót trong việc tính toán tỷ lệ và chỉ số do sự đa dạng của các loại sinh viên như sinh viên chính quy, sinh viên vừa học vừa làm, và sinh viên chuyên tu Mỗi loại sinh viên có chương trình đào tạo và yêu cầu khác nhau Trong quá trình phân tích số liệu và lập báo cáo, nhiều trường hợp đã quy đổi tất cả các loại sinh viên về tương đương với sinh viên học toàn thời gian, gọi tắt là sinh viên quy chuẩn (QC hay FTE).
Trong các khảo sát về đào tạo và tài chính giáo dục đại học tại Việt Nam, số lượng sinh viên được quy chuẩn dựa trên số giờ thực tế của các hoạt động giảng dạy Theo điều tra năm 1999, sinh viên đã được chuyển đổi sang hình thức sinh viên chính quy thông qua các trọng số, trong đó trọng số cho sinh viên chính quy là 1,0 Đối với sinh viên bán thời gian, trọng số (α) được xác định dựa trên tỷ lệ giờ giảng giữa sinh viên bán thời gian (Qi) và sinh viên chính quy (Q0) theo công thức: α = (Qi/Q0).
Trong đó: Qi là số giờ tiếp xúc trung bình của chương trình đào tạo thứ i
Q 0 là số giờ tiếp xúc của trung bình của chương trình đào tạo chính quy
Giảng viên quy chuẩn
Số giảng viên quy đổi về tương đương toàn phần thời gian (FTE) bao gồm giảng viên biên chế, giảng viên hợp đồng dài hạn, giảng viên hợp đồng ngắn hạn, cán bộ quản lý kiêm nhiệm giảng dạy và cán bộ nhân viên hành chính kiêm nhiệm giảng dạy Thực tế, chỉ tiêu này phản ánh số lượng giảng viên toàn phần thời gian cần thiết để đảm bảo khối lượng công tác giảng dạy của nhà trường được thực hiện hiệu quả.
Trong các khảo sát đại học tại Việt Nam, số lượng giảng viên được xác định dựa trên số giờ giảng quy chuẩn mà họ thực hiện hàng năm Dựa vào tổng số giờ giảng và khối lượng giờ giảng trung bình của một giảng viên toàn thời gian trong hệ thống, có thể tính toán số giảng viên cần thiết để đáp ứng khối lượng giảng dạy.
Đánh giá hệ thống tài chính đại học
Các kiểm tra và đánh giá tài chính giáo dục đại học tại Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa trên quy định quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu, tập trung vào việc xem xét nguồn thu, chi và tính hợp lệ của các hoạt động tài chính Tuy nhiên, chưa có phương pháp đánh giá tổng thể nào được áp dụng Để thực hiện đánh giá toàn diện, chúng tôi áp dụng cách tiếp cận của Arthur M Hauptman (2006), trong đó tài chính giáo dục đại học được phân tích qua các khía cạnh chính.
- Sự hỗ trợ của nhà nước và tư nhân đối với các trường o Những nguồn lực hỗ trợ từ nhà nước o Những nguồn tài chính tư nhân
Để hỗ trợ sinh viên và gia đình họ, cần triển khai nhiều chiến lược khác nhau, bao gồm hỗ trợ tài chính từ Nhà nước, các chương trình hỗ trợ tài chính do các trường đại học cung cấp, và các nguồn hỗ trợ từ khu vực tư nhân Những chính sách này không chỉ giúp giảm bớt gánh nặng tài chính cho sinh viên mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong việc tiếp cận giáo dục chất lượng.
Đặc điểm về hệ thống tài chính của giáo dục đại học Việt nam
Hệ thống giáo dục đại học Việt Nam kế thừa một hệ thống tài chính từ thời bao cấp, với các cơ sở giáo dục được coi là "đơn vị sự nghiệp giáo dục" thực hiện nhiệm vụ phúc lợi xã hội Điều này dẫn đến các quy định về thu, chi và quyết toán tài chính mang tính chất công quyền, buộc các trường phải sử dụng hết kinh phí trong năm tài chính Mặc dù gần đây có điều chỉnh nới lỏng thời gian chi tiêu, nhưng bản chất quản lý và điều tiết vẫn chưa thay đổi nhiều, khiến hệ thống tài chính giáo dục đại học Việt Nam giống với các cơ quan công quyền hơn là các trường học Sự khác biệt giữa năm tài chính và năm học cùng với thời điểm quyết toán tài chính vào 31/12, khi các trường đang thực hiện nhiệm vụ học kỳ 2, càng làm nổi bật vấn đề này.
Hình 1 Phân cấp quản lý các cơ sở giáo dục hiện nay
Cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam đặc trưng bởi sự tồn tại của cơ quan chủ quản, là cơ quan Nhà nước chịu trách nhiệm về pháp lý, nhân sự và tài chính Cơ quan này có thể gây cản trở trong công tác điều hành và bổ nhiệm lãnh đạo, dẫn đến hạn chế quyền tự chủ của các trường Tuy nhiên, cơ quan chủ quản cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cấp kinh phí cho hoạt động của nhà trường Tất cả các trường đại học và cao đẳng công lập đều có cơ quan chủ quản, ngoại trừ các trường tư thục do Bộ GD-ĐT quản lý mà không cấp kinh phí Hệ thống giáo dục đại học Việt Nam có nhiều nguồn tài trợ ở các cấp độ khác nhau, phản ánh sự đa dạng trong cơ cấu tài chính của các cơ sở giáo dục.
- Chính phủ (đối với 2 đại học quốc gia),
- Bộ/ngành trung ương (kể cả Bộ GD-ĐT),
- Đoàn thể chính trị/xã hội,
- Các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty lớn của Nhà nước,
- Các sở/ban/ngành của các tỉnh
Sự đa dạng về nhà tài trợ đã tạo ra nguồn tài chính phong phú cho các cơ sở giáo dục đại học Một số trường chỉ nhận được kinh phí tối thiểu do thiếu nguồn lực từ cơ quan chủ quản hoặc không có chiến lược phát triển, như các trường cao đẳng sư phạm ở các tỉnh có đội ngũ giáo viên dư thừa Ngược lại, nhiều cơ sở khác lại nhận được một khoản kinh phí lớn từ các cơ quan chủ quản có tiềm lực tài chính, không bị ràng buộc bởi nhiều chỉ tiêu đào tạo Đặc biệt, các trường cao đẳng và đại học thuộc các tập đoàn kinh tế lớn đang trong quá trình cổ phần hóa đang gặp phải sự không rõ ràng về hình thức sở hữu và quản lý.
8 Lê Đăng Doanh Cổ phần hoá trường học và các "lỗ hổng chết người"? bài đăng tại Vietnamnet http://vietnamnet.vn/giaoduc/2009/05/846455/
Tài chính đại học hiện nay thể hiện sự đồng nhất trong quản lý, với các trường có quyền khai thác nhiều nguồn thu khác nhau Hình 2 minh họa sơ đồ phân bổ ngân sách nhà nước cho giáo dục, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tối ưu hóa nguồn lực tài chính trong lĩnh vực giáo dục.
- thu từ ngân sách Nhà nước cấp,
- thu từ học phí, các khoản lệ phí
- thu từ dịch vụ, hợp đồng
- thu từ thanh lý tài sản
Hình 3 Đầu tư của nhà nước và của dân cho giáo dục (Bộ GD-ĐT, 2009)
Các khoản chi cũng được đồng bộ cao và gồm có:
- chi lương và các khoản tiền công có tính chất như lương
- chi học bổng và các khoản hỗ trợ cho sinh viên
- chi hành chính, quản lý
- chi cho hoạt động đào tạo
- các khoản chi theo quy định của Nhà nước
- chi từ nguồn kinh phí NCKH
Nếu so sánh với các trường đại học nước ngoài chúng ta có thể thấy rõ là hệ thống tài chính hiện tại không cho phép các trường:
- điều chỉnh mục đích chi của các khoản kinh phí đã được quy định trước 9
- nhận tiền của tư nhân vụ lợi ở quy mô lớn để cùng thực hiện các dịch vụ theo thế mạnh của trường
- nhận tiền của các hội đoàn nhân đạo (philantropic) để thực hiện một số hoạt động theo yêu cầu của học (học bổng, nghiên cứu theo hướng yêu cầu )
- vay tiền từ các tổ chức tài chính để thực hiện các công việc đòi hỏi chi phí lớn, đột xuất 10
- tiết kiệm tiền để đầu tư sinh lời phục vụ lại hoạt động của nhà trường
- chi cho các hoạt động nằm ngoài danh mục/dòng ngân sách của các cơ quan công quyền
- sử dụng tài sản của nhà trường theo hướng hiệu quả nhất về kinh tế
Mặc dù ở Việt Nam, các vấn đề này có thể chưa xuất hiện hoặc chỉ ở mức độ rất thấp, các cơ quan quản lý vẫn chưa nhận thấy sự cần thiết phải đưa chúng vào quy định quản lý Tuy nhiên, sự thiếu vắng của các yếu tố này lại phản ánh một thực trạng đáng chú ý.
- sự cản trở quyền tự chủ tài chính của nhà trường
- tạo tiền đề cho một hệ thống quyết toán tài chính ngầm, không công khai
- hạn chế khả năng huy động nguồn kinh phí phục vụ sứ mạng của nhà trường
Sự kết hợp của các yếu tố trên đã cản trở việc đánh giá chính xác tình hình tài chính của các trường học và mức độ hỗ trợ tài chính mà họ đã nhận được.
Một thách thức trong việc thu thập số liệu tài chính cho giáo dục đại học là hầu hết các quốc gia chỉ cung cấp báo cáo tổng thể về ngân sách giáo dục mà không chỉ rõ số tiền dành riêng cho giáo dục đại học Thêm vào đó, thông tin về sự hỗ trợ tài chính từ nguồn lực tư nhân cho giáo dục đại học cũng thiếu rõ ràng Do đó, việc so sánh quốc tế về mức chi cho giáo dục đại học gặp nhiều khó khăn.
Các cơ sở giáo dục đại học có thể xin điều chỉnh mục đích và cơ cấu chi tiêu nếu được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận, miễn là việc điều chỉnh này không ảnh hưởng đến hoạt động của nhà trường.
Mười trường đại học kinh tế quốc dân đang xây dựng một tòa nhà với tổng vốn đầu tư lớn hơn gấp mười lần số kinh phí xây dựng cơ bản mà trường có thể được cấp trong một năm Tuy nhiên, họ không thể vay mượn để xây dựng mặc dù đất của trường được đánh giá là đất vàng Quá trình thực hiện dự án này diễn ra qua hai bước: đầu tiên, chi ngân sách cho giáo dục nói chung, sau đó xác định khoản chi cho giáo dục đại học Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2000, các nước thường chi từ 2-5% tổng thu nhập quốc dân cho giáo dục, trong khi các nước đang phát triển thường chi thấp hơn, với tỷ lệ chi cho giáo dục đại học chiếm khoảng 15-20% tổng chi cho giáo dục.
Trong bối cảnh Việt Nam, các cơ quan chủ quản có thống kê tài chính riêng, khiến cho số liệu khó phản ánh đầy đủ trong báo cáo tài chính giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học Điều này dẫn đến việc ngành giáo dục gặp khó khăn trong việc đánh giá hiệu quả đầu tư cho giáo dục, như đã chỉ ra trong báo cáo đánh giá tác động của Đề án Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn 2009-2014.
Trong Báo cáo đánh giá tác động của Đề án Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn 2009-2014 gửi Quốc hội, Bộ GD&ĐT đã chỉ ra những bất hợp lý trong cơ chế tài chính giáo dục hiện tại.
Ngành giáo dục hiện đang thiếu các tiêu chí đánh giá hiệu quả chi tiêu của nhà nước, dẫn đến việc các cơ quan quản lý và cộng đồng không thể xác định chất lượng giáo dục so với nguồn lực tài chính từ nhà nước và người dân, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo nghề nghiệp.
- 74% ngân sách nhà nước dành cho giáo dục do các UBND tỉnh quản lý,
Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ quản lý 5% ngân sách giáo dục, trong khi 21% ngân sách thuộc sự quản lý của các Bộ ngành khác Hiện tại, không có quy định nào về chế độ báo cáo sử dụng ngân sách giáo dục từ các địa phương và Bộ ngành khác cho Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Nhiều trường học không công khai cam kết về chất lượng giáo dục, không công bố đánh giá thực tế về chất lượng đào tạo, cũng như không minh bạch về nguồn lực phục vụ giảng dạy như giáo viên, cơ sở vật chất và chương trình đào tạo Hơn nữa, việc thiếu công khai tài chính của các cơ sở giáo dục khiến cho nhà nước và người dân gặp khó khăn trong việc kiểm tra và giám sát.
Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước và người dân trong việc sử dụng kinh phí cho giáo dục từ ngân sách và học phí chưa rõ ràng Người đứng đầu cơ sở giáo dục thường không bị chế tài khi sử dụng kinh phí không hiệu quả và không chú trọng đến việc nâng cao chất lượng giáo dục Tương tự, các cơ quan quản lý nhà nước cũng không chịu chế tài khi phân bổ và sử dụng ngân sách cho giáo dục không hợp lý và thiếu giám sát hiệu quả chi tiêu.
Những xu hướng gần đây và những vấn đề cốt lõi của tài chính giáo dục đại học trên thế giới
Yêu cầu ngày càng tăng trên cơ sở tỉ lệ hoàn vốn đang tăng
Nhiều quốc gia trên thế giới đang nhận thức rõ giá trị kinh tế gia tăng của việc học sau trung học, điều này được thể hiện qua sự chênh lệch thu nhập ngày càng lớn giữa những người có bằng đại học và những người không có Tỉ lệ hoàn vốn của giáo dục đại học đang gia tăng, dẫn đến nhu cầu về giáo dục đại học cũng ngày càng cao Thêm vào đó, các trường đại học đang mở rộng chương trình đào tạo từ những lĩnh vực truyền thống sang nhiều lĩnh vực khác nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường và lực lượng lao động.
Khoảng cách thu nhập giữa người có và không có bằng đại học thường dẫn đến quan điểm rằng cần tăng cường số lượng người học và tốt nghiệp Mặc dù điều này đúng trong ngắn hạn, vì trình độ học vấn cao thường mang lại thu nhập cao hơn, nhưng trong dài hạn, sự khác biệt về thu nhập có thể không còn chính xác Nguyên tắc kinh tế về lợi nhuận cận biên giảm dần cho thấy rằng khi số lượng người tốt nghiệp đại học tăng lên, sự khác biệt về thu nhập có thể giảm Nói cách khác, nếu tất cả mọi người đều có bằng đại học, sự phân biệt giữa những người học nhiều và ít sẽ không còn.
Tăng trưởng không đồng đều giữa nguồn lực và số lượng sinh viên nhập học
Các nhà hoạch định chính sách đang đối mặt với thách thức lớn trong việc đáp ứng nhu cầu gia tăng cho giáo dục đại học Mặc dù việc tăng ngân sách là giải pháp hiển nhiên, nhưng hầu hết các quốc gia không thể cung cấp đủ nguồn lực tài chính Do đó, cần áp dụng ba chiến lược chính: (a) Hạn chế số lượng sinh viên nhập học; (b) Tối ưu hóa tổ chức đào tạo và cung cấp dịch vụ; (c) Khai thác học phí và nguồn lực tư nhân để bổ sung ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học.
Nhiều nước đang gặp khó khăn trong việc cung cấp đủ nguồn lực cho giáo dục đại học, dẫn đến chi tiêu trên mỗi đầu sinh viên giảm sút Điều này thường được cho là do nhà nước thiếu quyết tâm đầu tư, nhưng thực tế, sự giảm chi này chủ yếu phản ánh những thách thức trong việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về giáo dục đại học, chứ không phải do thiếu nhiệt huyết trong việc gia tăng nguồn lực, vì thực tế đã có sự tăng trưởng đáng kể.
Kêu gọi tăng cường tính trách nhiệm
Tình trạng căng thẳng giữa nguồn lực và số lượng sinh viên trên toàn cầu đã dẫn đến sự gia tăng mối quan tâm về trách nhiệm của các trường đại học Chính phủ đã đầu tư đáng kể vào giáo dục đại học và muốn đảm bảo rằng nguồn ngân sách này được sử dụng hiệu quả Do đó, các nhà hoạch định chính sách đang thúc đẩy việc các trường đại học phải chịu trách nhiệm hơn trong việc quản lý ngân sách công Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia, yêu cầu này vẫn chưa được đáp ứng, khiến trách nhiệm thực sự của các trường chưa được nâng cao.
Tăng cường dựa vào tư nhân hóa và cơ chế thị trường
Phong trào dựa vào cơ chế thị trường, thường được gọi là tư nhân hóa, có thể được thực hiện qua nhiều hình thức như tăng học phí và trao quyền tự chủ cho các trường công trong việc quản lý tài chính Điều này giúp cải thiện quản trị của các trường công, khiến chúng hoạt động giống như trường tư, đồng thời khuyến khích việc tìm kiếm nguồn tài chính tư nhân thông qua thương mại hóa kết quả nghiên cứu và thành lập quỹ hiến tặng.
Các quan chức lãnh đạo trường công ủng hộ tư nhân hóa nhằm đạt được quyền tự chủ trong việc sử dụng ngân sách, tránh sự ràng buộc của các quy định chính phủ Trong khi đó, các nhà hoạch định chính sách quan tâm đến vấn đề này vì nó có thể giảm ngân sách nhà nước dành cho các trường, từ đó tăng nguồn lực cho các nhu cầu khác trong giáo dục đại học hoặc các lĩnh vực khác mà nhà nước cần chi trả.
Sự chuyển hướng sang các chiến lược dựa trên thị trường và tư nhân hóa trong giáo dục cần được nghiên cứu sâu hơn để hiểu rõ tính trách nhiệm mà nó mang lại Việc áp dụng chính sách này có ý nghĩa quan trọng, bao gồm việc trao quyền tự chủ cho các trường trong quản lý ngân sách, quy định học phí và hỗ trợ sinh viên Điều này cho phép các trường hoạt động như tổ chức tư nhân, đồng thời cho phép lãnh đạo trường công sử dụng ngân sách mà không cần chờ phê duyệt, quyết định mức học phí và giữ lại nguồn thu từ học phí mà không bị điều tiết Ngoài ra, việc dựa vào các chương trình hỗ trợ sinh viên, đặc biệt là tín dụng sinh viên, cũng trở thành một phương tiện quan trọng để đáp ứng nhu cầu tài chính của sinh viên.
Việc cho phép các trường hoạt động như doanh nghiệp tư nhân có thể mang lại nhiều lợi ích, nhưng cần phải cân nhắc kỹ lưỡng để tránh lạm dụng thị trường Điều này bao gồm việc sử dụng ngân sách không đúng cách, thu phí quá cao từ học sinh cho những dịch vụ đã được nhà nước tài trợ, và phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng để tài trợ, dẫn đến gánh nặng nợ nần cho cá nhân trong một lĩnh vực chủ yếu vẫn là dịch vụ công.
Bảng 1 Tỷ lệ chi của nhà nước và người dân cho đại học và sau đại học
Nhóm nước phát triển (OECD) (%) Úc 47,2 52,8
Tỷ lệ bình quân nhóm nước phát triển 75,7 24,3
Nhóm nước mới phát triển
Tỷ lệ bình quân nhóm nước mới phát triển 55,2 44,8
Nguồn: UNESCO/UIS WEI 2008 và OECD 2007
Cơ cấu tài chính các trường đại học Việt nam những năm gần đây
Thu nhập
Trong năm 1998, tổng thu của các trường đại học và cao đẳng đạt 2.199.264 triệu đồng Theo khảo sát từ 142 cơ sở đại học, tổng thu trong năm 1999 đã tăng lên trên 2.633 tỷ đồng và tiếp tục vượt 3.000 tỷ đồng trong năm 2000, ghi nhận mức tăng trưởng 14,63% (Báo cáo khảo sát đào tạo và tài chính các trường đại học Việt Nam 1999).
Tổng thu của 185 trường đại học tham gia khảo sát năm 2002 đạt 4.748.037,61 triệu đồng, tăng 1.136.874,87 triệu đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng 31,48% so với năm 2001, theo báo cáo khảo sát đào tạo và tài chính các trường đại học Việt Nam 2001.
Tổng thu của 187 trường tham gia khảo sát trong giai đoạn 2003-2005 đã có xu hướng tăng ổn định, với tỷ lệ tăng trung bình hàng năm.
Mặc dù tổng thu của 187 trường đại học đạt 6.137.176 triệu đồng vào năm 2005, nhưng mức tăng chỉ đạt 11,45%, chậm lại so với tỷ lệ tăng trung bình của giai đoạn khảo sát là 2,36% Điều này cho thấy sự giảm tốc trong tăng trưởng tổng thu so với năm 2004.
Tỷ lệ tăng trưởng tài chính của các trường chỉ cao hơn một chút so với số lượng tuyển sinh mới, khoảng 10% mỗi năm Tuy nhiên, tỷ lệ tăng quy mô thực tế chỉ rơi vào khoảng 4-6% hàng năm tính theo số lượng sinh viên chất lượng cao Đáng chú ý, mức tăng trưởng tài chính này chỉ tương đương với mức trượt giá tiêu dùng do lạm phát.
Trong năm 1998, tổng thu của các trường đạt 2.197.000 triệu đồng, trong đó 56,6% (1.243.632 triệu đồng) đến từ nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) Học phí và lệ phí chiếm 36,5% (802.188 triệu đồng) tổng thu, trong khi 6,9% còn lại là từ nghiên cứu theo hợp đồng, sản xuất, dịch vụ, viện trợ, quà biếu và các nguồn thu khác.
Trong năm 2000, tổng thu ngân sách Nhà nước chiếm khoảng 55,64% tổng thu, trong khi phần còn lại đến từ nguồn ngoài ngân sách Cụ thể, tổng thu từ ngân sách được phân bổ cho các lĩnh vực như Giáo dục và Đào tạo (41,46%), Nghiên cứu Khoa học (2,57%), Chương trình mục tiêu (4,38%), Xây dựng cơ bản (6,79%), Học phí và Lệ phí (39,56%), Hợp đồng Nghiên cứu và dịch vụ (0,83%), Viện trợ (2,07%) và các loại thu khác (2,14%) Ngoài ra, thu từ dự án vốn vay ODA chỉ chiếm 0,2% Biểu 5.4 minh họa chi tiết các khoản mục thu này.
Theo báo cáo khảo sát đào tạo và tài chính các trường đại học Việt Nam năm 2003, nguồn thu từ học phí và lệ phí đã giảm từ 39,08% vào năm 2001 xuống còn 33,03% vào năm 2002 Thay vào đó, nguồn thu chiếm tỷ lệ cao nhất trong năm 2002 là ngân sách nhà nước cấp cho chi thường xuyên, đạt 33,73%.
Sự tăng trưởng tổng số của 187 trường vào năm 2005 chủ yếu được thúc đẩy bởi việc tăng thu từ phí và lệ phí Ngoài ra, nguồn thu từ ngân sách Nhà nước cấp cho chi thường xuyên trong đào tạo và ngân sách Nhà nước dành cho xây dựng cơ bản cũng góp phần quan trọng vào sự gia tăng này.
Các trường cao đẳng chủ yếu phụ thuộc vào nguồn ngân sách nhà nước, với khoảng 80% tổng thu từ nguồn này, trong khi các trường đại học chỉ nhận khoảng một nửa Ngược lại, nguồn thu từ học phí và lệ phí của các trường đại học cao gấp nhiều lần so với các trường cao đẳng.
Các trường dân lập chủ yếu phụ thuộc vào nguồn thu từ học phí và lệ phí, chiếm tới 94% tổng thu nhập, trong khi chỉ 6% còn lại đến từ hợp đồng nghiên cứu, viện trợ và các nguồn khác do không có khoản thu từ ngân sách nhà nước.
Theo đề án đổi mới tài chính giáo dục Việt Nam giai đoạn 2009-2014, năm 2006, giáo dục đại học dự kiến được cấp 10.273 tỷ đồng, chiếm 11,7% ngân sách giáo dục Trong khi đó, thu từ học phí ước tính đạt 3.300 tỷ đồng, tương đương 1/3 ngân sách Điều này cho thấy học phí chỉ chiếm khoảng 25% tổng kinh phí dành cho giáo dục đại học.
Vào năm 2007, học phí tại Hoa Kỳ chiếm 58% ngân sách cấp cho các trường đại học, tương đương với khoảng 36% tổng kinh phí của các trường này Trong khi đó, các đại học quốc gia Nhật Bản cũng ghi nhận tỷ lệ học phí trong tổng kinh phí lên tới 45% hoặc hơn.
11 Số liệu thống kê của Hội các hiệu trưởng đại học công lập Hoa kỳ năm 2009
12 Báo cáo tài chính của ĐH Tokyo năm 2006
Học phí bình quân/SVQC $1,82 $1,93 $2,05 $2,14 $2,24 $2,30 $2,36 $2,41 $2,46 $2,54 $2,74 $2,91 $3,01 $3,09 $3,20 $3,23 $3,24 $3,24 $3,15 $3,14 $3,15 $3,21 $3,37 $3,56 $3,75 $3,84 Cấp bình quân/SVQC $6,45 $6,30 $6,33 $7,06 $7,42 $7,55 $7,55 $7,44 $7,39 $7,19 $6,78 $6,53 $6,61 $6,83 $6,91 $7,13 $7,34 $7,52 $7,59 $7,58 $7,34 $6,75 $6,31 $6,20 $6,52 $6,77
Hình 4 Cơ cấu thu của các đại học công của Hoa kỳ 1982-207
Tỷ lệ thu từ hoạt động khoa học và công nghệ (KHCN) của giáo dục đại học Việt Nam hiện còn hạn chế, chủ yếu do ngân sách nhà nước cấp cho nghiên cứu khoa học quốc gia chỉ đạt khoảng 1,5% tổng ngân sách Hơn nữa, các trường đại học chưa thực sự tích cực trong việc khai thác nguồn thu từ hoạt động KHCN, dẫn đến việc chưa phát huy tối đa tiềm năng của lĩnh vực này.
- quá tải giảng dạy của cán bộ giảng viên (từ 200-300% số giờ giảng quy định ở hầu hết các trường đại học)
- thiếu cơ chế ràng buộc giảng viên làm nghiên cứu (trừ số muốn nâng cao trình độ, lấy chức danh khao học)
Cơ chế xác định quyền sở hữu và phân chia lợi nhuận từ các phát minh, sáng chế và giải pháp độc quyền hiện còn mơ hồ, không đủ sức hấp dẫn để khuyến khích cán bộ giảng dạy, dẫn đến việc một số cá nhân lợi dụng kết quả nghiên cứu vì lợi ích riêng, làm giảm lợi ích cho trường Trong bối cảnh cắt giảm chi tiêu công và tăng cường tự chủ cho các trường đại học, việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu trở thành nguồn thu lớn Nhiều quốc gia như Nhật Bản, Australia và Đức đã thiết lập cơ chế giúp các trường đại học khai thác tối đa tiềm năng từ nghiên cứu và thương mại hóa, tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho họ.
Chi tiêu
Tổng chi tiêu cho giáo dục đại học và sau đại học là 2.132.462 triệu đồng trong
Trong tổng số 142 cơ sở đại học tham gia khảo sát, tổng chi trong năm 1999 là 2.437.473.789.400 VND và trong năm 2000 là 2.845.728.585.400 VND, tỉ lệ tăng trưởng là 16,7%
Tổng chi của các trường tham gia khảo sát trong năm 2002 là 3.968.449,4 triệu đồng, tăng 555.249,79 triệu đồng so với năm 2001 với tốc độ tăng là 16%
Tổng chi của 187 trường tham gia khảo sát năm 2005 đã tăng ổn định với tốc độ trung bình 14,40%, cao hơn 0,59 điểm phần trăm so với tốc độ tăng trung bình của tổng thu Tuy nhiên, trong năm 2005, mức tăng tổng chi đã chậm lại, chỉ đạt 97% so với năm trước.
Chi tiêu thường xuyên trên sinh viên qui chuẩn
Chi tiêu hàng tháng của sinh viên theo tiêu chuẩn năm 1996 là 2,13 triệu đồng Tuy nhiên, chi phí này đã giảm 18,2% xuống còn 1,75 triệu đồng vào năm 1997 và tiếp tục giảm 4,9% xuống còn 1,74 triệu đồng trong năm 1998.
Năm 1999 chi thường xuyên / sinh viên quy chuẩn là 2,734 triệu đồng, đến 2000 con số này đã tăng lên 3,017 triệu
Hình 5 Chi thường xuyên (không bao gồm học bổng) tính bình quân trên 1 SVQC 2002
Trong giai đoạn 2003-2005, chi phí thường xuyên bình quân trên mỗi sinh viên chất lượng cao (SVQC) có xu hướng tăng ổn định, nhưng với mức độ khác nhau Cụ thể, chi phí này chỉ chiếm 4% chi phí thường xuyên cho một cán bộ chất lượng cao (CBQC), khoảng 3,14 triệu đồng mỗi năm, và tỷ lệ tăng chi phí cũng thấp hơn so với CBQC.
Bảng 2 Chi thường xuyên trên sinh viên qui chuẩn của các trường đại học và cao đẳng, 1993-2004
Nguồn: Số liệu 1993-1995: Bảng 3.7, Ngân hàng Thế giới (1996)
Số liệu1996-2004: Báo cáo khảo sát đào tạo và tài chính các trường đại học và cao đẳng
Bảng 3 Chi phí toàn xã hội cho giáo dục đại học và cao đẳng năm 2006 Đơn vị : Tỷ đồng
Số Học sinh triệu đ/năm nghìn đ/tháng Đại học, Cao đẳng 4.881 1.839 6.720 1.310.375 5,13 570
Mức chi bình quân cho mỗi sinh viên đã vượt qua 5 triệu đồng vào năm 2006 Tuy nhiên, khi xem xét bao gồm cả chi đầu tư cơ bản và tốc độ trượt giá trong giai đoạn 2005-2007, có thể thấy rằng không có sự chuyển biến đáng kể nào.
Nhận xét bước đầu
- Đầu tư cho giáo dục đại học đã tăng nhanh trong những năm gần đây
Tăng trưởng tài chính cho giáo dục đại học ở Việt Nam chủ yếu đến từ nguồn ngân sách Nhà nước, điều này phản ánh sự tăng trưởng kinh tế khả quan của đất nước trong những năm gần đây.
Nguồn thu của giáo dục đại học Việt Nam hiện vẫn hạn chế, chủ yếu dựa vào các khoản ngân sách đã được xác định Các nguồn thu tiềm năng từ xã hội, ngoài học phí, chưa được hợp thức hóa và khai thác hiệu quả, điều này cản trở việc cải thiện điều kiện cho giáo dục đại học.
Học phí tại các trường học hiện nay bị giới hạn bởi mức quy định từ năm 1998, dẫn đến việc nhiều trường phát sinh các khoản thu ngoài quy định Điều này khiến cho các khoản thu này không được phản ánh đầy đủ trong báo cáo tài chính của các trường.
Trong 10 năm qua, tổng sản phẩm nội địa bình quân đầu người ở Việt Nam đã tăng 4,7 lần, trong khi lương tối thiểu theo quy định của nhà nước tăng 1,86 lần Ngân sách nhà nước dành cho giáo dục cũng ghi nhận sự tăng trưởng 5,8 lần Đặc biệt, quy mô học sinh học nghề, trung cấp chuyên nghiệp và sinh viên cao đẳng, đại học đã tăng 2,3 lần Mặc dù chỉ số giá cả tiêu dùng tăng gấp 2 lần, học phí đại học vẫn không thay đổi trong suốt 10 năm qua.
Chi phí cho đào tạo đại học năm 2004 tại Việt Nam vẫn còn rất thấp so với thu nhập bình quân đầu người, chỉ khoảng 500 USD (7.500.000 đồng), chưa đạt ẵ% của GDP, trong khi Trung Quốc đạt 150% GDP bình quân Điều này cho thấy chất lượng giáo dục đại học khó có thể được đảm bảo.
Vấn đề hiệu quả đầu tư trong giáo dục đại học, đặc biệt là chi phí đơn vị, chưa được chú trọng đúng mức Nhiều trường đại học hiện nay vẫn có quy mô nhỏ, với khoảng 2-3 nghìn sinh viên, dẫn đến chi phí đơn vị cao gấp 2-3 lần so với các trường lớn hơn.
Nhà nước đang tiếp tục đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục đại học, mặc dù nhu cầu tài chính cho các cấp học khác cũng đang gia tăng nhanh chóng do sự tăng trưởng dân số và yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục cơ bản Cần xem xét lại khía cạnh phúc lợi của giáo dục đại học và đánh giá sự đóng góp của các bên liên quan trong bối cảnh này.
Một số ngành đào tạo đại học, như sư phạm và các ngành đặc thù, được Nhà nước ưu tiên cấp kinh phí cao Tuy nhiên, việc thiếu ràng buộc trong việc sử dụng nguồn kinh phí này đã dẫn đến sự giảm hiệu quả trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Ưu tiên cho giáo dục đại học đang góp phần gia tăng bất công xã hội, khi mà chỉ khoảng 15% người dân trong độ tuổi học tập có cơ hội tiếp cận dịch vụ này.
- Đầu tư cho giáo dục đại học chưa tính tới tỷ lệ hoàn vốn đối với cả Nhà nước và người học
Nhà nước áp dụng chính sách miễn giảm học phí cho sinh viên thuộc diện chính sách, nhưng không cấp bù kinh phí cho các trường Điều này buộc các trường phải tự cân đối tài chính từ học phí của sinh viên khác Hệ quả là, việc nhận nhiều sinh viên diện chính sách và thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị sẽ khiến các trường gặp khó khăn tài chính hơn.
Cơ chế tài chính hiện nay trong lĩnh vực giáo dục đào tạo đang đối mặt với nhiều bất trắc và nguy hiểm, chủ yếu do nguồn kinh phí hạn hẹp Điều này dẫn đến những bất cập và mâu thuẫn, đặc biệt là giữa yêu cầu chuẩn hóa đội ngũ, cải thiện cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng đào tạo với nguồn thu tài chính không thay đổi trong nhiều năm qua.
Nghiên cứu tài chính trong giáo dục đại học là một nhiệm vụ phức tạp, đòi hỏi kiến thức chuyên sâu và có vai trò quan trọng trong việc điều tiết chính sách giáo dục và chính sách tài chính giáo dục Các cơ quan nghiên cứu và cơ quan công quyền cần chú trọng hơn đến loại hình nghiên cứu này để nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển giáo dục.
Để đảm bảo tính đồng nhất và khả năng phân tích số liệu, cần thiết lập cơ chế báo cáo tài chính thống nhất như một công cụ giám sát trách nhiệm của các trường đại học Số liệu phải được minh bạch và công bố đầy đủ cho các bên liên quan Cần có cơ chế rõ ràng về chia sẻ dữ liệu và sử dụng số liệu để đảm bảo tính nhất quán và tương đồng trong kết quả nghiên cứu, nhằm tránh mâu thuẫn do việc sử dụng số liệu từ các nguồn khác nhau Các cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến các cơ sở đào tạo đại học cần thiết lập cơ chế thống nhất về trách nhiệm báo cáo thông tin tài chính và phạm vi công bố thông tin này.
Cần xây dựng một hệ thống bảng xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, bao gồm cả tiêu chí tài chính Điều này sẽ giúp các bên liên quan hiểu rõ hơn về hệ thống giáo dục và đưa ra các quyết định phù hợp.
Tài liệu tham khảo chính
Báo cáo đánh giá tác đông của Đề án Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục 2009-
2014 (2008) Hà Nội: Bộ GD-ĐT
Báo cáo khảo sát đào tạo và tài chính các trường đại học Việt Nam (1999) Dự án giáo dục đại học - Bộ GD-ĐT
Báo cáo khảo sát đào tạo và tài chính các trường đại học Việt Nam (2001) Dự án giáo dục đại học - Bộ GD-ĐT
Báo cáo khảo sát đào tạo và tài chính các trường đại học Việt Nam (2003) Dự án giáo dục đại học - Bộ GD-ĐT
Báo cáo khảo sát đào tạo và tài chính các trường đại học Việt Nam (2005) Dự án giáo dục đại học - Bộ GD-ĐT
Bộ GD-ĐT (2009) Đề án Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn 2009-
Hauptman, Arthur M (2006) Higher Education Finance: Trends and Issues In International Handbook of Higher Education (pp 83-106): Springer.