Trải qua những giai đoạn thăng trầm trong lịch sử, tiêu biểu là các nước Ấn Độ, Trung Quốc và một số nước khác ở phương Đông. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn là “cái nôi” của các thời kỳ tranh giành thuộc địa từ thời cổ đại cho đến cận đại. Vào những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, tình hình chính trị ở Trung Quốc rơi vào khủng hoảng, bế tắc. Chính quyền phong kiến nhà Thanh suy yếu, mục nát và phản động nên chính trị, xã hội của đất nước trở nên rối ren, đời sống của nhân dân càng trở nên nguy khốn. Thời kỳ này, có nhiều phong trào chiến tranh cách mạng nổ ra, một mặt chống lại chính quyền phong kiến Mãn Thanh, mặt khác chống lại giặc ngoại bang. Trong số những phong trào đó, phong trào cách mạng Tân Hợi do Tôn Trung Sơn lãnh đạo nổ ra năm 1911, mặc dù cách ngày nay cả một thế kỷ nhưng ý nghĩa của nó vẫn còn nguyên vẹn trong lịch sử cận đại. Đó là bước chuyển mình quan trọng của lịch sử Trung Quốc, đánh dấu sự sụp đổ của chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế tồn tại mấy nghìn năm ở nước này; làm cho tư tưởng cộng hoà ăn sâu, bắt rễ vào quần chúng; mở ra một kỷ nguyên mới cho cuộc cách mạng dân tộc dân chủ trên đất nước Trung Hoa. Hơn thế nữa, nó còn là động lực thúc đẩy mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước trong khu vực châu Á và trên toàn thế giới. Chính vì vậy, trong bài Châu Á thức tỉnh, Lênin đã gọi phong trào cách mạng nói chung và cuộc cách mạng Tân Hợi nói riêng là “cơn bão táp cách mạng”. Đường lối lý luận cơ bản làm nền tảng chỉ đạo thành công cuộc cách mạng này chính là chủ nghĩa Tam dân. Chủ nghĩa Tam dân là một học thuyết cách mạng chân chính được Tôn Trung Sơn xây dựng trên sự hiểu biết sâu rộng cùng với kinh nghiệm cách mạng phong phú của ông. Chủ nghĩa Tam dân bao gồm ba nội dung lớn là chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân quyền và2 chủ nghĩa dân sinh. Mục tiêu của nó là kêu gọi nhân dân cả nước tích cực đấu tranh nhằm giành độc lập dân tộc, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Đây chính là kim chỉ nam dẫn dắt cuộc cách mạng thay đổi số phận dân tộc của nhân dân Trung Quốc đầu thế kỷ XX; đồng thời cũng là những kinh nghiệm cách mạng vô cùng giá trị để các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới thời kỳ đó nghiên cứu, học hỏi. Một điều quan trọng hơn là cho đến này, những lý luận về Hiến pháp Ngũ quyền, phân biệt giữa quyền và năng, phát triển tư bản nhà nước… trong hệ thống lý luận của Tôn Trung Sơn trước đây vẫn được các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Trung Quốc nghiên cứu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc. Chính vì vậy, đầu thế kỷ XX, một số chí sĩ yêu nước Việt Nam trong quá trình đi tìm con đường cứu nước cho dân tộc đã thấy được nhiều điều mới mẻ, phù hợp với hoàn cảnh nước mình trong tư tưởng cách mạng của Tôn Trung Sơn. Họ đã tiếp thu, học hỏi nhiều kinh nghiệm bổ ích trong chủ nghĩa Tam dân để bổ sung cho hệ tư tưởng cách mạng của mình, mà tiêu biểu là Phan Bội Châu và Hồ Chí Minh. Vì những giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại to lớn của cuộc cách mạng Tân Hợi cũng như chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn đã được nhiều tác giả nghiên cứu, tìm hiểu trong một số lĩnh vực của chính trị, xã hội nhưng chưa nhiều, chủ yếu mới được đề cập một cách lồng ghép trong một số công trình. Với mong muốn tìm hiểu thêm về cuộc cách mạng Tân Hợi và tư tưởng chính trị trong chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, bước đầu người làm nghiên cứu đã lựa chọn đề tài “Cƣơng lĩnh chính trị, giá trị, ý nghĩa và những hạn chế lịch sử của cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc do Tôn Trung Sơn lãnh đạo” làm đề tài tiểu luận cho học phần tư tưởng chính trị phương Đông mà bản thân được học
Trang 1HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
KHOA TRIẾT HỌC, CHÍNH TRỊ HỌC VÀ TÔN GIÁO HỌC
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
KHOA TRIẾT HỌC, CHÍNH TRỊ HỌC VÀ TÔN GIÁO HỌC
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
NỘI DUNG 5
1 Bối cảnh ra đời của cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc 5
2 Con người và hoạt động cách mạng của Tôn Trung Sơn 6
3 Cương lĩnh chính trị của cuộc cách mạng Tân Hợi do Tôn Trung Sơn lãnh đạo 9
4 Giá trị lịch sử của cuộc cách mạng Tân Hợi do Tôn Trung Sơn lãnh đạo 15
5 Ý nghĩa lịch sử của cuộc cách mạng Tân Hợi do Tôn Trung Sơn lãnh đạo 16
6 Những hạn chế lịch sử của cuộc cách mạng Tân Hợi do Tôn Trung Sơn lãnh đạo 17
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn vấn đề nghiên cứu
Trải qua những giai đoạn thăng trầm trong lịch sử, tiêu biểu là các nước
Ấn Độ, Trung Quốc và một số nước khác ở phương Đông Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn là “cái nôi” của các thời kỳ tranh giành thuộc địa từ thời cổ đại cho đến cận đại Vào những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, tình hình chính trị ở Trung Quốc rơi vào khủng hoảng, bế tắc Chính quyền phong kiến nhà Thanh suy yếu, mục nát và phản động nên chính trị, xã hội của đất nước trở nên rối ren, đời sống của nhân dân càng trở nên nguy khốn Thời kỳ này,
có nhiều phong trào chiến tranh cách mạng nổ ra, một mặt chống lại chính quyền phong kiến Mãn Thanh, mặt khác chống lại giặc ngoại bang Trong số những phong trào đó, phong trào cách mạng Tân Hợi do Tôn Trung Sơn lãnh đạo nổ ra năm 1911, mặc dù cách ngày nay cả một thế kỷ nhưng ý nghĩa của
nó vẫn còn nguyên vẹn trong lịch sử cận đại Đó là bước chuyển mình quan trọng của lịch sử Trung Quốc, đánh dấu sự sụp đổ của chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế tồn tại mấy nghìn năm ở nước này; làm cho tư tưởng cộng hoà ăn sâu, bắt rễ vào quần chúng; mở ra một kỷ nguyên mới cho cuộc cách mạng dân tộc dân chủ trên đất nước Trung Hoa Hơn thế nữa, nó còn là động lực thúc đẩy mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước trong khu vực châu Á và trên toàn thế giới Chính vì vậy, trong bài Châu
Á thức tỉnh, Lênin đã gọi phong trào cách mạng nói chung và cuộc cách mạng Tân Hợi nói riêng là “cơn bão táp cách mạng”
Đường lối lý luận cơ bản làm nền tảng chỉ đạo thành công cuộc cách mạng này chính là chủ nghĩa Tam dân Chủ nghĩa Tam dân là một học thuyết cách mạng chân chính được Tôn Trung Sơn xây dựng trên sự hiểu biết sâu rộng cùng với kinh nghiệm cách mạng phong phú của ông Chủ nghĩa Tam dân bao gồm ba nội dung lớn là chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân quyền và
Trang 5chủ nghĩa dân sinh Mục tiêu của nó là kêu gọi nhân dân cả nước tích cực đấu tranh nhằm giành độc lập dân tộc, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc Đây chính là kim chỉ nam dẫn dắt cuộc cách mạng thay đổi số phận dân tộc của nhân dân Trung Quốc đầu thế kỷ XX; đồng thời cũng là những kinh nghiệm cách mạng vô cùng giá trị để các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới thời kỳ đó nghiên cứu, học hỏi Một điều quan trọng hơn là cho đến này, những lý luận về Hiến pháp Ngũ quyền, phân biệt giữa quyền và năng, phát triển tư bản nhà nước… trong hệ thống lý luận của Tôn Trung Sơn trước đây vẫn được các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Trung Quốc nghiên cứu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc
Chính vì vậy, đầu thế kỷ XX, một số chí sĩ yêu nước Việt Nam trong quá trình đi tìm con đường cứu nước cho dân tộc đã thấy được nhiều điều mới
mẻ, phù hợp với hoàn cảnh nước mình trong tư tưởng cách mạng của Tôn Trung Sơn Họ đã tiếp thu, học hỏi nhiều kinh nghiệm bổ ích trong chủ nghĩa Tam dân để bổ sung cho hệ tư tưởng cách mạng của mình, mà tiêu biểu là Phan Bội Châu và Hồ Chí Minh
Vì những giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại to lớn của cuộc cách mạng Tân Hợi cũng như chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn đã được nhiều tác giả nghiên cứu, tìm hiểu trong một số lĩnh vực của chính trị, xã hội nhưng chưa nhiều, chủ yếu mới được đề cập một cách lồng ghép trong một số công trình Với mong muốn tìm hiểu thêm về cuộc cách mạng Tân Hợi và tư tưởng chính trị trong chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, bước đầu người làm
nghiên cứu đã lựa chọn đề tài “Cương lĩnh chính trị, giá trị, ý nghĩa và những hạn chế lịch sử của cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc do Tôn Trung Sơn lãnh đạo” làm đề tài tiểu luận cho học phần tư tưởng chính
trị phương Đông mà bản thân được học
Trang 62 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ Cương lĩnh chính trị của cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc do Tôn Trung Sơn lãnh đạo Đồng thời, nghiên cứu bối cảnh ra đời của cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc, con người vàhoạt động cách mạng của Tôn Trung Sơn Từ đó, tác giả nêu lên giá trị, ý nghĩa và những hạn chế của cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc do Tôn Trung Sơn lãnh đạo
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, tác giả thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu bối cảnh ra đời của cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc
- Tìm hiểu con người và hoạt động cách mạng của Tôn Trung Sơn
- Phân tích Cương lĩnh chính trị của cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc do Tôn Trung Sơn lãnh đạo
- Đánh giá giá trị, ý nghĩa và những hạn chế của cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc do Tôn Trung Sơn lãnh đạo
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Cương lĩnh chính trị, giá trị, ý nghĩa và những hạn chế lịch sử của cuộc
cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc do Tôn Trung Sơn lãnh đạo
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Tiểu luận tập trung làm rõ 2 vấn đề:
Thứ nhất, Cương lĩnh chính trị của cuộc cách mạng Tân Hợi dựa trên chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn
Thứ hai, đánh giá giá trị, ý nghĩa và những hạn chế lịch sử của cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc do Tôn Trung Sơn lãnh đạo
Trang 74 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng một hệ thống các phương pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa học như sau:
Trang 8NỘI DUNG
1 Bối cảnh ra đời của cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc
Vào những năm cuối thế kỷ XIX, phong trào chính trị cải lương bị thế lực phong kiến nhà Thanh đàn áp nên đã thất bại Năm 1900 lại nổ ra phong trào chiến tranh cách mạng nông dân Nghĩa Hoà Đoàn chống chủ nghĩa đế quốc và bọn thống trị phong kiến “Trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, quần chúng, nông dân Nghĩa Hoà Đoàn đã nhận thức được bản chất phản động của vua quan nhà Thanh là một mặt, ra sức áp bức bóc lột nhân dân và mặt khác, cam tâm làm tay sai cho chủ nghĩa đế quốc” [1, tr.690]
Điều này cho thấy “tinh thần cách mạng của Nghĩa Hòa Đoàn là sự công khai đánh thẳng vào quan điểm luân lý đạo đức và trật tự lễ nghĩa, cương thường của Lý học duy tâm Nho gia Phong trào nông dân cách mạng Nghĩa Hoà Đoàn mặc dù bị dìm trong biển máu bởi gót sắt giày xéo của quân đội nước ngoài và sự đê hèn của triều đình Mãn Thanh, nhưng tinh thần chống xâm lược và lòng dũng cảm của quần chúng nhân dân đã nêu một tấm gương sáng về sự giác ngộ cách mạng, thúc đẩy phong trào vận động cách mạng dân chủ của giai cấp tư sản” [1, tr.691]
Bên cạnh đó, kinh tế tư bản dân tộc và giai cấp tư sản dân tộc Trung Quốc đã hình thành và phát triển Giai cấp tư sản Trung Quốc, một mặt có quan hệ ràng buộc với đế quốc phong kiến Mặt khác, họ bị đế quốc chèn ép
về kinh tế Do vậy họ có ý thức đấu tranh đòi đế quốc phải trả lại cho Trung Quốc nhiều quyền lợi đặc biệt là quyền sử dụng đường sát Ý thức dân tộc dân chủ và cuộc đấu tranh của quần chúng lên cao đã tác động mạnh đến giai cấp tư sản, phân hóa nhanh hàng ngũ tư sản dân tộc Trung Quốc Những phần
tử cấp tiến của tư sản dân tộc đã bước lên con đường cách mạng
Sau năm 1900, dưới sự ảnh hưởng của cuộc chiến tranh nông dân Nghĩa Hoà Đoàn, cách mạng dân chủ tư sản tiến lên thành cao trào Để thoát
Trang 9khỏi sự áp bức của chủ nghĩa đế quốc và sự chèn ép của bọn thống trị phong
kiến, giai cấp tư sản và tiểu tư sản Trung Quốc đã phát triển chủ nghĩa tư bản
dân tộc, dần mở rộng phong trào yêu nước, và về sau đã chuyển hướng sang
phong trào chống chính phủ phong kiến chuyên chế, bảo thủ bán nước Ở
Trung Quốc lại bắt đầu ngấm ngầm một cuộc cách mạng tư sản Năm 1894,
ông thành lập Hưng Trung Hội, là Hội cách mạng đầu tiên của giai cấp tư sản
Trung Quốc để chuẩn bị các cuộc khởi nghĩa Quảng Châu (1895), Huệ Châu
(1898) nhưng không thành công Năm 1905, Tôn Trung Sơn hợp nhất Hưng
Trung hội với một số tổ chức trong nước lập thành Trung Quốc đồng minh
hội do ông làm Tổng lý Đồng thời, lập ra báo “Dân báo”, cơ quan ngôn luận
của Trung Quốc đồng minh hội Trong bài ở số báo đầu tiên, Tôn Trung Sơn đã đề ra chính cương cách mạng dân chủ của Trung Quốc đồng minh hội,
gọi là “Tam dân chủ nghĩa”, gồm chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân quyền và
chủ nghĩa dân sinh, quyết tâm đấu tranh để lật đổ chính quyền thống trị của
giai cấp địa chủ quý tộc phong kiến Mãn Thanh
2 Con người và hoạt động cách mạng của Tôn Trung Sơn
Tôn Trung Sơn, người lãnh đạo kiệt xuất phong trào cách mạng của
giai cấp tư sản Trung Quốc trong cuộc Cách mạng Tân Hợi, là nhà triết học
nổi tiếng, nhà dân chủ cách mạng vĩ đại của Trung Quốc Ông sinh năm 1866
và mất năm 1925, tên là Văn, tự Dật Tiên Sinh trưởng trong một gia đình
nông dân khá giả ở huyện Hương Sơn, tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc,
nhưng ngay từ thời niên thiếu ông đã sang ở với người anh kinh doanh tại
Haoai Ở đây, ông đã theo học các trường tiểu học, trung học của người
phương Tây mở, nên đã có cơ hội tiếp xúc nhiều với nền văn hóa phương
Tây Năm 1883, ông về nước theo học ngành y khoa ở Hương Cảng và trở
thành bác sĩ Năm 1894, Tôn Trung Sơn tập hợp những Hoa kiểu cùng chí
hướng “cứu nước cứu đời” ở Haoai thành một tổ chức cách mạng lấy tên là
Trang 10“Hưng Trung hội” Dưới sự ảnh hưởng của ông, các trí thức tư sản trong nước cũng đã lần lượt thành lập các tổ chức cách mạng như Hoa Hưng hội ở Trường Sa, Quang Phục hội ở Thượng Hải
Năm 1905, Tôn Trung Sơn hợp nhất các tổ chức cách mạng trên thành một đảng thống nhất lấy tên là “Trung Quốc đồng minh hội”, do ông làm Tổng lý Với vai trò của mình, Tôn Trung Sơn đã tạo ra một phong trào cách mạng rộng rãi, đặc biệt họ đã tiến hành đấu tranh với phái cải lương trong giai cấp tư sản, thoả hiệp với chính quyền Mãn Thanh thực hiện hiến chính một cách giả dối, như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu
Về đường lối chính trị, phái cách mạng kiên quyết phản bác luận điểm sai lầm “bảo hoàng tức cách mạng” (bảo vệ vua tức là cách mạng) của phái cải lương Họ đã chỉ ra rằng: “Hai việc cách mạng và bảo vệ vua là hai con đường tách bạch hẳn nhau như trắng và đen không thể lẫn lộn, như đông với tây không thể thay đổi vị trí” [1, tr.692] Đồng thời Tôn Trung Sơn phê phán mạnh mẽ luận điểm “phi bạo lực cách mạng” của phải cải lương và chỉ ra rằng tiến hành cách mạng thì không sợ "lưu huyết thành hà", chỉ có bạo lực cách mạng mới lật đổ được chính phủ phản động phong kiến nhà Thanh, phá
bỏ chế độ xã hội trì trệ, lạc hậu cũ
Về đường lối tư tưởng, các nhà cách mạng đã dùng triết học duy vật làm cơ sở cho lý luận cách mạng tư sản, đồng thời tích cực giới thiệu các thành tựu khoa học, kỹ thuật, văn hoá, tư tưởng tiến bộ của phương Tây, phản đối “Thiên mệnh luận” và sự mê tín quỷ thần vốn được tuyên truyền trong nhân dân” Từ đó, họ đề ra tư tưởng "trách thiên”, "cách thiên", tức trách trời
và thay đổi trời, chủ trương “con người hành động, làm việc có thể thắng được trời khắc phục được thiên nhiên, việc thiên hạ cũng duy nhất dựa vào con người làm - nhân sự khả dĩ thắng thiên hành, thiên hạ sự việc duy bằng nhân tạo”[1, tr.692] Họ đã giương cao ngọn cờ phê phán những triết lý duy
Trang 11tâm của Lý học Nho gia, đả phá kịch liệt chủ trương lấy Khổng giáo làm quốc giáo do những người như Khang Hữu Vi đại diện Họ cũng chĩa mũi nhọn phê phán vào tư tưởng của Khổng - Mạnh và chỉ ra Khổng học đối với Trung Quốc bấy giờ chính là "họa bản", tức Khổng học là cái gốc của tai họa Phái cách mạng của Tôn Trung Sơn cũng phê phán một cách không nhân nhượng
Cơ đốc giáo, công cụ tinh thần của bọn đế quốc xâm lược Sự phê phán của phái cách mạng đối với tư tưởng phong kiến thống trị ở Trung Quốc đương thời vượt rất xa mức độ đạt được của phái cải lương trong giai cấp tư sản, là
sự đi sâu và phát triển cao của cuộc đấu tranh chống triết lý tiên nghiệm duy tâm và quan điểm đạo đức luân lý duy tâm của cả phải Lý học Trình - Chu lẫn phái Tâm học Lục - Vương, đả phá vào nền tảng tinh thần của chế độ chuyên chế phong kiến nhà Thanh
Trong quan điểm về lịch sử xã hội, họ vẫn có cách nhìn duy tâm, xem lịch sử là do các anh hùng và vĩ nhân tạo nên, không nhìn thấy vai trò của quần chúng nhân dân lao động trong tiến trình cách mạng, thiếu nhận thức khoa học trong việc phân tích, đánh giá những mâu thuẫn cơ bản của xã hội Trung Quốc cận đại, do đó tuy phái cách mạng thu được thắng lợi trong cuộc Cách mạng Tân Hợi năm 1911, lật đổ được chế độ chuyên chế phong kiến Mãn Thanh, nhưng cuối cùng nó vẫn không hoàn thành được nhiệm vụ phản
đế, phản phong mà điều kiện lịch sử xã hội Trung Quốc thời bấy giờ đặt ra
Trong quá trình hoạt động cách mạng, Tôn Trung Sơn đã đề ra cương lĩnh chính trị nổi tiếng gọi là Tam dân chủ nghĩa: “Dân tộc độc lập, dân quyền
tự do, dân sinh hạnh phúc” [2, tr.131] nhằm phản đối áp bức dân tộc, xây dựng nước cộng hoà dân chủ và bình quân địa quyền Tuy Cách mạng Tân Hợi thất bại, ông đã tổng kết các bài học kinh nghiệm của mình, viết tác phẩm
“Tôn Văn học thuyết”, tập trung trình bày những quan điểm triết học của
mình
Trang 12Chủ tịch Hồ Cẩm Ðào đánh giá “Tôn Trung Sơn là một anh hùng dân tộc, nhà yêu nước và người đi tiên phong của cuộc cách mạng dân chủ của Trung Quốc Những người cộng sản Trung Quốc là những người ủng hộ kiên cường nhất và kế thừa trung thành nhất sự nghiệp cách mạng do Tôn Trung Sơn khai sáng, thực hiện và phát triển hoài bão vĩ đại của Tôn Trung Sơn và những người tiên phong của Cách mạng Tân Hợi” [3]
3 Cương lĩnh chính trị của cuộc cách mạng Tân Hợi do Tôn Trung Sơn lãnh đạo
Tư tưởng của Tôn Trung Sơn hình thành và phát triển trong cuộc sống đấu tranh cách mạng liên tục của ông Khi bắt đầu sự nghiệp cách mạng, tức thời kỳ chiến tranh Trung - Nhật, ông từng đi theo con đường của chủ nghĩa cải lương Không bao lâu ông đã trở thành nhà dân chủ cách mạng kiên định,
là người tổ chức và lãnh đạo của phong trào cách mạng dân chủ (1895 - 1919) Những năm cuối đời, tức là sau phong trào Ngũ Tứ (1919), dưới sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông đã đề ra ba chính sách lớn là:
"liên Nga, liên cộng, phù trợ công nông" [1, tr.701], giải thích mới chủ nghĩa tam dân, kết hợp với Đảng Cộng sản Trung Quốc thành một chiến tuyến thống nhất phản đế, phản phong Từ một người theo chủ nghĩa Tam dân trên lập trường dân chủ tư sản, ông trở thành người của chủ nghĩa dân chủ mới
Ở thời kỳ chuẩn bị cách mạng dân chủ, trên lập trường của phái dân chủ cách mạng, Tôn Trung Sơn đã đấu tranh một cách kiên quyết với phải cải lương trong giai cấp tư sản Ông phê phán, đập tan luận thuyết sai lầm cải lương chủ nghĩa của Khang Hữu Vi thuộc phải Bảo Hoàng Ông kết hợp giữa tuyên truyền lý luận với đấu tranh võ trang, cuối cùng đã giành được thắng lợi trong Cách mạng Tân Hợi năm 1911
Tôn Trung Sơn là người đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc đã xây dựng
lý luận và cương lĩnh cách mạng tư sản một cách có hệ thống với sự đề xuất