Không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển kinh tế mà lạikhông tham gia vào phân công lao động quốc tế và trao đổi hàng hoá với bên ngoài.Hoạt động thương mại quốc tế mà đặc biệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
***
TIỂU LUẬN
MÔN QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ
QUỐC TẾ GIAI ĐOẠN 2000 - 2018
Giảng viên : PGS.TS Nguyễn Quang Minh
Lớp : Quan hệ Kinh tế quốc tế (KTE306.3)
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Tâm – 1811120130
: Nguyễn Mai Anh – 1811120008
: Nguyễn Thị Ngọc – 1815510087
: Nguyễn Đức Đoàn - 1811120029
: Đinh Thị Dương Tâm – 1811120129
Trang 2
Phần II Tình hình phát triển thương mại dịch vụ quốc tế 9
1 Tăng trưởng kim ngạch thương mại dịch vụ quốc tế có quy mô lớn và tốc độ tăng trưởng nhanh 9
1.1 Về quy mô tăng trưởng 10
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng quy mô kim ngạch xuất khẩu dịch vụ
12
2 Tốc độ tăng trưởng 14
3 Cơ cấu thương mại dịch vụ quốc tế 17
3.1 Tổng quan về sự dịch chuyển cơ cấu Thương mại dịch vụ quốc tế 17 3.2 Sự phát triển của một số nhóm dịch vụ chủ yếu 18
Trang 3b) Dịch vụ chuyển quyền sử dụng sở hữu trí tuệ 31
4 Top 5 nước dẫn đầu thế giới về xuất khẩu dịch vụ năm 2018 34
1 Kim ngạch TMDV quốc tế dự báo vẫn tăng trưởng 36
2 Phương thức cung ứng và tiêu dùng dịch vụ có sự thay đổi quan trọng: 38
3 Cơ cấu sản phẩm trên thị trường đang có sự thay đổi theo hướng gia tăng nhanh chóng tỷ trọng của các ngành sử dụng nhiều hàm lượng công nghệ, giảm
tỷ trọng của dịch vụ du lịch và vận tải: 43
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Bước sang thế kỷ 21, là thế kỷ của toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại,các nướctrên thế giới đều tập trung vào phát triển kinh tế Kinh tế đã trở thành vấn đề cốt lõitrong mọi hoạt động quốc tế Các quốc gia đều nhận thấy rằng, muốn đặt chân vàocộng đồng các dân tộc trên thế giới cần phải đặt phát triển kinh tế lên vị trí hàng đầu,
và con đường duy nhất là phải chủ động hội nhập kinh tế, phù hợp với xu hướng toàncầu và khu vực Không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển kinh tế mà lạikhông tham gia vào phân công lao động quốc tế và trao đổi hàng hoá với bên ngoài.Hoạt động thương mại quốc tế mà đặc biệt là hoạt động thương mại dịch vụ quốc
tế có vai trò như một chiếc cầu nối liên kết hoạt động kinh tế của các quốc gia, biếnnền kinh tế thế giới thành một guồng máy hoạt động có hiệu quả hơn Có thể nóithương mại dịch vụ quốc tế có vai trò không nhỏ, tác động trực tiếp đến sự phát triểncủa nền kinh tế các quốc gia trên thế giới, vì vậy việc xây dựng chính sách thương mạiquốc tế, không chỉ về hàng hóa mà còn chú trọng đến mảng dịch vụ, luôn được xem làvẫn đề trọng yếu của mỗi quốc gia để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế cho mỗiquốc gia đó
Nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động thương mại dịch vụ quốc tế, chúng emlựa chọn đề tài “Tìm hiểu tình hình phát triển thương mại dịch vụ quốc tế giai đoạn
2000 – 2018” đề phân tích, đánh giá tình hình và sự tác động của thương mại dịch vụquốc tế đối với nền kinh tế trong nước và quốc tế trong hai thập kỷ gần đây, qua đó dựđoán xu hướng phát triển trong những năm tiếp theo
Trang 5Phần I Khái niệm về dịch vụ, thương mại dịch vụ, TMDV quốc tế
1 Khái niệm dịch vụ
1.1 Định nghĩa
Bản thân dịch vụ vốn dĩ là một khái niệm quen thuộc với tất cả mọi người và
được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong cuộc sống hàng ngày Tuy nhiên, để định nghĩađược khái niệm này lại khá phức tạp vì độ bao phủ và đa nhiệm của nó trên nhiều lĩnh
vực mà mỗi lĩnh vực lại hiểu nghĩa của dịch vụ theo một cách riêng Ví dụ như:
- Theo Luật giá năm 2013: Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản
xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngànhsản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật
- Trong kinh tế học: Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa
nhưng là phi vật chất Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sảnphẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trongkhoảng giữa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ
Từ những ví dụ trên, ta thấy rằng khó có thể đưa ra một định nghĩa tuyệt đối chokhái niệm dịch vụ Mặc dù vậy, vẫn có thể hiểu được dịch vụ theo một cách chungnhất là:
Dịch vụ là một hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với người cung cấp
mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu.
1.2 Đặc điểm
- Tính đồng thời (Simultaneity): sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời
- Tính không thể tách rời (Inseparability): sản xuất và tiêu dùng dịch vụ khôngthể tách rời
- Tính không đồng nhất (Variability): dịch vụ không có chất lượng đồng nhất
- Tính vô hình (Intangibility): không có hình hài rõ rệt và không thể thấy trướckhi tiêu dùng
- Không lưu trữ được (Perishability): không lập kho để lưu trữ như hàng hóađược
Trang 62 Thương mại dịch vụ
2.1 Khái niệm
Thương mại dịch vụ trong tiếng Anh được gọi là Trade in Services.
Quan hệ mua bán giữa người tạo ra dịch vụ và người sử dụng dịch vụ diễn radưới hình thức cung ứng dịch vụ Đây là một quá trình liên hoàn bao gồm nhiều khâu
có liên quan mật thiết với nhau Quá trình này được gọi chung là thương mại dịch vụ.
Do đối tượng của thương mại dịch vụ là dịch vụ (sản phẩm vô hình) nên việcđịnh nghĩa về thương mại dịch vụ thường không đồng nhất, cũng như dịch vụ, kháiniệm này có nhiều cách hiểu khác nhau Cách hiểu đơn giản và phổ biến nhất là:
Thương mại dịch vụ là sự trao đổi mua bán mà ở đây đối tượng là dịch vụ.
Ban Thư ký WTO phân thương mại dịch vụ thành 12 khu vực bao gồm:
8 Dịch vụ liên quan đến sức khỏe và xã hội,
9 Dịch vụ du lịch và các hoạt động có liên quan,
10 Dịch vụ giải trí, văn hóa, thể thao,
11 Dịch vụ vận tải,
12 Các dịch vụ khác
Trang 7Từ 12 khu vực trên đây lại chia thành 155 tiểu khu vực Theo GATS, thương mạidịch vụ bao gồm các dịch vụ ở bất kỳ khu vực nào trừ dịch vụ do yêu cầu của chínhphủ, là những dịch vụ không dựa trên kinh doanh hoặc cạnh tranh.
2.2 Đặc điểm:
- Thứ nhất: Dịch vụ là loại sản phẩm vô hình, không sờ mó, nhìn thấy được
nhưng lại được cảm nhận qua tiêu dùng trực tiếp của khách hàng Quá trình sản xuất
và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ diễn ra đồng thời, nhưng hiệu quả của dịch vụ đối vớingười tiêu dùng lại rất khác nhau Có loại xảy ra tức thì, nhưng có loại chỉ đem lại hiệuquả sau nhiều năm, chẳng hạn dịch vụ giáo dục phải sau 5-10 năm mới có thể đánh giáđầy đủ Do đó, việc đánh giá hiệu quả thương mại dịch vụ phức tạp hơn so với thươngmại hàng hóa
- Thứ hai: Thương mại dịch vụ có phạm vi hoạt động rất rộng, từ dịch vụ cho tiêu
dùng cá nhân đến dịch vụ sản xuất, kinh doanh, quản lý trong tất cả các ngành của nềnkinh tế quốc dân, thu hút đông đảo người tham gia với trình độ cũng rất khác nhau, từlao động đơn giản như giúp việc gia đình, bán các hàng lưu niệm ở khu du lịch đến laođộng chất xám có trình độ cao như các chuyên gia tư vấn, chuyên gia giáo dục…, do
đó đây là một lĩnh vực có nhiều cơ hội phát triển và tạo được nhiều công ăn việc làm,rất có ý nghĩa về kinh tế – xã hội ở nước ta hiện nay
- Thứ ba: Thương mại dịch vụ hiện nay đang có sự lan tỏa rất lớn, ngoài tác dụng
trực tiếp của bản thân dịch vụ, nó còn có vai trò trung gian đối với sản xuất và thươngmại hàng hóa, nên phát triển thương mại dịch vụ có ảnh hưởng gián tiếp lên tất cả cácngành của nền kinh tế quốc dân, do đó tác dụng của thương mại dịch vụ là rất lớn.Người ta tính rằng, nếu thương mại dịch vụ được tự do hóa thì lợi ích của nó còn caohơn thương mại hàng hóa hiện nay và xấp xỉ bằng lợi ích thu được khi tự do hóathương mại hàng hóa hoàn toàn cho cả hàng hóa nông nghiệp và hàng hóa côngnghiệp
- Thứ tư: Thương mại dịch vụ khi lưu thông qua biên giới gắn với từng con người
cụ thể, chịu tác động bởi tâm lý, tập quán, truyền thống văn hóa, ngôn ngữ và cá tínhcủa người cung cấp và người tiêu dùng dịch vụ, điều này khác với thương mại hàng
Trang 8hóa, sản phẩm là vật vô tri vô giác, đi qua biên giới có bị kiểm soát nhưng không phứctạp như kiểm soát con người trong thương mại dịch vụ, vì thế mà thương mại dịch vụphải đối mặt nhiều hơn với những hàng rào thương mại so với thương mại hàng hóa.Các cuộc thương lượng để đạt được tự do hóa thương mại dịch vụ thường gặp nhiềukhó khăn hơn tự do hóa thương mại hàng hóa, nó còn phụ thuộc vào tình hình chínhtrị, kinh tế – xã hội, văn hóa của nước cung cấp và nước tiếp nhận dịch vụ đó
3 Thương mại dịch vụ quốc tế
3.1 Khái niệm
Thương mại dịch vụ là một bộ phận hợp thành của thương mại quốc tế, nó liênquan đến hoạt động thương mại vượt qua biên giới quốc gia, theo các phương thức chủyếu sau đây:
-Phương thức1: Thương mại dịch vụ giữa các nước, tức là mua bán dịch vụ quabiên giới giữa các nước, có thể bằng viễn thông hoặc chuyển dịch vụ bằng hiện vậtnhư bản vẽ, băng đĩa…
-Phương thức 2: Tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài, tức là khách hàng đi sangnước khác để tiêu dùng dịch vụ như đi du lịch, học tập; sửa chữa tàu biển, máy bay ởnước ngoài…
-Phương thức 3: Hiện diện thương mại, tức là đầu tư trực tiếp để thành lập mộtchi nhánh, công ty con hay đại lý để cung cấp dịch vụ như cung cấp thông tin, tư vấnpháp luật, ngân hàng cho nước sở tại…
-Phương thức 4: Hiện diện của thể nhân, tức là sự di chuyển tạm thời của cá nhânsang nước khác để cung cấp các dịch vụ như tư vấn, xây dựng, làm nội trợ, chăm sócsức khỏe…
Trong bốn phương thức trên đây thì phương thức 3 – Hiện diện thương mại có vịtrí quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại dịch vụ, đây là hình thức hoạtđộng thông qua liên doanh, chi nhánh hoặc công ty 100% vốn nước ngoài (FDI) để
Trang 9cung cấp dịch vụ trong nước (ngoại trừ dịch vụ du lịch và vận chuyển), thứ đến làphương thức 1 – Thương mại dịch vụ giữa các nước Phương thức 2 – Tiêu dùng dịch
vụ ở nước ngoài có vị trí quan trọng trong du lịch quốc tế Phương thức 4 – Hiện diệnthể nhân có tỷ trọng không đáng kể trong thương mại dịch vụ, nhưng đối với các nướcđang phát triển như nước ta cũng rất quan trọng trong việc xuất khẩu lao động và thuêchuyên gia nước ngoài
3.2 Chức năng và nhiệm vụ
Thương mại dịch vụ quốc tế là một bộ phận của thương mại quốc tế nên về cơbản, chúng sẽ mang những chức năng và nhiệm vụ tương tự nhau
Về chức năng, Thương mại dịch vụ quốc tế có các chức năng sau:
- Tạo vốn cho quá trình mở rộng vốn đầu tư trong nước
- Chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xãhội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước và thích ứng chúng với nhu cầucủa tiêu dùng và tích lũy
- Góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo môi trường thuận lợicho sản xuất, kinh doanh
Về nhiệm vụ, các nhiệm vụ chủ yếu của Thương mại dịch vụ quốc tế là:
- Nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa đất nướcĐây là nhiêm vụ quan trọng và bao quát của ngoại thương Thông qua hoạt động xuất,nhập khẩu góp phần vào việc nâng cao hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy quá trình côngnghiệp hóa
- Góp phần giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội quan trọng của đất nước:Vốn, việc làm, công nghệ, sử dụng tài nguyên có hiệu quả
- Đảm bảo sự thống nhất giữa kinh tế và chính trị trong hoạt động ngoại thương
- Tổ chức quá trình lưu thông dịch vụ giữa trong nước với nước ngoài
Trang 10Phần II Tình hình phát triển thương mại dịch vụ quốc tế
1 Tăng trưởng kim ngạch thương mại dịch vụ quốc tế có quy mô lớn và tốc độ tăng trưởng nhanh.
Xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới 20 năm trở lại đây có rất nhiều biếnđộng với tốc độ chuyển biến ngày càng nhanh, nền kinh tế chịu sự tác động của cácquy luật đan xen nhiều yếu tố tác động khác nhau dẫn đến diễn biến phức tạp và khó
dự đoán
1.1 Về quy mô tăng trưởng
Hình 1: Biểu đồ tăng trưởng quy mô kim ngạch xuất khẩu dịch vụ và tỷ
trọng trong xuất khẩu năm 2000-2018
Nguồn : http://trademap.org/
Trong vòng gần 20 năm từ năm 2000 đến năm 2018, tổng kim ngạch xuất khẩudịch vụ có xu hướng tăng trưởng nhanh và đều trong các năm là biểu hiện của tự dohóa thương mại ngày càng được đẩy mạnh Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa dịch
2000 2005 2008 2009 2010 2015 2016 2017 2018 0
1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000
Trang 11vụ năm 2018 là 25,129 tỷ USD trong đó xuất khẩu dịch vụ đạt 5,802 tỷ USD chiếm23% trong giá trị thương mại quốc tế Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ tăng 4 lần trongvòng 20 năm và tỷ trọng xuất khẩu dịch vụ luôn ở mức ổn định 20-25% trong giá trịxuất khẩu.
Giá trị thương mại quốc tế tăng đều và nhanh qua nhiều năm liên tiếp phản ánhhoạt động giao thương mở rộng gắn liền với toàn cầu hóa Trong suốt giai đoạn từ
2000 – 2008, tăng trưởng xuất khẩu luôn duy trì ở mức cao hơn mức tăng trưởng củaGDP Năm 2000, nhìn chung kinh tế thế giới các nước đều có tốc độ tăng trưởng kinh
tế khả quan, thương mại quốc tế cũng tăng trưởng mạnh với kim ngạch xuất khẩu quốc
tế đạt xấp xỉ 8 tỷ USD trong đó xuất khẩu dịch vụ chiếm chỉ với 18,46% tương đương1,466 tỷ USD
Trong giai đoạn 2001 – 2010, tốc độ tăng trưởng trung bình của xuất khẩu đãgiảm hơn hẳn so với giai đoạn trước trong khi tăng trưởng GDP biến động với biên độnhỏ hơn, mức tăng trưởng không đều qua các năm mà có sự biến động lên xuống đanxen phức tạp, đặc biệt nhạy cảm với những biến động từ kinh tế, chính trị, tàichính, Tính trong giai đoạn 2005-2007 kim ngạch xuất khẩu dịch vụ năm 2007 đạtkết quả ấn tượng tăng 52% so với năm 2005
Đại khủng hoảng năm 2008 đã làm cho nền kinh tế thế giới suy giảm kiệt quệ,biểu hiện cho tình trạng bất cân đối kinh tế toàn cầu Năm 2009, thương mại quốc tếsuy giảm mạnh do ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, mức suy giảm giá trịxuất khẩu là -11.02%, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng âm của GDP (-1.3%) ,cũng là mức giảm cao nhất trong lịch sử Đối với xuất khẩu dịch vụ cũng suygiảm với tốc độ tăng trưởng trong năm 2009 là -9,44% , thâm hụt gần 400 tỷ USD sovới năm 2008 Cụ thể nhóm dịch vụ vận tải giảm 0.2%, dịch vụ về tài chính tín dụnggiảm 0.1%
Sau khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008-2009, năm 2010 kinh tế thế giớibắt đầu phục hồi với tốc độ chậm Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ năm 2010 chỉ tăngxấp xỉ 1,1% so với năm 2009 Tăng trưởng thương mại dịch vụ thế giới chậm lại
Trang 12trong giai đoạn từ năm 2010- 2018, sau khi tăng mạnh 7,9% ( 5,403 tỷ USD) trongnăm 2017 và 7,7% (5,802 tỷ USD) vào năm 2018 Năm 2017 đánh dấu sự tăng trưởngtrở lại của thương mại quốc tế với tốc độ tăng trưởng 4,3%, mức cao nhất kể từ năm
2010 Thương mại trì trệ trong năm 2016 và phục hồi trong năm 2017 phản ánh đặcđiểm của các nước phát triển và các nước mới nổi Trong năm 2017, thương mại tăngcao tại hầu hết các khu vực trên thế giới, nhưng các nước mới nổi tại đông Á và cácnước khu vực đồng euro đóng góp lớn nhất Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ tăng với kếtquả ấn tượng góp phần vào tăng trưởng GDP toàn cầu năm 2017 là dịch vụ du lịch( 1329 tỷ USD), dịch vụ tài chính (462 tỷ USD) , dịch vụ vận tải (937 tỷ USD ), vàmột số dịch vụ về công nghệ - thông tin liên lạc(526 tỷ USD)
Nhìn chung, tổng kim ngạch xuất khẩu dịch vụ trong giai đoạn 2000-2018 liêntục tăng trưởng với tốc độ nhanh và quy mô lớn Mặc dù trong thời kỳ suy thoái doảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính 2008-2009, hoạt động thương mại dịch
vụ quốc tế bị chững lại và thâm hụt nhưng sau đó nền kinh tế thế giới đã phục hồi vàphát triển ổn định sau năm 2010 và tiếp tục khởi sắc với kết quả ấn tượng trong cácnăm 2015-2018
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng quy mô kim ngạch xuất khẩu dịch vụ
● Xu hướng toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại
Toàn cầu hóa, hội nhập và hợp tác là xu thế phát triển của nhân loại Nó làm mờranh giới giữa các quốc gia, châu lục với sự ra đời của các tổ chức quốc tế, các diễnđàn hợp tác khu vực và thế giới Toàn cầu hóa biểu hiện ở sự liên kết và trao đổi ngàycàng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân trên lĩnh vực kinh tế, vănhóa, trên quy mô toàn cầu Nếu như trước đây, thị trường mang tính quốc gia thì hiệnnay, thị trường đã mang tính quốc tế Ngoài tính toàn cầu của thị trường hàng hoá vàdịch vụ, tài chính, tiền tệ công nghệ điện tử mới của thông tin và viễn thông cũngmang tính chất toàn cầu
Trang 13Năm 1948, Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) ra đời ( tiềnthân của Tổ chức thương mại thế giới – WTO) như một tất yếu để đáp ứng nhu cầu về
tự do hóa thương mại Cùng với sự phát triển của kinh tế thế giới và xu hướng toàn cầuhóa,tính đến năm 2017 số nước thành viên trong WTO đã lên tới 164 và chiếm 98%giá trị thương mại trên toàn thế giới Từ đó cho thấy vai trò quan trọng của toàn cầuhóa đối với sự phát triển của thương mại quốc tế
Tự do hóa thương mại, rào cản thương mại giảm Các điều kiện hỗ trợ thươngmại ngày càng thuận lợi (phương tiện thông tin liên lạc, dịch vụ hỗ trợ như tài chính,
tư vấn…, thương mại điện tử ngày càng phát triển…) Chính phủ các nước ngày càng
nỗ lực để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại quốc tế phát triển (hoànthiện chính sách, hỗ trợ trực tiếp xúc tiến thương mại, ký kết các hiệp định thương mạisong phương đa phương mở ra nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với các thànhviên tham gia hợp tác quốc tế Thị trường mở rộng và phát triển không ngừng, vô hạnđịnh tiến tới sự nhất thể hóa.Xu thế khu vực hóa về thương mại gia tăng (AFTA –ASEAN, EU, NAFTA…)
● Khoa học công nghệ là đòn bẩy thúc đẩy thương mại quốc tế
Yếu tố cơ bản thúc đẩy thương mại dịch vụ là công nghệ thông tin đã tạo điềukiện cho nhiều ngành dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ kinh doanh, có khả năng mua bánđược với xu hướng thương mại hóa các sản phẩm khoa học công nghệ mang hàmlượng tri thức cao
Sự phát triển của khoa học công nghệ đặc biệt là trong công nghệ thông tin, viễnthông đã thay đổi phương thức cung ứng dịch vụ, thúc đẩy nhiều loại hình dịch vụ cóthể trao đổi giữa các nước, điều này đã góp phần giá tăng giá trị thương mại dịch vụquốc tế Đặc biệt là các mô hình kinh doanh mới trong các lĩnh vực như dịch vụ tàichính, công nghệ thông tin truyền thông, một sản phẩm duy nhất nhưng lại có khảnăng tiêu dùng hàng loạt nhờ các trang web kèm theo các hoạt động tư vấn, quảng cáo,nhạc-phim số, thương mại điện tử (e-commerce) và ngân hàng điện tử
Trang 14Sáng tạo công nghệ cũng dẫn đến sự thay đổi nguồn cung cũng như nhu cầu củacon người Chi phí giao thông vận tải và thông tin liên lạc sẽ giảm xuống, hậu cần vàcác chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ ngày càng thuận lợi và đơn giản thúc đẩy thương mạiquốc tế phát triển.
● Nhu cầu về dịch vụ của xã hội ngày càng tăng
Khi nền kinh tế ở một trình độ phát triển cao, tức mức sống người dân ngày càngcao, xu hướng tiêu dùng cận biên đối với dịch vụ lớn hơn nhiều xu hướng tiêu dùngcận biên đối với sản phẩm hàng hóa Con người có nhu cầu nhiều hơn đối với các sảnphẩm phi vật chất của dịch vụ như thẩm mỹ, giáo dục và giải trí thỏa mãn nhu cầu cánhân….Đây là tiền đề để phát triển kinh tế nói riêng cũng như thương mại dịch vụquốc tế nói riêng
● Kinh tế Thế giới có xu hướng chuyển dịch từ kinh tế sản xuất vật chất sang kinh
tế dịch vụ, đặc biệt là các nước đang phát triển
Dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của nhiều nước, đóng vai trò quantrọng trong cơ sở hạ tầng của nền kinh tế quốc gia, là yếu tố đầu vào quan trọng mangtính quyết định đến sự phát triển trong tương lai của tất cả các ngành kinh tế, khôngchỉ với quốc gia phát triển mà còn với những quốc gia đang phát triển Do đó, đượccác nước ưu tiên, đầu tư phát triển
Dịch vụ có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với sản xuất hàng hóa nên đã trở thànhlĩnh vực hấp dẫn đối với đầu tư kinh doanh Bằng chứng là, Đầu tư trực tiếp nướcngoài vào ngành dịch vụ tăng nhanh đã thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực này, tạotiền đề cho sự trao đổi dịch vụ giữa các nước
Hơn thế dịch vụ còn mang tính chất dân tộc văn hóa giúp thúc đẩy quá trình toàncầu hóa giao lưu hội nhập văn hóa giữa các quốc gia
2 Tốc độ tăng trưởng
Trang 15Thương mại hàng hóa luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thương mại quốc tế:trong các năm từ 2000-2018 tỷ trọng thương mại dịch vụ luôn chiếm trên 20% và đạtđỉnh điểm 24% năm 2016 Tuy nhiên trong 10 năm trở lại đây tình hình phát triểnthương mại dịch vụ hay xuất khẩu dịch vụ đang có những chuyển biến tích cực thếhiện qua tốc độ tăng trưởng của xuất khẩu dịch vụ đã vượt tốc độ tăng trưởng của xuấtkhẩu hàng hóa 2,48% năm 2018
Hình 2: Biểu đồ so sánh tốc độ tăng trưởng của xuất khẩu hàng hóa và tốc
độ tăng trưởng của xuất khẩu dịch vụ qua các năm (2008-2018)
Nguồn: https://trademap.org/
Nhìn chung xu hướng tăng trưởng của thương mại quốc tế đang có xu hướnggiảm từ 15,15% (năm 2008) giảm xuống còn 9,88% (năm 2018 đối với thương mạidịch vụ và từ 12,42 % (năm 2008) xuống còn 7,38% (năm 2018) đối với thương mạihàng hóa Trong 10 năm tốc độ tăng trưởng của thương mại quốc tế có nhiều biếnđộng phức tạp, hai thời kì suy thoái với mức tăng trưởng âm là 2008-2009 và 2014-
2015
Chúng ta có thể thấy trong giai đoạn năm 2008-2009 diễn ra khủng hoảng tàichính, nền kinh tế thế giới suy thoái dẫn đến tôc độ tăng trưởng của cả thương mại
Trang 16hàng hóa và thương mại dịch vụ đều giảm mạnh tụt dốc tăng trưởng âm Trong đóthương mại dịch vụ tăng trưởng âm ( -9,45%) còn thương mại hàng hóa tăng trưởngchậm suy thoái nghiêm trọng, thậm chí tăng trưởng âm( -26,19%) gấp 2,4 lần so vớitốc độ tăng trưởng thương mại hàng hóa
Thương mại quốc tế về hàng hóa là hình thức thương mại trong đó diễn ra việcmua bán trao đổi các sản phẩm hàng hóa thể hiện dưới dạng vật chất hữu hình.Thương mại hàng hóa có mối quan hệ chặt chẽ với thương mại dịch vụ trong thời kìkhủng hoảng kinh tế năm 2008 Bắt đầu với sự đổ vỡ của các ngân hàng ở Hoa Kỳ,trung tâm tài chính lớn nhất thế giới sau đó lan ra toàn thế giới Hậu quả nặng nề nhất
là phá hủy lực lượng sản xuất, đẩy lùi sự phát triển của kinh tế thế giới và trước hết làđối với nước Hoa Kỳ Thị trường chứng khoán Hoa Kỳ chao đảo, các công ty tàichính, ngân hàng lần lượt tuyên bố phát sản, cổ phiếu rớt giá; thất nghiệp, lạm phát leothang và hiển nhiên tình hình thương mại quốc tế suy thoái tăng trưởng âm Các hoạtđộng liên quan đến tài chính đều rơi vào khủng hoảng đặc biệt là tín dụng và thanhtoán quốc tế Hậu quả của khủng hoảng kinh tế đã dẫn đến những thiệt hại nặng nề chohoạt động ngoại thương về cả thương mại dịch vụ quốc tế cũng như thương mại hànghóa quốc tế
Vượt qua thời kỳ khó khăn, giai đoạn 2010-2018 tăng trưởng thương mại dịch vụthể hiện tăng trưởng nhanh gấp đôi so với thương mại hàng hóa, đánh dấu sự tăngtrưởng trở lại của kinh tế thế giới Thời kì phục hồi kinh tế sau khủng hoảng tài chính,các nền kinh tế, các quốc gia trên thế giới dần ổn định kinh tế và hoạt động ngoạithương cũng phát triển mạnh.Gắn liền với thương mại quốc tế thì đầu tư quốc tế, tự dohóa thương mại, hợp tác song phương giữa các quốc gia khu vực được đẩy mạnh.Trong giai đoạn này thương mại quốc tế có xu hướng tăng nhưng không ổn định nKinh tế thế giới duy trì đà tăng trưởng tốt trong nửa đầu năm 2018, sau đó đãxuất hiện những diễn biến mới khiến tình hình trở nên phức tạp hơn Mối quan hệ căngthẳng giữa các nước lớn, đặc biệt là xung đột thương mại Hoa Kỳ - Trung Quốc đã ảnhhưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu Nhìn chung, mức độ tăng trưởng vẫncòn mạnh ở các nền kinh tế phát triển, nhưng đã chậm lại ở nhiều nước Tốc độ tăng
Trang 17trưởng xuất khẩu hàng hóa tăng trung bình 7,94%/năm và xuất khẩu dịch vụ tăng trungbình 6,9%/năm.
3 Cơ cấu thương mại dịch vụ quốc tế
Cơ cấu thương mại dịch vụ quốc tế chia làm 3 nhóm: Du lịch quốc tế, vận tảiquốc tế và các dịch vụ khác (dịch vụ viễn thông, thông tin và máy tính, dịch vụ chuyểnquyền sử dụng sở hữu trí tuệ…)
3.1 Tổng quan về sự dịch chuyển cơ cấu Thương mại dịch vụ quốc tế
Bảng số liệu về cơ cấu TMDV giai đoạn 2000-2018 (đơn vị: %)
- Du lịch và vận tải quốc tế chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng cơ cấu ngành dịch
vụ quốc tế (chiếm khoảng ½) Tuy nhiên có thể thấy rằng cơ cấu của hai ngànhnày đang có xu hướng giảm dần qua các năm Cụ thể ngành du lịch chiếm29,46% (năm 2000) xuống 26,39% (năm 2018), vận tải quốc tế giảm từ 23,33%(năm 2000) xuống 19,35% (năm 2018) Nguyên nhân của sự dịch chuyển này là
do sự gia tăng mạnh mẽ của các ngành dịch vụ trong nhóm các ngành dịch vụkhác Tiêu biểu có thể kể đến hai ngành là dịch vụ viễn thông, thông tin và máytính (Telecommunications, computer, and information services) và Dịch vụchuyển quyền sử dụng sở hữu trí tuệ (Charges for the use of intellectualproperty n.i.e.) Đồng thời các ngành dịch vụ mới ra đời ít nhiều đã làm thayđổi tỷ trọng của toàn bộ ngành thương mại dịch vụ trên toàn thế giới
Trang 1819.35 54.25
Biểu đồ thể hiện cơ cấu thương mại dịch vụ
Quốc tế năm 2018
Du lịch quốc tế Vận tải quốc tế Các dịch vụ khác
Hình 3: Biểu đồ cơ cấu TMDV quốc tế năm 2018
- Du lịch tạo ra việc làm trực tiếp và gián tiếp cho các tầng lớp dân cư, góp phầnnâng cao dân trí, đời sống vật chất tinh thần cho người dân, mở rộng giao lưugiữa các vùng, miền trong nước và nước ngoài, tăng cơ hội việc làm cho người
Trang 19lao động, khôi phục các làng nghề thủ công và lễ hội truyền thống có nguy cơ
bị mai một và giảm bớt tình trạng đói nghèo, góp phần thay đổi diện mạo đô thị,nông thôn được chỉnh trang sạch đẹp hơn
- Tính hiệu quả trong kinh doanh du lịch được thể hiện chỗ Du lịch là ngành
“xuất khẩu tại chỗ” rất hiệu quả những dịch vụ, hàng hoá công nghiệp – tiểu thủcông nghiệp, hàng tiêu dùng nông sản thực phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ,…
- Du lịch không chỉ là ngành xuất khẩu tại chỗ mà còn là ngành “xuất khẩu vôhình” sản phẩm du lịch Đó là danh lam thắng cảnh, giá trị di tích lịch sử – vănhoá, tính độc đáo trong truyền thống phong tục tập quán…
- Du lịch góp phần kích thích sự tăng trưởng kinh tế ở các vùng sâu, vùng xa, tạođiều kiện phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng, phân phối lại thu nhậpgiữa các thành phần lao động trong xã hội, điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tếphát triển sang vùng kinh tế kém phát triển hơn
- Du lịch góp phần làm tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương thông quaviệc thu thuế các cơ sở và hoạt động trên địa bàn
Dịch vụ du lịch về cơ bản là không cụ thể Thật ra dịch vụ du lịch là một kinhnghiệm du lịch hơn là một món hàng cụ thể mặc dù trong cấu thành dịch vụ du lịch có
cả hàng hoá
Việc tiêu dùng dịch vụ du lịch xảy ra cùng một thời gian và địa điểm nơi sản xuất
ra chúng Do đó dịch vụ du lịch là không thể dự trữ được Thêm vào đó, chúng takhông thể vận chuyển dịch vụ du lịch tới cho khách hàng mà khách hàng phải tự đếnnơi sản xuất ra dịch vụ du lịch
Trang 20Việc tiêu dùng dịch vụ du lịch có tính thời vụ Đây là hiện tượng lúc thì cungkhông đáp ứng được cầu trong du lịch, lúc thì cầu quá thấp so với khả năng cung ứng.
- Về tỷ trọng của ngành đối với doanh thu toàn ngành thương mại dịch vụ giảmdần qua các năm Mức giảm này không phải do ngành du lịch thụt lùi mà do sựtăng trưởng mạnh mẽ hơn của các ngành dịch vụ khác, đồng thời là sự xuất hiệncủa các ngành dịch vụ mới
● Xu hướng phát triển dịch vụ du lịch:
Trang 21Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), số lượng khách quốc tế toàn cầu năm
2018 đã vượt mốc 1,4 tỷ lượt người, tăng 74 triệu lượt so với năm 2017, đạt mức tăngtrưởng gần 6% Trong đó, khu vực châu Á – Thái Bình Dương đón 342,6 triệu lượtkhách quốc tế, tăng 6,1% so với năm 2017, Đông Nam Á là khu vực dẫn đầu về tăngtrưởng khách quốc tế với 7,4%
Tổng hợp những nghiên cứu mới đây về tương lai của du lịch, có thể thấy 10 xuhướng (được mô tả bằng 10 keyword) sau sẽ là những nhân tố dẫn dắt ngành du lịch,gồm: “Khách du lịch tóc bạc”, “Thế hệ Y & Z”, “Sự gia tăng của tầng lớp trung lưu”,
“Các điểm đến mới nổi”, “Căng thẳng chính trị và khủng bố”, “Sự phát triển của kỹthuật”, “Các kênh kỹ thuật số”, “Sự trung thành của du khách”, “Y tế và lối sống lànhmạnh” và “Tính bền vững”
- Khách du lịch tóc bạc (Silver hair tourists)
Dân số toàn cầu đang già đi và kết quả là một phân khúc thị trường đáng kể đangnổi lên – “khách du lịch tóc bạc” – với mong muốn và nhu cầu cụ thể liên quan đếntính cá nhân hóa, dịch vụ đặc thù và sự đảm bảo an ninh của các sản phẩm du lịch.Năm 2014, 12% dân số thế giới trên 60 tuổi, và tỷ lệ này ước tính sẽ tăng lên 21% vàonăm 2050 Với thu nhập cao, ít gánh nặng trách nhiệm với gia đình, thời gian đi lại vàsức khoẻ tương đối tốt, họ là một phân khúc thị trường quan trọng và dự kiến sẽ chitiêu nhiều hơn tất cả các nhóm tuổi khác trong các kỳ nghỉ lễ
- Thế hệ Y & Z (Generation Y & Z)
Thế hệ Y (còn được gọi là Millennials) và thế hệ Z (còn được gọi là iGen), trong
đó thế hệ Y sẽ chiếm 50% tổng số khách du lịch vào năm 2025, và đã được ngành dulịch coi là nguồn doanh thu chính của hiện tại và tương lai Thế hệ Z (6-20 tuổi) thìvẫn đang hình thành Hiện nay, Việt Nam đang ghi nhận tỷ lệ dân số trẻ cao nhất tronglịch sử (theo UNFPA), các nhà làm du lịch nội địa cần có những tính toán trong việcđầu tư xứng đáng cho phân khúc thị trường này
- Sự gia tăng của tầng lớp trung lưu (Growing middle class)
Trang 22Sự gia tăng thu nhập trung bình và giảm tỷ lệ đói nghèo tuyệt đối đã dẫn đến mộttầng lớp trung lưu ngày càng tăng Đặc điểm của họ sẽ có tầm quan trọng ngày càngtăng và tác động rất lớn đến ngành du lịch Tại Việt Nam, theo công ty nghiên cứu thịtrường Nielson ước tính, dân số thuộc tầng lớp trung lưu của Việt Nam sẽ đạt mức 44triệu người vào năm 2020, và 95 triệu người vào năm 2030.
- Các điểm đến mới nổi (Emerging destionations)
Các điểm đến mới nổi được tìm kiếm nhiều hơn bởi các phân đoạn thị trường kểtrên Các thị trường mới nổi sẽ nhanh chóng vượt qua các thị trường phát triển với sốlượt khách quốc tế chiếm 58% thị phần Do đó, trong top 20 điểm đến toàn cầu củakhách du lịch quốc tế qua đêm (2015), 10 thành phố đến từ Trung Đông và châu Á, vàmột nửa trong số đó có mức tăng trưởng hai con số trong khoảng từ năm 2009 đếnnăm 2015 Từ trao lưu du lịch phượt và các hiệu ứng truyền thông, nhiều điểm đếntrong nước ít được biết tới giờ trở thành những từ khóa về du lịch “hot” nhất, đượcgiới trẻ tìm kiếm và săn đón nhiều nhất
- Sự căng thẳng về chính trị và khủng bố (Political issues and terrorism)
Ngày nay, nhu cầu đảm bảo ổn định chính trị, kinh tế và xã hội để ngăn chặnkhủng bố và đảm bảo an toàn cho tất cả khách du lịch nhiều hơn bao giờ hết Sự căngthẳng về chính trị, khủng bố và các cuộc bạo loạn dân sự là không thể tiên đoán được
và đang đe dọa tương lai du lịch ở bất kỳ điểm đến nào Đây là yếu tố quan trọng trongquyết định lựa chọn điểm đến đối với khách du lịch quốc tế trong bối cảnh tình hình anninh, chính trị toàn cầu đang có nhiều bất ổn như nạn khủng bố, thiên tai, thảm họa…
- Cách mạng kỹ thuật (Technical revolution)
Sự phát triển về công nghệ trong ngành khách sạn là một nhân tố thay đổi cuộcchơi và đang chiếm ưu thế trong hoạt động của ngành Mặc dù nó mang lại nhiềuphương tiện hơn để thu hút thế hệ Y và Z, nhưng tốc độ thay đổi của nó lại là yếu tốlàm khó các nhà quản lý để bắt kịp sự thay đổi và khó khăn hơn trong quản lý
- Các kênh kỹ thuật số (Digital Chanel)
Trang 23Du lịch bị chi phối bởi các kênh kỹ thuật số, sự phát triển của SoMo (Social +Mobile) đang mang lại một cuộc cách mạng thực sự, nó phá vỡ rào cản thâm nhậpngành du lịch một cách dễ dàng Số hóa du lịch đã rõ ràng đã làm các đối thủ cạnhtranh mới có thể bắt tay ngay vào thực hiện được nhiều kế hoạch kinh doanh dài hạncủa mình.
- Sự trung thành của du khách (Loyalty v.X.0)
Sự trung thành của du khách, như chúng ta đã biết, sẽ suy giảm Theo cuộc khảosát của Deloitte, chỉ 14% khách hàng du lịch bằng máy bay trung thành với một hãnghàng không nhất định Điều đáng kinh ngạc hơn là con số này đối với ngành khách sạnchỉ đạt mức 8% Sẽ không còn nhiều hình thức đăng ký hội viên và đổi điểm phức tạp.Thẻ khách hàng trung thành sẽ dần biến mất và các chương trình khách hàng trungthành hiện nay phải được tích hợp vào trải nghiệm du lịch
- Y tế và lối sống lành mạnh (Health and heathy lifestyle)
Y tế và lối sống lành mạnh sẽ trở nên ngày càng quan trọng trong việc đưa raquyết định của khách du lịch Người già đi du lịch, lối sống của thế hệ Y và Z, tầnglớp trung lưu ngày càng tăng, cuộc cách mạng công nghệ và kỹ thuật số, đều góp phầnlàm tăng tầm quan trọng của xu hướng sức khoẻ Y tế và lối sống lành mạnh sẽ dầndần được tích hợp vào nhiều khía cạnh của các dịch vụ du lịch
- Tính bền vững (Subtainabilities)
Du lịch toàn cầu sẽ tiếp tục phát triển cùng với sự thịnh vượng của thế giới, do đó
du lịch bắt buộc phải đảm bảo tính bền vững của mình Các trụ cột kinh tế, xã hội vàmôi trường cần được cân bằng để đảm bảo sự phát triển bền vững lâu dài của du lịch.Phát triển du lịch bền vững đòi hỏi sự tham gia của tất cả các bên liên quan cũng như
sự cam kết chính trị mạnh mẽ từ các nhà lãnh đạo
3.2.2 Dịch vụ vận tải quốc tế
● Khái niệm dịch vụ vận tải:
Trang 24“Dịch vụ vận tải chính là hoạt động kinh tế diễn ra giữa chủ thể (người vận tải)
và khách thể (người sử dụng và trả tiền) Dịch vụ vận tải được tiến hành bằng nhiềuphương tiện khác nhau.”
● Vai trò của dịch vụ vận tải:
Vận tải đóng một vai trò trọng yếu của các khâu phân phối và lưu thông hàng hóacũng như đáp ứng nhu cầu trao đổi của con người Hiện nay mục đích thương mạichiếm số lượng nhiều nhất trong tất cả các giao dịch vận tải Nếu coi toàn bộ nền kinh
tế là một cơ thể sống, trong đó hệ thống giao thông là các huyết mạch thì vận chuyểnhàng hóa là quá trình đưa các chất dinh dưỡng đến nuôi các tế bào của cơ thể sống đó.Chính vì thế giao thông vận tải luôn là yếu tố cần phải đi trước trong lộ trình phát triểnkinh tế xã hội của mỗi quốc gia Vận tải quốc tế là một trong những quá trình vô cùngquan trọng, nhất là đối với những tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu buôn bán hay traođổi trực tiếp trên thị trường nước ngoài Đây chính là những nhân tố quyết định hìnhthành sự phát triển của dịch vụ vận tải quốc tế ngày nay
● Đặc điểm của dịch vụ vận tải:
Hiện nay dịch vụ vận tải cũng được tiến hành thông qua các hình thức: Đường
bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không, đường ống Để phục vụ nhu cầu củasản xuất kinh doanh, các phương thức vận tải cũng có thể được kết hợp với nhau mộtcách đồng bộ, xuyên suốt, hiệu quả tạo thành một dịch vụ có tên là vận tải đa phươngthức
Vận tải quốc tế bằng đường hàng không đảm bảo được tốc độ đơn vận của bạnđược giao hàng trong thời gian nhanh nhất Nhưng nó lại bị hạn chế bởi số lượng vàchủng loại của hàng hoá Không phải bất cứ lô hàng hoá nào bạn cũng có thể được vậnchuyển theo hình thức này
Vận chuyển bằng đường biển có một ưu thế đặc biệt, là dịch vụ vận chuyển quốc
tế thích hợp với tất cả các chủng loại hàng hoá, ở bất cứ nơi đâu hay bất cứ vùng miềnnào trên thế giới Ngoài ra, đây hoàn toàn là một dịch vụ có tuyến đường đi thẳng, tất