1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

2004 unpublished BA thesis dch va gii

251 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tuần Cai Biệt Thự Hợp Tập
Tác giả Phùng Minh Hiếu
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Văn Thịnh
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Hán Nôm
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 251
Dung lượng 6,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyển 1 của Tuần Cai biệt thự hợp tập cung cấp cho chúng ta một mục lục chúng tôi đã kiểm tra và thấy rằng mục lục này nói chung “sít sao” với phần nội dung văn bản, trong đó, riêng ph

Trang 1

Khoa Văn học / Bộ môn Hán NômPhùng Minh Hiếu

Tuần Cai biệt thự hợp tập (Q.10)

Bước đầu khảo sát, phiên dịch, chú thích, giới thiệu văn bản

và nhận xét về phong cách nghệ thuật

Khoá luận tốt nghiệp

Ngành Hán Nôm Khoá 2000 - 2004

Hệ Chính qui

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 2:

BƯỚC ĐẦU TIẾP CẬN “TUẦN CAI BIỆT THỰ HỢP TẬP” (Q.10) VỚI TƯ CÁCH MỘT VĂN BẢN NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ

2 Về từ ngữ và một số nét liên quan đến nội dung thơ Quân Bác 47

3 Một vài suy nghĩ về cách tổ chức các lượng ngữ nghĩa trong những

1 Bản chụp nguyên bản chữ Hán quyển thơ 10 thuộc Tuần Cai biệt

2 Công bố bản dịch và chú giải cho toàn bộ 51 bài thơ chữ Hán của

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Với tư cách là sinh viên đại học năm thứ tư, chúng tôi đi vào thực hiện khoá luận này nhằm hoàn thành chương trình đào tạo Đại học 4 năm chuyên ngành Hán Nôm hệ chính qui Thời gian từ khi tiếp cận đề tài cho đến lúc khoá luận hoàn thành là 3 tháng (từ ngày 24/02/2004 đến ngày 28/05/2004) Mục đích của việc thực hiện khoá luận, một mặt, là tổng kết toàn bộ các tri thức, kĩ năng

mà sinh viên đã tiếp thu, tích lũy trong quá trình học tập, rèn luyện; vận dụng, phát huy, bổ sung những tri thức, kĩ năng này trong thực hiện thực tế một đề tài khoa học; mặt khác, là tiền đề trực tiếp cho quá trình nghiên cứu khoa học sau này trên mọi phương diện (thái độ tác phong khoa học, định hướng nghiên cứu, thao tác nghiên cứu…) Vì mục đích thứ hai của việc thực hiện khoá luận, chúng tôi thấy cần phải tự xác định trách nhiệm khoa học đối với công việc đang tiến hành, cho dù đây mới chỉ là những bước đi đầu tiên trên con đường nghiên cứu khoa học, hay đúng hơn đây chỉ là một bước “tập dượt làm nghiên cứu khoa học”

1 Lí do chọn đề tài

Được sự gợi ý và chỉ dẫn của thầy giáo hướng dẫn khoá luận - PGS.TS

Nguyễn Văn Thịnh, chúng tôi đã tiếp cận văn bản Tuần Cai biệt thự hợp tập

, tác giả: Hoàng tử thứ tư (con vua Thiệu Trị) Nguyễn Phúc Hồng Y (1833 - 1877), tự là Quân Bác Đây là bộ tổng tập thơ văn của một tác gia văn học thời Nguyễn Việc lựa chọn hướng nghiên cứu nhằm vào văn bản này xuất phát từ mấy nhìn nhận sau:

- Mảng văn học thời Nguyễn đã được nghiên cứu khá nhiều và công phu nhưng chưa toàn diện Một trong những biểu hiện của sự chưa toàn diện này ở chỗ còn khá nhiều di sản thơ văn Hán Nôm thời Nguyễn chưa được

Trang 4

chuyển dịch và công bố, đồng nghĩa với việc chưa được chú ý nhiều trong

nghiên cứu, mà Tuần Cai biệt thự hợp tập thuộc về một trường hợp như thế

- Những năm gần đây, trong việc nhìn nhận đánh giá lại nhà Nguyễn trên mọi phương diện, đặc biệt là mặt lịch sử - văn hoá, và trong công cuộc khai thác bảo tồn cố đô Huế, văn hoá Huế, ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu, học giả quan tâm đến “nghệ thuật cung đình Huế” nói chung và bộ phận

“văn học cung đình Huế” nói riêng Những áng văn chương có nội dung quan

hệ với triều đình, do các tác gia văn học sáng tác trong những năm tháng của nhà Nguyễn, có chức năng sinh hoạt thực hành hướng về cung đình với phương thức lưu truyền, ấn bản ở phạm vi cung đình, nói chung thường được qui về “văn học cung đình Huế”1 Tác giả của Tuần Cai biệt thự hợp tập là

hoàng tử thứ tư con vua Thiệu Trị - về xuất thân, ông thuộc dòng dõi hoàng tộc Cuộc đời thơ văn của Nguyễn Phúc Hồng Y nằm trọn vẹn trong những

năm Tự Đức - về bối cảnh sáng tác, đây là những văn chương của giai đoạn

Nguyễn triều Từ những năm Gia Long cho đến thời Tự Đức, khi bước lên ngai vàng là những ông vua đều “hay chữ và có thi tập cả” [5] thì dù là tác động trực tiếp hay không trực tiếp, nhưng đã hiện hữu một sự thực rằng: kề cận bên những ông vua ấy có hàng loạt các hoàng thân, hoàng tử, các đại thần, quan lại “trọng chữ”, “biết chữ”, hẳn là không thiếu những người “hay chữ”

và có cả trước tác nữa - đó là chưa kể đến giá trị không phải không đáng kể về chất lượng, số lượng của những trước tác ấy Hồng Y Quân Bác và thi văn tập của ông là sản phẩm của những thời như thế… Những người cùng thời với ông - vua Tự Đức, Tuy Lí vương Miên Trinh… đều biết đến và từng ngợi

1 Sử dụng khái niệm “văn học cung đình Huế”, chúng tôi đã dựa trên cách hiểu phổ biến của nhiều nhà nghiên cứu, học giả hiện nay Khoá luận tạm thời chưa đi vào “văn học cung đình Huế” như một đối tượng nghiên cứu độc lập Chúng tôi đưa vào thuật ngữ này chủ yếu từ góc nhìn “văn học cung đình Huế” như một bộ phận trong tổng thể các loại hình nghệ thuật có đặc điểm xác định được khi lấy “cung đình” làm tính chất và được thừa nhận

là sản phẩm của xứ Huế dưới triều Nguyễn

Trang 5

khen thơ văn của ông Thơ văn Quân Bác đã viết ra ở chốn cung đình và trước

hết dành cho cung đình Trên mấy khía cạnh ấy, ông là một tác gia cung đình

Nhìn nhận Tuần Cai biệt thự hợp tập với tư cách một tác phẩm văn học thời Nguyễn và chú ý tới vai trò tác gia văn học cung đình của tác giả hợp tập,

ít nhất từ hai phương diện này, Tuần Cai biệt thự hợp tập của tác giả Hồng Y

Quân Bác là một vấn đề còn rộng mở cho nghiên cứu

Đến nay, Tuần Cai biệt thự hợp tập là một bộ tổng tập chưa được chuyển

dịch ra tiếng Việt hiện đại1 Trong khuôn khổ một khoá luận tốt nghiệp, chúng

tôi đã tiến hành dịch trọn vẹn và chú thích cho một quyển thơ 2 trong hợp tập

của Quân Bác - quyển thơ số 10 với tổng số 51 bài thơ

Vấn đề văn bản của tập sách, chúng tôi sẽ còn bàn đến trong những phần sau, nhưng có một điểm liên hệ tới việc định hướng đề tài khoá luận cần nói

ngay, đó là: Tuần Cai biệt thự hợp tập là tổng tập gồm hai phần rất rõ rệt, một

phần thơ và một phần văn (hay nói đúng hơn là các thể loại khác thơ) Quyển

1 của Tuần Cai biệt thự hợp tập cung cấp cho chúng ta một mục lục (chúng

tôi đã kiểm tra và thấy rằng mục lục này nói chung “sít sao” với phần nội dung văn bản), trong đó, riêng phần thơ là 25 quyển, tập hợp các sáng tác thơ của Quân Bác liên tục trong 26 năm, mỗi một quyển thơ tương ứng với thơ do Quân Bác sáng tác trong một năm Tính liên tục về thời gian của hợp tập và việc chuyển dịch trọn vẹn một quyển thơ như chúng tôi đã làm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến tới giải mã một số vấn đề liên quan đến nội dung và hình thức của thơ Quân Bác Chúng tôi cho rằng, mỗi một quyển thơ với tư

1 Như được biết, trước khi chúng tôi tiếp cận đề tài này, anh Vũ Huy Vĩ - học viên lớp

Cao học ngành Hán Nôm đã và đang thực hiện luận văn Thạc sĩ với đề tài “Tuần Cai biệt

thự hợp tập”, một số vấn đề tác gia tác phẩm Trong luận văn của mình, về phần chuyển

dịch, anh đã thực hiện theo cách thức tuyển dịch, chọn dịch (tức là văn bản chưa được dịch trọn vẹn nguyên bộ)

2 “Một quyển thơ” cũng như cách nói một tập sách trong tổng tập ngày nay

Trang 6

cách là một tập hợp các sáng tác thơ trong thời gian một năm tròn đủ tư cách

là một chỉnh thể độc lập bậc thấp, trong đó mỗi một bài thơ là một yếu tố của chỉnh thể đó (Tất nhiên, không thể không ghi nhớ rằng, tới lượt mình, mỗi quyển thơ này vẫn luôn luôn tồn tại như một yếu tố trong cả một chỉnh thể là

Tuần Cai biệt thự hợp tập của Quân Bác) Như vậy, qua việc chuyển dịch văn

bản, nếu đi vào phân tích văn bản, chúng ta có khả năng khái quát một số đặc điểm của quyển thơ số 10 của Quân Bác Việc làm này có hai hệ quả: 1/ Nếu

mở rộng nghiên cứu trên tổng thể hợp tập, chúng ta có thể sử dụng các đặc điểm này như một dạng “thuốc thử” để xem xét các quyển thơ khác trong cùng hợp tập Các đặc điểm này (hoặc một vài đặc điểm nào đó) nếu thống nhất hoặc nếu có sai lệch thì sẽ đều đưa đến những thông tin thi pháp, phong cách học thú vị 2./ Chúng tôi dự tính rằng có một tích hợp các đặc điểm, tính chất nào đó để làm thành một phong cách văn học của những “tác gia cung đình nhà Nguyễn” (chủ yếu là giai đoạn Thiệu Trị đến Tự Đức) Hồng Y Quân Bác là một tác gia cung đình, sáng tác của ông có thể hiện một vài đặc điểm, tính chất nào đó trong cái tích hợp mà chúng ta đang muốn tìm kiếm kia không?

2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là quyển thơ số 10 trong Tuần Cai

biệt thự hợp tập của hoàng tử thứ tư (con vua Thiệu Trị) Nguyễn Phúc Hồng

Y, tự là Quân Bác Cùng một đối tượng, có thể nghiên cứu trên nhiều bình diện khác nhau tùy theo lí do tiến hành đề tài cũng như mục đích nghiên cứu Với lí do chọn đề tài cũng như những mục đích nghiên cứu đã trình bày ở trên,

chúng tôi triển khai xem xét đối tượng nghiên cứu trên hai khía cạnh sau: Thứ

nhất, tìm hiểu mặt văn bản học của văn bản quyển thơ 10 thuộc Tuần Cai biệt thự hợp tập Thứ hai, nhận dạng một vài đặc điểm về chữ Hán và kho từ ngữ

trong liên hệ với những xu hướng nội dung thơ, phong cách nghệ thuật thơ

Trang 7

của Tuần Cai biệt thự hợp tập trên tư liệu quyển thơ 10 Với những khía cạnh

nghiên cứu này, có thể tạm rút ra mấy đặc điểm sau của đối tượng nghiên cứu:

- Đây là một vấn đề mới, còn đang bỏ trống trong nghiên cứu Việc

chuyển dịch Tuần Cai biệt thự hợp tập, trước mắt là chuyển dịch từng phần

(khoá luận thực hiện dịch trọn vẹn quyển thơ số 10) là một việc làm cần thiết

- Quan sát thơ ca của một bộ phận di sản văn chương của một tác giả văn học theo hướng khảo sát các biểu hiện ngôn từ là cách làm hữu ích, có hiệu quả trong việc hướng tới tìm kiếm các biểu hiện phong cách thi ca

Trong khi triển khai các thao tác nghiên cứu, chúng tôi luôn chú ý trước hết là tính cụ thể của đối tượng nghiên cứu - tức là cần phải đi vào làm càng chi tiết càng tốt các vấn đề văn bản học, văn bản ngôn từ của bản thân quyển thơ 10 - là đối tượng của đề tài khoá luận Nhưng cũng không nên bỏ qua khả năng khai triển nghiên cứu đối tượng Chẳng hạn, khi xem xét quyển thơ 10 trên tư cách văn bản ngôn từ - văn bản nghệ thuật, khoá luận của chúng tôi chủ yếu đi vào lĩnh vực từ vựng và các kiểu tổ chức từ ngữ Chúng tôi cho rằng hướng đi này dù mới chỉ được triển khai trên một “mẫu” khảo sát khiêm tốn (chỉ một quyển thơ) nhưng từ quá trình giải quyết các vấn đề của đối tượng này, chúng ta sẽ thâu nhận được nhiều bài học nghiên cứu và thông tin khoa học bổ ích cho sau này đi đến tìm hiểu thơ và phong cách thơ, thi pháp thơ trung đại Việt Nam

3 Phương pháp nghiên cứu

Bất kì đề tài khoa học nào khi đi vào thực thi đều sử dụng tập hợp các phương pháp, thao tác nghiên cứu Tất nhiên, trong tập hợp đó, một số phương pháp, thao tác khoa học có tác dụng quan trọng, quyết định đối với đề tài sẽ được xác định là công cụ chính, công cụ chủ đạo Công việc đầu tiên của khoá luận là chuyển dịch văn bản từ tiếng Hán sang tiếng Việt hiện đại, trong đó yêu cầu tối thiểu là sử dụng các thao tác văn bản học, phiên âm Hán Việt, dịch nghĩa, chú thích văn bản học Để thiết lập lại kho từ ngữ của tác giả Quân Bác

Trang 8

trong quyển thơ số 10 của ông, chúng tôi thực hiện thống kê toàn bộ từ ngữ, lập danh sách từ ngữ, phân tầng ngữ nghĩa và giải thích các từ ngữ của danh sách được lập Căn cứ vào quá trình giải mã văn bản và thống kê từ ngữ, một mặt, chúng tôi sẽ xác định các thông tin văn bản học, những chỗ còn chưa đủ bằng cớ khoa học thì sẽ được nêu lên dưới dạng giả thuyết; mặt khác, chúng tôi cố gắng đưa ra một số nhận xét về đặc điểm từ ngữ có liên hệ xu hướng nội dung thơ Quân Bác Ở những chỗ cần thiết, chúng tôi có sử dụng tới các thao tác sơ đồ hoá, mô hình hoá để tăng sức thuyết minh cho nội dung vấn đề

4 Kết quả bước đầu đạt được của khoá luận

Qua ba tháng lao động nghiêm túc, khoá luận tốt nghiệp với đề tài Tuần

Cai biệt thự hợp tập (Q.10) - Bước đầu khảo sát, phiên dịch, chú thích, giới thiệu văn bản và nhận xét về phong cách nghệ thuật đã hoàn thành và đạt

được một số kết quả sau:

- Xác định được các đặc điểm về văn bản học của quyển thơ 10 (tác giả, thời gian sáng tác, người biên tập hiệu đính cho tác phẩm… ), đồng thời cung cấp được một số dữ liệu văn bản học hữu ích cho việc nghiên cứu theo

hướng văn bản học trên toàn diện Tuần Cai biệt thự hợp tập (thông tin chữ húy,

thể thức trình bày ở mỗi quyển thơ…)

- Lần đầu tiên giải mã, chú giải và công bố 51 bài thơ chữ Hán của

quyển thơ 10 thuộc Tuần Cai biệt thự hợp tập của tác giả Nguyễn Phúc Hồng

Trang 9

5 Bố cục khoá luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, để thực hiện đề tài Tuần Cai biệt thự

hợp tập (Q.10) - Bước đầu khảo sát, phiên dịch, chú thích, giới thiệu văn bản và nhận xét về phong cách nghệ thuật, khoá luận tốt nghiệp được triển

khai thành các nội dung chính sau đây:

! Quyển thơ 10 trong Tuần Cai biệt thự hợp tập, vài nét

nhìn từ góc độ văn bản học

" Xuất xứ, lai lịch của văn bản quyển thơ 10

" Quyển thơ số 10 với những quyển thơ khác

" Vấn đề dịch thuật và công bố văn bản quyển thơ 10

! Tuần Cai biệt thự hợp tập (quyển 10), bước đầu tiếp cập

với tư cách một văn bản nghệ thuật ngôn từ

" Về thể loại, vần thơ và luật bằng trắc

" Về từ ngữ và một số nét liên quan đến nội dung thơ Quân Bác

" Một vài suy nghĩ về cách tổ chức các lượng ngữ nghĩa trong Tuần Cai biệt thự hợp tập (quyển 10)

Sau các nội dung chính, khoá luận của chúng tôi sẽ cung cấp 3 phụ lục

với những vấn đề sau:

! Bản chụp nguyên bản chữ Hán quyển thơ 10 thuộc Tuần

Cai biệt thự hợp tập của tác giả Quân Bác (Bản in A.2985/3)

! Công bố bản dịch và chú giải cho toàn bộ 51 bài thơ chữ

Hán của quyển thơ 10

! Bảng tra từ ngữ cho 51 bài thơ chữ Hán của quyển thơ 10

Trang 10

Chương 1:

QUYỂN THƠ SỐ 10 TRONG “TUẦN CAI BIỆT THỰ HỢP TẬP” CỦA QUÂN BÁC, VÀI NÉT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VĂN BẢN HỌC

Lời dẫn

Nội dung cơ bản của chương 1 là hướng tới vài điểm quan trọng về văn bản quyển thơ 10 nhìn từ góc độ văn bản học Chúng tôi sẽ lần lượt đề cập tới

ba vấn đề chính: Xuất xứ lai lịch văn bản, trong đó khảo sát văn bản quyển

thơ 10 ở những khía cạnh như quá trình hình thành tập sách, xác định về người làm công tác biên tập hiệu đính cho sách, vấn đề kiêng húy và vấn đề

khắc in của văn bản; kết cấu bố cục của văn bản quyển thơ 10 trong liên hệ

với những quyển thơ khác của Tuần Cai biệt thự hợp tập; cuối cùng là vấn đề

dịch thuật và công bố văn bản Bên cạnh một số vấn đề văn bản học lí thú

còn đang để “mở”, những kết quả thu được của chương I có thể chưa nhiều nhưng đủ để chúng ta có những nhìn nhận cụ thể, trực tiếp đối với đối tượng

đề tài khoá luận

1 Xuất xứ, lai lịch văn bản

1.1 Tuần Cai biệt thự hợp tập, bản in - bản viết - bố cục văn bản

Trong khoá luận này, chúng tôi coi “quyển thơ số 10” là một văn bản, và

là “văn bản con” nằm trong một tổng thể lớn hơn - văn bản Tuần Cai biệt thự

hợp tập Trên phạm vi rộng, văn bản quyển thơ 10 có lai lịch gắn liền với xuất

xứ của văn bản Tuần Cai biệt thự hợp tập Ở phạm vi hẹp hơn, chúng tôi sẽ

đề cập đến tính chỉnh thể tự thân của văn bản và mối tương quan của văn bản quyển thơ 10 với những quyển thơ hoặc quyển văn khác trong hợp tập tác phẩm của Quân Bác

Trang 11

Trước hết, nói về văn bản Tuần Cai biệt thự hợp tập Ở thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, hiện nay còn lưu giữ hai văn bản Tuần Cai biệt thự hợp

tập - một bản in và một bản viết Tham khảo Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư

Hán Nôm, chúng tôi thấy tình hình hai văn bản này đại thể như sau:

Số tập, số trang : 4 (608 trang) 1 (472 trang)

Cả hai văn bản đều mang kí hiệu thuộc phân kho A - là kho sách do Học viện Viễn Đông bác cổ của Pháp đặt tại Hà Nội sưu tầm và chuyển lại cho Thư viện Khoa học xã hội năm 1958 (sau này kho sách Hán Nôm của Thư viện Khoa học xã hội được nhập về thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm như hiện nay) Trên các văn bản này, chúng ta có thể nhìn thấy rõ nét các dấu hình bầu dục đóng bằng mực xanh hoặc đen của Viện Viễn Đông bác cổ Tuy nhiên, cả bản in và bản viết đều không có dòng chữ nào ghi lại chính xác thời gian văn bản được chép hoặc được khắc in So sánh nội dung văn bản, chúng tôi nhận thấy giống nhau về đại thể, có chăng chỉ là một số chi tiết khác biệt Cách sắp xếp thứ tự các phần, mục trong cả hai văn bản nói chung đều giống nhau Cách trình bày “đài chữ” hay còn gọi là “du cách” (theo kiểu cách ra một khoảng trắng trong cột viết) trong phần chép nội dung thơ hoặc văn cũng

giống nhau Có thể thấy rằng, Tuần Cai biệt thự hợp tập thuộc loại văn bản

khá thống nhất Chúng tôi đã lựa chọn bản in làm tư liệu gốc phục vụ đề tài khoá luận này, khi thật cần thiết văn bản viết được sử dụng làm tài liệu tham khảo, đối chiếu, so sánh Lí do chủ yếu vì một trong những yêu cầu đặt ra cho

khoá luận là dịch thuật một phần (quyển thơ 10) trong Tuần Cai biệt thự hợp

tập Chúng tôi chọn văn bản in là văn bản mang tính quan phương, tính ổn

Trang 12

định hơn Đó là chưa kể việc hầu như có thể nhận định rằng văn bản viết là văn bản xuất hiện muộn hơn1

Ngoài hai văn bản nằm tại thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, chúng tôi được biết gia đình ông Nguyễn Quí Tiết ở thành phố Huế hiện còn lưu giữ

một bản chép tay Tuần Cai biệt thự hợp tập của Nguyễn Phúc Hồng Y Quân

Bác Chúng tôi đã được xem một lượt văn bản này, nội dung và kết cấu nói chung thống nhất với hai bản thuộc kho sách Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm Song, đây là một văn bản đòi hỏi không ít công tác văn bản học và cũng

là văn bản có trữ lượng thông tin văn bản học đáng kể Trong khuôn khổ khoá luận, chúng tôi tạm thời chưa khảo sát đến văn bản chép tay này2

Đến đây, chúng ta tập trung chú ý tới văn bản in - là văn bản lấy làm tư

liệu gốc cho đề tài nghiên cứu của khoá luận Văn bản in A.2985 là một bộ

sách 4 tập, trong đó:

Tập 1: Trang đầu tiên đề “Tuần Cai biệt thự hợp tập

Bài tựa do Tuy Lí vương Miên Trinh viết

Ngự chế thi: Thơ ngự chế của vua Tự Đức và các thi phẩm ứng hoạ

giữa vua Tự Đức, Quân Bác và một số nhân sĩ khác

Mục lục (Sắp xếp các quyển thơ theo số thứ tự, năm sáng tác, liệt kê các thể

thơ hoặc thể văn được sử dụng và số lượng bài thơ sử dụng các thể loại đó)

Ngự chế văn: Bài văn vua Tự Đức viết khi Kiến Thụy công Nguyễn

Phúc Hồng Y qua đời

1 Bản chép tay là một bản sao chụp lại trên giấy trắng khổ A4, chữ nghĩa rõ ràng Ở kho sách Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, chúng tôi còn thấy những quyển sách khác có kiểu chữ, khổ giấy, loại giấy, cách đóng bìa như vậy Chúng tôi cho rằng đây có lẽ là bản chụp lại (photocopy) từ một bản viết mà Viện Viễn Đông bác cổ đã thuê chép Rất tiếc là chúng tôi chưa có hiểu biết nhiều về việc Viện Viễn Đông bác cổ thuê chép sách như thế nào, những cuốn sách mà Viện Viễn Đông bác cổ thuê chép được viết trên loại giấy như thế nào, kích cỡ khổ giấy ra sao Ở đây, chúng tôi dè dặt nêu nhận xét như vậy

2 Và chúng tôi cũng rất vui mừng được biết rằng, trong luận văn tốt nghiệp cao học của anh Vũ Huy Vĩ (như đã nói ở trên) sẽ giới thiệu và công bố văn bản trên

Trang 13

Văn (Tuần Cai biệt thự văn sao ) quyển 1 + 2

Thi (Tuần Cai biệt thự thi sao ) quyển 1 đến quyển 4 Tập 2: Thi quyển 5 đến quyển 9

Tập 3: Thi quyển 10 đến quyển 18

Tập 4: Thi quyển 19 đến quyển 25

Các tập 2,3, 4 có trật tự sắp xếp thống nhất, ổn định Riêng tập 1, phần sắp xếp thứ tự trang sách có phần lộn xộn, chúng tôi ngờ rằng sự lộn xộn này là do người sau nhầm khi đóng lại sách (vì số thứ tự trang ở biên sách vẫn rất chính xác),

và cũng đã để bị mất một số trang Đối chiếu với bản viết A.377, chúng ta hoàn toàn

có thể khôi phục lại trật tự vốn có của tập 1 bản in A.2985 Mặc dù đối tượng nghiên cứu của khoá luận là quyển thơ 10, nằm trọn vẹn trong tập 3 của bản A.2985 (tức là không liên quan trực tiếp đến tập 1) nhưng nhân đây chúng tôi cũng ghi lại “cái thứ

tự bị lẫn lộn hiện trạng” của văn bản Tập 1 (A.2985/1):

Bài tựa - Ngự chế Tứ tế tứ đệ Kiến Thụy quận vương văn - Ngự chế thi Quí Đông tân tình hậu uyển tập xạ, dữ Tùng Thiện công Miên Thẩm, Kiến Thụy công Hồng Y liên cú (Thập lục vận) - Chu trung liên cú - Hạnh Thuận An tấn Trấn Hải thành duyệt thị diễn phóng đại bác dữ Kiến Thụy công Hồng Y, hoàng tử Ưng Chân liên cú - Tứ đệ Kiến Thụy công Hồng Y tứ thập thọ thời thơ dĩ tứ chi - Kí vấn Tuy Lí, Kiến Thụy nhị công hí tác hồi văn - Kinh qua Anh Sơn Quận công cựu trạch - Tuần Cai biệt thự: Thi sao mục lục, Văn sao mục lục

Văn quyển 1: Dữ Quảng Khê tẩu thư - Nhân luận ứng chế - Nghĩ Nguyên đạo ứng chế (từ tờ 1 đến tờ 6)

Thi quyển 1 - (nội dung thi quyển 1)- trang đề kết thúc Thi quyển 1

Nghĩ Nguyên đạo ứng chế (tiếp theo từ tờ 7 đến hết bài) - Hí thư chiêu Tập Chi

đệ nhã ẩm - Vạn thọ tứ tuần đại khánh tụng (tịnh tự) - Chuyết Viên tiên sinh khánh lục thập trí ngữ - Thương Sơn Văn Nhã tiên sinh ai từ - Thư thanh lương du (dòng tiêu đề) - trang đề Văn quyển 1 kết thúc

Thi quyển 2 - (nội dung thi quyển 2) - trang đề kết thúc Thi quyển 2

9 cột chữ Hán không rõ thuộc về bài nào - Yêu liên thi hội tiểu dẫn - Xuân tán - Thuận An duyệt tập thủy bộ chư trận phú - trang đề Văn quyển 2 kết thúc

Đối chiếu với bản viết, ta thấy rằng phần thiếu ở bản in A.2985/1 là phần văn bản từ sau dòng tiêu đề bài Thư thanh lương du đến trước 9 cột chữ Hán không rõ thuộc về bài nào Phần khuyết thiếu như sau: Nội dung bài Thư thanh lương du - Toạ hữu minh - trang đề kết thúc Văn quyển 1 - Văn quyển 2 - Tứ thập sinh nhật tạ biểu - Cung bạt ngự chế ngự bút thi trục - Giáo thị Dực Thiện công tử đẳng (9 cột chữ Hán trên thuộc bài này).

Như vậy, phần thơ (Tuần Cai biệt thự thi sao) có tổng số 25 quyển, chép

thơ của Quân Bác từ năm Tân Hợi - Tự Đức 4 (1851) đến năm Bính Tí - Tự Đức 29 (1876) Bắt đầu mỗi quyển thơ luôn ghi rõ ràng “Tuần Cai biệt thự thi sao quyển số …” và “Sáng tác của hoàng tử thứ tư Hồng Y

Trang 14

Quân Bác” (Hoàng tứ tử Hồng Y Quân Bác trứ ) Phần

mở đầu của mỗi quyển thơ cũng cho chúng ta biết rõ tổng số các bài thơ trong mỗi quyển và năm sáng tác của quyển thơ Kết thúc các quyển thơ đề “Hết

quyển số… thuộc Tuần Cai biệt thự thi sao” (Tuần Cai biệt thự thi sao

Minh biên tập, hiệu đính” (Nam Ưng Hinh Mạnh Minh tập đính

) Chúng ta thấy rằng các quyển thơ của Tuần Cai biệt thự thi sao rất

thống nhất về hình thức, bố cục văn bản

Theo chúng tôi, có thể hình dung về ba giai đoạn sơ lược của văn bản

Tuần Cai biệt thự hợp tập như sau:

a./ Những sáng tác riêng lẻ của Quân Bác qua từng năm từ khi 18 tuổi (1851) cho lúc sắp qua đời (1876)

b./ Nguyễn Phúc Ưng Hinh - con trưởng của Hồng Y Quân Bác tập hợp những sáng tác trên, hiệu đính và chép lại

c./ Trên cơ sở việc “tập đính” của Ưng Hinh, Tuần Cai biệt thự hợp tập (bao gồm trong đó cả Tuần Cai biệt thự thi sao) đã được khắc in

Ở đây, chúng tôi muốn chú ý rằng, trong khuôn khổ đề tài của khoá luận,

vấn đề văn bản học của Tuần Cai biệt thự hợp tập - bản in A.2985 chưa thể

giải quyết một cách triệt để Cố gắng của chúng tôi là, một mặt tìm hiểu kĩ

càng mọi thông tin văn bản học thuộc quyển thơ 10 (một bộ phận của Tuần

Cai biệt thự hợp tập - A.2985), một mặt làm tư liệu về thông tin văn bản học

cung cấp cho việc nghiên cứu văn bản học trên toàn diện văn bản A.2985

1.2 Sách thành tập như thế nào?

Cứ như thời gian ghi trong Tuần Cai biệt thự hợp tập thì sáng tác của

Quân Bác còn chép lại được sớm nhất là năm 18 tuổi (tức năm 1851 niên hiệu

Tự Đức 4) Có thể vẫn còn hồ nghi điều này khi phần mở đầu Tuần Cai biệt

thự hợp tập có một bài “liên cú” mười sáu vần đề là “Ngự chế thi Quí đông

tân tình hậu uyển tập xạ, dữ Tùng Thiện công Miên Thẩm, Kiến Thụy công

Trang 15

Hồng Y liên cú”

(Bài liên cú của nhà vua (Tự Đức) làm cùng Tùng Thiện công Miên Thẩm, Kiến Thụy công Hồng Y với đề là “tháng chạp, mưa mới tạnh, tập bắn tại

vườn sau”); mà Đại Nam liệt truyện lại có chép: “Tự Đức sơ, vương (Kiến

Thụy vương) dữ Tùng Thiện quận vương nhập thị đế ư hậu uyển tập xạ, nhân ngự chế Quí đông tân tình hậu uyển tập xạ thập lục vận, mệnh vương dữ Tùng Thiện quận vương Miên Thẩm liên cú phả xứng chỉ” , ( )

, [28] (Đầu thời Tự Đức, vương cùng Tùng Thiện quận vương vào hầu vua ở vườn sau tập bắn Vua nhân làm 16 vần thơ “Quí đông tân tình hậu uyển tập xạ” (Cuối đông trời tạnh mưa tập bắn ở vườn sau), lại bảo vương cùng Tùng Thiện quận vương Miên Thẩm làm mỗi người một câu nối thành một bài, được vừa ý vua [21] Đại Nam liệt truyện nói rằng sự

việc này xảy ra “đầu thời Tự Đức” - Liệu bài “liên cú” này có ra đời sớm hơn những bài thơ của Quân Bác sáng tác năm Tự Đức 4 (những bài thơ chép trong quyển 1)? Ở đây, có hai chuyện, chúng tôi xin nêu ra đây và sẽ chưa đưa ra kết luận (trong điều kiện tư liệu hiện nay):

(a) Một là, trong quyển 4 Tuần Cai biệt thự thi sao (sáng tác năm Giáp

Dần 1854 - Tự Đức 7) có chép một bài thơ đề là “Tập xạ ứng chế” , đặc biệt trong bài thơ có dòng chú thích “Thị nhật thích trị Đông Chí tiết”

(Ngày này đúng vào ngày Đông chí - tức là khoảng 21 đến 23 tháng 12 hàng năm theo lịch dương = khoảng cuối tháng 11 âm lịch năm Giáp Dần) Tên bài thơ, thời gian sáng tác của bài thơ này rất gần gũi với hoàn cảnh sáng tác của bài “liên cú 16 vần” nói trên Có thể hai bài thơ này sáng tác cùng một khoảng thời gian chăng? Và nếu như vậy thì bài “liên cú” cũng phải ra đời vào quãng cuối năm Tự Đức 7, tức là không sớm hơn những bài thơ Quân Bác viết khi 18 tuổi (năm Tự Đức 4)

Trang 16

(b) Nhưng đáng nói là chuyện thứ hai, sách Đại Nam liệt truyện vì sao

lại chép sự việc làm thơ “liên cú” 16 vần trước việc vua Tự Đức đi thăm nhà Thái học vào mùa xuân tháng hai năm Tự Đức 7? Điều đó có nghĩa hoặc suy

luận (a) ở trên là sai, hoặc Đại Nam liệt truyện đã chép đảo lộn các sự việc?

Ở trên, chúng ta vừa nói về niên đại sớm nhất của các bài thơ của Quân Bác còn chép lại được Bây giờ, chúng ta thử xét xem những bài thơ riêng lẻ qua từng năm của Quân Bác được gộp thành tập như thế nào?

Phần mở đầu Tuần Cai biệt thự hợp tập có một bài tựa do Tuy Lí vương

Miên Trinh1 viết ngày mùng tám tháng tư năm 1874 - Tự Đức 27 (

Tự Đức nhị thập thất niên tứ nguyệt Dục Phật nhật) Nhận xét về thơ Quân Bác và nói lí do làm bài tựa cho thi tập của Quân Bác, Miên Trinh viết: “Tài thơ của Quân Bác lại ngày càng tiến bộ, sáng tác ngày càng

phong phú (…) Thơ Quân Bác, câu ngắn bài dài, rực rỡ giấy mực, lâu ngày

hợp được thành tập Quân Bác lại một mực xin ta viết cho lời tựa tập sách

Sự khiêm tốn hiếu học của Quân Bác đã tỏ rõ, mà đức hạnh của Quân Bác cũng hơn người nay nhiều lắm vậy2” Bài tựa viết năm 1874 - khi Quân Bác còn sống và Miên Trinh sở dĩ viết lời tựa này là theo “sự đề nghị” của Quân Bác Có lẽ là bình sinh, Quân Bác đã có ý thức xếp thơ thành tập và hẳn là đến năm 1874 - khi Miên Trinh đề tựa thì thơ của Quân Bác đã thành quyển,

1 Nguyễn Phúc Miên Trinh (1820-1897), tự Khôn Chương, Quí Trọng, hiệu là

Vi Dã, Tĩnh Phố Ông là con thứ 11 của vua Minh Mạng (tức là hàng chú của Hồng Y Quân Bác) Ông được phong tước Tuy Lí công, rồi thăng đến Tuy Lí vương Cùng với người anh là Miên Thẩm Thương Sơn, ông rất nổi tiếng về văn học, là một trong những người đứng đầu Tùng Vân thi xã (một nơi tụ họp các văn nhân của kinh đô Huế thời

ấy) Tác phẩm của ông còn lại thường được nhắc đến là bộ Vi Dã hợp tập

Bài tựa này cũng được chép trong Vi Dã hợp tập của Miên Trinh, phần Văn, quyển 1 đề

là Kiến Thụy công thi tập tự (Bài tựa cho thi tập của Kiến Thụy công)

!” (Quân Bác tài nhật ích tiến, trứ thuật nhật ích phú (…) Đoản cú trường thiên, huy chiếu hàn mặc, bầu nhiên thành tập Nãi truân truân chúc dư tự, thủ kì khiêm ức hiếu học như thử, tắc Quân Bác chi hạnh chi độ việt kim nhân dũ, khả tri hĩ.)

Trang 17

thành sách, thành bản “nghiêm chỉnh” rồi Tất nhiên, chúng ta biết rằng Tuần

Cai biệt thự thi sao còn kéo dài thêm hai năm nữa (chép thơ đến 1876, trước

khi Quân Bác qua đời một năm) Và như thế, văn bản mà Miên Trinh viết lời tựa với văn bản chúng ta có trong tay không phải là một Theo chúng tôi, hầu như không có sự sai khác lớn từ văn bản Miên Trinh viết lời tựa đến văn bản được khắc in sau đó, ngoại trừ phần thơ của Quân Bác trong hai năm sau đó được chép thêm vào Nhưng chúng tôi vẫn muốn lưu ý tới một tính chất khác của hai văn bản: Trong khi văn bản Miên Trinh viết lời tựa mang tính chất

của một thi tập độc lập thì Tuần Cai biệt thự thi sao mà chúng ta đang khảo

sát lại là bộ phận của một hợp tập - một hợp tập đã được “tập đính” và hẳn là chỉ hoàn thành sau khi Quân Bác đã qua đời Lại một chi tiết cũng không nên

bỏ qua là cái tên gọi của hợp tập: Tuần Cai biệt thự hợp tập Có nhiều cách để

đặt tên cho thi tập, văn tập, thường là đặt bằng tên hiệu của tác giả, cũng có khi dùng địa danh nơi ở của tác giả làm tên gọi của thi văn tập Tên bài tựa

cho tập thơ của Quân Bác ghi trong Vi Dã hợp tập của Miên Trinh chỉ viết là

Kiến Thụy công thi tập tự (Bài tựa cho thi tập của Kiến Thụy công), mà trong

bài tựa chép ở đầu sách Tuần Cai biệt thự hợp tập cũng không thấy nhắc đến

mấy chữ “Tuần Cai biệt thự” Trường hợp hợp tập của Quân Bác rõ ràng là dùng địa danh (Tuần Cai biệt thự) để đặt tên cho thi văn tập Rất tiếc là hiện chúng tôi chưa biết “biệt thự Tuần Cai” có liên quan như thế nào với Hồng Y Quân Bác Chúng tôi đồ rằng việc lấy tên biệt thự Tuần Cai đặt tên cho hợp tập chỉ xảy ra khi hợp tập hoàn thành (tức là sau khi Quân Bác đã qua đời) và

dường như Tuần Cai biệt thự hợp tập có ý nghĩa là “hợp tập văn thơ của

người ở biệt thự Tuần Cai” (!?)

1.3 Nguyễn Phúc Ưng Hinh làm công tác “tập đính” cho sách

Ông là con trưởng của Hồng Y Quân Bác, là người làm công tác “tập

đính” (biên tập, hiệu đính) cho Tuần Cai biệt thự hợp tập Đại Nam liệt truyện

nhị tập, quyển 8, phần Hoàng tử liệt truyện, mục IV khi chép về Hồng Y

Trang 18

truyện chép tên của Ưng Hinh mà như phải đọc là Ưng Khánh vậy? Và sự

thật là bản dịch Đại Nam liệt truyện đã phiên là Ưng Khánh, cuốn Nguyễn

Phúc tộc thế phả và một số tài liệu khác cũng thống nhất với cách phiên của Đại Nam liệt truyện Chúng tôi không phản đối cách đọc là Ưng Khánh,

nhưng có thể khẳng định Ưng Khánh và Ưng Hinh chỉ là một Ngay trong

Nguyễn Phúc tộc thế phả - dầu sao về đại thể, vẫn là một cuốn sách có nhiều

thông tin khả tín - phần chép về Nguyễn

Phúc Hồng Y có viết: “Ông và con cháu mở

ra phòng 4 thuộc đệ tam chính hệ và được

ngự chế ban cho bộ hương rồi sau đổi

thành bộ thạch để đặt tên cho con cháu

trong phòng” [12] Chúng tôi cho rằng thông

tin này được đưa ra là chính xác2 Vậy thì trong tên gọi của người con trưởng

của Quân Bác, chữ hinh hay khánh chỉ là một chữ đã có sự hoán đổi

phần bộ thủ của chữ từ bộ hương sang bộ thạch mà thôi

là Hương được cấp cho bộ khác là Thạch, vì thế những con cháu về sau đều có tên thuộc

bộ Thạch, cụ thể nhất là ông Bửu Thạch thời kì Tây làm đến Thượng Thư…” Chúng tôi xin chân thành cảm ơn ông Vĩnh Cao đã cung cấp cho chúng tôi thông tin quí báu này.

Trang 19

Nguyễn Phúc Ưng Hinh đã “tập đính” hợp tập của cha mình như thế nào, công việc đó diễn ra trong nhiều năm hay chỉ trong một thời gian ngắn? Năm

1874, trong thi tập của Quân Bác đưa cho Miên Trinh viết lời tựa, liệu Ưng Hinh đã đóng góp công việc “tập đính” hay chưa? Chúng tôi mới chỉ biết rằng trong bài tựa, Miên Trinh không nhắc một điều gì liên quan đến chuyện Ưng Hinh là người tập đính Theo chúng tôi, có lẽ việc Ưng Hinh “tập đính” thơ văn Quân Bác là chuyện xảy ra sau khi Quân Bác đã qua đời và đương nhiên phải hoàn thành trước khi văn bản được khắc in

1.4 Vấn đề kiêng húy của quyển thơ 10

Toàn bộ văn bản quyển thơ số 10 có độ dài 17 tờ (tức là 34 trang), nằm ở

vị trí 17 tờ đầu tiên của tập sách 3 trong 4 tập sách thuộc bộ Tuần Cai biệt thự

hợp tập - kí hiệu: A.2985/3 Cách thức trình bày, số hàng, số chữ trong hàng

không có khác biệt so với những phần văn bản khác của Tuần Cai biệt thự

thống nhất với tổng thể văn bản Tuần Cai biệt thự hợp tập (do cùng một

người biên tập, hiệu đính, có thể đoán định là đã được khắc in cùng một thời gian)

Đối với công tác nghiên cứu văn bản học, vấn đề chữ húy được xem là một trong những chìa khoá hữu hiệu để tìm kiếm các thông tin văn bản học Ở đây, chúng tôi xem xét kĩ các chữ húy trong 17 tờ văn bản quyển thơ 10 thuộc

Tuần Cai biệt thự hợp tập, bản in A.2985

Hiện nay, vấn đề chữ húy trong các văn bản Hán Nôm Việt Nam đã được

nghiên cứu công phu và kĩ lưỡng trong công trình Nghiên cứu chữ húy Việt

Nam qua các triều đại của Ngô Đức Thọ (phần dịch sang tiếng Pháp và chú

giải do Emmanuel Poisson thực hiện) Chúng tôi căn cứ vào phần Phụ lục IV -

1 Chúng tôi đã giới thiệu toàn bộ nguyên bản văn bản quyển thơ số 10 trong phần Phụ lục 1 của khoá luận

Trang 20

Bảng tra tên húy và chữ húy các triều đại Việt Nam (từ Trần đến Nguyễn) và

các thuyết minh về chữ húy trong cuốn sách trên, tiến hành đối chiếu các chữ húy trong bảng tra với chữ Hán trong văn bản quyển thơ 10 Rõ ràng là, nếu chỉ khảo sát các chữ kiêng húy trong quyển thơ 10 thì chưa thể đưa ra các kết

luận mang tính văn bản học cho văn bản Tuần Cai biệt thự hợp tập Song,

công việc này vẫn hoàn toàn cần thiết và có ý nghĩa vì thông qua việc tìm hiểu các chữ húy có trong quyển thơ 10, chúng ta đã đóng góp vào việc xác

định chữ húy của văn bản Tuần Cai biệt thự hợp tập A.2985

Để tìm kiếm các chữ húy trong quyển thơ 10, cách làm của chúng tôi như sau: Chúng tôi đối chiếu toàn bộ danh sách chữ Hán khác nhau của quyển thơ số 10 (tính thêm cả các chữ Hán ở các đề mục, các chú thích có trong văn

bản) với Bảng tra tên húy và chữ húy các triều đại Việt Nam do Ngô Đức Thọ

xác lập (tất nhiên, chúng ta sẽ chỉ quan tâm đến những chữ húy của triều nhà Nguyễn) Việc đối chiếu cho chúng ta kết quả một tập hợp các chữ Hán có khả năng thuộc dạng chữ húy của văn bản quyển thơ 10 Nói chung, chúng ta cũng có thể biết được chủ nhân, thời đại của những chữ húy đó Ở đây, chúng tôi quan tâm chủ yếu đến thời đại của chữ húy và phương diện kiêng tự dạng (mà không phải kiêng âm) - đó có khả năng trở thành những dấu hiệu xác định niên đại văn bản

Những bài thơ trong quyển 10 của Quân Bác có niên đại năm 1860 Lệnh kiêng húy gần nhất so với năm 1860 trở về trước là lệnh kiêng húy năm Tự Đức 4 (1851) Chúng ta loại trừ các trường hợp sau:

- Loại trừ những chữ đã đưa vào diện kiêng húy rồi lại bỏ ra ngoài qui

định kiêng húy trước năm 1851: chữ hoa - Lệnh kiêng húy lần thứ nhất năm

Thiệu Trị 1 - năm 1841 qui định thuộc diện chữ húy, nhưng chỉ sau đó không lâu, trong lệnh kiêng húy lần thứ hai cũng năm ấy, chữ này được qui định

không phải viết bớt nét nữa; hoặc chữ thuần - Năm 1820 qui định chữ húy

kiểu viết gia dạng, đến năm 1825 bãi bỏ lệnh kiêng húy với chữ này…

Trang 21

- Loại trừ những chữ húy thuộc diện kiêng âm như cảo : Lệnh kiêng

húy năm 1836 qui định chữ vẫn được dùng, khi đọc tránh sang âm “cáo”, năm

1851 nhắc lại lệnh cũ; chữ lan : Là chữ húy từ năm 1820, đến lệnh kiêng húy tháng bảy năm 1825 đưa vào diện kiêng âm; chữ hồng : Là chữ đồng

âm với , lệnh kiêng húy sau khi vua Tự Đức lên ngôi qui định chữ đồng âm khác chữ vẫn được dùng, khi đọc tránh âm

Như vậy, những chữ húy vẫn còn giá trị đến 1860 là: hồng , tuyền ,

vinh (a)

Đối với những chữ bắt đầu từ lệnh kiêng húy năm 1861 - là lệnh kiêng húy gần nhất tính trở về sau so với năm 1860, chúng ta loại trừ trường hợp

thuộc diện kiêng âm mà không cấm dùng là các chữ đường (chữ húy thời vua

Đồng Khánh): , (chữ đồng âm khác dạng, làm văn không phải viết bớt

nét) , (chữ đồng âm có thiên bàng chữ đường, làm văn không phải viết

bớt nét) Các chữ còn lại, chúng ta phân biệt làm hai nhóm:

(b 1) Các chữ nằm trong 47 chữ húy theo lệnh kiêng húy năm Tự Đức thứ

14 (1861) [25] gồm: an , cần , đặc , đôi , hiểu , thư , tùng ,

viên Ta thấy đây đều là những chữ lần đầu công bố về kiêng húy

(c) Các chữ húy theo lệnh kiêng húy sau thời Tự Đức: anh , chiếu ,

“dũng”), nhưng thơ phú vẫn theo vần bằng trắc của chính âm và viết bớt nét”

[25] Chữ cũng được đưa vào bảng kê 47 chữ húy theo lệnh năm 1861 Tuy

nhiên, chữ dung này được qui định là chữ húy trong hai lệnh trên với hai lí do

Trang 22

khác nhau Như thế, có thể xếp chữ dung của đợt kiêng húy 1841 vào nhóm

(a), còn chữ dung của đợt kiêng húy 1861 vào nhóm (b2) - là nhóm chữ thuộc lệnh kiêng húy 1861 nhưng đã có lệnh công bố kiêng húy trước đó

- lan : Được qui định là chữ húy từ thời Gia Long nhưng đến năm

1833 thì có lệnh bỏ việc viết gia dạng cho chữ húy này Năm 1861, được liệt

là một trong 47 chữ húy Vậy, chúng ta nên xếp chữ lan này vào nhóm (b2)

- thì : Là chữ húy kiêng tên chính thức của vua Tự Đức, được qui

định ngay trong lệnh kiêng húy đầu tiên của vua Tự Đức, chuẩn định chữ thì viết đổi dạng thành chữ tự (nhưng tùy theo văn nghĩa có thể dùng chữ khác

cho thích hợp) Lệ kiêng húy thời Thành Thái tiếp tục thực hiện định lệ của

triều Tự Đức, một trong mấy qui định kiêng húy chữ thì là đổi dạng sang chữ

tự hoặc chữ thìn Chữ này xếp vào nhóm (a)

- tần : Lệnh kiêng húy 1825 qui định là chữ phải kiêng âm, sau đó

chữ được liệt vào 47 chữ kiêng húy theo lệnh năm 1861 Chúng ta xếp trường

hợp này vào nhóm (b 2)

Như vậy, về chữ húy trong quyển thơ 10, có thể hình dung qua bảng sau:

Xem xét văn bản quyển thơ 10, chúng ta thấy rằng các chữ Hán thuộc nhóm (b1), (b2), (c) của bảng trên đều không được viết dạng húy Như vậy phần văn bản quyển thơ 10 về cơ bản đã không viết theo lệ kiêng húy sau năm

1861 Trong 5 chữ của nhóm (a):

- 2 chữ “hồng” và “tuyền” được viết kiêng húy theo lối bớt nét

- Chữ “thì” được viết theo lối đổi sang chữ khác Có một điểm đáng chú

ý là theo lệ kiêng húy thời Tự Đức, chữ “thì” khi viết húy phải đổi sang chữ

“tự ”, hoặc căn cứ vào ngữ cảnh để đổi dùng chữ khác cho phù hợp Việc

Trang 23

húy chữ “thì” bằng cách đổi sang viết chữ “thìn ” là qui định thời Thành

Thái Chúng tôi đã tìm trong Từ nguyên, chữ thìn có một nghĩa là “thời khắc,

thời vận , ”, bản thân chữ thời cũng có một nghĩa là “thời thìn

- có thể thấy hai chữ này có mối quan hệ rất gần gũi về ý nghĩa từ vựng Như thế có thể suy đoán rằng từ thời Tự Đức, khi kiêng húy chữ “thì”, dựa vào văn

cảnh (chẳng hạn trong câu thơ của Quân Bác: Dạ thâm bất tỉnh lai thời lộ

- Đêm thâm, không biết đã đi tới đường quen), nếu chữ có ý nghĩa chỉ thời gian thì người ta có thể lấy chữ “thìn” viết thay cho chữ “thì” (mà không nhất thiết chỉ có một cách kị húy là đổi dạng sang chữ “tự ” Lệnh kiêng húy đời Thành Thái qui định cải dạng “thì ” sang “thìn ” có

lẽ chỉ là sự văn bản hoá, qui phạm hoá một thói quen viết kiêng húy đã có từ trước (!)

- Văn bản quyển thơ 10 không viết kiêng húy 2 chữ “vinh” và “dung” (Chữ “dung” thuộc dạng kiêng húy chữ đồng âm, chữ “vinh” thuộc dạng chữ

có thiên bàng gần giống chữ húy) Chúng tôi chưa giải quyết được hiện tượng này trong khuôn khổ đề tài khoa học đang tiến hành Song, có mấy thông tin liên quan, nhân đây cũng xin ghi lại: Theo Ngô Đức Thọ, các lệnh bỏ viết kiêng húy với các chữ húy đồng âm chỉ xảy ra sớm nhất vào thời Đồng Khánh (trong lệnh kiêng húy tháng 3 năm 1886) và hiện tượng kiêng húy không triệt

để là diễn ra từ thời Thành Thái

Điều chúng ta tìm kiếm là niên đại của văn bản quyển thơ 10, cũng tức là

văn bản Tuần Cai biệt thự hợp tập Nếu như hiện tượng chữ húy như chúng tôi đã trình bày là phổ biến trên toàn văn bản Tuần Cai biệt thự hợp tập

(A.2985) thì niên đại văn bản có thể rơi vào những năm Thành Thái, điều này lại rất phù hợp với việc húy chữ “thì” bằng cách đổi sang chữ “thìn” - là cách kiêng húy thời Thành Thái Còn giả như có những thông tin văn bản học khác khả tín chứng minh được rằng văn bản A.2985 nhất định ra đời sớm hơn thời Thành Thái, thậm chí là sớm hơn thời Đồng Khánh thì từ hiện tượng chữ húy

Trang 24

của văn bản, chúng ta có thể xem xét lại vấn đề kiêng húy không triệt để có thể xảy ra sớm hơn nhiều so với những năm Thành Thái hay không?

1.5 Ai khắc in? Khắc in khi nào, là lần đầu hay khắc lại (trùng thuyên)?

Hiện nay, chúng tôi hầu như chưa có đủ căn cứ để trả lời những câu hỏi này Để giải đáp được vấn đề, chúng ta còn phải khảo sát thêm nhiều công đoạn nữa, chẳng hạn vấn đề ấn loát sách vở của triều Nguyễn, vấn đề tự dạng của văn bản…, thậm chí cần phải tìm hiểu lại về hệ thống dòng tộc của Nguyễn Phúc Hồng Y (biết đâu trong tư gia của một hậu duệ nào đó vẫn còn lưu giữ gì đó về Quân Bác và thi tập, văn phẩm của ông!) Ngoài những thông tin văn bản học kể trên, trong quyển thơ 10, chúng tôi còn thấy một hiện

tượng rất có thể liên hệ với việc đoán định thời gian được khắc in của Tuần

Cai biệt thự hợp tập: Đó là việc một số vị trí chữ Hán bị thay thế bởi các ô

vuông đen (Xin xem cột 4, tờ 3a và cột 6, tờ 4b, phần Phụ lục 1) Nếu lướt

qua bản A.2985, chúng ta có thể nhận thấy hiện tượng này không riêng có ở phần văn bản quyển thơ 10 và qua tham khảo, chúng tôi còn biết rằng những

ô vuông đen kiểu đó cũng không chỉ có ở văn bản Tuần Cai biệt thự hợp tập

Tháng 3 vừa qua (năm 2004), nhóm sinh viên lớp Hán Nôm K45 với sự hướng dẫn của thầy giáo Nguyễn Văn Thịnh khi vào Huế khảo sát và thực tập

đã tiếp cận và dập in lại toàn bộ số ván khắc còn lại của văn bản Vi Dã hợp

tập - tác giả Tuy Lí vương Miên Trinh (Hiện nay, toàn bộ số ván khắc được

lưu giữ tại phủ Tuy Lí vương, đường Nguyễn Sinh Cung, thành phố Huế)1 Trong văn bản này, cũng có không ít những ô vuông đen Chúng tôi đã đến

1 Cùng đợt làm khoá luận tốt nghiệp của khoá Hán Nôm K45 của chúng tôi, anh Thái

Trung Sử (sinh viên lớp Hán Nôm K45) đang thực hiện đề tài Khảo sát hệ thống văn bản

Hán Nôm tại khu di tích phủ Tuy Lí vương, trong đó anh đã dành nhiều công phu cho việc

giới thiệu văn bản Vi Dã hợp tập Anh cũng là một trong những người trực tiếp tham gia vào việc dập in lại bộ ván khắc Vi Dã hợp tập mà chúng tôi đang nói tới Nhân đây, chúng

tôi chân thành gửi lời cảm ơn anh Sử và tập thể nhóm thực tế tại Huế tháng 3/2004 đã cung cấp cho khoá luận của chúng tôi những thông tin quí báu

Trang 25

hỏi nhóm sinh viên trực tiếp vào khảo sát và in dập lại bộ ván khắc này và được biết: Nếu quan sát trên bản ván khắc thì thấy rằng có những chỗ chữ bị khắc sai, người thợ khắc đã dùng bào bạt đi, có chỗ được gắn lại bằng một chữ khác, có chỗ chỉ được gắn lại bằng một miếng gỗ vuông nhỏ Chính những chỗ được gắn lại bằng miếng gỗ vuông nhỏ như vậy đã tạo nên những

ô vuông đen trên văn bản in ra Như vậy chắc chắn rằng các ô chữ bị bôi đen không liên quan gì đến việc “kiêng húy”

Chúng tôi đem đối chiếu những chỗ khuyết này với bản viết A.377 thì chỉ tìm được lời giải đáp cho một vị trí: Đó là vị trí ở cột 6, tờ 4b, ô vuông đen đó là chữ “minh ”, còn vị trí ở cột 4, tờ 3a thì bị bỏ trắng (mà nếu nhìn qua có thể nhầm với khoảng trống biểu thị sự “du cách” hay vẫn gọi là “đài” chữ) Nếu như chữ “minh” là đúng (mà thực tế chữ “minh” tỏ ra rất phù hợp với ngữ cảnh của nó) thì càng có thể khẳng định rằng việc xuất hiện các ô đen chắc chắn không vì lí do “kiêng húy” Vấn đề là ở chỗ, nếu như văn bản viết A.377 khôi phục được một ô vuông bôi đen thì hẳn là bản viết này đã chép lại

từ một bản nào đó đầy đủ hơn và là bản khác với A.2985 Chúng tôi còn chờ

đợi việc nghiên cứu sâu trên toàn diện Tuần Cai biệt thự hợp tập và những

thông tin văn bản khác thu được từ bản viết tay đang lưu giữ ở nhà ông Nguyễn Quí Tiết (Thành phố Huế), vì qua việc đối chiếu sự thiếu hay đủ của các vị trí ô vuông đen, chúng ta có hi vọng xác định được sự sớm muộn, trước

sau của các văn bản Tuần Cai biệt thự hợp tập

*

* *

Đến đây, chúng ta có thể rút ra mấy nhận xét về văn bản Tuần Cai biệt

thự hợp tập - chúng tôi muốn nói đến văn bản in, là văn bản chúng ta đang

quan tâm nghiên cứu:

- Đây là một văn bản tương đối đầy đủ, nói chung còn nguyên vẹn Chữ nghĩa rõ ràng, bố cục trình bày sáng sủa, trật tự, thống nhất

Trang 26

- Nội dung văn bản được xác định chắc chắn trên các khía cạnh: Tác giả (Nguyễn Phúc Hồng Y - Quân Bác), thời gian ra đời của tác phẩm (trong đó, quyển thơ 10 được xác nhận là những sáng tác của Quân Bác năm 1860), người biên tập hiệu đính (Nguyễn Phúc Ưng Hinh, con trưởng của Hồng Y)

- Dĩ nhiên, do phạm vi nghiên cứu thu hẹp trong quyển thơ 10,

do điều kiện thời gian và tư liệu, còn khá nhiều vấn đề mà chúng tôi đang để ngỏ Quan điểm của chúng tôi là phần nào giải quyết được ngay thì giải quyết cho triệt để, phần nào chưa giải đáp được ngay thì ghi lại để tham bác ý kiến

và xin chỉ dẫn của mọi người

2 Quyển thơ số 10 với những quyển thơ khác

2.1 Lí do chọn tìm hiểu về quyển thơ 10 trong Tuần Cai biệt thự hợp tập

Cho đến nay, những gì chúng ta biết về Hồng Y Quân Bác chủ yếu là từ

lời tựa) trong bản dịch Đại Nam liệt truyện là tác phẩm đầu tiên của Quân Bác

được “công bố và xuất bản” (theo quan niệm của ngành “văn bản học”) Nhân

đây, chúng tôi cũng lưu ý rằng bài “Thị học tụng” được đưa vào Bích Ung

Trong công tác công bố tác phẩm Hán Nôm, có nhiều phương thức: Hoặc là công bố toàn bộ (với hình thức tổng tập, hợp tập), hoặc là công bố từng bộ phận Công bố từng bộ phận di sản thơ văn của một tác gia văn học có thể chọn khảo sát, dịch thuật theo hướng tác phẩm tiêu biểu cho từng mảng nội dung đề tài, từng thể loại, từng giai đoạn sáng tác… hoặc đi chuyên biệt vào

1 Bích Ung canh ca hội tập là một tổng tập văn thơ của 54 tác giả thời Tự Đức, trong đó

có tác giả Nguyễn Phúc Hồng Y Quân Bác Đầu năm Tự Đức 7, nhân dịp đi thăm nhà Thái học, vua Tự Đức đã ngự chế 14 bài thơ, rồi giao xuống cho các học thần, Nho thần, sinh viên ở Giám làm thơ hoặc tụng dâng lên, sau đó vua cho lựa chọn những bài xuất sắc tập

hợp in thành sách gọi là tập Bích Ung canh ca [9]

Trang 27

Biểu đồ số lượng các bài thơ trong mỗi quyển của "Tuần Cai biệt thự thi sao"

0

19 19 23 17 14

38

43 44

29 33

18 17 22

Căn cứ vào mục lục của Tuần Cai biệt thự thi sao và kiểm định lại trong

văn bản thực tế, chúng tôi đã có trong tay con số các bài thơ (gồm đủ đề mục

và nội dung) của 25 quyển thơ của Quân Bác Từ năm 18 tuổi (1851) đến năm

43 tuổi (1876), Quân Bác đã có 764 bài thơ1 còn được chép lại với đủ các thể loại cổ thể (như ngũ cổ, thất cổ, bài luật, lục ngôn, tứ ngôn…), kim thể (thất luật, ngũ luật, thất tuyệt, ngũ tuyệt) Chúng ta hãy theo dõi biểu đồ sau đây:

Biểu đồ cho chúng ta biết Quân Bác sáng tác thơ tương đối đều đặn qua các năm, tất cả các bài thơ của Quân Bác trong mỗi năm được chép thành một quyển Quân Bác đã có thơ thành “quyển” từ năm 18 tuổi cho đến năm 43 tuổi

1 Ở đây, khi tính đơn vị bài, chúng tôi coi mỗi một bài như một “thủ ” ngày trước, tức

là một chùm bài thơ 5 bài có cùng đề tựa thì sẽ được tính là 5 đơn vị bài thơ

Trang 28

- trước khi qua đời 1 năm Nguyễn Phúc tộc thế phả chép rằng Hồng Y mất

ngày 11 tháng 1 năm Đinh Sửu (1877) [12], như vậy là thi tập của Quân Bác chỉ kết thúc trước ngày ông qua đời một thời gian rất ngắn (có lẽ nhiều nhất cũng chỉ chừng một hai tháng, vì bài thơ số 23 trên tổng số 26 bài thơ của quyển thơ cuối cùng của Quân Bác là bài “Đông dạ thán ” - Đêm đông cảm thán) - Điều này có nghĩa là khi quyển thơ cuối cùng của Quân Bác khép lại thì cũng

là lúc thời gian chuyển đến quá mùa đông của năm 1876 Chỉ có một điểm nghi

vấn là vì sao trong một tập thi ca trật tự, đều đặn và liên tục như Tuần Cai biệt

thự hợp tập mà lại có sự gián đoạn đột xuất - đó là vào năm 1863 (khi Quân

Bác 30 tuổi), chúng ta không tìm thấy thơ của ông sáng tác trong năm này Có thật sự là trong năm đó, Quân Bác không hề sáng tác một bài thơ nào? Hay có khả năng là những sáng tác thơ của Quân Bác năm 1863 đã bị thất tán chăng? Điều lạ là trong mục lục, cả trong thi tập không hề có một thông tin nào nói cho chúng ta biết về sự gián đoạn này Bởi vì, nếu quả thật quyển thơ này bị thất lạc thì khi quyển thơ sáng tác năm 1862 là quyển 12, quyển thơ sáng tác năm 1864 phải là quyển 14 Chúng tôi đã nghĩ đến khả năng có thể rằng thơ của Quân Bác sáng tác trong hai năm bị nhập lại làm một chăng? Bài thơ thứ hai của

quyển 13 (sáng tác năm Giáp Tí 1864) có tựa đề là Giáp Tí nguyên tịch hàn vũ

phó Thương Sơn tiên sinh chi ước qui tác

(Mưa lạnh đêm đầu năm Giáp Tí, đến chỗ Thương Sơn tiên sinh theo hẹn, khi trở về làm bài thơ này) - như vậy, là quyển 13 không chép thêm lên trước

nó một bài thơ nào thuộc về năm 1863 (!)

Chúng tôi có làm một phép tính, nếu theo đúng nguyên bản và tổng

số bài thơ có trong thực tế của thi tập thì số bài thơ trung bình cho mỗi quyển thơ là:

764 (bài) ÷ 25 (quyển) ≈ 30,6 (bài)

Nếu lấy số lượng bài thơ trung bình (30,6 bài) làm “mức” phân chia thì một điều khá thú vị là gần như các quyển thơ có số lượng các bài thơ thuộc

Trang 29

loại cao và các quyển thơ có số lượng các bài thơ thuộc loại thấp đã phân chia

25 quyển thơ của Quân Bác thành những “đoạn” khác nhau Như chúng tôi đã thể hiện trong biểu đồ, các cột sáng màu biểu hiện các quyển thơ có số lượng bài chưa đến 30 bài, các cột đậm màu biểu hiện các quyển thơ có số lượng bài nhiều hơn 30 bài Như vậy 25 quyển thơ của Quân Bác có thể chia thành 5

“đoạn”: Quyển 1 ! quyển 5, quyển 6 ! quyển 12, quyển 13 ! quyển 17, quyển 18 ! quyển 22, quyển 23 ! quyển 251

Như vậy, nếu nhìn trên số lượng bài thơ sáng tác trong mỗi năm, chúng ta nhận thấy “sức viết (sức sáng tác)” của Quân Bác dồi dào nhất là quãng thời gian từ 23 đến 29 tuổi Trong những năm 35 đến 40, 41 tuổi, lượng sáng tác của Quân Bác cũng khá lớn, nhưng không thể bằng được như trước nữa Điều

kì lạ là chính cái năm không có một quyển thơ nào - chính năm 1863 như một đường phân chia rạch ròi cho hai thời kì sáng tác của Quân Bác (đứng từ góc

độ số lượng tác phẩm) Vì sao có sự đối lập rõ rệt như vậy giữa hai giai đoạn trước và sau năm 1863: Một đằng thì số lượng sáng tác cực kì sung mãn (thậm chí là thời kì Quân Bác viết thơ nhiều nhất trong cuộc đời mình), một đằng thì

số lượng sáng tác cực kì khiêm tốn (mà có lẽ là ít hơn cả trong cuộc đời sáng tác thơ của ông) Chúng tôi căn cứ vào số liệu về các bài thơ trong mỗi quyển thơ để rút ra những nhận xét trên Giả như đi vào xem xét thêm về “độ dài hơi” của các sáng tác, đặc biệt là nghiên cứu cho ra “chất lượng” của các sáng tác trong mỗi giai đoạn ấy (sẽ rất tốt nếu biết chi tiết hơn về tiểu sử Quân Bác), trong điều kiện như vậy, chúng ta sẽ có nhiều cơ sở để hiểu rõ hơn về năm

1863 - một cái mốc ngẫu nhiên hay là có nguyên cớ thật sự!

Với tất cả những điều chúng tôi đã trình bày ở trên, câu hỏi vì sao khoá luận đã lựa chọn tìm hiểu quyển thơ 10 đã sáng tỏ Quyển thơ 10 là quyển thơ

1 Trong đoạn từ quyển 18 đến quyển 22, có quyển thơ 21 chỉ có 29 bài, nhưng chúng tôi khi so sánh với con số trung bình là 30 bài thì có thể dịch chuyển quyển 21 vào phân đoạn 18-22

Trang 30

có số lượng bài thơ nhiều nhất (51 bài) trong 25 quyển của Tuần Cai biệt thự

thi sao Đây cũng là quyển thơ nằm trong thời kì sáng tác “thịnh vượng nhất”

(đó là chúng tôi nói trên phương diện số lượng tác phẩm) của Quân Bác Mặt khác, thơ Quân Bác được sắp xếp theo trình tự thời gian, điều đó có nghĩa là thơ hẳn phải “lớn lên” cùng nhà thơ Quân Bác viết quyển thơ 10 năm ông 27 tuổi - ấy là thời kì một tuổi đời, một tuổi thơ đang đến độ sung mãn

2.2 Hồng Y Quân Bác năm 27 tuổi

Đến giờ thì thật khó mà biết được năm 27 tuổi, Hồng Y Quân Bác như

thế nào? Đại Nam liệt truyện, tư liệu sử duy nhất có ghi chép về Quân Bác mà

chúng tôi có được, đã ghi một việc năm 1854 - Quân Bác dâng bài “Thị học tụng” nhân dịp vua Tự Đức đi thăm nhà Thái học và một việc năm 1871 - Quân Bác được sai giữ chức Hữu Tôn nhân phủ Tôn Nhân Thế là từ năm

1854 đến năm 1871, ông không xuất hiện với một vai trò đặc biệt nào cả, không có trong một sự kiện nổi bật nào đủ để sách sử của triều đình phải chép lại Có lẽ là năm 1860, năm của quyển thơ 10, cũng “bình yên” như các năm khác trước và sau nó Cái số lượng bài thơ nhiều nhất (51 bài) thật ra không thể phản ánh một ý nghĩa gì đó thật điển hình Ý nghĩa của nó là hữu ích nhiều với người nghiên cứu làm thống kê chọn mẫu cơ giới thôi! Còn đối với bản thân Quân Bác, một năm làm được nhiều thơ hơn năm trước độ hai, ba bài thì cũng không là hiện tượng gì đặc biệt Tất nhiên, vẫn phải ghi nhận rằng tìm hiểu Quân Bác trong quyển thơ có số bài nhiều nhất, thuộc thời kì sáng tác nhiều nhất thì rõ ràng sẽ có nhiều cơ hội để đến gần nhà thơ hơn

3 Vấn đề dịch thuật và công bố văn bản quyển thơ 10

Trên cơ sở tìm hiểu các vần đề văn bản học của văn bản quyển thơ 10, chúng tôi đi vào khâu cuối cùng của công tác “công bố văn bản” - đó là khâu giải mã văn bản (thường quen gọi là “dịch thuật”) Chúng tôi thực hiện giải

mã toàn bộ 51 bài thơ thuộc quyển thơ 10 của Tuần Cai biệt thự hợp tập (bản

Trang 31

in A.2985) Khâu giải mã đối với văn bản Hán văn Việt Nam có ít nhất bốn yêu cầu: 1/ Khảo đính (đính chính các chỗ viết sai, phân biệt chữ viết sai và chữ kị húy, khôi phục những chữ còn thiếu trong khả năng tư liệu chứng minh được…) 2/ Phiên âm (chuyển ra cách đọc Hán Việt) 3/ Dịch nghĩa (chuyển dịch ra tiếng Việt phổ thông) 4./ Chú giải văn bản

Chúng tôi đã thực hiện lần lượt các bước như trên

- Có 2 chữ chép nhầm tự dạng, căn cứ vào ngữ cảnh, chúng tôi đã đính chính lại: Đó là chữ “bạng ” [cột 1, tờ 6b], nguyên bản chữ có tự dạng là , xét ngữ cảnh thấy phải là chữ “bạng ” (trong “bạng thai ”) Một chữ khác là chữ “sai ” [cột 5, tờ 16b], tự dạng trong nguyên bản là Cũng như trường hợp chữ , các từ điển (Khang Hi, Từ nguyên, Hán ngữ đại tự

điển…) đều không ghi tự dạng chữ Xem xét ngữ cảnh bài thơ (Bài thơ nói

về việc “Dùng trâm sắt vẽ lên vách”) thì có thể xác định chữ này chính là “sai

” bị nhầm tự dạng

- Ngoài các trường hợp trên, chúng tôi chưa làm công tác khảo dị, đối chiếu mọi từ ngữ của văn bản in A.2985 với các dị bản của nó (như bản viết A.377, bản chép tay lưu giữ ở Huế)

3.2 Phiên âm

Trong việc phiên âm ra cách đọc Hán Việt, chúng tôi thấy cần thiết nêu

ra mấy điểm như sau:

Trang 32

- Chữ có 2 âm đọc vẫn quen thuộc là thì và thời Trong phần thích

âm, Khang Hi tự điển dẫn Đường vận, Tập vận, Vận hội đều phiên là “

”, Từ nguyên chỉ rõ chữ thuộc thanh bình , vận “chi ” Như vậy chuyển

sang âm Hán Việt, chữ nên được đọc là “thì” Song ta biết rằng trong văn bản quyển thơ 10, chữ vốn viết kiêng húy chữ trong tên của vua Tự Đức, như thế, về cách đọc, người đương thời cần phải đọc tránh âm Chúng tôi nghĩ rằng chữ “thì” đọc thành “thời” có lẽ là từ sự kiêng húy của đời Tự Đức Rõ ràng là trong trường hợp như vậy, không nên bác bỏ cách phiên là “thì”, nhưng chúng tôi thấy cần thiết phiên là “thời”, bởi vì cách phiên đó đưa chúng ta về gần với ngữ âm đương thời, nhất là đây là chữ (cách đọc) trong văn bản thơ (thể loại sáng tác rất liên hệ với vấn đề ngữ âm, âm điệu)

- Chữ , chúng ta vẫn quen thuộc có hai cách đọc khan và khán Hán

Việt tự điển (Thiều Chửu) chỉ ghi một cách đọc khán, Từ điển Hán Việt (Đào

Duy Anh) ghi cả hai cách đọc, ở cách đọc khan giải thích rằng “cũng đọc là

không phân biệt Khang Hi tự điển, Từ nguyên cũng phân biệt cách đọc “bình thanh” (khan) và cách đọc “khứ thanh” (khán) Ở đây, chúng tôi không bàn

đến sự phát triển của chữ về mặt ngữ âm học Lí do chủ yếu phải nêu vấn

đề này là để xác định một cách phiên thống nhất Khang Hi tự điển cho rằng

hai cách đọc này có những lớp nghĩa thông nhau, nhưng không hoàn toàn

đồng nhất Từ nguyên xác định hai cách đọc với những ý nghĩa phân biệt rõ

rệt Trong khi đó, tiếng Hán Việt rõ ràng không phân biệt ngữ nghĩa của hai cách đọc này, tức là khi tiếp cận với nghĩa của từ khan/ khán, ta phải tổng

hợp nghĩa của cả cách đọc “bình thanh” và cách đọc “khứ thanh” Trong phần

phiên âm, chúng tôi chọn cách đọc khán (vì dầu sao các từ điển Hán Việt vẫn coi cách đọc này là chính hơn cách đọc khan) Chúng tôi chỉ đọc thành khan ở

những chỗ do yêu cầu về luật bằng trắc, về vận của thơ

Trang 33

- Đối với những chữ cần đọc chệch âm để “hiệp vần” khác như kim

! câm, kim ! câm, cấm ! câm, sơn ! san… thì khi phiên theo

âm đọc chệch, chúng tôi đều ghi kèm thêm chính âm của chữ

- Quyển thơ 10 có 12 chữ Hán có hai cách đọc Hán Việt xác định ý nghĩa khác nhau Chúng ta căn cứ vào ngữ cảnh cụ thể của chữ để xác định cách đọc Hán Việt Đó là các chữ canh/ cánh, chiếm/ chiêm, giáo/

3.3 Phiên dịch, chú giải văn bản và lập bảng tra từ ngữ

Chúng tôi đã thực hiện phiên dịch và chú giải toàn bộ 51 bài thơ của quyển thơ 101 Đây là lần đầu tiên thơ của Quân Bác được chuyển dịch ra

tiếng Việt hiện đại, mà việc lựa chọn phần thi phẩm của dịch thuật lại mang tính cơ giới (chọn dịch quyển thơ có số lượng bài thơ lớn nhất) Phương hướng làm việc như vậy qui định mấy đặc điểm sau đối với việc phiên dịch và

chú giải văn bản: Thứ nhất, tất cả ngôn ngữ thơ và phong cách thơ Quân Bác

thể hiện trong quyển thơ 10 đều trở thành mới mẻ trước công chúng ngày nay

Điều này sẽ khác hẳn nếu thực hiện chuyển dịch toàn bộ Tuần Cai biệt thự

hợp tập Bởi vì khi đó, chúng ta có cơ hội để nhận ra một thơ Quân Bác

những năm 27 tuổi khác biệt thế nào với những bài thơ của tuổi mười tám, hai

mươi hay khi đã ngoài “tứ tuần”… Thứ hai, trong quyển thơ 10, ta thấy Quân

Bác đã viết rất nhiều thơ theo lối thù tụng, ứng hoạ Như vậy là cần thiết phải quan tâm đến cả thơ ca của những nhân vật xướng hoạ với Quân Bác Thật là thú vị khi chúng ta có thể tìm thấy khá đầy đủ tên tuổi của những nhân vật này và thi phẩm của họ, thậm chí là không khó khăn để tìm thấy những bài thơ họ sáng tác cùng năm 1860 với Quân Bác Đó là vua Tự Đức, là Thương

1 Chúng tôi trình bày toàn bộ văn bản đã được khảo sát, phiên âm, chuyển dịch, chú giải trong phần Phụ lục 2 của khoá luận

Trang 34

Sơn Miên Thẩm, là Vi Dã Miên Trinh… Thứ ba, về chú giải văn bản, có mấy

phân loại như: Chú giải nhân danh, chú giải địa danh, chú giải điển tích điển

cố, chú giải từ cổ, và đối với một quyển thơ tràn đầy không khí xướng hoạ (như chúng tôi sẽ chứng minh ở sau) thì không thể bỏ qua việc chú thích hoàn cảnh sáng tác của những bài thơ mang tính xướng hoạ đó

Khó khăn trong quá trình chú giải mà chúng tôi vấp phải cũng vẫn là những vấn đề thường gặp trong chú giải văn bản Hán Nôm Việt Nam, đó là chú giải tên người, tên đất Việt Nam Một số trường hợp chúng tôi đã giải quyết được dựa vào việc tham khảo chủ yếu ở các tập thơ văn của những người cùng thời, có quan hệ gần gũi với Quân Bác như Miên Trinh, Miên Thẩm Trong các hợp tập đó, chúng ta có thể tìm thấy nhiều chú giải của chính những tác gia này về tên người, tên đất của thời ấy Chúng tôi cho rằng nếu đi vào nghiên cứu đồng đại đối với thơ ca của Quân Bác và những tác gia cùng thời thì không chỉ hữu ích cho việc chú giải văn bản (như chúng tôi bước đầu đã vận dụng) mà còn đưa đến nhiều kết quả khoa học rất bổ ích

Về vấn đề lập bảng tra từ ngữ, chúng tôi sẽ nói ngay rằng bảng tra từ ngữ hoàn toàn không phải là một từ điển mà chỉ có dạng thức giống một từ điển

Sở dĩ như vậy là vì ngoài các “tự (chữ)” được thâu nhận vào bảng tra, chúng tôi còn đưa vào một khối lượng không nhỏ các từ ngữ hơn một âm tiết: Đó có thể là những từ ngữ đã gặp trong các từ điển Hán ngữ, cũng có thể là những cụm từ làm thành điển cố, và còn có cả những tổ hợp từ ngữ đã quen dùng trong văn chương cổ… Thể thức trình bày và chi tiết bảng tra từ ngữ được chúng tôi thể hiện trong phần Phụ lục của khoá luận Bảng tra từ ngữ được xác lập có sử dụng và tham khảo các nguồn tư liệu như:

- Từ ngữ trong 51 bài thơ chữ Hán của quyển thơ 10 thuộc Tuần

Cai biệt thự hợp tập

Trang 35

- Các bộ từ điển của Trung Quốc như: Từ nguyên,

Trung văn đại từ điển, Phật học thường kiến từ vựng…

- Các từ điển Hán Việt của Việt Nam: Hán Việt tự điển

(Thiều Chửu), Hán Việt từ điển (Đào Duy Anh)

- Các từ điển tiếng Việt: Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên),

Từ điển Phật học, Từ ngữ điển cố văn học (Nguyễn Thạch Giang, Lữ Huy

Nguyên)

- Các từ điển bản điện tử: V.2.2.2 (build:71) Phật học

Kim Sơn từ bá 2000 (http://ciba.kingsoft.net), HVH Từ điển 1.0

* * *

Trang 36

Chương 2:

BƯỚC ĐẦU TIẾP CẬN “TUẦN CAI BIỆT THỰ HỢP TẬP” (Q.10) VỚI TƯ CÁCH MỘT VĂN BẢN NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ

Lời dẫn

“Nhà thơ là người sáng tạo ngôn từ thơ của mình Từ đầu thế kỉ XX, cùng với F de Saussure, Bakhtine, Jakobson, Valéry, Mallarmé… đã khẳng định tác phẩm văn học là văn bản ngôn từ” [6] Trong chương 2 này, chúng ta

sẽ tìm hiểu một vài nét của văn bản quyển thơ 10 trên phương diện một văn

bản ngôn từ - một văn bản nghệ thuật thơ

Chúng tôi bắt đầu bằng một phép thử: Một mặt đọc toàn bộ 51 bài thơ của Quân Bác trong quyển thơ 10 và gạt bỏ đi tất cả các chú thích chú giải; một mặt đọc toàn bộ văn bản kèm theo mọi chú giải và bảng tra từ ngữ (mà chúng tôi đã thiết lập) Phép thử này sẽ xác định mức độ cần thiết về tính chất đồng đại của văn hoá kiến thức giữa nhà thơ và độc giả tiếp nhận Mảng văn hoá kiến thức này chính là nguồn gốc xây dựng nên “cái kho ngôn từ” của quyển thơ 10 - là đối tượng đang được xem xét

Từ quá trình giải mã văn bản và thiết lập bảng tra từ ngữ riêng cho quyển thơ 10, chúng ta dễ dàng có một danh sách sách vở đã cung cấp trực tiếp

“nguyên vật liệu” cho Quân Bác và những bài thơ của ông Đó là các sách vở

của Trung Hoa, trong đó bao gồm kinh điển Nho gia (Kinh Thi, Kinh Thư,

Kinh Lễ, Tả truyện, Luận ngữ, Mạnh Tử), sách vở Lão Trang (Lão tử Đạo Đức kinh, Trang Tử Nam hoa kinh), một ít tư liệu của nhà Phật, các tư liệu

chính sử Bắc phương (Chiến Quốc sách, Sử kí Tư Mã Thiên, Hậu Hán thư,

Cựu Đường thư…), thơ văn Trung Hoa qua các thời đại (Sở Từ, Cổ thi đời Lưỡng Hán, thơ đời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, thơ Đường, thơ từ đời Tống…)

Trang 37

và một số tư liệu liên quan các loại hình nghệ thuật khác như hội hoạ, thư pháp Trong quyển thơ 10, Quân Bác không dẫn dụng một dạng tư liệu nào của Việt Nam (chúng tôi muốn nói đến các thư tịch Hán văn Việt Nam của những giai đoạn trước đó) Như thế, ứng xử với nguồn tư liệu tri thức Trung Hoa, cụ thể là vốn từ ngữ Hán, chữ nghĩa Hán chuyển tải trong đó, lại tiếp nhận các hoàn cảnh cụ thể làm nảy sinh hành vi sáng tác thi ca, nhà thơ đã thực hiện thâu lọc và tái tạo qua lăng kính của chính bản thân mình - tức là qua sự “sáng tạo” của chủ thể nhà thơ

Khảo sát quyển thơ 10 với tư cách một văn bản nghệ thuật, một văn bản ngôn từ thực chất là xác định văn bản quyển thơ 10 với tích hợp của các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và thi pháp trong đối sánh với cá tính con người nhà thơ, môi trường lịch sử - địa lí - văn hoá và các yếu tố liên quan khác, mục đích nhằm vào tìm kiếm các hệ dấu hiệu, đặc trưng - trong đó cái nào là chung, là quen thuộc trong thơ ca viết bằng chữ Hán trung đại, cái nào là riêng, là lạ đối với dòng mạch đó Đó là phương diện lí thuyết Đối với văn bản quyển thơ 10, chúng ta rất khó xác định được đặc trưng chung hay riêng, phần vì văn bản là một “mẫu chọn cơ giới” để nghiên cứu (không phải toàn

bộ thi tập của Quân Bác); phần vì có rất ít các dạng văn bản thơ chữ Hán khác được xử lí cùng phương pháp để so sánh, đối chiếu Trước hết, chúng tôi sẽ đi vào mô tả những nét cụ thể của ngôn từ - ở đây là ngôn từ thơ - của văn bản quyển thơ 10 Chúng tôi cho rằng có khả năng xác định được một vài tính chất hay đặc điểm nào đó là sợi dây liên hệ của các biểu hiện cụ thể về ngôn

từ đã tìm được bằng những thao tác trên

Dù công việc giới thiệu, khảo cứu, phiên dịch, chú giải, công bố văn bản

quyển thơ 10 thuộc Tuần Cai biệt thự hợp tập là một yêu cầu chính của khoá

luận và chiếm nhiều thời gian, nhưng chúng tôi vẫn cố gắng, trong chương 2 này, khảo sát nó với tư cách là một văn bản nghệ thuật ngôn thuật ngôn từ Việc làm này của chúng tôi được khuyến khích bởi những kết quả ban đầu

Trang 38

qua hai Báo cáo khoa học với đề tài Vài nhận xét bước đầu về từ ngữ trong

Ức Trai thi tập của Nguyễn Trãi (qua số liệu thống kê) - Năm 2002 và Một số nhận xét về từ ngữ trong thơ chữ Hán Nguyễn Du (qua số liệu thống kê và bước đầu so sánh với thơ chữ Hán Nguyễn Trãi) - Năm 2003 Ở những báo

cáo đó, chúng tôi đã học tập cách làm của GS Nguyễn Tài Cẩn khi ông thực

hiện công trình Ảnh hưởng Hán Văn Lí Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn

Trung Ngạn Đồng thời, do yêu cầu của khoá luận tốt nghiệp, thời gian qua,

chúng tôi đã mạnh dạn tiếp cận thêm các tài liệu về ngôn ngữ thơ (bằng tiếng Việt và tiếng Trung Quốc) của các nhà nghiên cứu có uy tín như: Quách Tấn, Nguyễn Phan Cảnh, Trần Đình Sử, Cao Hữu Công, Mai Tổ Lân, Vương Lực Dẫu sao, đây cũng là tập sự bước đầu của một sinh viên, kết quả không tránh khỏi những hạn chế Tuy vậy, trong việc tìm hiểu phong cách nghệ thuật thơ chữ Hán trung đại, chúng tôi cố gắng tận dụng lợi thế của một sinh viên được đào tạo chính qui ở chuyên ngành Hán Nôm (khoa Văn học), điều mà những môi trường đào tạo khác không dễ có được Chúng tôi quan niệm đây cũng là một trọng tâm của khoá luận

1 Về thể loại, vần thơ và luật bằng trắc

Với quyển thơ 10, nhà thơ Quân Bác có 51 bài thơ cổ kim thể “Thể” tức

là thể loại 51 bài thơ được khảo sát bao gồm cả “cổ thể” và “kim thể” Theo

thi pháp xưa, căn cứ vào cách luật, thơ được chia thành thơ cổ thể và thơ kim

thể (hay còn gọi là thơ cận thể) Trước hết nói về vần thơ, luật bằng trắc của

Trang 39

1.1 Thơ kim thể - 13 bài ngũ luật và 14 bài thất luật

Thơ kim thể (cận thể) lấy “thơ luật” làm tiêu biểu Về vần thơ và các qui tắc bằng trắc, thơ luật có những qui định cụ thể Chẳng hạn thơ luật gieo vần bằng, yêu cầu đối với cả thơ ngũ luật, thơ thất luật cũng như trường luật Các qui tắc bằng trắc ở thơ luật được phân chia thành bốn loại cơ bản: Trắc khởi thức nhập vận (“Trắc khởi thức” tức là chữ thứ hai của câu đầu tiên rơi vào thanh trắc, “nhập vận” là câu thơ thứ nhất vần với câu thơ thứ hai - trong thơ luật, chỉ các câu hai, bốn, sáu, tám là bắt buộc phải gieo vần), trắc khởi thức bất nhập vận (“bất nhập vận” là câu thơ thứ nhất không vần với câu thơ thứ hai), bằng khởi thức nhập vận và bằng khởi thức bất nhập vận1

Trong 51 bài thơ của Quân Bác, về thơ ngũ luật, có 1 bài theo mô hình

trắc khởi thức nhập vận - bài 24; 12 bài còn lại là mô hình trắc khởi thức bất nhập vận, trong đó: 6 bài hoàn toàn theo đúng luật bằng trắc - bài 3, 16, 18,

23, 39, 49 và 6 bài có hoán chuyển so với luật bằng trắc - bài 5 và bài 17 và bài 21 và bài 4, 25, 50.2

Bài 5, câu 8:

Tiêu trướng vọng trúng xa

(Rầu rĩ trông về nơi xa) ○B T T T B3

Theo luật bằng trắc của mô hình trắc khởi thức bất nhập vận, câu 8 được qui định ○T T T B B (trong đó vị trí số 1 được phép hoán cải hoặc bằng hoặc

1 Xin xem thêm Vương Lực, Thi từ cách luật

2 Từ đây trở về sau của khoá luận, trong trích dẫn thơ Quân Bác, chúng tôi chỉ nêu số thứ tự của bài trong quyển thơ 10 Số thứ tự bài thơ cũng như các trích dẫn được rút từ phần Phụ lục 2 của khoá luận

3 Trong phần trình bày về luật bằng trắc, các kí hiệu B chỉ chữ đứng ở vị trí thanh bằng,

kí hiệu T chỉ chữ đứng ở vị trí thanh trắc, kí hiệu B hoặc T chỉ chữ đứng ở vị trí này có thể tùy biến bằng hoặc trắc Kí hiệu B hoặc T được in đậm nét chứng tỏ chữ đứng ở vị trí

đó đã phạm luật bằng trắc: hoặc Bằng bị biến đổi sang Trắc, hoặc Trắc bị biến đổi sang Bằng

Trang 40

trắc tùy ý) Chữ vốn có 2 âm đọc trung (thanh bằng) và trúng (thanh trắc) Khi đọc là trúng, chữ có nghĩa là hướng về, nhằm về đích Ở đây, ”vọng trúng

xa” có thể được liên hệ với cách diễn đạt tương tự như “xạ trúng ” (bắn trúng), “ngôn trúng ” (nói trúng vào) Như vậy, hoàn toàn có cơ sở để phiên trong ngữ cảnh này thành trúng Có điều thú vị là câu 8 này chắc

chắn đã thất luật về mặt ngữ âm, nhưng vẫn có thể coi là đúng luật trên phương diện chữ viết

Bài 17, câu 7:

Thư thanh nhất đăng bích

(Tiếng lật sách, bên ngọn đèn xanh biếc) B B T B T

Kiểu thức biến đổi bằng trắc này đã có tiền lệ từ thơ Đường và được phổ dụng như một loại bằng trắc đặc biệt1 Đối với thơ ngũ luật, dạng câu ○B B B

T T có thể biến đổi thành dạng thức như trên, khi đó chữ thứ nhất bắt buộc

phải là thanh bằng Chẳng hạn câu 3 - Dao liên tiểu nhi nữ

câu 7 - Hà thời ỷ hư hoảng bài Nguyệt dạ (Đêm trăng) của

Đỗ Phủ

Bài 21, hai câu đầu:

Hàn cụ bất nhập khẩu,

Nhiệt trường nan tự câm (cấm)

(Thức ăn lạnh chẳng ăn nổi, B T T T T

Nhưng ruột gan cồn cào khó cầm được) T B B T B

Mô hình hai câu đầu của kiểu trắc khởi thức bất nhập vận là: T T B B T,

B B T T B Trong nghiên cứu luật bằng trắc của thơ luật, người ta gọi trường

1 Về các kiểu thức Bằng Trắc đặc biệt của thơ luật, Vương Lực đã tổng kết trong cuốn

sách Thi từ cách luật của ông

Ngày đăng: 14/12/2021, 18:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng liệt kê trên đây chứng tỏ các hình ảnh thiên nhiên bên ngoài không  gian lầu gác, điện đài cũng xuất hiện với dung lượng đáng kể trong thơ Quân - 2004 unpublished BA thesis dch va gii
Bảng li ệt kê trên đây chứng tỏ các hình ảnh thiên nhiên bên ngoài không gian lầu gác, điện đài cũng xuất hiện với dung lượng đáng kể trong thơ Quân (Trang 59)
Bảng liệt kê từ ngữ có nội dung về: - 2004 unpublished BA thesis dch va gii
Bảng li ệt kê từ ngữ có nội dung về: (Trang 63)
Sơ đồ trên miêu tả cách tổ chức theo phương thức chuyển nghĩa có tính  chất  hoán  dụ,  trong  đó  chỉ  khi  ngư  thủy  và  quân  thần  được  liên  hệ  bằng  phương thức điển tích để tạo ra các nghĩa mới (khác tầng nghĩa của ẩn dụ đem  lại - chỉ tình gắn  - 2004 unpublished BA thesis dch va gii
Sơ đồ tr ên miêu tả cách tổ chức theo phương thức chuyển nghĩa có tính chất hoán dụ, trong đó chỉ khi ngư thủy và quân thần được liên hệ bằng phương thức điển tích để tạo ra các nghĩa mới (khác tầng nghĩa của ẩn dụ đem lại - chỉ tình gắn (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w