Lịch sử Việt Nam - Tìm hiểu các cuộc cải cách trong lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVIII
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC……… 1
MỞ ĐẦU……… 2
NỘI DUNG……… 4
1. CUỘC CẢI CÁCH CỦA KHÚC HẠO……… 4
1.1 Hoàn cảnh lịch sử……… 4
1.2 Cuộc cải cách của Khúc Hạo……… 5
2. CUỘC CẢI CÁCH CỦA HỒ QUÝ LY……… 7
2.1 Hoàn cảnh lịch sử……… 7
2.2 Cuộc cải cách của Hồ Quý Ly……… 8
3. CUỘC CẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG……… 12
3.1. Hoàn cảnh lịch sử……… 12
3.2. Cuộc cải cách của Lê Thánh Tông……….
13 4. CUỘC CẢI CÁCH CỦA QUANG TRUNG……… 19
4.1. Hoàn cảnh lịch sử……… 19
4.2. Cuộc cải cách của Quang Trung……….………
19 KẾT LUẬN……… 22
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam, một đất nước trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước Quabiết bao nhiêu biến cố, thăng trầm để được đất nước Việt Nam đang dần đổi mới và phồn thịnhnhư ngày hôm nay quả là điều không đơn giản Để có được thành quả đó phải đánh đổi biết baomáu xương, công sức của dân tộc Lịch sử đã minh chứng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đấtnước của nhân dân Việt Nam đó là truyền thống quý báu thể hiện lòng yêu nước
Truyền thống đó không chỉ thể hiện ở cuộc chiến đấu lâu dài và gian khổ chống ngoạixâm, trong cuộc lao động sáng tạo xây dựng quê hương đất nước, mà còn thể hiện ở những cảicách để đổi mới đất nước Không phải chỉ đến bây giờ, mà nhìn vào quá khứ, vấn đề cải cách,canh tân đất nước đã từng được đặt ra và thực hiện trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cụ thể Tuynhững cuộc cải cách được thực hiện ở những phạm vi và mức độ khác nhau, thành công cũngnhiều, và thất bại cũng không ít Nhưng dẫu sao những cuộc cải cách đi trước lúc nào cũng là tiền
đề và cũng là bài học kinh nghiệm quý giá cho lần cải cách sau tiến bộ hơn
Trong suốt chiều dài lịch sử để tồn tại và phát triển, cha ông ta đã thực hiện nhiều cuộc cảicách, đổi mới Đó là cuộc cải cách của Khúc Hạo năm 907, cuộc cải cách của Hồ Quý Ly cuối thế
kỷ XIV, đầu thế kỷ XV, cuộc cải cách của Lê Thánh Tông cuối thế kỷ XV, cuộc cải cách củahoàng đế Quang Trung ở thế kỉ XVIII Vị trí, tác dụng của mỗi cuộc cải cách đối với sự phát triểncủa xã hội, đất nước có khác nhau, nhưng là một nội dung quan trọng của lịch sử Việt Nam thờiTrung đại Nghiên cứu và nắm vững nội dung các cuộc cải cách nói trên sẽ giúp chúng ta hiểubiết đầy đủ và sâu sắc hơn lịch sử Việt Nam thời Trung đại
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài này đề cập đến các cuộc cải cách trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến thế
kỉ XVIII
Trang 31 Cuộc cải cách của Khúc Hạo.
2 Cuộc cải cách của Hồ Quý Ly
3 Cuộc cải cách của Lê Thánh Tông
4 Cuộc cải cách của Quang Trung
Do khả năng có hạn, tài liệu còn ít ỏi nên đề tài này không tránh khỏi nhiều thiếusót Kính mong Thầy cô đóng góp thêm ý kiến để em rút kinh nghiệm cho những lần sau thựchiện được tốt hơn
Trang 4
sứ Nhà Hậu Lương, vì mới cướp ngôi nhà Đường, phương Bắc nhiều biến cố nên thừa nhậnKhúc Hạo làm Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân năm 907 Nhưng qua năm sau (908), vua Hậu Lương làChu Ôn lại phong cho Tiết độ phó sứ Quảng Châu là Lưu Ẩn kiêm chức "Tĩnh Hải quân tiết độ,
An Nam đô hộ" Điều đó có nghĩa là người Trung Quốc vẫn muốn chiếm lại Việt Nam
Bên ngoài, chính quyền tự chủ mới dựng của người Việt lại đứng trước nguy cơ từ phíaBắc Bên trong, chính quyền gặp phải những khó khăn do những hậu quả nặng nề thời Bắc thuộc
để lại Để củng cố chính quyền cai trị, xây dựng nền tảng độc lập, phát huy nội lực để dần tự thoátkhỏi sự kiềm chế của phương Bắc, Khúc Hạo đã tiến hành cuộc cải cách trên toàn Tĩnh Hải quân.Ngày 7 tháng 2 năm 906, vua Đường buộc phải phong cho Khúc Thừa Dụ làm Tĩnh Hải quân tiết
độ sứ tước Đồng binh Chương sự Tức là nhà Đường phải công nhận Khúc Thừa Dụ có quyềnnắm cả việc quân sự, chính quyền, kinh tế, tài chính
Như vậy, kể từ năm 905, tuy còn mang danh hiệu một chức quan của nhà Đường, nhưng
về thực chất Khúc Thừa Dụ đã giành lấy chính quyền từ tay bọn phong kiến nhà Đường, dựngnên một chính quyền tự chủ, đã kết thúc về cơ bản ách đô hộ hơn một nghìn năm của phong kiếnphương Bắc Cuộc cải cách của Khúc Hạo cũng như các cuộc kháng chiến tiếp theo đó củaDương Đình Nghệ (931), Ngô Quyền (938) là công cuộc bước đầu xây dựng và bảo vệ quốc gia,chính quyền độc lập, tự chủ có tổ chức của một dân tộc đã thực sự làm chủ quốc gia mình
Trang 5Đất nước bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, nhưng những hậu quả mà hơn một nghìnnăm đô hộ của bọn phong kiến phương Bắc để lại thật nặng nề.
1.1.1 Về kinh tế
Chính quyền đô hộ đã thi hành chính sách bóc lột rất nặng nề và dưới nhiều hình thức: Chế
độ cống nạp là thủ đoạn bóc lột hết sức tàn bạo của phong kiến phương Bắc được thực hiện liêntục suốt thời Bắc thuộc Hàng năm, các châu, quận, huyện phải nộp nhiều lâm thổ sản quý, nhiềusản phẩm thủ công Ngoài chế độ cống nạp, còn có thêm nhiều loại thuế khác, mức thuế dân bản
xứ phải đóng rất nặng: riêng thuế muối, hàng năm ở Âu Lạc cũ phải nộp lên tới hàng vạn quantiền Đời sống của nhân dân Âu Lạc cũ do đó vô cùng cực khổ Nhiều người phải bán mình, bán
vợ con cho bọn giàu có, bọn quan lại đô hộ, bị biến thành nô tỳ, một bộ phận bị mất đất haykhông có ruộng đất cày cấy bị biến thành nông nô, nhiều nông dân bị phá sản, lưu vong mà sử cũgọi là “dân vong mệnh”
1.1.2 Về chính trị - xã hội
Trong hơn một thiên niên kỷ xâm lược và đô hộ, các triều đại phương Bắc đâu chỉ dừng lại
ở những chính sách vơ vét, cướp bóc tàn bạo, mà còn ráo riết thực hiện chính sách đồng hóanhằm Hán hóa Việt tộc, nhằm vĩnh viễn xóa bỏ sự tồn tại của quốc gia Âu Lạc và dân tộc Việt,biến đất nước Âu Lạc thành quận, huyện của Trung Quốc Từ năm 905, sau khi giành được chínhquyền, để xây dựng một quốc gia hoàn toàn độc lập, tự chủ, đòi hỏi họ Khúc phải thực hiệnnhững cải cách về hành chính, chính trị, xã hội để xóa bỏ dần những ảnh hưởng sâu sắc và hậuquả nặng nề do thời Bắc thuộc để lại, khắc phục tính phân tán của quyền lực thủ lĩnh địa phương,xây dựng một chính quyền dân tộc thống nhất từ trung ương đến các làng xã
1.2 Cuộc cải cách của Khúc Hạo
Khúc Hạo là con của Khúc Thừa Dụ Năm 906, ông được Khúc Thừa Dụ phong chức
“Tĩnh hải hành quân tư mã quyền tri lưu hậu”, một chức vụ chỉ huy quân đội Ngày 23 tháng 7năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, Khúc Hạo nối nghiệp cha Ngày 1 tháng 9 năm 907, nhà HậuLương phong cho ông chức “An Nam đô hộ tiết độ sứ” Từ đó, Khúc Hạo bắt tay thực hiện côngcuộc cải cách trên nhiều mặt: chính trị, kinh tế, xã hội
1.2.1 Về chính trị
Trang 6Khúc Hạo bãi bỏ bộ máy hành chính đô hộ cũ của nhà Đường để thanh lập một bôuj máyquản lý đất nước riêng của mình: Bãi bỏ mô hình tổ chức: An Nam đô hộ phủ châu huyện hương xã và tổ chức lại bộ máy quản lý nhà nước từ trung ương cho đến cấp xã nhằm xây dựngmột chính quyền dân tộc thống nhất Ông chia cả nước thành những đơn vị hành chính các cấp:
lộ, phủ, châu, giáp, xã Đơn vị hương trước đó được đổi thành giáp Đứng đầu giáp là quản giáp
và phó tri giáp Ngoài những hương cũ đổi thành giáp, Khúc Hạo còn chia đặt thêm nhiều giápmới, tổng cộng 314 giáp (thời nhà Đường ở nước ta có 159 hương) Đơn vị hành chính thấp nhất
là xã có các chức chánh lệnh trưởng, lệnh trưởng cai quản
Với cải cách nói trên, chính quyền của Khúc Hạo đã tiến thêm một bước trên đường xâydựng nền tự chủ, thống nhất, tăng cường được sự quản lý của chính quyền trung ương đối với cácđịa phương
1.2.2 Về kinh tế - xã hội
Khúc Hạo bãi bỏ chế độ điền tô và phu dịch, thực hiện “bình quân thuế ruộng, tha bỏ lựcdịch, lập sổ khai hộ khẩu, kê rõ họ tên, quê quán giao cho giáp trưởng trông coi…” [3, tr.218].Như sử cũ đã ghi, , bấy giờ “chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị” làm cho “nhân dân đượcyên vui” Sau nhiều thế kỉ sống dưới ách kìm kẹp, bóc lột nặng nề của chế độ đô hộ, sự “khoandung, giản dị” của chính quyền họ Khúc không chỉ góp phàn tạo nên sự “yên vui” của nhân dân
mà còn thể hiện rõ tinh thần của một đất nước vừa thoát khỏi ách đô hộ ngàn năm Mặt khác,chính sách “Quân bình thuế ruộng” đã bước đầu xác lập quyền sở hữu trên danh nghĩa của nhànước đối với ruộng đất của công xã
1.2.3 Tài chính
Khúc Hạo chủ trướng sửa đổi lại chế độ tô thuế Trong những thế kỉ thuộc Đường, ngoaicống nạp, nhân dân ta còn phải chịu hàng loạt những bất công khác về chế độ thu thuế và chịumột chế độ nô dịch nặng nề Khúc Hạo đã xóa bỏ sự bất công và áp bức nặng nề đó bằng chinhsách “binh quân thuế ruộng” và tha bỏ lực dịch” Nỗi khổ của ách nô dịch nay không còn nữa, dùrằng người dân vẫn giữ nghĩa vụ đóng góp sức mình cho nhà nước
1.3 Ý nghĩa
Những cải cách của Khúc Hạo đã tạo điêu kiện cho chinh quyền trung ương có khả năng kiểmsoát một cách trực tiếp các địa phương trong nước, góp phần quan trọng vào việc củng cố thống nhấtlãnh thổ, tạo điều kiện cho nhân dân ta sống và sản xuất “yên vui”, “ổn định”, tranh được mọi sự hạch
Trang 7sách cưỡng bức của bọn quan lại đô hộ trước đây, bước đầu xóa bỏ chế độ bóc lột, áp bức nặng nềcủa chế độ đô hộ, đồng thời cũng tạo thuận lợi cho nhân dân ta gia tăng sức lao dộng sáng tạo, nângcao đời sống của minh Những cải cách của Khúc Hạo dựa trên những thiết chế đã có từ thời Đường,nhưng đã vượt qua những hạn chế của nó, thể hiện rõ tinh thần của một quốc gia độc lập, có quyền tựchủ của minh Những cải cách đó cũng nhận được sự ủng hộ của nhân dân và thực sự đáp ứng đượcnhững mong muốn của nhân dân khi đã danh lại được độc lập.
2 CUỘC CẢI CÁCH CỦA HỒ QUÝ LY
2.1 Hoàn cảnh lịch sử
Nửa sau thế kỉ XIV, xã hội Đại Việt lâm vào tình trạng khủng hoảng, mục nát và suy thoáinghiêm trọng Vua Trần Dụ Tông ăn chơi xa sỉ, trụy lạc, cho xây dựng các công trình tốn nhiềutiền của và công sức của nhân dân nhằm làm chỗ vui chơi.Bọn quan lại thì nhân đó cũng thi nhaubắt dân xây dựng dinh thự cho mình Trong triều đình nhà Trần có rất nhiều nịnh thần và việc kéo
bè, kéo cánh, tranh giành quyền lực xảy ra liên miên.Tình hình nội bộ rối loạn khiến các nước nhỏ
ở phía nam không còn thần phục như trước
Trong nội bộ tầng lớp quý tộc cầm quyền chia bè phái, mâu thuẫn, giết hại lẫn nhau đểtranh giành địa vị, quyền lực ngày càng khốc liệt, điển hình là vụ một số quý tộc đại thần nhàTrần như Thái bảo Trần Nguyên Hàng, Thượng tướng quân Trần Khát Chân mưu giết Hồ Quý Lykhông được, bị Hồ Quý Ly giết chết cùng với hơn 370 quan lại quý tộc khác
Từ đầu những năm 60 của thế kỉ XIV, ChămPa hùng mạnh lên thường xuyên đánh pháChâu Hóa, nhà Trần đã nhiều lần đem quân chống cự nhưng thất bại, quân ChămPa cướp phá nhàcửa, kho tàng, dinh thự, cung điện sau đó rút về Mãi đến 1389, tướng chỉ huy của dịch tên là ChếBồng Nga bị tử trận, quân ChămPa mới bị đánh bại và suy yếu dần Cuộc chiến tranh vớiChămPa đã cho thấy sự suy yếu rõ rệt của nhà Trần vừa gây thêm nhiều khó khăn cho triều đình
và nhân dân ta, làm cho cuộc khủng hoảng thêm trầm trọng hơn
Nhà Minh (Trung Quốc) bấy giờ lợi dụng sự suy yếu của nhà Trần đã ra sức yêu sách,buộc nhà trần phải chấp nhận Mặt khác, năm 1388 ở phía Bắc, nhà Minh sai sứ sang đòi ta phảicống nộp lương thực và các loại trái cây đặc sản và những báu vật, sản vật quý hiếm.Vua Trầnbuộc phải cống nộp 5000 thạch lương Năm 1395, nhà Minh vờ cho người sang ta xin giúp 50 convoi 50 vạn hộc lương Những việc làm trên nhằm thăm dò nhà Trần và chuẩn bị tiến hành âmmưu xâm lược đã được vạch ra từ trước của nhà Minh
Trang 8Vào nửa cuối thế kỷ XIV, sau một thời gian phát huy được mặt tích cực đối với sự pháttriển kinh tế, ổn định xã hội, thì vào cuối Trần, quan hệ bóc lột đó đã bộc lộ mặt tiêu cực, đờisống của nông nô, nô tỳ do bị bóc lột triệt để trở nên hết sức cực khổ, nông dân nghèo bị nông nôhóa đã dẫn đến mâu thuẫn xã hội gay gắt và phong trào nông dân khởi nghĩa cuối Trần ngày càngphát triển Điều đó chứng tỏ thiết chế chính trị quân chủ quý tộc và quan hệ bóc lột nông nô, nô tỳvào cuối thế kỷ XIV, đã khủng hoảng, kìm hãm sự tiến hóa của xã hội Đại Việt, làm cho quá trìnhphong kiến hóa trong xã hội tiến tới xác lập một thể chế quân chủ quan liêu chuyên chế, một nhànước phong kiến trung ương tập quyền thống nhất và mạnh, một quan hệ sản xuất địa chủ - nôngdân lệ thuộc thống trị trong nền kinh tế bị cản trở Bởi lẽ, tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần từvua đến quan lại vẫn ra sức giữ nguyên thiết chế chính trị quân chủ quý tộc Trong khi đó, thiếtchế chính trị quân chủ quý tộc nhà Trần đã bộc lộ sự suy yếu thản hại, bộc lộ những mâu thuẫngay gắt giữa quý tộc với các tầng lớp xã hội, trong đó có cả tầng lớp quan liêu nho sĩ.
Tóm lại, xã hội Đại Việt cuối thế kỉ XIV đã lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc vàtoàn diện:chính quyền suy yếu,bọn nịnh thần chuyên quyền, dòng họ thống tri sa đoạ, nôngnghiệp giảm suất nghiêm trọng, dẫn đến nông dân nghèo,nô tì nổi dậy chống đối, hay bỏ trốn.Trong lúc đó, những cuộc tấn công đánh phá của Chămpa lại liên tục diễn ra, dù cuối cùng bị đẩylùi hẳn, đã làm cho cuộc sống của nhân dân ta thêm khổ cực, triều chính thêm rối ren, tài chínhkiệt quệ Đã vậy, Đại Việt đứng trước nguy một cuộc xâm lược ngày càng đến gần của quânMinh Đó là những tiền đề dẫn đến cuộc cải cách của Hồ Quý Ly
2.2 Cuộc cải cách của Hồ Quý Ly
Tháng 2 năm 1400, sau khi bức vua Trần nhường ngôi và tự lập làm vua, thành lập triềuđại nhà Hồ, Hồ Quý Ly đã thực hiện nhiều chính sách và biện pháp cải cách trên các mặt của đờisống xã hội
2.2.1 Cải cách chính trị, quân sự và luật pháp
* Về chính trị
Năm 1375, Hồ Quý Ly đã đề nghị xóa bỏ chế độ lấy người tôn thất làm các chức chỉ huyquân sự cao cấp, định lại số quân, đưa lực lượng trẻ vào Năm 1378, trong số 16 chỉ huy các đạoquân ở trung ương, 12 người không phải là tôn thất nhà Trần Năm 1379, Hồ Quý Ly đặt quy chế
về hệ thống quan lại địa phương, thống nhất việc quản lý từ trung ương đến địa phương Các chức
Trang 9An phủ sứ ở lộ phải quản toàn bộ lộ đến các phủ, huyện, châu… trong lộ, lộ trực tiếp chịu tráchnhiệm trước nhà nước trung ương.
Hồ Quý Ly loại bỏ dần tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần khỏi bộ máy chính quyền trungương, thay thế dần bằng tầng lớp nho sĩ trí thức có tư tưởng cải cách Từ tháng 2 năm 1400, nhàTrần hoàn toàn mất hết quyền bính dù chỉ là danh nghĩa, thiết chế quân chủ quý tộc của nhà Trầnhoàn toàn sụp đổ Chính quyền chuyển sang tay họ Hồ, đứng đầu là Hồ Quý Ly Hồ Quý Ly rasức tuyển chọn, đề bạt và tổ chức thi cử để nhanh chóng đào tạo một đội ngũ quan liêu mới chonhà nước, chế độ quân chủ quý tộc chuyển dần sang chế độ quân chủ quan liêu từ cuốI thế kỷXIV sang đầu thế kỷ XV
* Về quân sự
Hồ Quý Ly định lại binh chế, chỉnh đốn quân đội, tổ chức lại quân Túc vệ, đặt thêm cáchiệu quân, tăng cường kỹ luật quân đội, thải các tướng sĩ bất tài, sức yếu thay vào những ngườikhỏe, am tường võ nghệ
Tăng cường củng cố sức mạnh quân sự quốc phòng Hồ Quý Ly đã cho cải tiến các loại
vũ khí tiêu biểu là Hồ Nguyên Trừng (con của Hồ Quý Ly ) đã chế tạo ra súng thần cơ, thuyềnchiến cổ lâu đi biển Hồ Quý Ly đặt lệ cử quan ở Tam quán và Nội nhân, đi về các lộ thăm hỏicuộc sống nhân dân và tình hình quan lại để thăng giáng cho hợp lý (năm1400)
Hồ Quý Ly chủ trương xây dựng một hệ thống cứ điểm phòng thủ để chống xâm lược.Những nơi xung yếu tại các cửa biển và sông đều có đóng cọc gỗ Hệ thống phòng thủ kéo dài từnúi Tản Viên men theo sông Đà, sông Hồng, sông Luộc đến cửa sông Thái Bình dài gần 100km.Nhiều đồn quân chốt giữ các nơi xung yếu
* Về luật pháp:
Chỉ trong vòng 7 năm (1400 – 1407), nhà Hồ đã ban hành nhiều luật lệ và thực thi nó làmcông cụ tích cực cho việc thực hiện cải cách trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa.Nhà Hồ đã có tới 30 lần ban hành các luật lệ
Hoạt động lập pháp được chú ý tăng cường Nhà nước chủ trương tăng cường pháp trịnhằm khôi phục lại kỷ cương xã hội bị rối loạn vào cuối thời nhà Trần Các luật lệ của nhà Hồcòn tập trung vào mục đích xây dựng và củng cố chế độ quân chủ quan liêu chuyên chế vừa mới
Trang 10được thiết lập còn thiếu cơ sở kinh tế - xã hội vững chắc, trấn áp tầng lớp quý tộc tôn thất nhàTrần chống đối, chống lại các cuộc khởi nghĩa của nhân dân.
2.2.2 Cải cách kinh tế - tài chính
Năm 1396, Hồ Quý Ly cho ban hành tiền giấy thu hồi hết các loại tiền đồng gọi là “thôngbảo hội sao” có 7 loại hình vẽ khác nhau Nhà nước quy định làm giả phải tội chết, 1 quan tiềnđồng đổi được 1 quan 2 tiền giấy, ai dùng tiền đồng bị bắt cung bị tội như làm giả Trước phảnứng của nhân dân, năm 1403 nhà Hồ ban điều luật về tội không tiêu tiền giấy, nâng giá hàng vàđóng cửa hàng, đặt chức thi giám, ban mẫu về công thước thương đấu
Năm 1397, Hồ Quý Ly ban hành chính sách hạn điền Tất cả mọi người từ quý tộc cho đến
thứ dân, đều bị hạn chế số ruộng tư (tối đa:10 mẫu) trừ đại vương và trưởng công chúa Ngườinào nhiều ruộng thì được phép lấy ruộng chuột tội còn ruộng thừa thì sung công
Năm 1401, Hồ Quý Ly ban hành chính sách hạn nô, chiếu theo phẩm tước, cấp bậc mà
được sử dụng một số lượng gia nô theo quy định của nhà nước Số gia nô quá quy định phải đemnộp cho nhà nước Mỗi gia nô thừa ra được nhà nước trả cho 5 quan tiền
Năm 1402, nhà Hồ ban hành chính sách thuế mới, định lại biểu thuế đinh và thuế ruộng.
Thuế đinh chỉ đánh vào những người có ruộng được chia, còn không phải đóng thuế đinh đó làngười không ruộng,trẻ mồ côi, đàn bà góa Và thuế được đánh theo lũy tiến : người có 5 sàoruộng nộp 5 tiền, có trên 2 mẫu 6 sào nộp 3 quan
2.2.3 Cải cách văn hóa, giáo dục
Hồ Quý Ly rất quan tâm đến giáo dục và thi cử Năm 1396, Hồ Quý Ly cho sửa lại chế độthi cử đặt kỳ thi hương ở địa phương và thi hội ở kinh thành Những người đã thi hội thì phải làmthêm một bài văn do vua đề ra để định vị thứ bậc Ông đã bỏ trường thi ám tả cổ văn thay bằng thikinh nghĩa trong 4 trường thi Ông đã đặt thêm trường thứ 5 thi viết chữ và toán
Ngay sau khi mới lên ngôi ông mở khoa thi hội lấy đỗ 20 người trong đó có NguyễnTrãi, nhà sử học Ngô Thời Sĩ “phép khoa cử đến đây mới đủ văn tự 4 trường, đến nay còn theo,không thay đổi được” Năm 1397, Hồ Quý Ly đã đề nghị đặt học quan ở các lộ Sơn Nam, KinhBắc, Hải Đông
Hồ Quý Ly đã cho chấn chỉnh lại Phật giáo và Nho giáo đề cao Nho giáo và hạn chế Phậtgiáo, Đạo giáo Năm 1396 Hồ Quý Ly đã cho sa thải các tăng đạo dưới 50 tuổi bắt họ phải Hồ
Trang 11Quý Ly hoàn tục vị nho giáo thực dụng chống giáo điều kết hợp với tinh thần pháp gia Năm
1392 soạn sách” minh đạo” bàn về Nho giáo, phê phán thói giáo điều của Nho Hàn Dũ , Chu Đôn
Di, Trình Hiệu La “trộm Nho” và đề Cao Chu Công Ngăn cấm và xử phạt nặng những người làmnghề thương thuật
2.3 Ý Nghĩa
Phải nói rằng Hồ Quý Ly đã nhận thức được nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảngcuối đời Trần, mạnh dạn tiến hành các chính sách và biện pháp cải cách Đồng thời ông cũng làngười mở đầu một giai đoạn cải cách quan trọng trong lịch sử Việt Nam
Về mục tiêu thứ nhất, Hồ Quý Ly đã loại bỏ tầng lớp quý tộc Trần và chuyển dần từ chế độ quân chủ quý tộc sang chế độ quân chủ quan liêu Hồ Quý Ly ra sức tuyển chọn, đề bạt và tổ
chức thi cử để nhanh chóng đào tạo một đội ngũ quan liêu mới Bộ máy hành chính ở trung ương
và địa phương được chấn chỉnh lại với “quan chế và hình luật” ban hành năm 1401 Nói chung,chế độ cai trị của triều Hồ mang tính pháp trị cao hơn
Về mục tiêu thứ hai, qua các chính sách của Hồ Quý Ly có thể nhận thấy hướng giải quyết của ông là hạn chế thế lực của tầng lớp quý tộc, phát triển xu hướng tư hữu hóa trong một giới hạn nhất định và tập trung quyền lực vào chính quyền trung ương.
Những cải cách của Hồ Quý Ly về nhiều mặt cho thấy ông là một nhà cải cách lớn, có lòngyêu nước, ý thức tự cường, tinh thần dân tộc sâu sắc, kiên quyết chống ngoại xâm để bảo vệ đấtnước
Nhìn chung, tư tưởng và chính sách cải cách với nhiều điểm tiến bộ, thậm chí vượt trướcthời đại của Hồ Quý Ly không chỉ là một giải pháp tình thế để giải quyết cuộc khủng hoảng kinh
tế - xã hội, đáp ứng nhu cầu phòng thủ quốc gia lúc bấy giờ mà còn mở đầu cho việc xây dựngmột nhà nước trung ương tập quyền thay thế cho nhà nước phong kiến quý tộc lấy Phật giáo làmquốc giáo đã lỗi thời
Tuy nhiên, hệ thống chính sách, các giải pháp cải cách còn có nhiều điểm chưa hợp lý, cònbất cập Cuộc cải cách này chưa đủ sức để hóa giải cuộc khủng hoảng, chưa giải quyết đượcnhững mâu thuẫn xã hội, mà còn làm rạn nứt thêm mối đoàn kết toàn dân, nhất là mối liên hệ giữavương triều với nhân dân Nhà Hồ nhanh chóng bị thất thủ trước cuộc xâm lược của nhà Minhmột phần là do mất lòng dân
Trang 12Những việc làm của Hổ Quý Ly, xét về mặt lợi ích quốc gia, đã không thành công Thấtbại của cuộc kháng chiến chống Minh đương thời có phần trách nhiệm của ông và có lẽ ông cũngnhận thức được phần nào điều đó khi ông thưởng cho Hồ Nguyên Trừng hộp trầu bằng vàng, saucâu nói khá độc đáo “thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo”.
3 CUỘC CẢI CÁCH CỦA LÊ THÁNH TÔNG
3.1 Hoàn cảnh lịch sử
Sau cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh thắng lợi, Trải qua gần 22 năm đặt áchxâm lược giặc Minh đã bị đánh đuổi về nước, tháng 4 năm 1428 Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, mởđầu cho triều đại nhà Lê Trải qua các đời vua Thái Tổ (1428-1433), Thái Tông (1434-1442), đấtnước đang dần được khôi phục Năm 1460, Lê Thánh Tông lên ngôi kế thừa những thành quả củatriều đại trước, có những điều kiện mới để xây dựng đất nước, song cũng đứng trước những khókhăn thử thách và có nguy cơ đưa xã hội đi vào khủng hoảng như thời cuối nhà Trần
Trải qua các đời vua Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Nghi Dân bộ máy chính quyền đều cónhững thay đổi, củng cố thêm theo xu hướng tập quyền
Để bảo vệ quyền chuyên chế của mình, từ những vua đầu nhà Lê đã dùng những thủđoạn giết hại các công thần có tài năng, uy tính mà các vua Lê cho là họ có thể lấn át hay làmgiảm uy quyền của nhà vua như việc giết hại hai đại công thần có công với dân tộc trong cuộckháng chiến chống quân lược Minh và sáng lập ra nhà Lê như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảokhi Lê Lợi lên làm vua; đến triều Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông giết Lê Khả, Lê Khắc Phục,Nguyễn Trãi, Lưu Nhân Chú, Trịnh Khả, Lê Sát, Lê Ngân,
Trở lại với tình hình xã hội thời Lê thì trong “Trung hưng ký” đã phản ánh như sau:
“Nhân Tông mới hai tuổi, sớm lên ngôi vua…kẻ thân yêu giữ việc, tệ hối lộ công hành, phườngdốt đặc nổi lên như ong Người trẻ không biêt nghĩ, tự ý làm càn Bán quan mua ngục, ưa giàu,ghét nghèo, bọn dạo sát thì được bổ dụng…”
Nhận thức được thực trạng trên của vương triều và đất nước, với tư chất thông minh, quyếtđoán Lê Thánh Tông đã tiến hành chính sách và biện pháp cải cách ý nghĩa trên các mặt như :chính trị, kinh tế xã hội, quân sự, văn hóa, giáo dục Lúc này, muốn xây dựng một nhà nước trungương tập quyền mạnh, đòi hỏi phải chấn chỉnh lại kỷ cương phép nước, phải cải cách thiết chếchính trị, cả về cơ chế vận hành của bộ máy hành chính từ trung ương đến các địa phương Công