Giới thiệu:Sự tương tác giữa thực phẩm bổ sung và thuốc là khi có một thành phần trong thực phẩm bổ sung ảnh hưởng đến hoạt động của một số thuốc khi chúng được sử dùng cùng lúc hoặc sử
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC – THỰC PHẨM
……
MÔN:
GVHD: TS Nguyễn Thị Minh Nguyệt Nhóm: 15
Lớp: DHTP 10B
THỰC PHẨM CHỨC
NĂNG
SỰ TƯƠNG TÁC DƯỢC LỰC HỌC
GIỮA THUỐC VÀ THỰC PHẨM CHỨC NĂNG
Trang 2BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC – THỰC PHẨM
……
MÔN:
1 Trịnh Minh Đức 14040701 Tìm hiểu vitamin A, B3, acid folic
2 Nguyễn Bảo Khang 14048151 Tìm hiểu chất chống oxy hóa, sựtương tác của tỏi, quả nam việt quốc,
echinacea, men gạo đỏ
3 Nguyễn Kiều Kim Hồng 14096931 Tìm hiểu vitamin E, K, B6, canxi,iod, khoáng chất, dược thảo tỏi
Tp Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 2 năm 2017
THỰC PHẨM CHỨC
NĂNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Chúng em xin chân thành cảm ơn Cô Nguyễn Thị Minh Nguyệt đã cung cấp tài liệu, hướng dẫn chúng em thực hiện bài tiểu luận này Xin cảm ơn thư viện trường đã hỗ trợ chúng
em trong việc tìm kiếm thông tin và các tài liệu có liên quan
Xin chân thành cảm ơn
Trang 4MỤC LỤC
7.1 Giới thiệu: 2
7.2 Vitamin: 2
7.2.1 Vitamin A: 2
7.2.2 Acid folic: 3
7.2.3 Vitamin B3: 3
7.2.4 Vitamin K: 4
7.2.5 Vitamin B6: 5
7.2.6 Vitamin E: 6
7.3 Khoáng chất: 6
7.3.1 Canxi: 8
7.3.2 Iod: 8
7.4 Bổ sung dược thảo: 8
7.4.1 Tỏi: 9
7.4.1.1 Tương tác với các thuốc chống đông máu: 10
7.4.1.2 Tương tác khác: 11
7.4.2 Nam việt quốc: 11
7.4.3 Echinacea: 12
7.4.4 Men gạo đỏ: 12
7.5 Chất chống oxy hóa: 12
7.6 Kết luận: 12
Tài liệu tham khảo 14
Trang 57.1 Giới thiệu:
Sự tương tác giữa thực phẩm bổ sung và thuốc là khi có một thành phần trong thực phẩm
bổ sung ảnh hưởng đến hoạt động của một số thuốc khi chúng được sử dùng cùng lúc hoặc sử dụng cách nhau một khoảng thời gian ngắn (ví dụ: trong cùng một ngày) Trong vài trường hợp, sự tương tác sẽ diễn ra ngược lại, một thành phần của một loại thuốc có thể ảnh hưởng đến (dinh dưỡng) hoạt động của một thực phẩm bổ sung Sự tương tác có thể có tác dụng hỗ trợ (có hiệu lực tăng) hoặc đối kháng (có hiệu lực giảm) Tương tác có thể thay đổi (tăng hoặc giảm) hiệu quả điều trị nhưng nó cũng có thể chuyển thành một tác dụng bất lợi.Trong một số trường hợp, tác dụng mới có thể được tạo ra
Theo cơ chế phản ứng, có hai loại tương tác: dược động học và dược lực học Trong tương tác dược động học, sự thay đổi tác dụng của một loại thuốc được gây ra bởi những biến đổi trong sự hấp thu, phân bố, chuyển hóa hoặc bài tiết (ADME) của thuốc, dẫn đến sự thay đổi nồng độ của thuốc trong máu và tại trung tâm hoạt động của nó
Trong tương tác dược lực học, phản ứng của cơ thể với thuốc (hiệu lục thuốc) được chuyển hóa mà không cần thay đổi hàm lượng trong thuốc
Tương tác khác nhau chủ yếu ở mức độ nghiêm trọng và ý nghĩa Bệnh nhân không chia sẻ thông tin với dược sĩ và bác sĩ của họ về các chất bổ sung mà họ sử dụng Họ cho rằng việc bổ sung là vô hại và không liên quan đến thuốc mà họ điều trị
Việc điều tra sự tương tác không phải là một nhiệm vụ dễ dàng Nó thường được thực hiện khi nhận thấy những dấu hiệu của sự tương tác đã xảy ra bằng cách quan sát các tác dụng phụ của việc sử dụng đồng thời thực phẩm bổ sung và sản phẩm thuốc trong thực tế hoặc bằng cách xem xét cơ chế hoạt động của các chất trong hai sản phẩm Có rất nhiều sự nghiên cứu về sự kết hợp của các chất dinh dưỡng với các loại thuốc và các biện pháp phòng ngừa Trong nhiều cuộc nghiên cứu, sự tương tác được dựa trên các hoạt động dược lý đã biết (ví dụ valerian và thuốc an thần tổng hợp), nhưng các hệ thống nghiên cứu sau không tìm thấy các triệu chứng lâm sàng nghiêm trọng
7.2 Vitamin:
Một số chất khoáng có liên quan đến sự tương tác về dược động học với các sản phẩm thuốc nhưng hầu hết sự tương tác chỉ xuất hiện ở liều cao hơn nhiều so với RDA (hàm lượng trung bình trong ngày)
7.2.1 Vitamin A:
Trang 6Vitamin A có thể tương tác với các thuốc retinoid thuốc retinoid là những hợp chất tương
tự như vitamin A, như isotretinoin và acitretin Nó được chỉ định để điều trị mụn trứng cá và bệnh vẩy nến Với việc sử dụng đồng thời các retinoids và vitamin A, có thể sẽ hình thành độc tính vitamin A
Trong một nghiên cứu từ năm 1986, bôi isotretinoin trên da và xem xét sự ảnh hưởng của
nó trên nồng độ vitamin A có trong huyết thanh và da, đã được nghiên cứu trên 17 bệnh nhân bị mụn trứng cá Tất cả các bệnh nhân nhận 0,5 mg / kg / ngày trong 3 tháng và tám bệnh nhân tiếp tục điều trị với 0,75 mg / kg / ngày cho thêm 3 tháng Trong đó, các chất chuyển hóa chính (4-oxo-isotretinoin) và hai retinoids tự nhiên (Retinol và dehydroretinol) được theo dõi trong huyết thanh và sinh thiết ngoài da Trong 3 tháng đầu, việc điều trị với mức isotretinoin trung bình trong huyết thanh là 145 ng / ml và trong lớp biểu bì 73 ng / g Các giá trị tương ứng cho 4-oxo-isotretinoin là 615 và 113 ng / g, tùy từng người Ngay cả ở liều lượng cao nhất cũng không nhận thấy có sự tích lũy dần của isotretinoin trong huyết thanh, lớp biểu bì hay mô dưới
da Sau khi ngưng điều trị, thuốc biến mất khỏi cả huyết thanh và da trong vòng 2-4 tuần Việc vận chuyển huyết thanh của vitamin A được giám sát bởi nồng độ retinol, RBP(protein gắn với retinol) và prealbumin (transthyretin) sao cho không bị ảnh hưởng đến quá trình điều trị Ngược lại, mức retinol trong lớp biểu bì tăng trung bình 53% và mức dehydroretinol giảm 79% trong 3 tháng điều trị Cả hai thay đổi đều cho thấy sự hồi phục Kết quả cho thấy là việc điều trị Isotretinoin gây trở ngại đến sự trao đổi chất của các vitamin A nội sinh trong làn da
Vì thế không nên sử dụng thực phẩm bổ sung vitamin A cho bệnh nhân sử dụng thuốc retinoid
7.2.2 Acid folic:
Acid folic thường được khuyến nghị bổ sung trước và trong khi mang thai giúp giảm nguy
cơ dị tật bẩm sinh liên quan đến não và tủy sống của thai nhi, nhưng cũng trong thời gian đó, việc sử dụng methotrexate (điều trị ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp và bệnh vẩy nến) có thể làm giảm tác dụng của acid folic, thuốc ức chế acid folic chuyển thành acid tetrahydrofolic, do
có ái lực với enzym dihydrofolat reductase mạnh hơn acid folic nội sinh Việc bổ sung acid folic hoặc acid folinic, sẽ làm giảm các tác dụng phụ của methotrexate Một nghiên cứu cho thấy bệnh nhân viêm khớp dạng thấp đang điều trị methotrexate nếu dùng bổ sung acid folic sẽ giảm 79% nguy cơ lở miệng và các triệu chứng trên đường tiêu hóa, nhưng nó có thể làm giảm hiệu quả của methotrexate trong điều trị bệnh ung thư
7.2.3 Vitamin B3:
3
Trang 7Vitamin B3 (niacin) có trong các loại thực phẩm như gan, thịt gà, cá ngừ, cá hồi và cũng có dạng thực phẩm chức năng
Vitamin B3 được sử dụng để điều trị rối loạn mỡ trong máu và bệnh nứt da Sự kết hợp của niacin và statin làm tăng nguy cơ bị các bệnh về cơ hoặc tiêu cơ vân Sử dụng thực phẩm bổ sung niacin để giúp giảm cholesterol máu do nó có thể giúp tăng nồng độ cholesterol tốt và đồng thời giảm triglyceride và các loại chất béo có thể gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch
Để kiểm tra giả thuyết phối hợp niacin với statin có thể ngăn ngừa các biến cố tim mạch nặng hữu hiệu hơn so với statin đơn trị ở người có bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch và rối loạn lipid máu sinh xơ vữa, các nhà nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm lâm sàng AIM-HIGH (Atherothrombosis Intervention in Metabolic Syndrome with Low HDL/High Triglycerides: Hiệp Hội Sức Khỏe Toàn Cầu) Tiêu chuẩn chọn vào AIM-HIGH là tuổi ≥ 45,
có bệnh mạch vành ổn định, bệnh mạch máu não hoặc bệnh động mạch ngoại vi và rối loạn lipid máu: HDL thấp (< 40 mg/dl đối với nam và < 50 mg/dl đối với nữ), thời gian cao
(150-400 mg/dl) và LDL < 180 mg/dl (nếu chưa dùng statin) Bệnh nhân được điều trị bằng simvastatin 40-80 mg/ngày và được phân ngẫu nhiên cho dùng niacin phóng thích chậm
1500-2000 mg/ngày hoặc placebo Tiêu chí đánh giá chính là phối hợp các biến cố: chết do bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim không chết, đột quỵ dạng thiếu máu cục bộ, nhập viện vì hội chứng mạch vành cấp và tái tưới máu mạch vành hoặc mạch não do bệnh nhân có triệu chứng Nghiên cứu đã được ngưng sau 3 năm vì mặc dù niacin cải thiện rõ rệt lipid máu (tăng HDL, hạ LDL và thời gian) so với placebo, tần suất các biến cố thuộc tiêu chí đánh giá của 2 nhóm không khác biệt: 16,4% ở nhóm simvastatin phối hợp niacin và 16,2% ở nhóm simvastatin đơn trị (p = 0,79).
Sự tương tác xảy ra ở liều lượng niacin hơn 1 g / ngày, cần cân nhắc giảm liều lượng và tránh sử dụng với những bệnh nhân có bệnh gan hoặc thận nặng từ trước hoặc ở bệnh nhân đang đồng thời sử dụng các thuốc làm tăng độc tính như cyclosporine, erythromycin hay itraconazole
Cần lưu ý thực phẩm chức năng chứa niacin có thể khiến da đỏ bừng, cảm giác gai người
và gây buồn nôn Liều lượng khuyến cáo của niacin một ngày là 14 mg đối với phụ nữ và 16
mg đối với nam giới Không nên sử dụng nhiều hơn lượng khuyến cáo mà không hỏi ý kiến bác sỹ
7.2.4 Vitamin K:
Vitamin K được dùng để điều chỉnh sự đông máu, thời gian đông máu diễn ra chậm do thuốc chống đông máu kháng vitamin K Warfarin thường được chỉ định để điều trị hoặc ngăn
Trang 8ngừa huyết khối Nếu bổ sung vitamin K cùng với thuốc chống đông máu thì hoạt tính của thuốc warfarin giảm và có thể dẫn đến nguy cơ đông máu cao, nguy hiểm do thời gian đông máu diễn ra nhanh có thể dẫn đến sự tắc nghẽn mạch do huyết khối Khi sử dụng cùng một số thực phẩm nhất định, đặc biệt là những thực phẩm giàu vitamin K, có thể làm giảm tính hiệu quả của warfarin, do vitamin K đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất các yếu tố đông máu, ngăn ngừa chảy máu Điều quan trọng là phải tránh việc sử dụng không phù hợp các chất
bổ sung vitamin K hoặc từ thực phẩm có chứa hàm lượng vitamin K cao (rau bina, bông cải xanh, cải xoăn, bắp cải…) chiếm khoảng 90% lượng vitamin K mà cơ thể hấp thu Do vậy, đối với những bệnh nhân đang điều trị với warfarin hay các thuốc chống đông máu khác nên hạn chế ăn các thực phẩm giàu vitamin K hoặc duy trì một lượng thực phẩm phù hợp
Thuốc kháng vitamin K là các thuốc chống đông đặc biệt hiệu quả trên tĩnh mạch Thuốc kháng vitamin K ngăn chặn gián tiếp chu trình đông máu bằng cách cạnh tranh với vitamin K Được hấp thu qua niêm mạc ruột, các thuốc này ức chế epoxyd reductase, enzym tham gia vào hoạt động của vitamin K, do đó ngăn ngừa quá trình tổng hợp ở gan của một số tiền yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K Do thời gian bán thải của một số yếu tố phụ thuộc vitamin K tương đối dài (40-60 giờ), tác dụng của thuốc kháng vitamin K xuất hiện chậm và tăng dần theo thời gian (48-72 giờ) Cũng vì lý do này, thời gian tác dụng của thuốc kháng vitamin K tương đối dài, tác dụng chống đông có thể vẫn còn ngay cả khi đã ngừng điều trị
Thuốc kháng vitamin K có bản chất acid, liên kết mạnh với albumin Do đó, có thể xảy ra tương tác với các thuốc khác do cạnh tranh liên kết albumin trong huyết tương hoặc tác động lên chuyển hóa ở gan, làm tăng nguy cơ chảy máu
Vitamin K ngoài vai trò chính là giúp cho quá trình đông máu diễn ra tốt, vitamin K còn có thể kết hợp với canxi giúp cho xương chắc khỏe, giúp ngăn ngừa sỏi thận, điều trị vết thương ngoài da, làm dừng quá trình vôi hoá và cứng thành mạch máu, phòng ngừa ung thư, hạn chế bệnh tim mạch, giảm bệnh tiểu đường, duy trì quá trình bài tiết và sử dụng insulin của cơ thể
7.2.5 Vitamin B6:
Vitamin B6 tồn tại dưới 3 dạng là pyridoxine, pyridoxal và pyridoxamin, khi vào cơ thể biến đổi thành pyridoxal phosphat (PLP) và một phần thành pyridoxamin phosphat (PMP) Được tìm thấy trong việc làm giảm tác dụng của thuốc điều trị chống co giật và thuốc điều trị bệnh Parkinson với liều lượng nhỏ khoảng 10-25 mg, cao hơn 5 - 10 lần RDA Pyridoxin làm giảm tác dụng của levodopa trong điều trị bệnh Parkinson Nếu sử dụng levodopa kết hợp với carbidopa sẽ không có tác dụng trong việc điều trị bệnh
5
Trang 9Vitamin B6 và methionin có tác dụng tốt trong việc giảm thiểu ung thư phổi (cho cả người nghiện thuốc lá và người không hút thuốc lá) Đó là kết quả nghiên cứu từ năm 1992 - 2000 ở 591.000 người trên 10 nước châu Âu của các nhà khoa học thuộc Trung tâm Nghiên cứu ung thư quốc tế Lyon (Pháp)
Đối với người mang thai, nhiều thầy thuốc vẫn khuyên dùng thêm hỗn hợp các vitamin (trong đó có vitamin B6) và muối khoáng, nhất là với người mang thai kém ăn Nhưng cần dùng theo chỉ định của bác sĩ vì nếu dùng với lượng quá nhiều hỗn hợp các vitamin và muối khoáng có thể gây hại cho cả mẹ và thai nhi
Vitamin B6 còn được dùng điều trị nhiễm độc isoniazid Một số trẻ sơ sinh biểu hiện hội chứng lệ thuộc pyridoxin (vitamin B6) có tính di truyền Nguyên nhân chưa được biết rõ nhưng trẻ có dấu hiệu quấy khóc nhiều và có cơn run giật kiểu động kinh Trong trường hợp này, dùng vitamin B6 trong tuần đầu sau đẻ để phòng thiếu máu và chậm phát triển ở trẻ
Cần lưu ý, các tác dụng phụ của thuốc có thể xảy ra như buồn nôn, nôn (ít gặp) Khi dùng liều cao (200 mg/ngày) và dài ngày (trên 2 tháng) có thể gây bệnh thần kinh ngoại vi nặng, tiến triển từ dáng đi không vững và tê cóng bàn chân đến tê cóng và vụng về bàn tay Tình trạng này có thể hồi phục khi ngừng thuốc, nhưng ít nhiều vẫn để lại di chứng Vì vậy, trong những trường hợp này cần có sự theo dõi của bác sĩ và người bệnh cần biết để phát hiện những triệu chứng trên, kịp thời thông báo cho bác sĩ biết để được xử trí thích hợp
7.2.6 Vitamin E:
Vitamin E (tocopherols và tocotrienols) là một vitamin tan trong chất béo được sử dụng trong tình trạng thiếu vitamin E, xơ vữa động mạch, bệnh Alzheimer - chứng mất trí, ung thư
và bệnh tim mạch Các trường hợp báo cáo cho thấy sự tương tác có thể xảy ra ở bệnh nhân dùng đồng thời vitamin E và warfarin, điều này dẫn đến tăng nguy cơ chảy máu do vitamin E
có thể hoạt động như một chất chống đông và làm tăng nguy cơ của các vấn đề đông máu Sự tương tác xảy ra ở liều lớn vitamin E (> 800 IU) thường là 30 cca/RDI và liều lượng như vậy thường không được tìm thấy trong thực phẩm bổ sung
7.3 Khoáng chất:
Khoáng là một nhóm các chất cần thiết không sinh năng lượng nhưng giữ vai trò quan trọng trong nhiều chức năng quan trọng đối với cơ thể
Khoáng chất liên quan đến nhiều tương tác nghiên cứu về tác dụng của thuốc đối với cơ thể trong các sản phẩm dược liệu nhưng chỉ có hai tương tác nghiên cứu tác dụng của thuốc đối
Trang 10với cơ thể có ý nghĩa lâm sàng Khoáng chất Se (Selenium) và Zn (kẽm) là các hoạt chất chống oxy hóa có vai trò diệt các gốc tự do ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Zn tham gia vào enzyme superoxide dismutase (SOD), Se tham gia vào enzyme glutathione peroxidase (GPX) đây là hai loại enzyme có vai trò diệt các gốc tự do trong cơ thể
2O
2
.
+ 2H+ H2O2 + O2
Superoxide dismutase (SOD) là enzym chống oxy hoá có chứa kim loại thuộc lớp oxidoreductase có vai trò chuyển hóa gốc anion dioxide (O2•), chức năng của enzym SOD là xúc tác cho phản ứng dị ly xảy ra nhanh
SOD có hoạt tính càng cao thì O2• có hoạt tính càng giảm, SOD là một chất chống oxy hoá rất cơ bản, làm hạ thấp nồng độ tiền chất (O2•) mà từ đó sẽ sản sinh ra tất cả các dạng oxy hoạt động khác Hệ thống SOD được chia thành 4 nhóm: CuZn-SOD (dạng trong bào tương có chứa Cu,Zn); Fe-SOD, Mn-SOD (dạng trong ty thể chứa Mn) và Ni-SOD
ROOH + 2GSH —> GSSG + ROH + H2O
GPX là enzym xúc tác cho phản ứng loại bỏ các loại peroxid, enzym này hoạt động ở các
mô và trong hồng cầu khi nồng độ H2O2 thấp GSH là glutathione dạng khử, GS-SG là glutathione dạng oxy hoá, RCOOH là peroxide, R là gốc hữu cơ hoặc có thể là H trong H2O2 Enzym này chủ yếu tồn tại bên trong cơ thể và bào tương của tế bào, ở dịch ngoại bào nồng độ rất thấp Selen là một thành phần trong GPX loại bỏ gốc tự do đặc biệt là phá huỷ H2O2 , dập tắt các gốc LO• , LOO• của acid béo, bảo vệ màng tế bào và ADN
Vitamin E phối hợp với selen làm tăng khả năng miễn dịch của cơ thể lên nhiều lần, selen xúc tác cho sự tạo thành các gốc tự do bền (gốc vitamin E), coenzym Q, flavin chống lại các gốc tự do độc hại Nguyên tố vi lượng selen giúp ngăn ngừa nhiều dạng ung thư, bảo vệ tim mạch, duy trì chức năng hoạt động tích cực của hệ miễn dịch, giải độc nhiều hoá chất Khoảng 40% các loại bệnh tật, đặc biệt là các bệnh ung thư có thể phát sinh chỉ vì thiếu vi lượng selen được cung cấp hàng ngày Glutathione phụ thuộc selen chiếm 80% xúc tác loại bỏ H2O2 Glutathione là chất chống oxy hoá, chất giải độc hữu hiệu của tế bào GPX chứa selen đặc biệt tập trung nhiều ở gan để hoá giải các chất độc
7.3.1 Canxi:
Sử dụng lâu dài với liều lượng cao khi bổ sung canxi có thể dẫn đến tăng canxi huyết Việc tăng canxi huyết hiếm khi kết hợp với biểu hiện lâm sàng của chứng rối loạn nhịp tim Tuy
7 SOD
GPX