Cho đến nay, nhiễm HBV vẫn là một vấn đề y tế công cộng cần được đặc biệt quan tâm do tỉ lệ người nhiễm cao và hậu quả lâu dài của bệnh. Theo báo cáo của tổ chức y tế thế giới (WHO: World Health Organization2017) ước tính có khoảng 257 triệu người nhiễm HBV mạn tính 1, một nửa trong số đó là ở vùng dịch tễ lưu hành cao: phía Tây Thái Bình Dương, vùng Đông Nam Á, Trung Quốc, Châu Phi 2, 3. Nhiễm HBV mạn tính có thể dẫn tới viêm gan mạn tiến triển, tiến tới xơ gan và ung thư tế bào gan nguyên phát (HCC). Hàng năm ước tính có tới hàng triệu người tử vong do các bệnh liên quan đến HBV (riêng năm 2015 có tới 887000 người chết do các bênh liên quan đến viêm gan B) 1.Việt Nam nằm trong số những nước có tỉ lệ nhiễm virus cao dao động từ 10% đến 25% tùy từng khu vực dân cư và tỉ lệ lưu hành HBsAg giảm dần theo thời gian. Con đường lây truyền HBV chủ yếu là lây truyền dọc (từ mẹ sang con). Các bệnh nhân bị nhiễm trong thời kì chu sinh hoặc khi tuổi còn nhỏ dẫn tới khả năng trở thành viêm gan B mạn tính cao. Những bệnh nhân này chịu đựng suốt đời sự tương tác với vi rút nên dẫn tới tỉ lệ xơ gan và ung thư gan cao.Hiện nay, với sự ra đời của nhiều thuốc kháng virus: thuốc điều hòa miễn dịch (IFN PegIFN), thuốc uống nucleosit có tác dụng ức chế sự nhân lên của virus như lamivudine (LMV), entecavir (ETV), adefovir (ADV), tenofovir disoproxil fumarate (TDF), tenofovir alafenamide fumarate (TAF) đã góp phần khống chế bệnh và cải thiện chất lượng sống của bệnh nhân của bệnh, giảm tỉ lệ tử vong. Tuy nhiên lựa chọn thuốc nào để điều trị đạt hiệu quả cao, tránh sự đề kháng virus và giảm các tác dụng không mong muốn vẫn là vấn đề còn nhiều tranh cãi.Tenofovir disoproxil fumarate là một chất tương tự nucleosid và là tiền chất của tenofovir. Liên quan chặt chẽ với chất ức chế men sao chép ngược thường được sử dụng, cung cấp khả năng vận chuyển hoạt chất tới tế bào gan, làm giảm nồng độ TDF toàn thân 4. Tenofovir disoproxil fumarate (TDF) là thuốc được dùng phổ biến nhất trên toàn thế giới vì nó dễ sử dụng, ít độc tính, hiệu quả ức chế siêu vi B cao. Ở Việt Nam, TDF được đưa vào sử dụng từ năm 2008, tại Bệnh viện ĐKTP Vinh được đưa vào điều trị từ năm 2014 và đã được BHYT đưa vào danh mục thanh toán cho người bệnh. Ở Việt Nam đã có một vài nghiên cứu đánh giá hiệu quả của TDF trong điều trị viêm gan virus B mạn tính. Tuy nhiên, tại Bệnh viện ĐKTP Vinh hiện nay chúng tôi chưa ghi nhận nghiên cứu nào về thuốc TDF trong điều trị VGB mạn tính. Xét từ thực tiễn đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân được chẩn đoán là viêm gan virus B mạn tính, điều trị ngoại trú tại phòng khám 36, Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh trong thời gian từ tháng 1 năm 2019 đến hết tháng 12 năm 2020 theo tiêu chuẩn dưới đây:
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
+ Bệnh nhân được chẩn đoán viêm gan virus B mạn tính và có chỉ định điều trị bao gồm:
HBsAg (+) kéo dài trên 6 tháng
ALT tăng trên 2 lần giá trị bình thường hoặc có bằng chứng xác nhận có xơ hóa gan tiến triển/ xơ gan bất kể ALT ở mức nào
HBV DNA ≥ 10 5 copies/ml (20.000 IU/ml) nếu HBeAg (+) hoặc HBV DNA ≥ 10 4 copies/ ml (2.000 IU/ ml) nếu HBeAg (-)
Loại trừ những bệnh nhân ra khỏi nghiên cứu khi có những đặc điểm sau:
Đồng nhiễm với virus gây viêm gan C, đồng nhiễm HIV
Phụ nữ có thai và đang cho con bú
Bệnh nhân có tổn thương gan do nhiều nguyên nhân khác như: thuốc, hóa chất, rượu, bệnh gan tự miễn…
Bệnh nhân đang mắc bệnh cấp tính: nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn
Đã điều trị kháng virus trước đó bỏ trị hoặc thất bại điều trị
Bệnh nhân không tuân thủ điều trị
Bệnh nhân không hợp tác làm các xét nghiệm theo dõi trong quá trình điều trị.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm: Phòng khám 36, Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh
- Thời gian tuyển chọn bệnh nhân: từ tháng 1 năm 2019 đến tháng 12 năm 2020
+ Thời gian theo dõi: 12 tháng.
Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu loạt bệnh.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Từ tháng 1/20219 đến tháng 12/2020 có 212 bệnh nhân viêm gan B mạn tính điều trị tại phòng khám 36, Bệnh viện đa khoa thành phố Vinh Tuy nhiên, chúng tối thu thập được 105 mẫu đạt tiêu chuẩn đề ra và tham gia vào nghiên cứu
- Phương pháp chọn mẫu: Thuận tiện
Bệnh nhân viêm gan B mạn tính đến khám được phỏng vấn tiền sử bệnh, thăm khám lâm sàng, lấy máu xét nghiệm đủ tiêu chuẩn sẽ được tư vấn điều trị và chọn vào mẫu nghiên cứu
Các biến số nghiên cứu
a) Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
- Phân bố về tuổi, giới
Tuổi: Đối với viêm gan Virus B mạn tính cho thấy tuổi ≥ 40 là một trong những yếu tố cân nhắc điều trị sớm, đặc biệt đối với bệnh nhân có tiền sử gia đình bị xơ gan, K gan Ở bệnh nhân > 60 tuổi, cần theo dõi sát quá trình điều trị Vì vậy chúng tôi phân theo 3 nhóm tuổi:
+ 18 - 40 tuổi + 40 - 60 tuổi + ≥ 60 tuổi Giới: nam và nữ
- Hoàn cảnh phát hiện viêm gan virus B mạn tính: có triệu chứng (mệt mỏi, chán ăn, vàng da, vàng mắt…) hay không có triệu chứng (tình cờ phát hiện, đi khám sức khỏe)
- Tiền sử bản thân và gia đình:
+ Có vợ/chồng viêm gan B
+ Có anh chị em bị viêm gan B
+ Tổn thương do kim châm
+ Gia đình có người xơ gan
+ Gia đình có người K gan
+ Bản thân đã tiêm phòng
- Lâm sàng: mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, đau hạ sườn phải, vàng da vàng mắt, gan to, lách to, sao mạch, xuất huyết
- Cận lâm sàng: AST, ALT, Bilirubin toàn phần, bilirubin trực tiếp, công thức máu (HC, Hb, BC, TC), Tỷ lệ prothombin, ure, creatinin, HBeAg, HBV-DNA b) Nhận xét kết quả sau 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng điều trị
- Đáp ứng về sinh hóa: đánh giá tỷ lệ % ALT ≤ 40 IU/ml
- Đáp ứng về huyết thanh: chuyển đảo huyết thanh HbeAg ở những bệnh nhân có HbeAg (+)
- Đáp ứng về virus học
- Thay đổi độ đàn hồi của gan c) Mối liên quan giữa đáp ứng virus hoàn toàn, chuyển đảo huyết thanh với ALT, HBeAg, HBV-DNA d) Tác dụng không mong muốn của thuốc TDF
Bao gồm mệt mỏi, buồn nôn và nôn, đau bụng, rối loạn tiêu hóa, chướng hơi, chán ăn.
Công cụ và phương pháp thu thập thông tin
- Phương tiện thu thập số liệu: bệnh án mẫu (có kèm theo ở phần phụ lục)
- Bệnh nhân viêm gan B mạn tính đến khám được phỏng vấn tiền sử bệnh, thăm khám lâm sàng, lấy máu xét nghiệm đủ tiêu chuẩn sẽ được tư vấn điều trị và chọn vào mẫu nghiên cứu
- Bệnh nhân được điều trị TDF 300 mg 1 viên/ngày uống liên tục hàng ngày và định kì hàng tháng đến khám sẽ được bác sĩ hỏi tác dụng không mong muốn của thuốc và chọn vào nghiên cứu
CTM, GOT, GPT, Billirubin, ure, creatinine, GGT 3 tháng/ lần
Dấu ấn HBeAg, antiHBe, HBV DNA, siêu âm gan 6 tháng/ lần
- Bệnh nhân được quản lý bằng bệnh án ngoại trú.
Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá (nếu có)
- Đáp ứng lâm sàng: hết các triệu chứng lâm sàng (đánh giá bằng hỏi bệnh và thăm khám lâm sàng)
- Đáp ứng sinh hóa: giảm ALT trong huyết thanh tới giới hạn bình thường (≤ 40UI/37 0 C)
- Đáp ứng vi rút học: tải lượng HBV-DNA huyết tương giảm đến nồng độ không xác định được bằng phương pháp PCR
- Đáp ứng huyết thanh: Mất HBeAg ở những bệnh nhân ban đầu dương tính với HBeAg và xuất hiện AntiHBe
- Đáp ứng hoàn toàn: khi có đầy đủ các tiêu chuẩn về sinh hóa, mức đáp ứng vi rút và mất HBsAg
- Bùng phát vi rút học: khi lượng HBV-DNA tăng trên 1log10 IU/ml so với lượng HBV-DNA khi có đáp ứng điều trị ban đầu.
Xử lý và phân tích số liệu
Các thông tin được thu thập theo mẫu bệnh án (phụ lục) Dữ liệu sau khi được thu thập sẽ được kiểm tra và nhập vào máy tính bằng phần mềm spss20.0 và phân tích số liệu bằng phần mềm Spss20.0 Tỷ lệ phần trăm, trung bình, trung vị và độ lệch chuẩn của các chỉ số sẽ được tính toán Để so sánh giữa hai nhóm bệnh HBeAg, mối liên quan giữa tỉ lệ đáp ứng vi rút, chuyển đảo huyết thanh với các yếu tố ALT, HBeAg, tải lượng HBV-DNA ban đầu chúng tôi sử dụng test T.Test cho các biến định tính.
Sai số và cách khắc phục
2.9.1 Sai số Đây là thiết kế sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả kết hợp hồi cứu, thu thập thông tin trong quá khứ nên có thể gặp sai số nhớ lại
Việc thu thập thông tin chủ yếu qua bộ câu hỏi được thiết kế sẵn nên có thể gặp sai số do kỹ năng của người thu thập
2.9.2 Cách khắc phục sai số
Phiếu điều tra được thiết kế cẩn thận, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ thu thập thông tin
Thử nghiệm và chỉnh sửa phiếu điều tra trước khi thu thập số liệu chính thức
Giám sát chặt chẽ trong quá trình thu thập số liệu Những phiếu điều tra ban đầu được giám sát và hỗ trợ
Những phiếu điều tra được đánh giá là không có độ tin cậy cao vì các lý do khác nhau được kiểm tra và phỏng vấn lại
Tư vấn cho bệnh nhân sự cần thiết về các cận lâm sàng cần thiết để theo dõi quá trình điều trị bệnh.
Đạo đức trong nghiên cứu
Việc tiến hành nghiên cứu có sự xin phép và được sự đồng ý của Ban Giám Đốc Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh
Các thông tin thu thập được từ bệnh nhân chỉ được dùng với mục đích nghiên cứu và giữ bí mật thông tin bệnh nhân.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
Biểu đồ 3.1: Phân bố theo giới (n = 105) Nhận xét: Bệnh nhân nam gặp nhiều hơn nữ giới chiếm 66,7%
Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi (n 5)
- Nhóm tuổi hay gặp nhất là từ 18-40 tuổi chiếm 51,4%, nhóm tuổi ít nhất là ≥ 60 tuổi chỉ chiếm 10,6%
- Tuổi bệnh nhân cao nhất trong nghiên cứu là 72 tuổi, thấp nhất là
Bảng 3.1: Hoàn cảnh phát hiện của các đối tượng nghiên cứu (n 5)
Có triệu chứng (chán ăn, vàng da…) 30 28,5
Nhận xét: Hơn 2/3 số bệnh nhân không có triệu chứng khi đến khám (71,5%), bệnh nhân phát hiện bệnh khi đi khám sức khỏe định kỳ, hoặc đi kiểm tra lại
Bảng 3.2 Tiền sử gia đình (n= 105)
Có vợ/chồng viêm gan B 4 3,8
Có anh chị em bị viêm gan B 13 12,4
Tổn thương do kim châm 2 1,9
Gia đình có người xơ gan 8 7,6
Gia đình có người K gan 14 13,3
Bản thân đã tiêm phòng 7 6,7
- Tỷ lệ gặp cao nhất là tiền sử trong gia đình có người K gan (bố, mẹ, anh, chị, em, ông, bà) chiếm 13,3%
- Tổn thương do kim châm chiếm tỉ lệ thấp nhất 1,9%
3.1.4 Đặc điểm cận lâm sàng trước điều trị
Bảng 3.3 Một số chỉ số cận lâm sàng trước điều trị (n = 105) Đặc điểm Mean Min Max p
Nhận xét: các chỉ số trung bình của Bạch cầu, Hồng cầu, Hemoglobin,
Tiểu cầu, Creatinin, BilTP, Albumin, Prothrombin trước điều trị đều nằm trong giá trị bình thường Nồng độ trung bình AST, ALT, GGT cao gấp hơn 2 lần giới hạn trên, độ xơ hóa gan trung bình ở mức cao 11,86 kPa
Bảng 3.4 Phân bố bệnh nhân VGB mạn tính theo HBeAg (n5) n Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Số lượng bệnh nhân có HbeAg (+) là 60 bệnh nhân chiếm
57,1%, bệnh nhân có HbeAg (-) chiếm 42,9%
Bảng 3.5 Phân bố một số chỉ số cận lâm sàng theo tình trạng HBeAg
HBeAg (+) HBeAg (-) Tổng p n Tỷ lệ
- Ở nhóm bệnh nhân HbeAg(+) có chỉ số ALT, AST, HBV DNA cao hơn so với nhóm HbeAg(-)
- Số lượng bệnh nhân có tải lượng HBVDNA < 6 log chỉ chiếm 21,9%, bệnh nhân có HBVDNA > 8 log chiếm đến 32,4% Nếu tính riêng, số lượng bệnh nhân có tải lượng HBV DNA >8 log ở nhóm bệnh nhân có HbeAg (+) cao hơn một cách rõ rệt so với nhóm bệnh nhân có HbeAg (-).
Kết quả điều trị
Bảng 3.6 Đáp ứng sinh hóa theo thời gian (n5) Giá trị
Nhận xét: Ngay tại thời điểm điều trị được 3 tháng, nồng độ AST,
ALT đã giảm có ý nghĩa thống kê so với trước điều trị Khi điều trị đến tháng thứ 6 thì có đến trên 93% bệnh nhân có nồng độ AST, ALT trong giới hạn bình thường
Bảng 3.7: So sánh đáp ứng sinh hóa giữa 2 nhóm HbeAg (+) và HbeAg(-)
- Tại thời điểm 3 tháng điều trị số lượng bệnh nhân được bình thường hóa AST, ALT ở nhóm HbeAg (-) cao hơn có ý nghĩa so với nhóm có HbeAg (+)
- Tại thời điểm 6 tháng, sự khác biệt giữa hai nhóm có HbeAg (-) và HBeAg(+) không có ý nghĩa thống kê
3.2.2 Đáp ứng về huyết thanh
Bảng 3.8 Đáp ứng huyết thanh ở những bệnh nhân có HbeAg(+)
Có chuyển đảo huyết thanh n Tỷ lệ (%) n Tỷ lệ (%)
Nhận xét: Tỷ lệ chuyển đảo huyết thanh HbeAg ở những bệnh nhân có
HbeAg (+) sau 06 điều trị là 8,3%, sau 12 tháng điều trị là 11,7%
3.2.3.1 Đáp ứng vi rút theo thời gian điều trị
Bảng 3.9 Diễn biến tải lượng HBV-DNA theo thời gian (n5)
Nhận xét: Ngay tại thời điểm 6 tháng điều trị tải lượng HBVDNA đã giảm có ý nghĩa so với trước điều trị, có 1 bệnh nhân nào có tải lượng HBVDNA ≥ 4 log Sau 12 tháng điều trị 100% bệnh nhân có tải lượng vi rút dưới ngưỡng, không có bệnh nhân nào có tải lượng HBVDNA ≥ 4 log
3.2.3.2 Liên quan giữa đáp ứng virus với một số yếu tố
Bảng 3.10: Liên quan đáp ứng vi rút tại thời điểm 6 tháng điều trị với độ xơ hóa gan ban đầu (n5)
Nhận xét: Không có sự khác biệt về đáp ứng vi rút tại thời điểm 6 tháng điều trị giữa các nhóm xơ hóa gan khác nhau ban đầu
Bảng 3.11 Liên quan giữa đáp ứng vi rút ở tháng thứ 6 với HbeAg ban đầu (n = 105)
HbeAg(+) HbeAg(-) Tổng p n Tỷ lệ
Nhận xét: Tại thời điểm 6 tháng điều trị, đáp ứng vi rút giữa 2 nhóm
HbeAg (+) và HbeAg (-) không có sự khác biệt
3.2.4 Một số tác dụng không mong muốn của TDF
Bảng 3.12: Diễn biến Creatinin theo thời gian
Nhận xét: Điều trị bằng TDF không làm tăng nguy cơ suy thận
Bảng 3.13: Diễn biến bạch cầu theo thời gian
Nhận xét: Thuốc TDF điều trị viêm gan B mạn tính không làm giảm bạch cầu
Bảng 3.14: Một số tác dụng không mong muốn khác
Buồn nôn, nôn 3 2,9 Đau cơ xương 3 2,9
Nhận xét: Tác dụng không mong muốn của TDF ít gặp như mệt mỏi, buồn nôn, nôn, đau cơ xương khớp, ban dị ứng
BÀN LUẬN
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trước điều trị
4.1.1 Giới của nhóm nghiên cứu
Qua nghiên cứu 105 bệnh nhân cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân nam (66,7%) cao hơn bệnh nhân nữ (33,3%) với p < 0,05, tỷ lệ này cao hơn nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Dũng trong nghiên cứu điều trị bệnh viêm gan B mạn tính nam 63%, nữ 37% [17] Tuy nhiên tỷ lệ này thấp hơn trong nghiên cứu của tác giả Trịnh Minh Liên, tỷ lệ nam là 82%, nữ là 18% [24], Trịnh Xuân Hòa, tỷ lệ nam là 95%, nữ là 5% [25], Phạm Đức Dương, nam là 88,9%, nữ là 11,2% [23] Mai Thị Kim Loan, nam là 86,7%, nữ là 13,3% [10] Phạm Bá Tuyến, tỷ lệ nam là 83,3%, nữ là 16,7% [22]
Trong các nghiên cứu đều thấy tỷ lệ bệnh nhân nam nhiều hơn bệnh nhân nữ Điều này đã được nhiều nghiên cứu chứng minh: Thông thường, khi virus viêm gan B xâm nhập cơ thể, HBsAg xuất hiện rất sớm trước khi có triệu chứng lâm sàng, tăng cao dần và biến mất sau 4-8 tuần kể từ khi có triệu chứng Sau đó 2-6 tuần, kháng thể anti-HBs xuất hiện, là dấu hiệu chứng tỏ bệnh đã cải thiện, có tác dụng chống tái nhiễm HBV Ở nam giới, sự sản sinh anti-HBs thấp hơn ở nữ Do đó, nam giới nhiễm HBV thường dễ chuyển thành người mang virus viêm gan B mạn tính hơn nữ giới [11]
4.1.2 Tuổi của nhóm nghiên cứu
Tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 41,8 ± 12,9 (tuổi), tuổi thấp nhất là 18 cao nhất là 72 Nhóm tuổi hay gặp nhất là từ 18 - 40 (tuổi) chiếm 51.4%, nhóm ít nhất là ≥ 60 (tuổi) chỉ chiếm 10,6% Kết quả này tương tự như kết quả của một số tác giả trước đây như: Theo Phạm Bá Tuyến tuổi trung bình là 40,5 ± 10,46 (tuổi) [22], cao hơn nghiên cứu của Vũ Công Danh với độ tuổi trung bình là 33,75 ± 11,83 (tuổi) [31]
4.1.3 Hoàn cảnh phát hiện bệnh và tiền sử bệnh nhân
Bệnh nhân có triệu chứng (mệt mỏi, chán ăn, đau hạ sườn phải, vàng mắt, vàng da ) chỉ chiếm 28,5%, hơn 2/3 bệnh nhân không có triệu chứng mà chủ yếu do đi khám sức khỏe định kỳ hoặc đi kiểm tra lại Đây cũng là điều phù hợp với nhiều nhận xét của các tác giả khác: Bệnh Viêm gan vi rút B là bệnh có tiến triển thầm lặng, xen kẽ giữa thời kỳ hoạt động là thời kỳ ổn định, biểu hiện lâm sàng thường nghèo nàn, triệu chứng không đặc hiệu
Tỷ lệ tiền sử gia đình có người bị ung thư tế bào gan là 13,3%, đây cũng chính là lý do để bệnh nhân đi khám sức khỏe và phát hiện mình bị viêm gan B mạn tính, cũng như việc tầm soát ung thư tế bào gan cần được thực hiện định kỳ để phát hiện sớm và xử lý kịp thời
4.1.4 Một số đặc điểm cận lâm sàng trước điều trị
Qua bảng 3.3 và bảng 3.4 ta thấy: Các chỉ số trung bình của Bạch cầu, Hồng cầu, Hemoglobin, Tiểu cầu, Creatinin, BilTP, Albumin, Prothrombin trước điều trị đều nằm trong giá trị bình thường Nồng độ trung bình AST, ALT, GGT cao gấp hơn 2 lần giới hạn trên, độ xơ hóa gan trung bình ở mức cao 11,86 kPa, tỷ lệ bệnh nhân có HbeAg (+) chiếm 57,1% Nếu tính chung thì số lượng bệnh nhân có tải lượng HBVDNA < 6 log chỉ chiếm 21,9%, bệnh nhân có HBVDNA > 8 log chiếm đến 32,4%, như vậy tải lượng vi rút của bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu là rất cao Nếu tính riêng, số lượng bệnh nhân có tải lượng HBV DNA >8 log ở nhóm bệnh nhân có HbeAg (+) cao hơn một cách rõ rệt so với nhóm bệnh nhân có HbeAg (-) Nồng độ AST cao hơn ở nhóm HbeAg (+), nhưng nồng độ ALT không có sự khác biệt giữa
2 nhóm Kết quả này tương tự kết quả của các tác giả khác, Theo Huỳnh Thị Kim Yến nghiên cứu 55 bệnh nhân viêm gan B mạn tính tại Bệnh viện Đại học Y - Dược Cần Thơ cho thấy nồng độ AST, ALT trung bình là 72,2 ± 153,2 U/l và 76 ± 99,7 U/l, tỉ lệ HbeAg (+) là 63,6%, tải lượng HBVDNA ở nhóm HbeAg (+) cao hơn nhóm HbeAg (-) [8] Theo Trần Thị Phương Thúy và cộng sự, nghiên cứu 52 bệnh nhân viêm gan B mạn tính tại Bệnh viện
Bệnh Nhiệt đới Trung ương, tỉ lệ bệnh nhân có HbeAg (+) là 69,2%, tải lượng HBVDNA ở nhóm HbeAg (+) cao hơn có ý nghĩa so với nhóm HbeAg (-) [19].
Kết quả điều trị
Tỉ lệ bệnh nhân có nồng độ ALT về bình thường tăng theo thời gian điều trị: sau 3 tháng điều trị là 69,5% và sau 6 tháng điều trị là 93,3% Sau 03 tháng và 6 tháng điều trị, nồng độ ALT trở về bình thường ở nhóm HbeAg (+) lần lượt là 56,7% và 93.3%; nhóm HbeAg (-) lần lượt là 73,8% và 93,3% Kết quả bình thường hóa ALT trong nghiên cứu chúng tôi cao hơn so với tác giả Huỳnh Thị Kim Yến nghiên cứu bệnh nhân viêm gan B điều trị bằng TDF, sau 3 tháng và 6 tháng là 73,3% và 76,9% [8] Tác giả Trần Thị Phương Thúy và cộng sự khi nghiên cứu điều trị viêm gan B mạn tính bằng 3TC + ADV cho kết quả bình thường hóa ALT tại thời điểm 3 tháng, 6 tháng là 53% và 62%, thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi [19] Khi so sánh sự đáp ứng bình thường hóa ALT theo 2 nhóm HbeAg (+) và HbeAg (-) chúng tôi thấy sau 3 tháng điều trị tỷ lệ bình thường hóa ALT ở nhóm HbeAg (-) cao hơn nhóm HbeAg (+) với p