Tính c ấ p thi ế t c ủa đề tài
Hợp đồng thương mại quốc tế (HĐTMQT) là loại hợp đồng có mối liên hệ với hai hoặc nhiều quốc gia, thể hiện qua quốc tịch, trụ sở, và địa điểm ký kết, thực hiện, thay đổi hoặc chấm dứt hợp đồng Do đó, HĐTMQT có thể chịu sự điều chỉnh của nhiều quốc gia khác nhau, dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế Để giải quyết vấn đề này, có hai cách cơ bản: một là các quốc gia tự xây dựng quy phạm xung đột trong nội luật để xác định luật áp dụng cho HĐTMQT; hai là các quốc gia đàm phán và ký kết các điều ước quốc tế để thống nhất luật xung đột hoặc nội dung Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) là một ví dụ điển hình cho sự thống nhất này.
The Convention on Contracts for the International Sale of Goods (CISG) represents the most successful effort in history to unify substantive law in the field of commercial goods.
CISG, được soạn thảo và thông qua bởi Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) tại Viên năm 1980, là công ước thành công nhất trong lĩnh vực thương mại quốc tế, thay thế hai công ước LaHay năm 1964 về mua bán hàng hóa hữu hình Sự thành công này được thể hiện qua 89 thành viên, bao gồm nhiều nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Đức và Pháp, và điều chỉnh khoảng 80% thương mại hàng hóa toàn cầu Theo thống kê từ trang web của CISG, đã có hơn 2500 vụ tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán được ghi nhận.
1 Có th ể xem danh sách các qu ố c gia thành viên t ạ i: http://www.uncitral.org/uncitral/en/uncitral_texts/sale_goods/1980CISG_status.html (truy c ậ p ngày 19/11/2018)
2 bán hàng hóa quốc tế được tòa án và trọng tài áp dụng CISG để giải quyết 2
Việt Nam đã chính thức gia nhập Công ước về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) từ ngày 01/01/2017, điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc nghiên cứu và phổ biến các quy định của CISG đến các doanh nghiệp và tổ chức liên quan Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập và gia tăng giao dịch với các doanh nghiệp nước ngoài, việc hiểu rõ và áp dụng hiệu quả CISG là rất quan trọng Các chủ thể cần xác định rõ thời điểm áp dụng CISG, bởi công ước này không áp dụng cho mọi loại hàng hóa và có những điều khoản loại trừ nhất định Hơn nữa, do các quy định của CISG khá chung chung về hợp đồng và hàng hóa, việc nghiên cứu thực tiễn xét xử và lý thuyết pháp lý liên quan là cần thiết để làm rõ các vấn đề này.
Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, có nhiều vấn đề liên quan đến phạm vi áp dụng của CISG Các cơ quan tài phán đã diễn giải CISG linh hoạt dựa trên từng tình huống cụ thể, điều này làm cho việc nghiên cứu thực tiễn xét xử trở nên cần thiết Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất xung quanh quy định về phạm vi áp dụng của Công ước Viên Do đó, câu hỏi đặt ra là Công ước Viên được áp dụng trong những trường hợp nào, và trường hợp nào không được áp dụng Bên cạnh đó, cần xem xét liệu các bên có thể tự do thỏa thuận lựa chọn hoặc loại trừ luật áp dụng hợp đồng là Công ước Viên hay không, và thực hiện điều này bằng cách nào.
2 https://cisgvn.wordpress.com/2010/11/01/thanh-cong-c%E1%BB%A7a-cisg/ (truy c ậ p ngày 19/11/2018)
Vì những lý do trên, học viên quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài:
Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các giao dịch thương mại toàn cầu Đề tài nghiên cứu này không chỉ mang tính lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế hiện nay Việc nghiên cứu phạm vi áp dụng của công ước này phù hợp với chương trình đào tạo Thạc sỹ Luật học tại Trường Đại học Ngoại thương, góp phần nâng cao hiểu biết về luật thương mại quốc tế cho sinh viên.
Tình hình nghiên c ứ u
Trên th ế gi ớ i
Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về CISG và phạm vi áp dụng của nó Tuy nhiên, số lượng nghiên cứu nhằm đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam cũng như áp dụng CISG tại Việt Nam vẫn còn hạn chế Một số công trình tiêu biểu có thể được nhắc đến trong lĩnh vực này.
Các tác giả Clayton P Gillette , Steven D Walt, The UN Convention on
Contracts for the International Sale of Goods: Theory and Practice, Cambridge
Năm 2016, University Press đã thực hiện một phân tích tổng quan về quá trình hình thành của CISG, đồng thời bình luận về các quy định của CISG, bao gồm cả những quy định liên quan đến phạm vi áp dụng của nó Bài viết cũng đánh giá sự phát triển của các quy định này tại một số quốc gia tiêu biểu.
Trong cuốn sách mang tựa đề The CISG: A New Textbook for Students and
Trong cuốn sách "Sellier European Law Pub" xuất bản năm 2007, tác giả Jacob Ziegel đã chỉ ra những thành công của CISG thông qua việc mô tả và phân tích các lĩnh vực mà Công ước này đề cập, bao gồm phạm vi áp dụng, quy tắc hình thành hợp đồng và các điều khoản bán hàng thực tế.
A notable study titled "Selected Problems Concerning the CISG's Scope of Application" by Stefan Krüll, published in 2009 on the official UNCITRAL website, analyzes the instances where the CISG does not apply, as outlined in Articles 4 and 5 of the CISG.
3 Có th ể xem đượ c t ạ i: https://www.uncitral.org/pdf/english/CISG25/Kroll.pdf (truy c ậ p ngày 19/11/2018)
Về phần mình, Franco Ferrari, 2011, Contracts for the International Sale of
Goods: Applicability and Applications of the 1980 United Nations Convention,
Martinus Nijhoff Publishers, cũng đã phân tích các trường hợp áp dụng của
CISG đề cập đến các vấn đề liên quan đến sự không phù hợp của hàng hóa được giao và xác định tỷ lệ lãi trên số tiền còn thiếu Cuốn sách nhấn mạnh cách mà CISG được diễn giải và áp dụng trong các khu vực pháp lý khác nhau, cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự khác biệt trong thực tiễn pháp lý.
Joseph Lookofsky, 2012,Understanding the CISG in the USA 4th Edition, Kluwer Law International, đã phân tích 5 phụ lục và các văn bản liên quan và
Cơ quan tài phán đã đưa ra 2000 phán quyết liên quan đến CISG, nhằm làm rõ các nội dung quan trọng như phạm vi áp dụng của CISG, cách giải thích công ước, quy định về bồi thường thiệt hại và quyền miễn trừ Những phán quyết này đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu và áp dụng hiệu quả CISG trong thực tiễn.
Tác giả Minh Hằng Nguyễn trong luận án tiến sĩ luật học về "Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán" đã tiến hành so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với các quy định của CISG Mục tiêu của luận án là đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, luận án chủ yếu tập trung vào việc phân tích và đề xuất giải pháp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên, trong khi chưa đi sâu vào phân tích các quy định về phạm vi áp dụng của CISG.
Mặc dù các nghiên cứu chưa hoàn toàn giải quyết các vấn đề về phạm vi áp dụng của CISG, chúng vẫn cung cấp tài liệu quý giá cho tác giả trong việc đánh giá các quy định liên quan Từ đó, tác giả có thể đưa ra những đề xuất và khuyến nghị hữu ích cho các cơ quan và doanh nghiệp tại Việt Nam.
T ạ i Vi ệ t Nam
Tại Việt Nam, hiện chưa có công trình hay sách chuyên khảo nào nghiên cứu một cách hệ thống về phạm vi áp dụng của CISG Các nghiên cứu hiện có chủ yếu tập trung vào quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như vấn đề vi phạm hợp đồng, trong khi chỉ có một số ít tài liệu đề cập đến phạm vi áp dụng của CISG, nhưng nội dung còn khá sơ sài.
Bài viết "Phạm vi áp dụng và không áp dụng của Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế" của tác giả Nông Quốc Bình, đăng trên tạp chí Luật học số 10/2011, phân tích chi tiết về phạm vi áp dụng và không áp dụng của Công ước Viên 1980 Tác giả cũng đưa ra một số đề xuất quan trọng nhằm cải thiện việc áp dụng Công ước tại Việt Nam.
Bài viết này tập trung vào phạm vi áp dụng và không áp dụng của CISG, một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu của Luận văn Tuy nhiên, nội dung chỉ dừng lại ở việc nêu ra vấn đề mà chưa có nhiều phân tích sâu sắc về thực tiễn xét xử liên quan, dẫn đến việc thông tin trở nên thiếu cập nhật và chưa đầy đủ.
Bài viết của Nguyễn Thị Hồng Trinh trên Tạp chí Tòa án điện tử 4 khám phá phạm vi áp dụng của Công ước CISG đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhấn mạnh tính chất quốc tế của các hợp đồng này Mặc dù tiêu đề tập trung vào phạm vi áp dụng, nội dung chủ yếu so sánh việc áp dụng Công ước trong tố tụng tòa án và trọng tài, đồng thời bình luận về những trường hợp không áp dụng Công ước Bài viết cũng phân tích mối quan hệ giữa Công ước và luật quốc gia, cũng như khả năng kết hợp áp dụng Công ước với các điều kiện thương mại quốc tế như Incoterms và Bộ nguyên tắc Unidroit về Hợp đồng thương mại quốc tế Những công cụ này, dù khác nhau về mức độ khái quát và tính cụ thể, có thể bổ sung cho nhau trong việc điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Tác giả của Luận văn này đã từng có một bài viết về phạm vi áp dụng của CISG trên tạp chí Kinh tế Đối ngoại năm 2018 Tuy nhiên, bài viết đó chưa đề cập đầy đủ đến tất cả các trường hợp áp dụng và không áp dụng CISG.
Hiện nay, các công trình nghiên cứu tại Việt Nam về phạm vi áp dụng của CISG còn hạn chế và chưa được thấu đáo Chỉ có một số bài viết đơn lẻ đề cập đến vấn đề này Luận văn này sẽ kế thừa các nghiên cứu trong và ngoài nước, phân tích một cách toàn diện và hệ thống các quy định về phạm vi áp dụng CISG cùng với các thực tiễn xét xử liên quan Từ đó, luận văn sẽ đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiểu biết và áp dụng hiệu quả hơn các quy định của CISG.
Rất tiếc, không tìm thấy trang này.
6 nghị cho các cơ quan và doanh nghiệp Việt Nam khi áp dụng CISG.
Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề nghiên cứu, Luận văn sẽ xác định phạm vi áp dụng của CISG Để làm rõ câu hỏi này, đề tài sẽ phân tích các câu hỏi nhỏ liên quan.
Thứ nhất, đâu là những trường hợp áp dụng CISG?
Thứ hai, đâu là những trường hợp không áp dụng CISG?
Thứ ba, Việt Nam phải đối mặt với những cơ hội và thách thức gì khi áp dụng các quy định về phạm vi áp dụng CISG?
Thứtư, Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam cần làm gì để có thể thực thi một cách hiệu quảcác quy định về phạm vi áp dụng CISG?
Mục đích nghiên cứu
Dựa trên nghiên cứu về phạm vi áp dụng của CISG và thực tiễn áp dụng các quy định này, luận văn đưa ra khuyến nghị cho Việt Nam và đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm cải thiện việc áp dụng các quy định của CISG.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Đểđạt được mục đích nghiên cứu trên, Luận vănsẽ giải quyết hai nhiệm vụ cụ thể sau:
Thứ nhất, phân tích một cách toàn diện, có hệ thống các quy định về phạm vi áp dụng của CISG
Thứ hai, phân tích thực tiễn xét xử liên quan tới phạm vi áp dụng của CISG nhằm rút ra những kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứ u
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả sẽ áp dụng các phương pháp nghiên cứu luật học truyền thống, bao gồm phân tích, tổng hợp, so sánh và nghiên cứu thực tiễn xét xử.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp sẽ được sử dụng xuyên suốt Luận văn nhằm làm sáng tỏ vấn đề về phạm vi áp dụng của CISG.
Phương pháp so sánh luật học là công cụ quan trọng khi tác giả muốn đối chiếu các quy định của CISG với pháp luật Việt Nam, từ đó tạo cơ sở cho những đề xuất cụ thể và hợp lý.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn xét xử, đặc biệt là các nghiên cứu trường hợp, được áp dụng chủ yếu trong Chương 2 và Chương 3 của bài viết Mục đích của phương pháp này là làm rõ cách thức áp dụng các quy định pháp luật trong thực tế, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực tiễn xét xử.
K ế t c ấ u c ủ a Lu ận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Khái quát chung về CISG và phạm vi áp dụng của CISG
- Chương 2: Quy định và thực tiễn áp dụng quy định về phạm vi áp dụng của CISG
- Chương 3: Một số khuyến nghịđối với Việt Nam khi áp dụng các quy định về phạm vi áp dụng của CISG
KHÁI QUÁT VỀ CISG VÀ PH Ạ M VI ÁP D Ụ NG C Ủ A CISG
Khái quát v ề CISG
1.1.1 Lịch sử hình thành CISG
The United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods (CISG), established in 1980, was drafted by the United Nations Commission on International Trade Law (UNCITRAL) This treaty aims to provide a uniform framework for international commercial transactions, facilitating international trade by harmonizing the rules governing the sale of goods across different countries.
Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) với nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Nỗ lực thống nhất nguồn luật cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đã được bắt đầu từ những năm 30 của thế kỷ XX, với sự tham gia của Unidroit.
Viện nghiên cứu quốc tế về thống nhất luật tư (Unidroit) đã phát triển hai Công ước La Hay vào năm 1964 Công ước đầu tiên quy định về luật thống nhất trong việc thiết lập hợp đồng mua bán quốc tế các động sản hữu hình, bao gồm quy trình hình thành hợp đồng như chào hàng và chấp nhận chào hàng Công ước thứ hai tập trung vào quyền và nghĩa vụ của người bán và người mua, cùng với các biện pháp xử lý khi một bên vi phạm hợp đồng Tuy nhiên, cả hai Công ước này ít được áp dụng trong thực tế do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Hội nghị La Hay chỉ có sự tham gia của 28 quốc gia, chủ yếu là các nước tư bản, dẫn đến nghi ngờ rằng các Công ước được soạn thảo thiên về lợi ích của người bán từ các nước này Các khái niệm trong các Công ước thường quá trừu tượng và phức tạp, dễ gây hiểu nhầm cho người áp dụng Hơn nữa, các Công ước này ưu tiên thương mại giữa các quốc gia có chung biên giới, thay vì thương mại quốc tế liên quan đến vận tải biển Cuối cùng, quy mô áp dụng của chúng rất rộng, áp dụng bất kể có xung đột pháp luật hay không.
Năm 1968, theo yêu cầu của đa số thành viên Liên Hợp Quốc, UNCITRAL đã bắt đầu soạn thảo một Công ước thống nhất về luật nội dung cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nhằm thay thế hai Công ước trước đó.
Công ước La Hay năm 1964 và Công ước Viên năm 1980 đều có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các vấn đề pháp lý quốc tế Công ước Viên được xây dựng dựa trên hai Công ước La Hay trước đó, nhưng đã có những cải tiến và đổi mới cơ bản, góp phần nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề liên quan.
Cho đến nay, CISG đã trở thành một điều ước quốc tế được công nhận rộng rãi trên toàn cầu Tuy nhiên, để đạt được sự công nhận này, CISG đã trải qua một quá trình dài Trong tám năm đầu tiên sau khi được thành lập vào năm 1980, CISG chưa thể có hiệu lực do không đủ số quốc gia thành viên phê chuẩn Theo Điều 99 (1) của CISG, điều ước này chỉ có hiệu lực khi có tối thiểu một số lượng quốc gia nhất định phê chuẩn.
Năm 1988, yêu cầu về việc có đủ số lượng quốc gia phê chuẩn CISG đã được thỏa mãn, trong đó có sự tham gia của Mỹ.
Từ năm 1988 đến cuối thế kỷ, số lượng quốc gia tham gia Công ước đã tăng trưởng chậm nhưng ổn định Gần đây, sự gia tăng rõ rệt về số lượng các bên sử dụng CISG đã được ghi nhận, cho thấy sự quan tâm ngày càng lớn đối với các quy định thương mại quốc tế.
Nhiều quốc gia chưa gia nhập CISG đã chọn áp dụng CISG để điều chỉnh hợp đồng của mình, điều này đã thúc đẩy sự phê chuẩn Công ước này ở ngày càng nhiều quốc gia Do đó, CISG đã đạt được mục tiêu của những người sáng lập trong việc thiết lập một hệ thống luật thống nhất về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, thường được xem là cung cấp một bộ quy tắc công bằng và trung lập.
1.1.2 Nội dung cơ bản của CISG
CISG gồm 101 Điều, chia làm 4 phần với các nội dung chính sau:
Phần 1: Phạm vi áp dụng và các quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 13) Như tên gọi của nó cho thấy, phần này quy định các trường hợp CISG được áp dụng (từ Điều 1 đến Điều 6), đồng thời nêu rõ nguyên tắc trong việc áp dụng CISG, nguyên tắc diễn giải các tuyên bố, hành vi và xử sự của các bên, nguyên tắc tự do về hình thức của hợp đồng Công ước cũng nhấn mạnh đến giá trị của tập quán trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế
Phần 2: Xác lập hợp đồng (trình tự, thủ tục ký kết hợp đồng, từĐiều 14 đến Điều 24) Trong phần này, với 11 điều khoản, Công ước đã quy định khá chi tiết, đầy đủ các vấn đề pháp lý đặt ra trong quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Điều 14 của Công ước định nghĩa chào hàng, nêu rõ đặc điểm của chào hàng và phân biệt chào hàng với các“lời mời chào hàng” Các vấn đề hiệu lực của
Các quy định về chào hàng, thu hồi và hủy bỏ chào hàng được nêu rõ trong các Điều 15, 16 và 17 của Công ước Đặc biệt, các Điều 18, 19, 20 và 21 cung cấp chi tiết về nội dung chấp nhận chào hàng, thời điểm và điều kiện để chấp nhận trở thành có hiệu lực, cũng như cách thức chào hàng và chấp nhận hình thành hợp đồng Công ước cũng quy định thời hạn chấp nhận, chấp nhận muộn, kéo dài thời gian chấp nhận, cũng như quy trình thu hồi chấp nhận chào hàng và thời điểm hợp đồng có hiệu lực.
Công ước CISG quy định quy tắc chào hàng - chấp nhận chào hàng trong việc xác lập hợp đồng mua bán Theo đó, chào hàng phải được gửi đến một hoặc nhiều người cụ thể, đồng thời phải xác định và mô tả đầy đủ về hàng hóa, số lượng và giá cả Chào hàng có thể bị thu hồi nếu thư thu hồi được gửi đến khách hàng trước hoặc cùng lúc với thư chào hàng, hoặc trước khi khách hàng gửi thư chấp thuận Mọi thay đổi đối với thư chào hàng ban đầu sẽ được coi là sự từ chối, trừ khi các điều khoản sửa đổi không làm thay đổi những điều khoản thiết yếu của thư chào hàng.
Phần 3: Mua bán hàng hóa (từ Điều 25 đến Điều 88) quy định các vấn đề pháp lý trong quá trình thực hiện hợp đồng Phần này được chia thành 5 chương với những nội dung cơ bản như sau:
Khái quát v ề ph ạ m vi áp d ụ ng c ủ a CISG
1.2.1 Khái quát về các trường hợp áp dụng CISG
Khoản 1 Điều 1 CISG quy định:
Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở kinh doanh tại các quốc gia khác nhau, cụ thể là khi các quốc gia này là thành viên của Công ước hoặc khi các quy tắc tư pháp quốc tế yêu cầu áp dụng luật của một quốc gia thành viên.
Việc áp dụng CISG được xác định trong hai trường hợp: thứ nhất, dựa vào dấu hiệu trụ sở thương mại của các bên liên quan đến nước thành viên của Công ước; thứ hai, liên quan đến nguyên tắc chọn luật áp dụng theo tư pháp quốc tế.
Khi trụ sở kinh doanh của các bên liên quan nằm trong các quốc gia thành viên của Công ước, Công ước sẽ được áp dụng Chẳng hạn, nếu một công ty có trụ sở tại Đức ký hợp đồng bán bột mì, thì các quy định của Công ước sẽ có hiệu lực trong giao dịch này.
18 công ty có trụ sở kinh doanh tại Việt Nam thì CISG áp dụng bởi vì cả Đức và Việt Namđều là thành viên của CISG.
Trong quan hệ thương mại quốc tế, có thể xảy ra tình huống một chủ thể có nhiều trụ sở kinh doanh ở các quốc gia khác nhau Để giải quyết vấn đề này, Điều 10 của Công ước Viên 1980 quy định rằng trụ sở kinh doanh được xem xét là trụ sở có mối liên hệ chặt chẽ nhất với hợp đồng, đồng thời phải tính đến những tình huống mà các bên đã biết hoặc dự đoán trước khi ký kết hợp đồng.
Khi chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có nhiều trụ sở kinh doanh, CISG sẽ được áp dụng nếu trụ sở có mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng nằm tại quốc gia thành viên của Công ước Tuy nhiên, việc xác định mối quan hệ gắn bó này không hề đơn giản Trong trường hợp hợp đồng không có thỏa thuận về luật áp dụng, cơ quan tài phán cần tìm luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng Điều 4 Nghị định Rome I cung cấp các tiêu chí như nơi thực hiện nghĩa vụ, nơi cư trú thường xuyên và địa điểm kinh doanh chính để xác định nước có mối liên hệ gắn bó nhất Những tiêu chí này không áp dụng nếu nghĩa vụ không xác định rõ hoặc có nước khác có mối liên hệ gắn bó hơn Mối liên hệ này thường không rõ ràng và có thể bị biện luận theo ý muốn của các bên Đối với Điều 10 CISG, mối quan hệ gắn bó nhất cần được xem xét trong toàn bộ quá trình từ chào hàng đến thực hiện hợp đồng, với yếu tố duy trì tính quốc tế cũng cần được xem xét.
19 với nước có địa điểm kinh doanh của đối tác sẽ là một yếu tố cân nhắc thiên về địa điểm kinh doanh ở nước khác đó
Khi các bên không có trụ sở kinh doanh, nơi cư trú thường xuyên của họ sẽ được sử dụng để xác định việc áp dụng Công ước CISG Nếu nơi cư trú thường xuyên của các bên nằm trong lãnh thổ của nước thành viên CISG, Công ước sẽ được áp dụng Tuy nhiên, nếu một hoặc cả hai bên không có trụ sở kinh doanh hoặc nơi cư trú tại quốc gia thành viên CISG, Công ước sẽ không tự động áp dụng Dù vậy, CISG vẫn có thể được áp dụng nếu các bên thỏa thuận sử dụng CISG, biến các điều khoản của Công ước thành điều khoản hợp đồng Ngoài ra, nếu một bên có mối quan hệ với nước thành viên CISG và các bên đồng ý áp dụng CISG, thì Công ước cũng sẽ được áp dụng.
Công ước CISG có khả năng áp dụng trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đặc biệt khi một bên tham gia là nước thành viên của Công ước Viên 1980 Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1, việc áp dụng nguyên tắc tư pháp quốc tế sẽ dẫn đến việc xác định luật áp dụng, từ đó tạo cơ sở cho quy phạm xung đột liên quan đến Công ước Viên.
1980 Vấn đề này sẽ được phân tích cụ thể dưới đây.
Theo điểm b khoản 1 Điều 1, việc áp dụng Công ước phụ thuộc vào nguyên tắc tư pháp quốc tế Các quy phạm xung đột sẽ được sử dụng để xác định pháp luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng giữa các bên Nếu quy phạm xung đột chỉ đến hệ thống pháp luật nào, hệ thống pháp luật đó sẽ được áp dụng Khi quy phạm xung đột dẫn chiếu đến pháp luật của quốc gia thành viên CISG, thì Công ước sẽ được áp dụng.
20 ước này sẽ điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng Chẳng hạn, nếu doanh nghiệp tại Pháp (thành viên CISG) ký hợp đồng với doanh nghiệp Indonesia (không phải thành viên CISG) và chọn luật pháp Pháp làm luật áp dụng, thì CISG sẽ được áp dụng do Pháp là quốc gia thành viên Điều này cho thấy quy định tại điểm b có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định luật áp dụng cho hợp đồng.
Khoản 1 Điều 1 đã tạo ra hành lang pháp lí khá rộng cho việc áp dụng Công ước Viên 1980 Theo đó nếu có quy phạm xung đột trong tư pháp quốc tế dẫn chiếu đến pháp luật của bất cứ nước thành viên nào đó của CISG thì Công ước sẽ được áp dụng.
Trong lĩnh vực hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, có nhiều hệ thuộc trong quy phạm xung đột để xác định pháp luật áp dụng khi xảy ra xung đột pháp luật, như hệ thuộc luật của nước người bán, người mua, nơi ký kết hợp đồng và nơi thực hiện hợp đồng Nếu các hệ thuộc này dẫn chiếu đến luật của một trong các thành viên của CISG, thì Công ước sẽ được áp dụng Việc áp dụng nội dung của điểm b khoản 1 Điều 1 sẽ làm tăng khả năng áp dụng CISG lên rất cao.
Khả năng áp dụng của CISG có thể bị thu hẹp tùy thuộc vào quan điểm của các quốc gia thành viên, theo Điều 95 của Công ước Các quốc gia này có quyền tuyên bố không áp dụng điểm b khoản 1 Điều 1, điều này sẽ hạn chế việc áp dụng CISG trong việc điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Kết quả là, trong những trường hợp này, việc chọn luật áp dụng sẽ dựa trên nguyên tắc tư pháp quốc tế, không còn tuân theo các quy định của CISG.
Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp trong mua bán hàng hóa quốc tế, một vấn đề quan trọng là xác định liệu có áp dụng Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) hay không Việc này phụ thuộc vào các yếu tố như quốc tịch của các bên, địa điểm giao hàng và các điều khoản trong hợp đồng Xác định đúng việc áp dụng CISG giúp các bên có cơ sở pháp lý vững chắc để giải quyết tranh chấp một cách hiệu quả và công bằng.
Khi các bên tranh chấp trong hợp đồng có trụ sở tại các Quốc gia thành viên của CISG nhưng chọn áp dụng pháp luật của một Quốc gia khác cũng là thành viên của CISG, câu hỏi đặt ra là liệu sự lựa chọn này có đồng nghĩa với việc loại trừ áp dụng CISG hay không Tình huống này thường xảy ra trong các tranh chấp giữa các doanh nghiệp, cần xem xét kỹ lưỡng để xác định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên theo quy định của CISG.
Vào năm 1991, một công ty Canada đã ký hợp đồng mua bán hàng hóa với một công ty Italia, trong đó các bên đã đạt được những thỏa thuận cụ thể.