1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Báo cáo thực nghiệm ký sinh trùng khu vực suối hoa

12 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 712,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp điều tra, tổng hợp số liệu luôn là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu điều tra về dịch tể học nói riêng và tất cả những nghiên cứu về 1 đối tượng nào đó ở địa phương nói chung. Bằng cách phân tích và tổng hợp các số liệu có được sau khi lấy mẫu vật, chúng ta có thể đưa ra các kết luận về điều tra dịch tể tại địa phương đó và từ đó đưa ra các hướng xử lý cho từng vùng. Điều tra là phương pháp dùng những câu hỏi (hoặc bài toán) nhất loạt đặt ra cho một số lớn người nhằm thu được số những ý kiến chủ quan của họ về một vấn đề nào đó. Điều tra là phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên một diện rộng nhằm phát hiện những quy luật phân bố, trình độ phát triển, những đặc điểm về mặt định tính và định lượng của các đối tượng cần nghiên cứu. Các tài liệu điều tra được là những thông tin quan trọng về đối tượng cần cho quá trình nghiên cứu và là căn cứ quan trọng để đề xuất những giải pháp khoa học hay giải pháp thực tiễn. Có hai loại điều tra: điều tra cơ bản và điều tra xã hội học.

Trang 1

BÁO CÁO THỰC NGHIỆM KÝ SINH TRÙNG

(Khu vực Suối Hoa) Nhóm: 7

Thành viên: Nguyễn Hưng Thịnh

Phạm Huỳnh lộc

Lê Phạm Thảo Minh

Mục Tiêu:

- Thực hiện được kỹ thuật thu được mẫu vật ngoài thực địa

- Xác định được các ổ sinh thái của các loài ký sinh trùng, muỗi, bọ gậy

- Định loại nhanh các loài ký sinh trùng

- Xác định, thu thập các loài ký sinh trùng, ngoại ký sinh

- Thu thập được một số loài bướm đêm, muỗi anopheles

- Nắm vững một số phương pháp điều tra, thu thập và xử lý mẫu vật

- Nắm vững các phương pháp thu thập, xử lý và bảo quản mẫu vật Tiết túc Y học

Nội dung:

- Điều tra tình hình giun sán ký sinh ơ gia súc, gia cầm tại địa phương

- Thu thập mẫu ốc, bọ gậy muỗi anopheles, bọ gậy Aedes,…

- Thu mẫu ốc, bướm ngày, chuồn chuồn

- Thu mẫu bướm đêm

- Đặt bẫy thu các loài vật chủ như chuột, sóc

- Bắt bọ xít rừng, bắt bọ gậy ở các suối

- Bẫy đèn CDC

- Điều tra, thu thập mẫu vật tiết túc Y học

Dụng cụ và trang thiết bị

- Kính hiển vi

- Lam kính Lá kính

- Bút

- Viết

- Que gỗ

- Khan vãi

- Bao tay

- Bình đựcng dịch sát trùng

- Hóa chất bảo quản

- Kéo, dao

- Que chọc tủy

Trang 2

PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA, TỔNG HỢP SỐ LIỆU

- Phương pháp điều tra, tổng hợp số liệu luôn là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu điều tra về dịch tể học nói riêng và tất cả những nghiên cứu về 1 đối tượng nào đó ở địa phương nói chung Bằng cách phân tích và tổng hợp các số liệu có được sau khi lấy mẫu vật, chúng ta có thể đưa ra các kết luận về điều tra dịch tể tại địa phương đó và từ đó đưa ra các hướng xử lý cho từng vùng

- Điều tra là phương pháp dùng những câu hỏi (hoặc bài toán) nhất loạt đặt ra cho một số lớn người nhằm thu được số những ý kiến chủ quan của họ về một vấn đề nào đó

- Điều tra là phương pháp khảo sát một nhóm đối tượng trên một diện rộng nhằm phát hiện những quy luật phân bố, trình độ phát triển, những đặc điểm về mặt định tính và định lượng của các đối tượng cần nghiên cứu Các tài liệu điều tra được là những thông tin quan trọng về đối tượng cần cho quá trình nghiên cứu và là căn cứ quan trọng để đề xuất những giải pháp khoa học hay giải pháp thực tiễn Có hai loại điều tra: điều tra cơ bản và điều tra xã hội học

- Phương pháp điều tra

+ Điều tra cơ bản:

- Là khảo sát sự có mặt của đối tượng trên một diện rộng để nghiên cứu các quy luật phân bố cũng như các đặc điểm về mặt định tính và định lượng Ví dụ: điều tra địa chất, điều tra dân số, điều tra trình độ văn hóa, điều tra chỉ số thông minh (IQ) của trẻ em…

- Các bước của điều tra cơ bản thường được tiến hành như sau:

• Xây dựng kế hoạch điều tra gồm: mục đích, đối tượng, địa bàn, nhân lực, kinh phí…

• Xây dựng các mẫu phiếu điều tra với các thông số, các chỉ tiêu cần làm sáng tỏ

• Chọn mẫu điều tra đại diện cho số đông, chú ý tới tất cả đặc trưng của đối tượng và chú ý đến: chi phí điều tra rẻ, thời gian có thể rút ngắn, nhân lực điều tra không quá đông, có thể kiểm soát tốt mọi khâu điều tra, dự tính được những diễn biến của quá trình điều tra và các kết quả nghiên cứu đúng mục đích

Có hai kỹ thuật chọn mẫu:

* Chọn mẫu xác suất là chọn mẫu ngẫu nhiên, đơn giản bằng cách lẫy mẫu theo hệ thống, từng lớp, từng nhóm hay theo từng giai đoạn thời gian

* Chọn mẫu chủ định là chọn mẫu theo địa chỉ tiêu cụ thể phục vụ cho mục đích nghiên cứu Về kích thước mẫu phải tính toán chi li cho phù hợp với chiến lược điều tra và phạm vi đề tài

- Xử lý tài liệu: Các tài liệu thu được bằng điều tra có thể được phân loại bằng phương pháp thủ công hay xử lý bằng công thức toán học thống kê và máy tính cho ta kết quả khách quan Khi kiểm tra kết quả nghiên cứu, có thể dùng cách lặp lại điều tra thay đổi địa điểm, thời gian, thay đổi người điều tra hoặc sử dụng các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác

+Điều tra xã hội học: là điều tra quan điểm, thái độ của quần chúng về một sự kiện

chính trị, xã hội, hiện tượng văn hóa, thị hiếu …

- Ví dụ: điều tra nguyện vọng nghề nghiệp của thanh niên, điều tra hay trưng cầu dân ý về một luật mới ban hành…

- Điều tra xã hội học thực chất là trưng cầu ý kiến quần chúng, được tiến hành bằng cách phỏng vấn trực tiếp, thảo luận hay bằng hệ thống ankét (đóng, mở)…

– Điều tra là một phương pháp nghiên cứu khoa học quan trọng, một hoạt động có mục đích, có kế hoạch, được tiến hành một cách thận trọng, do đó người nghiên cứu cần tuân thủ nghiêm túc các bước sau đây:

+ Chuẩn bị điều tra gồm các thao tác: chọn mẫu, chọn địa bàn khảo sát, lựa chọn thời gian khảo sát, thiết kế phiếu hỏi và khảo sát định tính

Trang 3

+ Tiến hành điều tra: điều tra viên phải được tập huấn để quán triệt mục đích, yêu cầu điều tra, thống nhất các biện pháp phù hợp với từng nhóm mẫu và từng địa bàn điều tra Trong quá trình điều tra, người nghiên cứu cần tuân thủ những yêu cầu đã được đề ra Nếu sử dụng cộng tác viên, điều tra viên, người nghiên cứu cần giám sát điều tra với mục đích thu được thông tin một cách khách quan, tin cậy

+ Xử lý kết quả điều tra: được tiến hành bằng phương pháp nghiên cứu lý thuyết: phân tích tư liệu, tổng hợp và phân loại tư liệu và tiến hành xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê, phân tích, so sánh … theo những biến số độc lập để rút ra những thuộc tính chung của các tập hợp mẫu nhằm hình thành luận cứ cho các giả thuyết nghiên cứu

- Tùy theo mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu cũng như trạng thái tồn tại của đối tượng khảo sát, người nghiên cứu có thể lựa chọn, sử dụng một số biện pháp xử lý thông tin định tính hay định lượng bằng các số liệu, các loại biểu đồ, sơ đồ để mô tả, giải thích, làm rõ các thuộc tính bản chất, xu thế của đối tượng nghiên cứu

– Phương pháp điều tra có nhiều loại:

+ Điều tra bằng trò chuyện (đàm thoại)

+ Điều tra bằng phiếu

+ Điều tra bằng trắc nghiệm

- Tùy theo mục đích và mức độ điều tra, người ta còn chia ra:

+ Điều tra thăm dò (diện rộng)

+ Điều tra sâu (hẹp, kín)

+ Điều tra bổ sung…

MỔ ẾCH

- I/ Kỹ thuật mổ:

- 1) Phá tủy: Dùng khăn mềm lau sạch chất nhầy ếch Tay trái cầm ếch, ngón đeo nhẫn và ngón út

giữ chặt 2 chân sau vào lòng bàn tay, ngón trỏ đặt phía trên dọc theo cột sống, ngón giữa và ngón cái đặt 2 bên thân song song với cột sống và áp sát vào mặt dưới cột sống Như vậy là 3

Trang 4

ngón cái, trỏ và giữa giữ thẳng cột sống giúp ta hướng mũi kim và kiểm soát mũi kim sau này khi luồn vào ống tủy Tay phải cầm kim mũi nhọn bằng ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa, ngón thứ 4 tì lên mũi ếch ấn nhẹ xuống Lúc này nhìn da ở chỗ gập lại của đầu và thân thấy 1 chỗ hơi lõm xuống, đó chính là vị trí của hố khớp Đặt mũi kim vào hố khớp (tức chỗ lõm) thì dựng đứng mũi kim, ấn và xoáy nhẹ cho xuyên qua da, đâm vào hành tủy Sau đó rút nhẹ kim (nhưng không rút

ra khỏi hố khớp), nghiêng mũi kim tìm ống tủy xoáy thẳng vào Chọc đúng ống tủy, ếch sẽ duỗi thẳng 2 chân sau và hơi run run , sau đó mềm ra và mất tính cường Lúc này tủy được phá xong

- 2) Cách mổ:

- a- Cách mổ thứ nhất: Đặt ếch nằm ngữa trên khay mổ, đóng căng tứ chi bằng đinh ghim

- Dùng kéo cắt da ếch từ lỗ huyệt lên đến đầu sau đó cắt sang hai bên, ghim các tấm da sang hai bên

- Cắt lớp cơ song song với đường cắt da rồi dùng đinh ghim ghim lớp cơ sang 2 bên Khi cắt cần nhấc mũi kéo lên phía trên tránh cắt vào nội quan ếch ở phía dưới

- Dùng kẹp nâng cơ ở ngực ếch lên cắt bỏ 2 bên sườn, cắt da cơ xương và bỏ khối da cơ xương lên trên xương đòn để quan sát khe họng

- Rửa sạch mẫu vật, quan sát nội quan

b- Cách mổ thứ hai: Sau khi đã cắt da bụng, dùng kéo cắt cơ bụng từ phía dưới tới cằm Đến vai

cắt lìa 2 xương cánh tay dính vào đai vai Do đó động mạch dưới đòn bị đứt Lấy nước rửa máu Cắt bỏ cả thềm miệng bằng cách cắt đứt chỗ khớp của hàm trên với hàm dưới Khi cắt cơ bụng, chú ý hướng mũi kéo lên trên tránh thúng nội quan

- 3) Lọc Lấy ký sinh trùng

- Dùng kéo vài nhíp cắt riêng dạ dày và ruột, sau đso đặt vào khay có chưa nước muối sinh lý

- Dung dao rọc dạ dày và ruột, đặt lên kính soi tìm ký sinh trùng

- Dung hút hút ký sinh trùng đặt vào lọ đựng

Phương pháp cố định mẫu giun sán ký sinh

Mẫu giun sang thu được cần phải định hình để bảo quản và định loại Đối với sán lá, sán dây và giun đầu gai định hình tron cồn 70o Giun tròn định hình trong dung dịch Barbagalo(3% formol+ 8g muối

ăn (NaCl) + 1 lít nước)

Trang 5

Mẫu giun sán không nên định hình ngay trong lúc sống, vì như thế sẽ làm co cơ, gây khó khan cho nghiên cứu sau này, mà nên cho vào dung dịch sinh lý để chết tự nhiên Đối với sán lá, sán dây có kích thước lớn cần ép giữa 2 phiến kính trong dung dịch cồn 10o cho chết, sau đso hãy cho vào dung dịch định hình Giun đầu gai cũng nên ép trong dung dịch sinh lý để cho đầu thò ra

Mẫu giun sán định hình trong ống nghiệm cần phải ghi rõ nhãn; Số thứ tư, tên động vật (tuổi, đực, cái), nơi ký sinh, số lượng giun sán (ghi theo lớp: sán lá, sán dây, giun tròn, giun đầu gai,…), địa điểm, ngày thu mẫu sau đó nút ống nghiệm đậy bằng bông không thấm nước Những ống nghiệm nhỏ này phải để ngập trong dung dịch định hình tương ứng ơ trong một lọ rộng miệng và có nắp đậy kín để tránh bị khô mẫu

Cho giun sán đã thu chia làm 1 loài 1 đĩa petri riêng (sán lá, giun tròn, giun đầu gai,…)

- Đối với giun tròn: cho vào nước mối sinh lý ngâm từ 1 đến 2 phút thi hút bớt nước muối sinh lý

ra Sau đso cho 1 ít nước muối vào cốc thủy tinh và đổ nước sôi khoảng 800C và lắc đều cho muối tan ra xong đổ vào đĩa petri có mẫu giun tròn Mục đích của việc đổ nước sôi sau khi ngâm vào muối sinh lý là để cho giun tròn duỗi thẳng người ra (vì trong các bộ phận như ruột, dạ dày,… nhỏ nên giun tròn thường co lại) Sau đó cho vào cồn 700 để bảo quản mẫu

- Đối với sán lá: tốt nhất là nên thu mẫu ấu trùng sán lá và sán lá trưởng thành khi đang còn sống cho vafoi nước muối sinh lý Sau đó dung phương pháp nước nóng như giun tròn Nếu sán quá nhiều trứng che hết nội tạng của sán lá thì ta cho vào nước muối sinh lý khoảng nữa ngày và theo dõi lien tục cho đến khi nào thấy nội tạng mà vẫn còn giữ được trứng Sauk hi dung phương pháo nước nóng thì ta ép tiêu bản sán lá giữa 2 phiến kinh, lấy chỉ thắt quanh để cố định 2 phiến kính (chú ý không thắt quá chặt hay quá lỏng) Tiếp theo cho ngâm vào cồn 700 để trong 10 – 14 ngày mới có thể đem ra nhuộm

- Đ i v i giun đ u gai:thì lúc thu m u cũng cho nố ớ ầ ẫ ước mu i sinh lý 1-2 phút, nh ng riêng giunố ư

d u gai thì không dùng phầ ương pháp nước nóng mà cho giun đ u gai vào nầ ước máy ( chú ý

nước máy đ qua đêm) Sau đó ngâm đ qua đêm cho đ n khi nào vòi c a giun đ u gai vòi ể ể ế ủ ầ

du i ra.ỗ

K T QU THU Đ Ế Ả ƯỢ C

*) Giun đ u gai ầ

I.Đại cương

Giun đầu gai Gnathostoma spp được tìm thấy trong một khối u ở vách dạ dày của một hổ con

đã chết tại vườn thú ở London năm 1836 và được Owen đặt tên là Gnathostoma spinigerum Năm 1889, ca nhiễm Gnathostoma đầu tiên ở người được phát hiện bởi bác sĩ Deutzer, ông đã

bắt được ấu trùng từ một nốt dưới da xung quanh vùng vú một phụ nữ người Thái Lan, ấu

Trang 6

trùng này được Levinsen đặt tên là Cheiracanthus siamensis, về sau được xác định làG.spinigerum.

Bệnh do ấu trùng giun đầu gai là một bệnh ký sinh trùng truyền từ động vật sang người Một số

loài đã được chứng minh có liên quan đến gây bệnh ở người: G.doloresi, G.spinigerum, G.nipponicum, G.hispidum và gần đây là G.binucleatum.

G.spinigerum từ lâu được xem như một loài chính gây bệnh cho người ở khu vực châu Á nói

chung và Việt Nam nói riêng

Bệnh giun đầu gai là một trong những bệnh nhiễm trùng hiếm gặp nhất, người bị nhiễm do tiêu

hóa phải ấu trùng giai đoạn 3 của loài giun tròn, giống Gnathostoma spp Thường gặp nhất

là G.spinigerum, mặc dù một số loài khác cũng có thể gây bệnh cho người Ấu trùng có thể

được tìm thấy trong rau hoặc thịt nấu chưa chín (cá nước ngọt, gà, ốc, ếch, heo) hoặc nước bị nhiễm Hiếm khi ấu trùng xuyên qua da của người có phơi nhiễm với nguồn nước hoặc thịt bị nhiễm

Lớp giun đầu gai thuộc ngành đầu gai Acanthopheles bao gồm khoảng 1500 loài, chia làm 3

phân lớp: Neochinorhychnea, Echinohynchinea, Gigantorhynchinea.

II Dịch tễ học

1 Tần suất

G.spinigerum được tìm thấy ở một số nước như: Nhật, Australia, Mỹ, Mexico, và nhiều nhất là Thái Lan Trên thế giới, bệnh do G.spinigerum gây ra là không phổ biến, ngay cả ở các vùng

lưu hành bệnh giun sán như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Lào, Malaysia, Đài Loan, Thái Lan, Việt Nam và châu Mỹ Latinh (chủ yếu ở Mexico và Ecuador)

G.spinigerum thường được phát hiện ở vùng nhiệt đới Ấu trùng có thể phát hiện trên nhiều loại

động vật khác nhau, chúng sinh sống trong nhiều hệ sinh thái khác nhau Trong khi chó, mèo và

có thể cả heo là các vật chủ chính thì có đến 36 vật chủ trung gian nhiễm tự nhiên thông qua

mô tả và xác định theo mô hình vật chủ thực nghiệm

Trang 7

Phân bố bệnh giun đầu gai Gnathostoma spp trên toàn cầu

(Nguồn: http://www.cdc.gov/parasites/gnathostoma/)

2 Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong

Ấu trùng G.spinigerum có thể tồn tại 10-12 năm trong cơ thể cơ thể người [1] do đó, nó góp

phần vào một tỷ lệ mắc bệnh đáng kể

Tỷ lệ tử vong do bệnh này khoảng 8-25%; hoặc có di chứng kéo dài, khoảng 30% có liên quan đến hệ thần kinh [1]

3 Chủng tộc, giới tính và tuổi mắc bệnh

Chưa phát hiện bệnh có liên quan đến chủng tộc, dân tộc, độ tuổi hay giới tính Một số ca có liên quan đến chế độ ăn uống, nghề nghiệp

4 Nguồn lây nhiễm

Người bị nhiễm khi ăn phải ấu trùng giai đoạn 3 có trong rau sống hoặc thịt nấu chưa chín từ các vật chủ chính hoặc khi họ uống, làm việc, bơi lội trong nước bị nhiễm ấu trùng hoặc các loài giáp xác bị nhiễm sẵn

Các trường hợp lây truyền trước sinh có thể xảy ra ở người

Ở người thì ấu trùng không quay trở lại thành dạ dày và có những trường hợp có thể tồn tại trong cơ thể đến 10-12 năm Vì lý do này, trứng giun chưa bao giờ hoặc rất hiếm được tìm thấy trong phân của người

III Đặc điểm hình thái học và chu kỳ phát triển

Các loài giun đầu gai Gnathostoma spp thường gặp ký sinh ở người.

1 Hình thái học

a Giun trưởng thành

Giun đầu gai không có hệ tiêu hóa, dinh dưỡng bằng cách thẩm thấu qua bề mặt cơ thể

Giun trưởng thành có chiều dài 11-54 mm Giun đực dài 11-25 mm, giun cái dài 25 - 54mm

Trang 8

Giun đầu gai Gnathostoma spinigerum giai đoạn trưởng thành

Hình ảnh siêu cấu trúc bề mặt Gnathostoma spinigerum

(Nguồn:http://www.Stanford.edu/) Gnathostoma spp một đầu có hình củ, một cặp môi ở bên bao quanh một cái miệng trên trục

thẳng đứng Đầu được bao phủ bởi những hàng nhú gai bén nhọn nằm ngang Bên trong, đầu chia thành 4 túi có tuyến dính liền gần với thực quản và chia làm 4 khoang rỗng, mỗi khoang liên tục với một túi ở cổ thông qua khoang trung tâm

Các con cái khác với con đực là con cái có 2 gai thịt lớn quanh đầu dưới của giun Phần lưng tròn, ngược lại phần bụng hơi phẳng

Con đực có 8 nhú gai ở đuôi bao quanh hậu môn Các gai nhỏ cùn, đóng vai trò quan trọng như

lỗ sinh sản mở ra âm đạo khi đưa tinh trùng vào Cơ quan sinh dục con đực có kích thước 1.1mm X 0.4mm

Điểm đặc biệt của Gnathostoma spinigerum

 Cơ thể dạng hình trụ

 Một lớp cuticle với 3 lớp bên ngoài cấu tạo bằng collagen và các chất khác

 Lớp cuticle bảo vệ giun khỏi bị tiêu hóa để chúng có thể xâm nhập vào hệ tiêu hóa của các động vật khác

 Lớp cơ dọc theo thành cơ thể Cơ sắp xếp theo từng dãy

 Các sợi thần kinh dọc theo vùng bụng và lưng nối với phần chính cơ của cơ thể

b Trứng và ấu trùng

Trang 9

Trứng: Trứng giun Gnathostoma hình ovan Kích thước khoảng chừng 40-70

micrometer, trứng có vỏ mỏng, bên trong chứa 1-2 tế bào phôi, có 2 lớp vỏ, một đầu có nắp nhô ra

Sựphát triển của trứng giun đầu gai theo thời gian (Nguồn: http://www.pn.bmj.com )

Ấu trùng: Ấu trùng giai đoạn 3 có hình dạng gần giống với giun trưởng thành nhưng

trên đầu chỉ có 4 hàng gai Chiều dài khoảng 3 - 5mm, đường kính khoảng 0.3mm

Ấu trùng giun đầu gai Gnathostoma spinigerum (Nguồn: http://www.pn.bmj.com )

2 Chu kỳ phát triển

Trang 10

Chu kỳ phát triển của giun đầu gai

1 Trong các vật chủ chính trong tự nhiên (heo, chó, mèo và các động vật hoang dại) giun trưởng thành sống trong một khối u ở thành dạ dày Chúng thải trứng dạng không phôi

ra ngoài theo phân

2 Các trứng trở nên có phôi sau 1 tuần khi ở trong nước và các trứng ly giải ra các ấu trùng giai đoạn 1

3 Nếu chúng được ăn bởi một con nhuyễn thể nhỏ (Cyclops, vật chủ trung gian thứ nhất), các ấu trung giai đoạn 1 sẽ phát triển thành ấu trùng giai đoạn 2

4 Sau khi tiêu hóa phải Cyclops bởi một con cá, ếch hoặc rắn (vật chủ trung gian thứ hai),

ấu trùng giai đoạn 2 sẽ di chuyển vào trong các thớ thịt và phát triển thành ấu trùng giai đoạn 3

5 Khi vật chủ trung gian thứ hai bị tiêu hóa bởi vật chủ chính, ấu trùng vào đến dạ dày, xuyên qua thành dạ dày và di chuyển đến gan, xuyên qua mô liên kết, cơ Sau 4 tuần,

ấu trùng di chuyển ngược trở lại dạ dày, tạo thành khối u và phát triển thành giun trưởng thành Trong các khối u nang này, giun đẻ trứng, trứng rơi vào lòng dạ dày, theo thức ăn xuống ruột và được thải ra ngoài theo phân

Ngày đăng: 13/12/2021, 17:56

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w