BÀI TIỂU LUẬN: SINH HỌC CHỨC NĂNG THỰC VẬT SỰ CỐ ĐỊNH ĐẠM SINH HỌC GVHD: T.s Trần Thị Dung Sinh viên thực hiện: Nguyễn Minh Cẩm Tiên (61103194) Trần Mỹ Thanh (61103171) Nguyễn Hà Lê Uyên (61103) MỤC LỤC 1 I. Khái quát về cố định đạm sinh học Cố định đạm sinh học là quá trình khử N2 thành NH3 dưới sự xúc tác của enzyme nitrogenase. Sau đó, NH3 có thể kết hợp với các acid hữu cơ để tạo thành các acid amin và protein. Vi khuẩn cố định đạm có thể cộng sinh hoặc sống tự do nhưng cũng có thể nội sinh. Đạm là gì? Chất đạm (còn gọi là protein) là một chất hữu cơ giàu dinh dưỡng, có trong động vật, thực vật. Đạm là chất căn bản của sự sống mọi tế bào. Đạm là chất dinh dưỡng có vai trò quan trọng hàng đầu đối với cây trồng. Hàm lượng của chúng trong đất rất ít. Vì vậy cây trồng thường thiếu đạm. Một trong những phương pháp tăng cường lượng đạm cho đất được nhiều người quan tâm là sử dụng các loại vi sinh vật cố định nitơ từ không khí. Nitơ là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng không chỉ với cây trồng mà ngay cả đối với vi sinh vật. Nguồn dự trữ nito trong tự nhiên rất lớn, chỉ tính riêng trong không khí nitơ chiếm khoảng 78,16% thể tích. Người ta ước tính trong bầu không khí bao trùm lên một ha đất đai chứa khoảng 8 triệu tấn nitơ, lượng nitơ này có thể cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng hàng chục triệu năm nếu như cây trồng đồng hó
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
BÀI TIỂU LUẬN: SINH HỌC CHỨC NĂNG THỰC VẬT
MỤC LỤC
Trang 2I Khái quát về cố định đạm sinh học
Cố định đạm sinh học là quá trình khử N2 thành NH3 dưới sự xúc tác của enzyme
nitrogenase Sau đó, NH3 có thể kết hợp với các acid hữu cơ để tạo thành các acid
amin và protein Vi khuẩn cố định đạm có thể cộng sinh hoặc sống tự do nhưng cũng
có thể nội sinh
Đạm là gì?
Chất đạm (còn gọi là protein) là một chất hữu cơ giàu dinh dưỡng, có trong động vật,
thực vật Đạm là chất căn bản của sự sống mọi tế bào Đạm là chất dinh dưỡng có vai
trò quan trọng hàng đầu đối với cây trồng Hàm lượng của chúng trong đất rất ít Vì
vậy cây trồng thường thiếu đạm Một trong những phương pháp tăng cường lượng
đạm cho đất được nhiều người quan tâm là sử dụng các loại vi sinh vật cố định nitơ từ
không khí
Nitơ là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng không chỉ với cây trồng mà ngay cả đối với
vi sinh vật Nguồn dự trữ nito trong tự nhiên rất lớn, chỉ tính riêng trong không khí
nitơ chiếm khoảng 78,16% thể tích Người ta ước tính trong bầu không khí bao trùm
Hình: Chu trình cố định N trong tự nhiên
Trang 3chúng Trong cơ thể các loại sinh vật chứa khảong 4,1015 tỷ tấn nitơ Nhưng tất cả
nguồn nitơ trên cây trồng đều không tự đồng hóa được mà phải nhờ VSV Thông qua
hoạt động của các loài vi sinh vật, nitơ nằm trong các dạng khác nhau được chuyển
hóa thành dễ tiêu cho cây trồng sử dụng Các vi sinh vật có khả năng biến N2 trong
khí quyển thành NH3 cung cấp đạm cho cây, chúng được gọi là các vi sinhvật cố định
đạm
II Vi sinh vật cố định đạm
1 Vi sinh vật cố định đạm là gì?
Vi sinh vật cố định đạm là nhóm vi sinh vật có vai trò quan trọng nhất trong việc cố
định N2 trong đất và trong cây trồng Đặc biệt là nhóm vi sinh vật sống cộng sinh
Hiện nay, người ta đã phát hiện được hơn 600 loài cây có vi sinh vật sống cộng sinh
có khả năng đồng hóa N2thuộc nhiều họ khác nhau
2 Vai trò của vi sinh vật cố định đạm:
Cố định đạm là khả năng đồng hóa nitơ phân tử của một số sinh vật và dùng nitơ này
để cấu tạo nên tất cả các hợp chất chứa nitrogen của tế bào Khả năng này có ở nhiều
vi sinh vật sống tự do trong đất và trong nước
Trong môi trường đất, vi sinh vật tham gia chuyển hóa các chất hữu cơ, cố định nitơ
làm giàu đạm cho đất, tích lũy vào đất các auxin kích thích sự phát triển của cây trồng,
tổng hợp các vitamin thyamin, nicotinic và biotin… Vi sinh vật cố định đạm góp phần
vào cân bằng sinh thái trong đất
Phần lớn VSV (vi sinh vật) sống trong đất là những sinh vật có ích sống theo kiểu
cộng sinh, chỉ một số rất ít là có hại, gây bệnh cho cây trồng sống theo kiểu vừa ký
sinh (gây bệnh cho thực vật) vừa hoại sinh (sống trong đất) Số lượng quần thể VSV
có ích trong đất chiếm ưu thế hơn rất nhiều lần so với VSV gây bệnh hại Phần lớn các
VSV có ích tham gia vào quá trình phân giải xác thực vật thành thức ăn có nguồn gốc
hữu cơ cho cây trồng và VSV khác, chúng có vai trò rất quan trọng trong quá trình
khoáng hóa và cố định đạm VSV còn tạo ra rất nhiều loại enzym, acid amin, vitamin,
kháng sinh…là thức ăn và vũ khí tự vệ quan trọng cho cây trồng Ngoài ra khi các
VSV đất chết đi sẽ để lại một lượng thức ăn khổng lồ và có chất lượng rất tốt cho cây
Trang 4VSV có ích giữ vai trò quan trọng cải tạo đất, làm cho đất tăng độ mùn, tơi xốp,
thoáng khí, có độ pH trung tính; làm cho khả năng giữ nước, giữ phân của đất được
tăng cường… Nhờ có hoạt động của VSV làm cho đời sống của đất được tăng lên
VSV có ích đã giúp cho cây trồng hấp thụ dinh dưỡng được tốt hơn VSV đã góp phần
bảo vệ cây trồng làm giảm tác hại của ký sinh gây bệnh cây Trong tập đoàn VSV có
ích có một số lượng rất lớn VSV đối kháng ngăn chặn sự phát triển các VSV gây bệnh
hại cho cây trồng rất hữu hiệu…
3 Phân loại
3.1 Vi khuẩn nốt sần:
Vai trò cố định N2 quan trọng nhất thuộc về nhóm vi sinh vật cộng sinh Ở một số cây
gỗ hoặc cây bụi nhiệt đới thuộc họ Rabiaceae, các nốt sần chứa vi khuẩn cố định N2
không phải ở rễ mà ở trên lá
Vi khuẩn nốt sần thuộc loại hiếu khí không tạo bào tử có thể đồng hóa nhiều nguồn
cacbon khác nhau pH thích hợp: 6,5 – 9,2; nhiệt độ phát triển thích hợp: 24 – 260C
Phân loại vi khuẩn nốt sần có nhiều ý kiến chưa thống nhất:
- Theo Todorovic chia vi khuẩn nốt sần ra 2 loài: Rhizibiomonas
leguminosarum và Rhizobacterum leguminosrum
- Theo Bergli thì giống Rhizobiumbao gồm 6 loài vi khuẩn nốt sần:
Rh.leguminosarum, Rh.phaseoli, Rh.Trifolii, Rh.lupini, Rh.sapnicum,
Rh.meliloti
Trang 53.2.Vi khuẩn cộng sinh với cây không thuộc họ Đậu
Có khoảng vài trăm loài thực vật, không thuộc họ Đậu có nốt cố định đạm, nhưng sự
cộng sinh ít khi được thực hiện với các Rhizobium, mà hường nhất là với các
Actinomycetes (xạ khuẩn) thuộc giống Frankia Cây chủ là Alnus, Casuarine,
Hippophae, Elaeagnus, Myrica…
Những nghiên cứu gần đây cố gắng tạo sự hợp tác giữa lúa với Spirillum Trong
trường hợp này, vi khuẩn cố định không vào rễ, chỉ ở gần rễ, và phóng thích một
lượng đạm quan trọng cho thực vật (NH4+, aminoacid)
Hình: Rhizobium và nốt sần trên rễ
Hình: Bradyrhizobium và nốt sần trên rễ
Trang 6Hình: Xạ khuẩn (Actinomycetes)
3.3.Vi khuẩn cố định đạm sống tự do
Vi khuẩn cố định đạm sống tự do ở vùng rễ lúa và những cây thuộc họ hòa bản đã
giúp cây trồng phát triển tốt cũng như hạn chế đến mức thấp nhất lượng đạm hóa
học trong nền sản xuất nông nghiệp
Trang 7Hình Một số nguồn nitơ cung cấp cho cây
Vi khuẩn hiếu khí sống tự do thuộc giống Azotobacter và Beiferinckia:
Azotobacter: Chi vi khuẩn cố định nitơ hiếu khí, sống tự do trong đất và nước Tế bào
hình bầu dục, hình cầu, được bọc trong lớp vỏ nhày, kích thước khoảng 2 × 5 µm, di
động hoặc không, gram âm, không sinh bào tử Khi dùng 1 g đường, thường cố định
được 2 mg N Ngoài ra, còn có khả năng tổng hợp vitamin, chất sinh trưởng (loại auxin)
và một số chất chống nấm Loại chế phẩm được dùng trong nông nghiệp có nhiều tên
thương phẩm khác nhau (azotobacterin, vv.) Các loài Azotobacter thuộc loại các VSV
cố định nitơ họat động nhất, chúng có khả năng đồng hóa manit, tinh bột, sử dụng
nhiều loại hợp chất hữu cơ khác nhau để phát triển và cố định nitơ, làm giàu nitơ cho
đất Azotobacter chủ yếu có 4 loài:
- Azotobacter chroocuccum: Kích thước 3,1x2,0µ; khi còn non có khả năng di động,
khi già có sắc tố màu nâu đến màu đỏ, không khuyếch tán vào môi trường
- Azotobacter beijerincki: kích thước 3,1x2,0µ; không di động, khi già có sắc tố màu
vàng đến màu nâu sáng, không khuyếch tán vào môi trường
- Azotobacter Vinelandi: Kích thước 3,4x1,5µ; có khả năng di động, sắc tố màu vàng
lục đến huỳnh quang, khuyếch tán vào môi trường
- Azotobacter agilis: Kích thước 3,3x2,8µ; có khả năng di động, sắc tố màu lục, huỳnh
quang, khuyếch tán vào môi trường
Azotobacter làm tăng cường nguồn thức ăn cung cấp cho cây trồng, kích thích khả
năng tăng trưởng, nâng cao tỷ lệ nảy mầm và độ phát triển của mầm (vì nó tiết ra môi
Trang 8trường thiamin, a.nicotinic, a.pantotenic, piridoxin, biotin, ) và có khả năng tiết ra một
số chất chống nấm
Chế phẩm Azotobacterin là dịch Azotobacter cho hấp thụ trong than bùn (hoặc các loại
đất giàu hữu cơ đã trung hòa và bổ sung photpho, kali)
Beiferinckia: Là loài hiếu khí, cố định nitơ giống Azotobacter nhưng có khả năng
chịu chua cao hơn Gồm có 3 nhóm:
- B.Indica: Kích thước tế bào 0,5-1,5 x 1,7-3,0µ; có khả năng di động hoặc không di
động, khi già có sắc tố màu đỏ đến màu nâu, có tốc độ cố định nitơ nhanh
- B.fluminensis: Kích thước tế bào 1,1-1,5 x 3,0-3,5µ; có khả năng di động, sắc tố
màu nâu tối, tốc độ cố định nitơ chậm
- B.derxii: Kích thước tế bào 1,5-2,0 x 3,5-4,5µ; không di động, sắc tố màu lục huỳnh
quang
Vi khuẩn kỵ khí sống tự do thuộc Clostridium:
Loài được nghiên cứu nhiều nhất là Clostridium pasteriaum, ngoài ra còn có các loài
Clostridium khác như Cl.butylicum, Cl Bacterinkin, Cl Aceticum,
Kích thước tế bào 2,5-7,5 x 0,7-1,3µ có thể riêng rẽ hoặc xếp đôi hoặc thành chuỗi
ngắn Có khả năng di động khi còn non, có khả năng tạo bào tử, bào tử có kích thước
lớn hơn tế bào và có thể nằm ở đầu hoặc ở giữa tế bào Ít mẫn cảm với môi trường,
nhất là môi trường thừa P, K, Ca và có tính ổn định với pH, nó có thể phát triển ở pH
4,5 – 9; độ ẩm 60-80%, nhiệt độ 25-300C
Hình : Azotobacter Vinelandi
Trang 9Hình: Vi khuẩn Clostridium pasteriaum
Tảo lam sống tự do và tảo lam cộng sinh trong bèo hoa dâu:
Là thành phần cố định N quan trọng trong thiên nhiên Có trong các ao, mặt nước
ruộng lúa…Cần độ ẩm cao, ánh sáng, điều kiện nhiệt độ khoảng 30oC, pH tối hảo là từ
7-8.5.Ở ruộng chua, sự tăng trưởng của tảo lam bị hạn chế, trường hợp này bón vôi
giúp tăng thêm lượng tảo và lượng N cố định được
Hiện nay đã phát hiện nhiều loài tảo lam sống tự do trong đất và trong nước có khả
năng cố định nitơ Có một số sống cộng sinh với thực vật, trong đó đáng chú ý nhất là
tảo cộng sinh trong bèo hoa dâu (tảo này có tên là Asiabaena azollae) Đa số các loài
tảo phát triển tốt trong môi trường trung tính hoặc kiềm, hiếu khí, thích hợp ở nhiệt độ
28-30oC, cần khí CO2
3.4 Vi khuẩn cố định nitơ sống hội sinh
Hình: Asiabaena azollae
Trang 10Vi sinh vật được sử dụng trong sản xuất phân bón nhiều nhất hiện nay
là Azospirillum – sống hội sinh trong rễ cây hoà thảo, cây họ đậu, bông và rau Hai
giống được biết đến nay là Azospirillum lipoferum và Azospirillum brasilense.
Hình: Azospirillum lipoferu Hình:Azospirillum brasilense
III Sự cố định đạm sinh học
1 Cơ chế cố định đạm
1.1 Enzyme nitrogenase
Quá trình cố định đạm xảy ra trong tế bào vi khuẩn và vi khuẩn lam đều giống nhau là
nhở chúng có hệ thống gen nif (ni là chữ viết tắt của nitrogen- nitơ và f là fixing –cố
định.) điều khiển quá trình tổng hợp Enzyme nitrogenase
Nitrogenase là một đa enzyme (phức hệ enzyme) xúc tác cho phản ứng cố định N2,
khử N2 thành NH3
Như vậy, hệ thống gen nif được xem là hệ thống gen điều khiển cho quá trình cố định
đạm sinh học
1.2 Bộ gen (genome) của Pseudomonas và sự điều khiển tổng hợp nitrogenase
Genome và hệ thống gen nif của Pseudomonas
Trang 11Thông tin di truyền chuyên biệt về sự cố định đạm đã được xác định trong bộ genome
của Pseudomonas stutzeri A1501 Đó là “vùng cố định đạm” (nitrogen fixation region)
có kích thước 49kb, gồm 59 gen có liên quan
Thứ tự của các gen nif trong cấu trúc của “vùng cố định đạm” ở Pseudomonas
stutzeri A1501 được khởi đầu là vùng PST1301, vùng giữa lần lượt bao gồm các gen
nifQ – nifB – nifA – nifL - nifY2 – nifHDKTY – nifENX – nifUSV – nifWZM – nifF
và vùng PST1360 ở đầu còn lại
Sự điều khiển tổng hợp enzyme nitrogenase
Theo nghiên cứu của Yan et al (2008), hệ thống của gen nif ở Pseudomonas stutzeri
A1501 là một hệ thống hoàn chỉnh gồm các loại gen nif quy định tổng hợp các thành
phần cấu tạo nên phức nitrogenase
Hình 3.1 “Vùng cố định đạm” (nitrogen fixation region) của Pseudomonas stutzeri
A1501 (Yan et al., 2008)
1.3 Cơ chế cố định đạm
Trong thành phần cấu tạo nitrogenase, số nguyên tử Fe và nguyên tử S có thể không
ổn định với acid Phân tử protein nhỏ hơn có chức năng vận chuyển e–, trong đó e–của
ferredoxin hoặc flavodoxin vận chuyển lên phức hệ Mo-Fe
Hầu hết các vi sinh vật không thể sử dụng N2 nên chúng phải cố định nguồn N2 tự
nhiên để dễ dàng sử dụng
Cơ chế cố định đạm xảy ra theo phương trình:
Cơ chế hóa sinh của quá trình cố định N cho đến nay vẫn chưa được sáng tỏ hoàn toàn,
nhưng đa số các nhà nghiên cứu đồng ý với giả thuyết cho rằng N là sản phẩm đồng
Trang 12hóa sơ cấp của N2và có thể nêu ra 2 giả thuyết về 2 con đường cố định N của vi sinh
vật sống tự do trong đất như sau:
Trong công nghiệp, nhờ các chất xúc tác nên năng lượng dùng cho phản ứng cố định
N2 được giảm nhiều, chỉ vào khoảng 16-20 Kcalo/M, song lượng năng lượng vẫn còn
lớn so với trong cơ thể sinh vật Tốc độ phản ứng nhanh chóng trong tế bào vi sinh vật
ở nhiệt độ thấp nhờ có hệ thống enzyme hydrogenase họat hóa H2 và enzyme
nitrogenase hoạt hóa N2
Năm 1961-1962, người ta đã tách từ Clostridium pasteurrianum hai tiểu phần hoạt hóa
H2 và N2 Sau này người ta tìm thấy ởAzotobacter cũng có các tiểu phần đó Trong
quá trình hoạt hóa này có sự tham gia của 2 nguyên tố khoáng Mo và Fe
Nguồn hydro để khử N2 có thể là hydro phân tử (H2) Trong trường hợp này thì dưới
tác dụng của enzyme hydrogenase, điện tử được chuyền theo hệ thống:
Hình: Sơ đồ giả thuyết về các con đường của quá trình cố định N2
Trang 13Nguồn cho điện tử và hydro là acid pyruvic Đáng chú ý là trong quá trình chuyền
điện tử có sự tham gia tích cực của feredocine (Fd) Fd là cầu nối giữa 2 hệ enzyme
hydrogenase và nitrogenase để cố định N2
CƠ CHẾ CỐ ĐỊNH NITƠ TRONG NỐT SẦN CỦA RỄ CÂY HỌ ĐẬU:
Sự cố định N2 của vi khuẩn nốt sần có thể xãy ra theo sơ đồ phức tạp hơn Trong các
nốt sần có một chất có bản chất hem rất giống với hemoglobin trong máu gọi là
leghemoglobin Nó dễ dàng liên kết với O2để biến thành oxyhemoglobin
Leghemoglobin chỉ được tạo nên khi vi khuẩn sống cộng sinh với cây bộ đậu, còn khi
nuôi cấy tinh khiết các Rhizobium sẽ không tạo leghemoglobin và không cố định
được N2
Những nghiên cứu gần đây về quá trình cố định N2 cho thấy quá trình cố định này đòi
hỏi:
- Quá trình cố định nitơ được thực hiện bởi phức hệ nitrogenase Thành phần chính
của phức hệ này là nitrogenase reductase và nitrogenase Phức hệ này nằm trong tế
bào chất của thể vi khuẩn (bacteroid) Có thể coi đây là nhân tố chìa khóa cho quá
trình này Enzyme này hoạt động trong điều kiện yếm khí (Nitrogenase đặc biệt nhạy
với oxy và bị bất hoạt khi có mặt oxy)
- Có lực khử mạnh với thế năng khử cao (NAD, NADP, )
Trang 14- Có năng lượng (ATP) đủ và có sự tham gia của nguyên tố vi lượng Nhóm hoạt động
của enzyme nitrogenase có chứa Mo và Fe Vì vậy sử dụng Mo và Fe cho cây họ đậu
thường có hiệu quả rất cao Bacteroid cần năng lượng từ thực vật cung cấp để cố định
đạm
- Tiến hành trong điều kiện yếm khí
Các chất khử là NADH2 và Fd cùng với năng lượng do hô hấp, quang hợp của cây chủ
cung cấp Sự cố định N2cần rất nhiều năng lượng, cần 16 ATP để khử 1 N2
NH3 tạo thành trong quá trình cố định N2 được sử dụng dễ dàng vào quá trình amine
hóa các cetoacid để tổng hợp một cách nhanh chóng các acid amine, từ đó tham gia
vào tổng hợp protein và nhiều quá trình trao đổi chất khác
Quá trình cố định nitơ phân tử theo hai hướng cơ bản: Con đường khử và con đường
oxy hóa
Con đường khử theo chuỗi biến hóa: N2 HN=NH H2N-NH2NH3NH4OH
Con đường oxy hóa: N2 N2O HNO2NH4OH
Qua 2 hướng đó, người ta thu được kết quả sau:
- Nếu nồng độ Oxy nhiều sẽ ức chế quá trình cố định nitơ phân tử
- Hiệu suất cố định nitơ phân tử của những vi sinh vật kỵ khí thường cao hơn những vi
sinh vật hiếu khí
- Tìm thấy hợp chất loại khử khi nuôi các vi sinh vật cố đinh nitơ phân tử
N2+ 8H++ 8e-→ 2NH3+ H2
16-24ADP + 16-24Pi 16-24ATP
Qua đó cho thấy con đường khử có nhiều khả năng xảy ra hơn
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình cố định đạm
Sự tổng hợp enzyme nitrogenase được điều khiển bởi enzyme glutamate synthetase,
xúc tác cho tổng hợp glutamin từ NH3 Nếu trong hệ thống có ít NH3 thì glutamate
synthetase kích thích tổng hợp nitrogenase, nồng độ NH3 cao thì ức chế sự tổng hợp
nitrogenase
Phức hệ enzyme nitrogenase không bền khi có mặt oxy Vi khuẩn tự do cố định đạm
chỉ thể hiện hoạt tính ở điều kiện yếm khí nhờ sử dụng điện tử xuất hiện trong quá