Tự do báo chí trong Luật Nhân quyền quốc tế và những thách thức trong đại dịch Covid-19The freedom of the press in the international human rights law and challenges to this right during
Trang 2Ban Trị sự - ĐT: 024.22218238 Fax: 024.22218237
Ban Thư ký - Xuất bản ĐT: 024.22218230Ban Truyền thông - ĐT: 024.22218239 Ban Chuyên đề - ĐT: 024.22218229Ban Phóng viên - ĐT: 024.22218232Trung tâm Thông tin Đa phương tiệnĐT: 024.2221 8231
Email: tapchicongthuong.moit@gmail.com
VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN PHÍA NAM
Số 12 Nguyễn Thị Minh Khai, P Đa Kao,
Q 1, TP Hồ Chí MinhĐT: (028) 38213488 Fax: (028) 38213478
Giấy phép hoạt động báo chí số:
60/GP-BTTTT Cấp ngày 05/3/2013 Trình bày: Tại Tòa soạn
In tại Công ty CP Đầu tư và Hợp tác quốc tế
GS.TSKH Nguyễn Xuân Quỳnh
GS.TS Đinh Văn Sơn
Trang 3Tự do báo chí trong Luật Nhân quyền quốc tế và những thách thức trong đại dịch Covid-19
The freedom of the press in the international human rights law and challenges to this right during
the on-going COVID-19 pandemic .8
Lê Thị Dung
Những yếu tố tác động đến quy định và thực hiện điều kiện hoạt động kinh doanh bất động sản
của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Factors affecting regulations and implementation of real estate business conditions for foreign investors in Vietnam .14
Lê Thanh Thủy
Thực trạng quy định pháp luật về nguyên tắc công khai trong hoạt động thanh tra
Current provisions of publicity principles of inspection in Vietnam 20
nguyễn Trọng nhã
Hoàn thiện pháp luật đất đai đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước kiến tạo, phát triển
Improving the Law on Land’s shortcomings in order to meet requirements of a development state 26
Cao Thị Lê Thương
Biện pháp công nghệ bảo vệ quyền tác giả theo quy định của Hiệp ước WCT và pháp luật Việt Nam
Technological protection measures in the World Intellectual Property Organization Copyright Treaty
and in regulations of Vietnam 34
nguyễn Thị hưng
Cơ chế phân định thẩm quyền giữa các cấp chính quyền địa phương ở Indonesia và một vài gợi mở cho Việt Nam
The decentralization mechanism of local government in Indonesia and some recommendations for Vietnam .41
nguyễn Thị oanh
Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và vai trò tích cực của luật tục các dân tộc thiểu số
trong hoạt động của Ủy ban nhân dân tại các tỉnh Tây Nguyên
Innovating and improving the legal education and the important role of customary laws of ethnic minorities
in the operations of the provincial People's Committees in the Central Highlands 46
Vũ gia Kiên
Những nội dung mới của pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực an toàn lao động
thông qua bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
New legal contents on social responsibilities of enterprises towards occupational accident insurance
and occupational disease 52
nguyễn Thị Bảo anh
Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về “tai biến” trong khám bệnh, chữa bệnh
Trang 4and income of party members 70
LÊ THị DuNG - DOãN HỒNG NHuNG
Một số vấn đề pháp lý về điều kiện hoạt động kinh doanh bất động sản của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Some legal issues relating to real estate business conditions for foreigners in Vietnam .76
LÊ MINH TâM - NGuyễN THị THươNG HuyềN
Một số yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể kinh doanh trong lĩnh vực
thương mại điện tử có thanh toán quốc tế
Some factors affecting the compliance of businesses with regulations on value-added tax
when they conduct international transactions in the field of e-commerce 82
LÊ THANH TùNG
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của doanh nghiệp do hàng hóa có khuyết tật
The liability of businesses to compensate for damage caused by their defective goods 88
kinh tế
LẠI THị TuyếT LAN
Thực trạng và giải pháp phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam
Solutions to develop Vietnam’s supporting industry .92
LÊ PHươNG HOA
Giải pháp phục hồi nền kinh tế Việt Nam năm 2021 do ảnh hưởng từ đại dịch Covid -19
Some solutions to recover Vietnam’s economy in 2021 in the context of the on-going COVID-19 pandemic 96
NGuyễN THị LAN ANH
Phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Green economic development - Current situation and solutions 100
NGuyễN VĂN SONG - TrầN ANH TuyÊN
Phát triển tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình
The development of handicraft industry in Kim Son District, Ninh Binh Province .106
NGuyễN HOàNG THANH TrÚC - HuỳNH MINH ĐOàN
Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế nông nghiệp thành phố Cần Thơ
Factors affecting Can Tho City’s economic agricultural growth 112
LÊ VĂN SơN
Ứng dụng kinh tế số đối với phụ nữ khởi nghiệp tại Việt Nam
Digital economic applicaions for women entrepreneurs in Vietnam .117
LÊ THị CôNG NGâN
Thực trạng xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước trong sản xuất lâm nghiệp hiện nay
The current valuation of forestry state-owned enterprises 124
TrươNG NAM TruNG
Những gợi mở về kinh tế chính trị trong phát triển kinh tế số ở Việt Nam hiện nay
Some economic political suggestions about the digital economic development in Vietnam 129
TrầN THị GIANG - NGuyễN ANH CHâu
Giải pháp để ngành Dệt may châu Á vượt qua đại dịch Covid-19 và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Solutions for the Asian textile and garment industry to overcome challenges brought by the COVID-19 pandemic
and lessons learnt for Vietnam 136
PHẠM THị THu Hà
Giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với đại dịch
Solutions to help enterprises better respond to the COVID-19 pandemic 142
BùI THị HỒNG NGọC - ĐOàN THị THu HươNG
Trang 5và vai trò của chính sách giá khuyến khích “Feed-in Tariff”
Estimating the economic potential of of offshore wind power in Vietnam’s Power Development Plan VIII
and the role of Feed-in-Tariff rate policy .154
ĐINH PHI HỔ - QuáCH THị MINH TrANG - NGuyễN QuốC NGHI
- NGuyễN VĂN HÒA - HuỳNH ĐìNH PHáT
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia hợp tác xã của nông dân trồng lúa:
Trường hợp nghiên cứu ở đồng bằng sông Cửu Long
Factors affecting the decision of rice farming households to join cooperatives:
A case study in the Mekong Delta 163
NGuyễN THị TuyếT NHuNG
Một vài quan điểm về chính sách quản lý nền kinh tế trong hội nhập
Some viewpoints on manage policies for the integrated economy 178
TrươNG HuỳNH ANH - ĐặNG THùy LINH - NGuyễN TruNG TIếN - NGô THị THOẠI AN
Giải pháp giảm ảnh hưởng tiêu cực của xâm nhập mặn đến nông hộ trồng sầu riêng
tại huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long
Solutions to minimize negative effects of saltwater intrusion on durian growing households
in Vung Liem District, Vinh Long Province 184
KHAMSONe SOMLeT
Hoạt động xóa đói giảm nghèo của một số nước châu Á và bài học kinh nghiệm cho nước CHDCND Lào
Poverty reduction of some Asian countries and lessons learnt for Lao PDR 190
NGuyễN THị NGọC TrâM - NGuyễN THị HươNG - TrầN NGuyễN MINH áI - BùI THị Huế
Các yếu tố cấu thành giá trị thương hiệu ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ thẩm mỹ
của khách hàng Gen Z tại Thành phố Hồ Chí Minh
Factors constituting brand value that affect the intention of Gen Z customers
to use aesthetic services in Ho Chi Minh City 197
NGuyễN ĐỨC TrọNG
Ảnh hưởng của hành vi công dân tổ chức đến kết quả làm việc của người lao động
tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
The effect of organizational behavior on the job performance of employees working
at Hanoi University of Science and Technology 205
NGuyễN ĐìNH TuấN PHONG
Bảo trì năng suất toàn diện - Tiềm năng áp dụng cho các công ty Việt Nam
Total Productive Maintenace and its implementation potential in Vietnamese enteprirses 210
NGuyễN THị HIềN
Giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành kinh doanh nông nghiệp
Solutions to develop human resources for the agribussiness sector in Vietnam 218
VO THI DuyeN ANH
Using cartoon pictures to enhance English-language learners' attitude towards speaking skill
Sử dụng tranh hoạt hình để nâng cao thái độ của người học tiếng Anh đối với kỹ năng nói 222
DINH Ly VAN KHANH
The similarities and differences in the language learning styles and strategies between English-majored students
and non-English majored students of Van Lang University
Sự giống nhau và khác nhau trong phong cách và chiến lược học ngôn ngữ của sinh viên chuyên ngành tiếng Anh
và sinh viên không thuộc chuyên ngành tiếng Anh tại Trường Đại học Văn Lang 228
DAO PHuONG BAC - NGuyeN VIeT THANG - HA NGuyeN - NGuyeN VAN QuAN
Business and Management graduates’ perspective on the importance of learning outcomes
of bachelor programs to meet the recruitment requirements of enterprises in Vietnam
Trang 6Case study of Nguyen Tat Thanh University 243
DươNG THị THANH HẬu - NGuyễN THị TrANG NHuNG
Đánh giá kỹ năng làm việc nhóm trong học tập của sinh viên Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh
Evaluating the teamwork skills in learning environment of students studying at the Banking University
of Ho Chi Minh City 248
TrầN THị THùy LINH
Giải pháp góp phần hỗ trợ người lao động chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19
Solutions to help workers overcome difficulties caused by the COVID-19 pandemic 254
HO TrA GIANG - NGO GIA TuONG - QuACH CHANH DAI THANH THIeN
- PHAM NGuyeN MINH CHAu - Le NGuyeN HOANG TrIeu
Factors affecting customer satisfaction in delivery service during the Covid-19 pandemic
in the case of Yugen Bar, Ho Chi Minh City
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ giao hàng
trong giai đoạn dịch Covid-19: Nghiên cứu đối với Yugen Bar tại TP.Hồ Chí Minh .258
TrươNG CHâu BảO THOA - BùI VĂN TrịNH
Các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam tại TP Cần Thơ
Factors affecting the work motivation of employees at the BIDV in Can Tho City 263
NGuyễN VĂN THấu
Hiện trạng và giải pháp tạo hứng thú học trực tuyến cho sinh viên Trường Đại học Văn Lang
Current situation of online learning and solutions to get students more engaged
in online learning in Van Lang Universiy 270
GIAO THị KHáNH NGọC
Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm xã hội của Tập đoàn Masan
Solutions to improve the effectiveness of corporate social responsibility implementation
of Masan Group Corporation 276
GIAO THị HOàNG yếN
Rào cản đối với giáo dục khởi nghiệp trong các trường đại học ở Việt Nam
Barriers to entrepreneurship education in Vietnamese universities 281
kinh doanh
LÊ NGọC
Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng trong hoạt động kinh doanh xăng dầu tại TP Hồ Chí Minh
Factors affecting the performance of gasoline supply chain in Ho Chi Minh City 286
tài chính - ngân hàng - bảo hiểm
Đỗ THị THu QuỳNH
Giải pháp hỗ trợ tín dụng giúp người nông dân tiếp cận vốn vay ngân hàng
Credit solutions to help farmers access to bank credit 292
NGuyễN NGọC ANH
Những giải pháp tháo gỡ khó khăn về nguồn vốn cho hợp tác xã Việt Nam
Solutions to the lack of credit sources for cooperatives in Vietnam 296
Võ ĐỨC TOàN
Chính sách tài chính Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020: Thực trạng và khuyến nghị
Vietnam’s financial policies over the period from 2011 to 2020: Current situation and recommendations .300
BùI VĂN THụy - Vũ THANH THủy - ĐàO THị LAN ANH
Phát triển dịch vụ Smartbanking tại Ngân hàng BIDV - Chi nhánh Đồng Nai trong giai đoạn 2021 - 2026
Trang 7Các yếu tố tác động đến nợ xấu tại ngân hàng thương mại Việt Nam
Factors affecting Vietnamese commercial banks’ non-performing loan 322
kế toán - kiểm toán
BùI Duy THọ
Ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát đến tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ
tại các doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tô ở Việt Nam
Impacts of the internal control system on the effectiveness of internal control system
in Vietnamese passenger transportation service by car enterprises 329
NGuyễN KIM THOA - LÊ THị HỒNG PHượNG - Vũ THị áNH NGọC - LÊ THị Mỹ HằNG
Nghiên cứu ảnh hưởng quy mô doanh nghiệp đến kế toán trách nhiệm: Trường hợp điển hình ở Gia Lai
A study on the impact of business size on responsibility accounting:
Case study of enterprises in Gia Lai Province .336
LÊ THị THANH XuâN - Lý NGuyễN THu NGọC
Tổng quan nghiên cứu chất lượng kiểm toán - Hướng phân tích nhân tố
An overview about the audit quality with the factor analysis approach 341
TrầN THị KIM PHượNG - TrầN THị Mỹ HẠNH
Các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp ngành Viễn thông
Factors affecting the management accounting adoption in Vietnamese telecommunications companies 348
TĂNG TrÍ HùNG - NGuyễN HuỳNH NHâN
Nhân tố tác động đến việc thực hiện kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp sản xuất
khu vực Thành phố Hồ Chí Minh
Factors affecting the internal audit in manufacturing enterprises located in Ho Chi Minh City 354
hóa học - công nghệ thực phẩm
TrầN THị Mỹ LINH - NGuyễN KIM PHụNG - PHẠM THị KIM CHI
Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chôm chôm sấy dẻo
Examining some factors affecting the quality of dried rambutan .359
TẠ HỒNG ĐỨC - NGuyễN TruNG DũNG*
Nghiên cứu mô phỏng quy trình và phân tích hệ thống quá trình phản ứng cháy tầng sôi tuần hoàn
trong nhà máy nhiệt điện
Process simulation and sensitivity analysis of the circulating fluidized bed combustion reaction
in thermal power plant 366
khoa học - kỹ thuật
NGuyễN THANH QuANG - NGuyễN HOàNG KHôI - TrầN KIM SA - NGuyễN MINH TâM
Phương án xử lý rác nhiều hữu cơ phát điện - Một số chỉ tiêu kỹ thuật
Determining technical features of waste-to-energy method with pre-treating organic waste 372
PHAN THế HIếu
Ứng dụng Dialux và lồng ghép kỹ năng mềm trong giảng dạy môn thiết kế chiếu sáng
tại Trường Đại học Trà Vinh
Using Dialux software and integrating soft skills to teach Lighting design couurse in Tra Vinh University 380
NGuyễN THàNH CôNG - Từ HỒNG NHuNG
So sánh chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của giải pháp sàn bê tông cốt thép
sử dụng lưới thép hàn và lưới thép buộc
Comparing the economic and technical factors when using tied wire mesh and welded wire mesh
Trang 81 Đặt vấn đề
Tự do báo chí là một trong những quyền con
người cơ bản được ghi nhận và bảo vệ ở hầu hết
các quốc gia trên thế giới Trong luật nhân quyền
quốc tế, tự do báo chí có thể bị hạn chế trong một
số trường hợp nếu cần thiết và có lý do chính
đáng Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều quốc gia lạm
dụng điều luật này để hạn chế tự do báo chí, với
mục đích cuối cùng chính là hạn chế sự tiếp nhận,
truyền bá các quan điểm, hay các ý kiến Vấn đề
này ngày càng phức tạp hơn trong bối cảnh toàn
thế giới bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19
2 Khái quát về tự do báo chí
Dưới góc độ luật pháp quốc tế, tự do báo chí là
một trong những quyền cơ bản nhất, thông qua đó,
con người truyền tải thông tin, thể hiện quan
điểm, ý chí của mình mà không bị bất kỳ một sựhạn chế, lệ thuộc, can thiệp nào Báo chí là côngcụ chính của tự do biểu đạt Vì vậy, tự do báo chílà một phần hoặc đôi khi đồng nhất với tự do biểuđạt, tự do ngôn luận Quyền này không được đềcập cụ thể, trực tiếp trong các văn kiện nhânquyền quốc tế như nhiều quyền dân sự, chính trịkhác, mà thường được ghi nhận trong cùng 1 điềuvới quyền tự do quan điểm và biểu đạt
Theo Điều 19 Công ước quốc tế về các quyềndân sự, chính trị (ICCPR) năm 1966, quyền tự dobáo chí được hiểu như là 1 phần nằm trong quyềntự do biểu đạt: Mọi người có quyền tự do biểu đạt;quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận vàtruyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệtlĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng
toÙm tAét:
Bài viết nghiên cứu quy định về quyền tự do báo chí trong luật nhân quyền quốc tế; phân tíchcác yếu tố ảnh hưởng đến quyền tự do báo chí và mối quan hệ giữa quyền này với các quyền conngười khác Cuối cùng, bài viết đưa ra một số nhận định về thách thức đối với việc bảo đảmquyền tự do báo chí trong bối cảnh đại dịch Covid-19 trên toàn thế giới
từ khóa: tự do báo chí, quyền con người, nhân quyền, Covid-19.
tƯï Do BÁo CHÍ tRonG luẬt nHÂn QuYeÀn QuoÁC teÁ
VÀ nHỮnG tHÁCH tHỨC tRonG
ĐAïI DỊCH CoVID-19
lTrần Thị Loan
Trang 9bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông
qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào
tùy theo sự lựa chọn của họ Liên quan đến nội
dung tự do báo chí, trong Bình luận chung số 34 về
điều 19 ICCPR của Ủy ban Nhân quyền (HRC)
cũng nhấn mạnh: Một nền báo chí hay truyền
thông tự do, không bị kiểm duyệt và không bị cản
trở là cần thiết trong bất kỳ xã hội nào để đảm bảo
tự do quan điểm, tự do biểu đạt và thụ hưởng các
quyền khác theo Công ước
Tự do báo chí đề cập đến các cơ quan, cá nhân
có liên quan trong việc thu thập và truyền đạt tin
tức, bao gồm các hình thức in ấn, chẳng hạn như
báo và tạp chí định kỳ; phát sóng tin tức, như đài
phát thanh và truyền hình; lan truyền tin tức trên
internet thông qua các trang báo điện tử,… Tự do
báo chí là cần thiết trong bất kỳ xã hội nào, để
đảm bảo tự do quan điểm, biểu đạt, tự do thông tin
và thụ hưởng các quyền con người khác Tuy
nhiên, tự do báo chí không phải là một quyền
tuyệt đối, mà có giới hạn của nó Những yêu cầu
chặt chẽ đòi hỏi các quốc gia phải đáp ứng khi đưa
ra hạn chế về tự do báo chí được tìm thấy trong
Khoản 3 Điều 19 ICCPR: Việc thực hiện quyền
này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định
Tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định
trong pháp luật và là cần thiết để: (a) Tôn trọng
các quyền hoặc uy tín của người khác, (b) Bảo vệ
an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe
hoặc đạo đức của xã hội Bình luận chung số 34
của HRC đã có những giải thích làm rõ hơn các
nội dung về hạn chế quyền Theo đó, Nhà nước
trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải đáp ứng
được những điều kiện cụ thể và chỉ với những
điều kiện này mới có thể đặt ra việc hạn chế
quyền tự do báo chí Đó là:
- Tính hợp pháp: Hạn chế phải được quy định
bởi pháp luật Điều này có nghĩa là giới hạn phải
được quy định trong pháp luật của quốc gia, có
hiệu lực tại thời điểm giới hạn được áp dụng Luật
pháp không được tùy tiện hoặc không hợp lý và
nó phải rõ ràng, có thể tiếp cận với công chúng
- Sự cần thiết: Sự hạn chế phải là cần thiết,
nhằm bảo vệ một trong những lý do đã được nêu
trong ICCPR, đó là tôn trọng các quyền hay uy tín
của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia, trật tựcông cộng, sức khỏe hoặc đạo đức công cộng
- Tính tương xứng: Các hạn chế phải là “cầnthiết” vì một mục đích chính đáng Hạn chế phảitương xứng với lợi ích đang bị đe dọa; phải phùhợp để đạt được chức năng bảo vệ; các hạn chế ấyphải là phương tiện ít xâm hại nhất trong số nhữnghạn chế có thể được đặt ra
3 mối quan hệ giữa tự do báo chí với các quyền con người khác
Các quyền con người đều có tính liên hệ vàphụ thuộc lẫn nhau Một quyền được thúc đẩyhay bị vi phạm sẽ trực tiếp, hoặc gián tiếp sẽ ảnhhưởng tích cực hoặc tiêu cực đến các quyềnkhác Tự do báo chí chỉ được thực thi hiệu quảkhi các quyền cơ bản, không thể bị đình chỉ trongmọi trường hợp được bảo đảm Ví dụ, một nhàbáo phải được bảo đảm quyền được sống; quyềntự do và an ninh cá nhân trước tiên, mới có thểthực hiện được quyền tự do báo chí của mình.Đồng thời, nhờ bảo đảm được quyền tự do báochí, các quyền khác như tự do ngôn luận, tự dothông tin, các quyền dân sự, các quyền về kinhtế, văn hóa, xã hội,… được thực thi, bảo vệ vàthúc đẩy tốt hơn
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, việc thựcthi quyền tự do báo chí lại ảnh hưởng, xâm hạiđến các quyền, tự do khác Chẳng hạn, nhà báođưa tin về đời tư của một cá nhân làm xâm hại đếnquyền bất khả xâm phạm về quyền riêng tư, haythể hiện quan điểm nhằm chế giễu, phỉ báng mộttôn giáo làm xúc phạm đến quyền tự do tư tưởng,tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân hay một cộngđồng, có bài viết gây phân biệt đối xử, kỳ thịquyền của đồng bào dân tộc thiểu số,…
Ngoài ra, tự do báo chí có quan hệ mật thiếthơn cả với một số quyền con người, bao gồm:quyền tự do biểu đạt, quyền tiếp cận thông tin.Cụ thể:
- Tự do báo chí với tự do biểu đạt
Báo chí và các phương tiện truyền thông khácgóp phần quan trọng để củng cố, thúc đẩy quyềntự do biểu đạt Từ việc phát triển tự do biểu đạt,tự do báo chí ngày càng được đề cao và chútrọng Tự do báo chí là điều kiện giúp cho tự do
Trang 10biểu đạt được thực hiện một cách hoàn chỉnh
hơn, dễ dàng hơn
Để có thể thực hiện quyền tự do biểu đạt, mọi
người cần có diễn đàn để thể hiện ý kiến, quan
điểm, cũng như tiếp thu, chia sẻ quan điểm của
người khác Báo chí ra đời đã là một trong những
công cụ hữu hiệu để mỗi người thực hiện quyền tự
do biểu đạt của mình Báo chí và các phương tiện
truyền thông thúc đẩy tự do biểu đạt và từ đó, tự
do báo chí ngày càng phát triển
Tự do báo chí luôn gắn liền với tự do biểu đạt
Đây là những quyền tự do rất cơ bản và quan
trọng của con người, được gọi là “quyền bảo vệ
quyền”, bởi quyền này là một trong những phương
tiện quan trọng để bảo vệ quyền kia và quyền, tự
do khác [2, tr.12]
- Tự do báo chí với tự do thông tin
Tự do thông tin (freedom of information) bao
gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận, tiếp cận, chia sẻ,
trao đổi và phổ biến thông tin Tự do thông tin
thường đồng nghĩa với quyền tiếp cận thông tin
(right to access to information) [3, tr 53] Tự do
thông tin giúp hình thành nên các quan điểm,
ngôn luận một cách khách quan, minh bạch, giảm
thiểu những sự thiên vị, sai lệch Thông tin được
tiếp cận sẽ giúp các quyền chính trị (tự do ngôn
luận, tự do báo chí, tự do hội họp…), dân sự, cũng
như các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa được thực
hiện tốt hơn Tự do thông tin là điều kiện tiên
quyết để bảo đảm thực hiện tự do báo chí Không
có một nền báo chí nào thành công mà lại được
dựa trên một khả năng tiếp cận thông tin hạn chế
Việc thu thập thông tin của nhà báo là không thể
nếu thiếu sự tự do thông tin [4, tr 29]
Ngược lại, tự do báo chí đóng vai trò rất quan
trọng trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông
tin, là diễn đàn, hình thức truyền tải, phổ biến
thông tin đến mọi tầng lớp xã hội Nếu không có
tự do báo chí, thông tin sẽ khó được truyền tải một
cách trung thực, nhanh chóng, thường xuyên, hệ
thống và đầy đủ Đồng thời, thông qua báo chí,
người dân được bày tỏ quan điểm, nguyện vọng
với Nhà nước Cũng nhờ có báo chí, các thông tin
về hoạt động của Nhà nước được chuyển tải đến
các tầng lớp trong xã hội
4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tự do báo chí
- Yếu tố chính trị
Một chế độ chính trị coi báo chí là phương tiệnnhằm củng cố, giữ gìn chế độ, thì thông tin báo chísẽ bị giới hạn, kiểm duyệt chặt chẽ nhằm mụcđích hạn chế bất đồng chính kiến và truyền đinhững thông điệp tích cực về chính quyền Nhữngcách thức được các quốc gia chuyên chế này thựchiện có thể là chế độ kiểm duyệt trước khi xuấtbản, sự độc quyền của báo chí Nhà nước trongviệc đưa dẫn tin tức, sự độc quyền trong sở hữu cơquan báo chí,… Trong khi ở những quốc gia dânchủ, tự do báo chí được tôn trọng, sự kiểm duyệtđược nới lỏng, công chúng được tiếp xúc với cácsản phẩm báo chí đa dạng, tin tức được phổ biến
đa chiều sẽ là phương tiện hữu ích để củng cố chonền dân chủ và quản trị tốt Báo chí phản biện,giám sát hoạt động của Nhà nước, phát hiện thamnhũng, hoặc là diễn đàn ngôn luận để mọi cá nhâncó thể bày tỏ quan điểm về các sự kiện trong đờisống xã hội
- Yếu tố pháp luật
Pháp luật là công cụ giúp Nhà nước bảo đảmsự tuân thủ, thực thi các quyền con người, đồngthời là công cụ của các cá nhân trong việc bảo vệquyền của họ, trong đó có quyền tự do báo chí.Hiến pháp và các đạo luật được ban hành lànhững bảo đảm pháp lý quan trọng nhằm ghinhận, thực thi và bảo vệ quyền tự do báo chí Cácquy phạm pháp luật sẽ tác động đến mức độ hoạtđộng cũng giới hạn khả năng hoạt động của báochí Đồng thời, đây cũng là căn cứ để giới hạn tự
do báo chí thông qua các quy định về an ninh quốcgia, dân tộc, tôn giáo, hình phạt,… Hệ thống phápluật quốc gia xác định rõ ràng các điều kiện giớihạn tự do báo chí sẽ là cơ sở để tự do báo chí đượcbảo đảm tốt hơn, tránh sự lạm dụng các lý dochính đáng giới hạn tự do báo chí để xâm phạmquyền tự do báo chí của mỗi cá nhân
- Yếu tố kinh tế
Điều kiện kinh tế là một trong những yếu tốquan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của mộtnền báo chí Việc xuất bản một tờ báo hay thànhlập đài phát thanh, truyền hình,… đòi hỏi phải cókinh phí để thực hiện phục vụ cho hoạt động báo chí
Trang 11từ việc thu thập, xử lý, sản xuất, chuyển tải thông
tin Ở các nước phát triển, điều kiện kinh tế tốt sẽ
tạo thuận lợi để báo chí phát huy khả năng của
mình Cơ sở hạ tầng hiện đại (đường xá, điện, viễn
thông,…) sẽ giúp cho thông tin báo chí được truyền
tải, phổ biến dễ dàng thông qua nhiều hình thức từ
báo in đến báo nói, báo hình, hoặc báo điện tử trên
internet, thiết bị di động Nền kinh tế mở, đa dạng
nhiều thành phần bao gồm Nhà nước, các doanh
nghiệp, tập đoàn trong và ngoài nước sẽ là cơ hội
để các cơ quan báo chí Nhà nước và tư nhân cùng
song song phát triển Ngoài ra, tình hình tài chính
cũng có thể tác động đến hoạt động của báo chí
Một nền tài chính minh bạch, bền vững sẽ bảo đảm
cho thông tin báo chí truyền tải được độc lập, không
bị giới hạn Ngược lại, nếu nền tài chính xảy ra
tham nhũng, hối lộ sẽ chi phối, gây trở ngại cho
việc sản xuất, truyền tải tin tức báo chí
- Yếu tố văn hóa, xã hội
Văn hóa, xã hội là những phạm trù rộng lớn và
phức tạp Trong mỗi xã hội đều có những đặc
trưng văn hóa, lịch sử phát triển riêng sẽ làm hình
thành hoặc ảnh hưởng đến ý thức hệ và hoạt động
của cá nhân trong xã hội đó, bao gồm cả các hoạt
động báo chí Tại xã hội phương Tây, ý thức về
các quyền tự do dân sự, chính trị được hình thành
từ rất sớm Lịch sử cho thấy các cuộc đấu tranh đòi
quyền tự do dân chủ đều bắt nguồn từ trong lòng
xã hội phương Tây và quyền tự do báo chí cũng
không phải ngoại lệ Trong xã hội mà yếu tố cá
nhân được đề cao, thì các cá nhân được tự do biểu
đạt quan điểm, thể hiện thông qua nhiều hình
thức, trong đó có báo chí Các cá nhân được tự do
thực hiện hoạt động báo chí miễn là không xâm
phạm các giới hạn chính đáng do pháp luật đặt ra
về quyền tự do báo chí Còn trong xã hội mà yếu
tố tập thể được coi trọng, tính thông tin đa dạng,
sáng tạo, phản biện của báo chí sẽ bị triệt tiêu
Lợi ích cộng đồng, xã hội được ưu tiên sẽ là một
trong những lý do để lạm dụng, giới hạn quyền tự
do báo chí của cá nhân
5 một số thách thức đối với việc bảo đảm
quyền tự do báo chí trong bối cảnh đại dịch
Covid-19
Với vai trò cơ bản và quan trọng hàng đầu là
thông tin, phản ánh trung thực khách quan các sựkiện, sự việc diễn ra trong đời sống xã hội, báochí tự do và độc lập là nền tảng thiết yếu của bất
kì một xã hội tự do nào Đặc biệt, khi đại dịchCovid-19 xảy ra, có rất ít thông tin đáng tin cậyvề loại virus mới này và sự tiến hóa của nó, rấtnhiều thông tin sai lệch được lan truyền dướinhiều hình thức mang đến nỗi sợ hãi, hoang mangcho công chúng, thì báo chí chính là chìa khóa đểcung cấp thông tin đáng tin cậy về dịch bệnh,chống lại các tin đồn, thuyết âm mưu Tuy nhiên,Covid-19 cũng mang đến nhiều thách thức choviệc bảo đảm quyền này ở các quốc gia Hoạtđộng tác nghiệp, xuất bản báo chí bị cản trở bởinhiều yếu tố:
Thứ nhất, trong tình huống cấp bách do đại dịch
toàn cầu, rất nhiều quốc gia trên thế giới đã banbố tình trạng khẩn cấp, hạn chế một số quyền conngười với lý do vì sức khỏe cộng đồng Quyền tự
do báo chí cũng nằm trong số các quyền bị hạnchế với mục đích là nhằm chống lại việc thông tinsai lệch, tin tức giả mạo Điều này đặt ra câu hỏivề tính tương xứng của các hạn chế này có phùhợp với các tiêu chuẩn của luật nhân quyền quốctế Bởi nhiều quốc gia lạm dụng hạn chế quyền đểbắt, kết tội các nhà báo khi họ đưa ra những thôngtin phản biện, giám sát hoặc tranh luận về chínhsách, hành động, hiệu quả chống dịch của chínhquyền Mức độ nghiêm trọng hơn thường xảy ra ởcác quốc gia có chế độ độc tài, khi chính quyềnmuốn che dấu tình trạng dịch bệnh1
Thứ hai, quyền tiếp cận thông tin của báo chí bị
giới hạn khi Nhà nước hạn chế báo chí tiếp cậnthông tin từ các cơ quan công quyền về các nghiêncứu, dữ liệu báo cáo về sức khỏe cộng đồng Cáchạn chế này có xu hướng ngăn cản việc tiếp cậnthông tin đáng tin cậy, vô hiệu hóa việc các nhàbáo đưa ra các câu hỏi về các quyết sách liênquan đến y tế, sức khỏe cộng đồng tới nhà cầmquyền Mục đích là nhằm giảm khả năng phảichịu trách nhiệm của các quan chức về các quyếtđịnh được đưa ra trong đại dịch Bên cạnh đó, hoạtđộng tiếp cận, khai thác, sản xuất thông tin củanhà báo cũng dễ bị hạn chế khi nhiều quốc gia tắthoặc chặn Ineternet2
Trang 12tÀI lIeÄu tRÍCH DẪn:
1Xem thêm phân tích tại nghiên cứu The impact of coronavirus on media freedom - Tác động của vi rút Corona
đến tự do truyền thông của Nghị viện châu Âu năm 2020: https://www.europarl.europa.eu/RegData/etudes/
BRIE/2020/651905/EPRS_BRI(2020)651905_EN.pdf Ở các nước như Nga và Trung Quốc, nơi nổi tiếng là luật
kiểm duyệt phương tiện truyền thông nghiêm ngặt đã được ban hành, đại dịch đã tạo cơ hội để hạn chế quyền tự dotruyền thông hơn nữa
2 Xem thêm số liệu phân tích tại Bộ công cụ theo dõi các vi phạm tự do báo chí liên quan đến đại dịch covid của
Viện Báo chí quốc tế (IPI), https://ipi.media/covid19-media-freedom-monitoring/.
3 Ở Anh, theo tờ The Guardian đưa tin Hiệp hội phát thanh cộng đồng cảnh báo rằng 1/3 số đài phát thanh cộng
đồng có nguy cơ đóng cửa, xem tại:
https://www.theguardian.com/uk-news/2020/apr/22/uks-community-radio-stations-face-closure-as-covid-19-hits-ads.
4Có ít nhất 1.734 phóng viên ở 80 quốc gia đã bị chết vì nhiễm Covid-19, xem thêm tại
https://pressemblem.ch/-1.shtml.
tÀI lIeÄu tHAm KHẢo:
1 Vũ Công Giao, Nguyễn Minh Tâm (2015), Giới hạn của tự do biểu đạt - Một số phân tích pháp lý từ vụ Charlie
Hebdo, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 06(286), 12-16.
2 Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (2015), ABC về các quyền dân sự chính trị cơ bản, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.
3 Nguyễn Đăng Dung, Vũ Văn Huân (2016), Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo
trong hai dự thảo luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 05(309), 28-32.
Thứ ba, hậu quả của đại dịch Covid-19 gây ra
không chỉ đối với sức khỏe cộng đồng mà còn làm
suy thoái các nền kinh tế trên thế giới Điều này
khiến các tổ chức truyền thông, báo chí bị ảnh
hưởng nặng nề Nhiều cơ quan báo chí có nguy cơ
bị đóng cửa dẫn đến việc sa thải, cắt giảm lương
của nhà báo3 Do đó, hoạt động khai thác, cung
cấp thông tin của báo chí cũng sa sút, dẫn đến
việc tạo cơ hội cho các thông tin không được kiểm
chứng phát triển, các thông tin sai lệch càng có cơ
hội lấp đầy những khoảng trống tin tức
Thứ tư, hoạt động báo chí của các nhà báo
cũng bị tác động bởi đại dịch Covid-19 Về sức
khỏe, khi thực hiện tác nghiệp đưa tin, nhà báo có
thể bị thiếu các thiết bị, đồ dùng bảo hộ y tế như
găng tay, khẩu trang, dẫn đến nguy cơ bị lây
nhiễm dịch bệnh rất cao Rất nhiều nhà báo bị
nhiễm Covid-19 và đã tử vong4
Như vậy, cuộc khủng hoảng do đại dịch Covid-19 gây ra đang và sẽ tác động rất lâu dài đếntình hình kinh tế, xã hội trên khắp thế giới Cácquốc gia đang phải đối mặt với những thách thứcchưa từng có trong thời kỳ đại dịch này Tuy nhiên,đây không thể là lý do để ngăn cản tự do báo chí vàdẫn đến hạn chế quyền tiếp cận thông tin của mọingười dân Báo chí đóng một vai trò không thểthiếu trong việc truyền tải thông tin tới mọi người,tạo điều kiện cho các cá nhân thực hiện các quyềntìm kiếm, tiếp cận thông tin và bày tỏ ý kiến của họvề mối đe dọa sức khỏe cộng đồng để họ có thể chủđộng bảo vệ bản thân, gia đình và cộng đồng củahọ Nhà nước và các chủ thể liên quan cần kiềmchế các vi phạm, bảo vệ quyền tự do báo chí vàtruyền thông và đảm bảo rằng các biện pháp chốngdịch bệnh là cần thiết, tương xứng, phù hợp với cáctiêu chuẩn của pháp luật nhân quyền quốc tế n
Trang 13tHe fReeDom of tHe PRess In tHe InteRnAtIonAl
HumAn RIGHts lAw AnD CHAllenGes to tHIs RIGHt
DuRInG ttHe on-GoInG CoVID-19 PAnDemIC
lMaster Tran Thi Loan
Institute of State and LawVietnam Academy of Social and sciences
ABstRACt:
This paper studies regulations of freedom of the press in the international human rights law.The paper also analyzes the factors affecting the freedom of the press, and the relationshipbetween the freedom of the press and other human rights This paper makes somerecommendations about the challenges to the freedom of the press during the on-going Covid-19pandemic in the world
Keywords: freedom of the press, human rights, Covid-19
ngày nhận bài: 11/8/2021
ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 11/9/2021
ngày chấp nhận đăng bài: 21/9/2021
Thông tin tác giả:
ths tRẦn tHỊ loAn
Viện nhà nước và Pháp luật
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt nam
Trang 141 Đặc điểm điều kiện hoạt động BĐs của
nhà đầu tư nước ngoài
Thứ nhất, "phạm vi hoạt động của tổ chức kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài có chức năng kinh
doanh BĐS hạn chế hơn nhà đầu tư trong nước khi
tham gia lựa chọn lĩnh vực đầu tư BĐS, theo Luật
Kinh doanh bất động sản năm 2014 gồm: Thuê
nhà, công trình xây dựng để cho thuê lại; đối với
đất được Nhà nước cho thuê thì được đầu tư xây
dựng nhà ở để cho thuê; đầu tư xây dựng nhà,
công trình xây dựng không phải là nhà ở để bán,
cho thuê, cho thuê mua; nhận chuyển nhượng toàn
bộ hoặc một phần dự án BĐS của chủ đầu tư đểxây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, chothuê, cho thuê mua; đối với đất được Nhà nướcgiao thì được đầu tư xây dựng nhà ở để bán, chothuê, cho thuê mua; đối với đất thuê trong khucông nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khucông nghệ cao, khu kinh tế thì được đầu tư xâydựng nhà, công trình xây dựng để kinh doanh theođúng mục đích sử dụng đất Những quy định trên,trong những cam kết về điều kiện đầu tư giữa ViệtNam với WTO, FTAs: không quy định tại Biểucam kết Như vậy, người nước ngoài bao gồm cá
toÙm tAét:
Việc đưa ra các điều kiện hoạt động và giới hạn phạm vi kinh doanh của ngành nghề kinh doanhbất động sản (BĐS) đối với nhà đầu tư nước ngoài sẽ đảm bảo mọi hoạt động kinh doanh nằm trongphạm vi kiểm soát và quản lý của Nhà nước Việt Nam Đối với chủ thể kinh doanh BĐS, bên cạnhnhững điều kiện về năng lực pháp lý và năng lực hành vi của chủ thể kinh doanh theo quy định củapháp luật dân sự, thì cá nhân, tổ chức kinh doanh BĐS phải đáp ứng các điều kiện chuyên ngành
Do đó, cần có những đánh giá yếu tố tác động đến việc quy định và thực hiện về điều kiện hoạtđộng kinh doanh BĐS của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
từ khóa: pháp luật, điều kiện, kinh doanh, bất động sản, đầu tư.
nHỮnG YeÁu toÁ tÁC ĐoÄnG ĐeÁn QuY ĐỊnH VÀ tHƯïC HIeÄn ĐIeÀu KIeÄn
HoAït ĐoÄnG KInH DoAnH BẤt ĐoÄnG sẢn
CuÛA nHÀ ĐẦu tƯ nƯơÙC nGoÀI
tAïI VIeÄt nAm
lLê Thị Dung
Trang 15nhân, tổ chức nước ngoài muốn kinh doanh BĐS
tại Việt Nam đều có quyền thành lập công ty và
được phép kinh doanh theo các hình thức trên
Thứ hai, nhà đầu tư nước ngoài muốn tiến hành
kinh doanh BĐS tại Việt Nam phải thực hiện quy
định về sự hiện diện chính thức chi nhánh, văn
phòng đại diện đang hoạt động tại Việt Nam
Khoản 1 Điều 159 Luật Nhà ở 2014 quy định đối
tượng tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu
nhà ở tại Việt Nam bao gồm: Tổ chức, cá nhân
nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại
Việt Nam theo quy định của Luật Nhà ở và pháp
luật có liên quan; doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của
doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài
và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt
động tại Việt Nam (sau đây gọi chung là tổ chức
nước ngoài); cá nhân nước ngoài được phép nhập
cảnh vào Việt Nam
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được
kinh doanh BĐS dưới các hình thức sau: Thuê nhà,
công trình xây dựng để cho thuê lại; xây dựng
nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho
thuê mua trên đất thuê của Nhà nước; xây dựng
nhà, công trình xây dựng để cho thuê trên đất thuê
của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; nhận chuyển
nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án BĐS của
chủ đầu tư để xây dựng nhà, công trình xây dựng
để bán, cho thuê, cho thuê mua; xây dựng nhà,
công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê
mua trên đất được Nhà nước giao; xây dựng nhà,
công trình xây dựng để kinh doanh theo đúng mục
đích sử dụng đất tại khu công nghiệp, khu chế
xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được
kinh doanh các loại hình tương tự, trừ đầu tư đối
với đất thuê của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và
đất được Nhà nước giao Còn điều kiện hoạt động
môi giới BĐS được quy định riêng cho cá nhân và
tổ chức, không phân biệt quốc tịch Việt Nam hay
nước ngoài: Cá nhân có quyền kinh doanh dịch vụ
môi giới BĐS độc lập nhưng phải có chứng chỉ
hành nghề môi giới BĐS và nộp thuế theo quy
định của pháp luật; tổ chức/doanh nghiệp phải có
ít nhất 2 người có chứng chỉ hành nghề môi giớiBĐS; các đối tượng này không được đồng thời vừalà nhà môi giới vừa là một bên thực hiện hợp đồngtrong một giao dịch kinh doanh BĐS Để kinhdoanh sàn giao dịch BĐS, quản lý BĐS, cá nhân,tổ chức phải thành lập công ty và có ít nhất 2người có chứng chỉ hành nghề môi giới BĐS
Thứ ba, trong quá trình kinh doanh BĐS của
nhà đầu tư có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Namhọ phải tuân thủ pháp luật và được áp dụngnguyên tắc đối xử công bằng
Phạm vi kinh doanh BĐS của doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài về phạm vi hoạt động kinhdoanh BĐS của doanh nghiệp có vốn nước ngoàinắm giữ không quá 50% vốn điều lệ Theo LuậtKinh doanh bất động sản 2014, không có quy địnhvề phạm vi kinh doanh BĐS theo số vốn góp củanhà đầu tư nước ngoài vào doanh nghiệp kinhdoanh BĐS tại Việt Nam Đối với trường hợp làdoanh nghiệp trong nước thì được kinh doanh BĐStheo phạm vi quy định tại khoản 1 Điều 11 củaLuật Kinh doanh bất động sản 2014 Đối vớidoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì đượckinh doanh BĐS theo phạm vi quy định tại khoản
3 Điều 11 của Luật Kinh doanh bất động sản
2014, việc xác định doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài được thực hiện theo quy định của phápluật về doanh nghiệp
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 11 Luật Kinhdoanh bất động sản 2014 đã quy định phạm vi kinhdoanh BĐS của doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài Theo đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài được kinh doanh BĐS dưới các hình thức: cáchình thức quy định tại các điểm b, d, h Khoản 1 vàđiểm b Khoản 2 Điều 11 Luật Kinh doanh bất độngsản Đối với đất thuê trong khu công nghiệp, cụmcông nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khukinh tế thì được đầu tư xây dựng nhà, công trình xâydựng để kinh doanh theo đúng mục đích sử dụngđất Luật Kinh doanh bất động sản 2014 không quyđịnh về việc xác định doanh nghiệp hoặc tổ chứckinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 16Điều kiện nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh
BĐS tại Việt Nam, theo điều ước quốc tế, điều
ước quốc tế hiện không cam kết cho nhà đầu tư
nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh BĐS
Theo Luật Kinh doanh bất động sản 2014 thì
không hạn chế nhà đầu tư nước ngoài đầu tư
Phạm vi kinh doanh BĐS của doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài gồm:
+ Thuê nhà, công trình xây dựng để cho
thuê lại;
+ Đối với đất được Nhà nước cho thuê thì được
đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê; đầu tư xây
dựng nhà, công trình xây dựng không phải là nhà
ở để bán, cho thuê, cho thuê mua;
+ Nhận chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ
dự án BĐS của chủ đầu tư để xây dựng nhà, công
trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua;
+ Đối với đất được Nhà nước giao thì được đầu
tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua
Ngoài ra, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền
kinh doanh các dịch vụ môi giới BĐS, sàn giao
dịch BĐS, tư vấn BĐS, quản lý BĐS theo quy định
của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014
Để thực hiện đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh
BĐS tại Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài có 2 sự
lựa chọn là thành lập công ty kinh doanh dịch vụ
kinh doanh BĐS có vốn nước ngoài và góp vốn,
mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế có
kinh doanh dịch vụ kinh doanh BĐS
2 Ý nghĩa của điều kiện hoạt động BĐs của
nhà đầu tư nước ngoài hiện nay
Hiến pháp 2013 đã thừa nhận quyền tự do kinh
doanh là quyền con người và là một trong những
quyền cơ bản của công dân Song đối với việc
kinh doanh trong một số ngành, nghề nhất định,
mặc dù tinh thần “được tự do kinh doanh” nhưng
các chủ thể kinh doanh cần đáp ứng được các điều
kiện nhất định đối với ngành, nghề đó
Thứ nhất, yêu cầu các tổ chức, cá nhân nước
ngoài phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh
BĐS được quy định trong các văn bản quy phạm
pháp luật và các điều ước quốc tế mà nước Cộng
hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thể
hiện bằng các hình thức theo quy định của phápluật Bởi lẽ, kinh doanh BĐS là hoạt động đầu tưlớn và lâu dài, BĐS có thời gian sử dụng lâu dài,mỗi một công trình BĐS sẽ có tuổi thọ vật lý và tuổithọ kinh tế Tuổi thọ kinh tế quyết định tuổi thọ vậtlý Tuổi thọ kinh tế chấm dứt khi trong điều kiện thịtrường và trạng thái vận hành đều bình thường màchi phí sử dụng BĐS lại ngang bằng với lợi ích thuđược từ BĐS đó Tuổi thọ vật lý thường dài hơnnhiều tuổi thọ kinh tế, nó chấm dứt khi các kết cấuchịu lực chủ yếu bị lão hóa và hư hỏng, không thểtiếp tục bảo đảm an toàn cho việc sử dụng Do đó,quy định về điều kiện hoạt động đối với nhà đầu tưnước ngoài yêu cầu có vốn đầu tư lớn, trong thờigian đầu tư dài hạn Những doanh nghiệp có lợi thếvề vốn thì khả năng cạnh tranh cao Nhất là trongbối cảnh lãi suất ngân hàng và tín dụng thắt chặtđối với cho vay BĐS
Thứ hai, việc quy định điều kiện hoạt động
BĐS của nhà đầu tư nước ngoài nhằm hạn chế rủi
ro khi tiến hành kinh doanh BĐS tại Việt Nam, bởilẽ, hoạt động nhạy cảm, chịu ảnh hưởng mạnh mẽcủa pháp luật và chính sách Nhà nước quản lýtoàn bộ BĐS, trước hết là đất đai rồi đến các côngtrình xây dựng, tài sản trên đất thông qua các luật:Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Kinh doanhbất động sản… Quan hệ cung cầu BĐS khá nhạycảm, nhìn chung, cung nhỏ hơn cầu, do đó, Nhànước cần phải điều tiết thông qua hệ thống phápluật và chính sách
Thứ ba, việc quy định điều kiện hoạt động BĐS
của nhà đầu tư nước ngoài đảm bảo cho hoạt độngkinh doanh của họ đáp ứng được yêu cầu của hoạtđộng kinh doanh đa ngành, kinh doanh đặc thù -thị trường không hoàn hảo, thông tin không đầy đủcho các đối tượng trong thị trường và cung phảnứng chậm hơn cầu Cầu phức tạp, chịu ảnh hưởngnhiều yếu tố cả tâm linh, tập quán, thói quen
3 những yếu tố tác động đến quy định và thực hiện điều kiện hoạt động BĐs của nhà đầu
tư nước ngoài
Thứ nhất, yếu tố kinh tế vĩ mô: Trình độ phát
triển kinh tế là một nhân tố vĩ mô quyết định trình
Trang 17độ, quy mô và mức độ hoàn thiện quy định và thực
hiện điều kiện hoạt động BĐS của nhà đầu tư
nước ngoài Khi nền kinh tế phát triển ở trình độ
cao với mục đích và kỹ năng sử dụng đất đai đa
dạng, chủng loại hàng hóa BĐS sẽ rất phong phú,
kéo theo nhu cầu quy định và thực hiện điều kiện
hoạt động BĐS của nhà đầu tư nước ngoài giữa
các chủ thể trong nền kinh tế ngày càng lớn
Ví dụ, vốn đầu tư FDI vào lĩnh vực kinh doanh
BĐS: Trong 5 tháng đầu năm 2019, lĩnh vực BĐS
thu hút vốn FDI đứng thứ hai trong tổng số 19 lĩnh
vực thu hút vốn FDI của cả nước, đạt 742,3 triệu
USD với 51 dự án cấp mới, chiếm 11,5%, tăng 119
triệu USD so với cùng kỳ năm 2018 Đối với hình
thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước
ngoài, vốn đầu tư vào lĩnh vực BĐS đạt 627,9 triệu
USD, chiếm 8,2%1
Như vậy, các nhà đầu tư nước ngoài rất quan
tâm đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh BĐS tại Việt
Nam Hơn nữa, sau khi ký kết các hiệp định tự do
hóa thương mại và mới đây nhất là Hiệp định
CPTPP với cam kết cắt giảm thuế quan đối với
hàng hóa, mở cửa thị trường,… nền kinh tế Việt
Nam được dự báo sẽ là điểm đến của nhiều nhà đầu
tư nước ngoài Điều này mở ra kỳ vọng thị trường
tăng trưởng mạnh về nguồn cung các sản phẩm
BĐS, đặc biệt trên phân khúc BĐS công nghiệp
Bên cạnh đó, ảnh hưởng của chiến tranh thương
mại Mỹ - Trung Quốc có thể tạo làn sóng dịch
chuyển các cơ sở sản xuất sang Việt Nam, giúp cho
thị trường BĐS công nghiệp gia tăng mạnh mẽ,
kèm theo nhu cầu xây dựng các khu nhà ở, dịch vụ
dành cho công nhân, người lao động tại các khu
công nghiệp sẽ có cơ hội phát triển
Sự xuất hiện các ngành mới, các doanh nghiệp
mới, các kỹ thuật xây dựng mới cũng dẫn đến nhu
cầu chuyển đổi và chuyển giao BĐS giữa các chủ
thể và giữa các ngành kinh tế Vì vậy, sự phát
triển của thị trường tín dụng cũng tạo điều kiện và
thúc đẩy thị trường BĐS có sự tham gia của nhà
đầu tư nước ngoài tồn tại và phát triển Tuy nhiên,
tốc độ kinh tế phát triển cũng đặt ra nhiều thách
thức, đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nước có những
chính sách hợp lý quy định và thực hiện điều kiệnhoạt động BĐS của nhà đầu tư nước ngoài
Thứ hai, yếu tố chính trị: Chế độ chính trị là
một trong các nhân tố ảnh hưởng đến việc BĐSnói chung có trở thành hàng hóa hay không Dướichế độ quốc hữu hóa ruộng đất xã hội chủ nghĩa,có những giới hạn nhất định về đất đai tham giavào thị trường BĐS Ví dụ như chính sách khốngchế mục đích sử dụng đất làm cho việc chuyểndịch giữa các loại chủng loại hàng hóa không dễdàng… quy định và thực hiện điều kiện hoạt độngBĐS của nhà đầu tư nước ngoài còn bị các nhân tốchính trị có những ảnh hưởng đến thị trường BĐSdưới khía cạnh quản lý của Nhà nước đối với cácgiao dịch BĐS
Có những nước quy định thủ tục giao dịch hợppháp khá phức tạp, chi phí lớn, làm cho khả năngphát triển của thị trường BĐS có sự tham gia củanhà đầu tư nước ngoài giảm đi Trong khi đó, cónhững nước có chi phí về thủ tục thấp sẽ khuyếnkhích đưa BĐS vào giao dịch Có thể thấy, Nhànước cần có những động thái tạo ra các tiền đềthuận lợi cho quy định và thực hiện điều kiện hoạtđộng BĐS của nhà đầu tư nước ngoài rất quantrọng Để làm tròn vai trò đó, đòi hỏi Nhà nướckhông chỉ có quyết tâm, mà còn phải có tri thức,lực lượng cán bộ vững vàng và một cơ chế điềuhành hiệu quả2
Thứ ba, yếu tố xã hội: Các yếu tố xã hội cũng
tác động lớn đến quy định và thực hiện điều kiệnhoạt động BĐS của nhà đầu tư nước ngoài Cụ thể,việc mật độ dân số tăng cao tại một khu vực sẽkhiến cho giá trị BĐS nơi đó sẽ tăng lên do cânbằng cung - cầu bị phá vỡ, do đó cần quy định vàthực hiện điều kiện hoạt động BĐS của nhà đầu tưnước ngoài
Ngoài ra, các yếu tố khác trong khu vực nhưchất lượng dịch vụ y tế, giáo dục, trình độ dân trí,vấn đề an ninh, tập quán người dân trong vùngcũng có những tác động lên nhu cầu thu hút đầu tưtrong việc quy định và thực hiện điều kiện hoạtđộng BĐS của nhà đầu tư nước ngoài Hệ thốnghạ tầng đô thị mới kết nối ngày càng đồng bộ hơn
Trang 18sẽ tạo ra cơ hội rất lớn cho các doanh nghiệp “ăn
theo” để đầu tư, phát triển thị trường BĐS, cả
trong trung hạn và dài hạn
Thứ tư, yếu tố tính minh bạch của thị trường:
Việt Nam đã, đang hội nhập sâu rộng vào nền
kinh tế quốc tế và khu vực, kỳ vọng sẽ gia tăng
thu hút vốn FDI vào Việt Nam, trong đó có lĩnh
vực BĐS Tuy nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài
cũng rất coi trọng việc so sánh lợi ích giữa đầu tư
vào thị trường BĐS Việt Nam và các quốc gia
khác trong khu vực, như: Indonesia, Singapore…3
Ở thị trường BĐS Việt Nam, tính minh bạch
thông tin chưa cao đã gây cản trở quá trình đầu tư
của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường
Không phủ nhận chỉ số minh bạch của thị trường
BĐS Việt Nam đã có thay đổi đáng kể trên thị
trường quốc tế Cụ thể, năm 2014, Việt Nam nằm
trong danh sách có chỉ số minh bạch thấp, nhưng
đến năm 2018 đã có sự cải thiện đáng kể khi vươn
lên đứng thứ 61 trong bảng minh bạch do Công ty
TNHH Jones Lang LaSalle công bố nhưng sự cải
thiện này là chưa đủ, cần đẩy mạnh hơn nữa việc
minh bạch thông tin
Thứ năm, yêu cầu của Cách mạng công nghệ
4.0: Với sự phát triển của công nghệ 4.0 và trí tuệ
nhân tạo, các doanh nghiệp kỳ vọng việc
marketing sản phẩm và tìm kiếm khách hàng tiềm
năng sẽ được cải thiện hơn Theo đó, điều kiện
hoạt động BĐS của nhà đầu tư nước ngoài sẽ chất
xúc tác làm thay đổi hành vi của người mua và
người bán; mức phí hợp lý; công nghệ không thểthay thế hoàn toàn con người; niềm tin và uy tín;…
4 Kết luận
Vai trò của điều kiện hoạt động BĐS của nhàđầu tư nước ngoài có ý nghĩa hết sức quan trọngtrong phát triển kinh tế, đời sống, xã hội Từ việcphân tích, đánh giá về tính chất, đặc điểm củađiều kiện hoạt động BĐS của nhà đầu tư nướcngoài, các yếu tố ảnh hưởng tới quy định và thựchiện điều kiện hoạt động BĐS của nhà đầu tưnước ngoài , qua đó, nhìn nhận việc quy định vềđiều kiện hoạt động BĐS của nhà đầu tư nướcngoài là sự cần thiết và tất yếu khách quan.Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đangtrên đà hội nhập quốc tế, kéo theo sự phát triểnmạnh mẽ của kinh doanh BĐS của nhà đầu tưnước ngoài, đòi hỏi các quy định pháp luật vềđiều kiện hoạt động BĐS của nhà đầu tư nướcngoài cũng từng bước phát triển với xu hướng mởrộng hành lang pháp lý để các chủ thể kinh doanhkhác nhau có thể gia nhập thị trường Với sự rađời của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm
2020, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 đãcó nhiều điểm mới, quy định chi tiết và phù hợpvới xu thế phát triển Sự thay đổi các quy địnhcủa pháp luật không chỉ là sự kế thừa những quyđịnh cũ mà còn phát triển theo hướng thôngthoáng hơn, tạo điều kiện cho môi trường cạnhtranh lành mạnh giữa các cá nhân, tổ chức, manglại hiệu quả kinh tế cao cho đất nước n
tÀI lIeÄu tRÍCH DẪn:
1Ngô Bảo Anh (2018), Quản lý hành chính nhà nước về điều kiện kinh doanh bất động sản của nhà đầu tư nước
ngoài, Luận văn Thạc sĩ, năm 2018 tại Học viện Hành chính Quốc gia, tr.34.
2Trần Quang Huy (2009), Pháp luật đất đai Việt Nam hiện hành - Nhìn từ góc độ bảo đảm quyền của người sử
dụng đất, Tạp chí Luật học, số 8/2009, tr 37-45.
3Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2019) Báo cáo thực hiện pháp luật về kinh doanh bất động sản, Hà Nội, tr.10.
Trang 19fACtoRs AffeCtInG ReGulAtIons AnD ImPlementAtIon of ReAl estAte BusIness
ConDItIons foR foReIGn InVestoRs In VIetnAm
lMaster Lawyer.Le Thi Dung
Singlaw Legal Company Limited
ABstRACt:
The introduction of operating conditions and limits on the scope of real estate business forforeign investors is to ensure that all business activities conducted by foreigners are within thecontrol and management scope of the Government of Vietnam For real estate business entities,besides conditions on legal capacity and behavioral capacity of entities which are prescribed inthe Civil Code, real estate business entities must meet specialized requirements As a result, it isnecessary to evaluate the factors affecting regulations and implementation of real estate businessconditions for foreign investors in Vietnam
Keywords: law, condition, business, real estate, investment.
tÀI lIeÄu tHAm KHẢo:
1 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2015) Rà soát pháp luật kinh doanh, Hà Nội.
2 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2017) Rà soát pháp luật kinh doanh, Hà Nội.
3 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2019) Rà soát pháp luật kinh doanh, Hà Nội.
4 Quốc hội (2013) Luật số 45/2013/QH13: Luật Đất đai, ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2013.
5 Quốc hội (2014) Luật số 66/2014/QH13: Luật Kinh doanh bất động sản, ban hành ngày 25 tháng 11 năm 2014.
6 Quốc hội (2014) Luật số 65/2014/QH13: Luật Nhà ở, ban hành ngày 25 tháng 11 năm 2014.
7 Quốc hội (2015) Luật số 91/2015/QH13: Bộ luật Dân sự, ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015.
8 Quốc hội (2020) Luật số 61/2020/QH14: Luật Đầu tư, ban hành ngày 17 tháng 6 năm 2020.
ngày nhận bài: 18/9/2021
ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 1/10/2021
ngày chấp nhận đăng bài: 19/10/2021
Thông tin tác giả:
ths luật sư le tHỊ DunG
Công ty luật tnHH singlaw
Trang 20toÙm tAét:
Bài viết phân tích nội dung các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến nguyên tắc công khai(NTCK) trong hoạt động thanh tra (HĐTT), làm cơ sở cho việc đánh giá và hoàn thiện những quyđịnh này, bảo đảm thực hiện đầy đủ, hiệu quả NTCK trong thực tiễn HĐTT ở Việt Nam hiện nay
từ khóa: công khai, nguyên tắc, pháp luật, hoạt động thanh tra.
tHƯïC tRAïnG QuY ĐỊnH PHÁP luẬt
VeÀ nGuYeÂn tAéC CoÂnG KHAI tRonG HoAït ĐoÄnG tHAnH tRA
lLê Thanh Thủy
1 Đặt vấn đề
NTCK là một trong các nguyên tắc thực hiện
trong quá trình thanh tra (TT), được thể hiện trong
quá trình TT từ khi chuẩn bị TT, trực tiếp TT cho
đến khi kết thúc TT Việc thực hiện nguyên tắc này
bảo đảm cho hoạt động quản lý nhà nước (QLNN)
nói chung, HĐTT nói riêng bảo đảm sự tuân thủ
pháp luật, bảo đảm cho các cơ quan, cá nhân, tổ
chức, báo chí thực hiện hiệu quả việc giám sát hoạt
động của Nhà nước1 Về phương diện pháp luật,
hiện nay, NTCK trong HĐTT được ghi nhận chung
tại Điều 7, Luật Thanh tra 2010, theo đó một trong
các NT của HĐTT là “bảo đảm [ ] công khai”2
Trên cơ sở NTCK trong hoạt động được Luật Thanh
tra 2010 quy định, các văn bản quy phạm pháp luật
có liên quan đã có những quy định chi tiết ở nhiều
khía cạnh khác nhau làm cơ sở để thực hiện nguyên
tắc này trong thực tiễn
2 Đối với việc công khai kế hoạch tt hàng
năm của cơ quan tt với đối tượng tt và cơ quan
báo chí, công dân
Trước hết cần lưu ý là Luật Thanh tra năm 2004
và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 không
quy định phải công khai Kế hoạch thanh tra
(KHTT) hàng năm Điều đáng ghi nhận là một số
văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quanđều có những quy định về vấn đề này Luật Thanhtra năm 2010 và Thông tư 01/2014/TT-TTCP ngày23/4/2014 của Thanh tra Chính phủ quy định việcxây dựng định hướng chương trình TT và KHTThàng năm của các đơn vị TT sau khi được phê duyệtKHTT hàng năm được gửi cho cơ quan TT cấp trênđể theo dõi, đôn đốc, kiểm tra Khoản 9, Điều 10
Thông tư 01/2014/TT-TTCP quy định “KHTT của
TT bộ, TT tỉnh gửi về TT Chính phủ chậm nhất là 05 ngày, kể từ ngày Bộ trưởng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh phê duyệt; KHTT của cơ quan được giao chức năng
TT chuyên ngành thuộc bộ gửi về TT bộ chậm nhất là 03 ngày, kể từ ngày Bộ trưởng phê duyệt để theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện”.
Khoản 9, Điều 11 Thông tư 01/2014/TT-TTCP
quy định “KHTT của TT huyện, TT sở gửi về TT tỉnh
chậm nhất là 05 ngày, kể từ ngày Chủ tịch UBND cấp huyện, Giám đốc sở phê duyệt; KHTT của cơ quan được giao chức năng TT chuyên ngành thuộc sở gửi về TT sở chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày Giám đốc sở phê duyệt để theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện” Luật Phòng, chống tham nhũng
năm 2018 đã quy định cụ thể các nội dung TT: “Cơ
quan, tổ chức, đơn vị phải công khai, minh bạch
Trang 21thông tin về tổ chức, hoạt động của cơ quan, tổ chức,
đơn vị mình, trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước, bí
mật kinh doanh và nội dung khác theo quy định của
pháp luật” 3
Như vậy, KHTT hàng năm của các cơ quan chức
năng TT là một trong các nội dung phải công khai:
công khai với đối tượng thanh tra (ĐTTT), công
khai với cơ quan, tổ chức, cá nhân, báo chí Việc
công khai KHTT hàng năm giúp ĐTTT chủ động
chuẩn bị nội dung, thời gian, địa điểm để đoàn
thanh tra (ĐTT) thực hiện KHTT hàng năm đã được
phê duyệt Qua đó cơ quan thanh tra (CQTT) cũng
chủ động bố trí lực lượng cán bộ, thời gian tiến hành
để đảm bảo hoàn thành đúng KHTT đề ra Việc
công khai KHTT hàng năm cũng giúp cho các cơ
quan, tổ chức, cá nhân, báo chí giám sát theo dõi
hoạt động TT của các CQTT, tránh tình trạng bao
che hoặc cố tình không tiến hành TT
3 Đối với việc công khai nội dung, thời gian,
địa điểm nắm tình hình với Đttt
Theo Thông tư 05/2014/TT-TTCP của Thanh tra
Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ
công tác của ĐTT và trình tự, thủ tục tiến hành một
cuộc TT, quy định trong trường hợp cần thiết Thủ
trưởng cơ quan QLNN, Thủ trưởng CQTT, Thủ
trưởng cơ quan thực hiện chức năng TT chuyên
ngành cử tổ công tác đi nắm tình hình tại đơn vị
ĐTTT, nhằm mục đích ban hành Quyết định thanh
tra (QĐTT) Tổ công tác khi thực hiện nắm tình
hình cần công khai về: “văn bản của CQTT nhà
nước về việc cử người được giao nắm tình hình, thời
gian, nội dung làm việc, những thông tin cần thu
thập từ cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi
thẩm quyền TT biết; thẻ công chức hoặc thẻ TT” 4
Quy định này tiếp tục được khẳng định tại Thông tư
06/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 (thay thế
Thông tư 05/2014/TT-TTCP) qua Điểm a, Khoản 1,
Thông tư 06/2021/TT-TTCP (cụ thể hóa tại Mẫu số
04 quy định về “Đề cương yêu cầu cung cấp thông
tin, tài liệu để ban hành QĐTT” ban hành kèm theo
Thông tư 06/2021/TT-TTCP)
4 Đối với việc thực hiện việc công khai QĐtt
Về công khai QĐTT với ĐTTT, Luật Thanh tra
2004, đã được quy định:“QĐTT phải được công bố
chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày ra QĐTT Việc
công bố QĐTT phải được lập thành văn bản” 5
Đồng thời, việc công bố QĐTT với ĐTTT cần nêurõ: căn cứ pháp lý để TT, nội dung, phạm vi, nhiệmvụ, thời hạn, trưởng đoàn thanh tra (ĐTT) và cácthành viên khác của ĐTT6
LTT năm 2010 tiếp tục khẳng định: “Chậm nhất
là 15 ngày kể từ ngày ký QĐTT, Trưởng ĐTT có trách nhiệm công bố QĐTT với ĐTTT Khi công bố QĐTT, Trưởng ĐTT phải nêu rõ nhiệm vụ, quyền hạn của ĐTT, thời hạn TT, quyền và trách nhiệm của ĐTTT, dự kiến kế hoạch làm việc của ĐTT với ĐTTT và những nội dung khác liên quan đến hoạt động của ĐTT” 7
Như vậy, về cơ bản việc thực hiện công khaiQĐTT với ĐTTT được quy định cụ thể về thời giancông bố, nội dung công bố, thành phần công bố tạođiều kiện cho Trưởng ĐTT thực hiện tốt việc côngbố, tránh tình trạng cố tình không công khai, hoặccông khai một phần sẽ khó khăn cho ĐTTT khônghiểu hoặc chỉ hiểu một phần về nội dung TT khôngrõ phạm vi, thời hạn TT, trách nhiệm, nhiệm vụ,quyền hạn của ĐTTT làm ảnh hưởng tới quyền, lợiích của ĐTTT
Về công khai QĐTT với cơ quan, tổ chức, cánhân Theo quy định tại Luật Thanh tra 2004, LuậtThanh tra năm 2010 và Luật Phòng, chống thamnhũng năm 2005, chỉ quy định việc công khaiQĐTT với ĐTTT Tuy nhiên, theo Điều 10 củaLuật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi năm 2018,QĐTT cũng được công khai đối với cơ quan, tổchức, cá nhân Quy định này giúp cho các cơ quan,tổ chức, cá nhân thông qua việc công khai QĐTTthực hiện quyền giám sát hoạt động của CQTT.Nếu có hành vi vi phạm bao che cho ĐTTT thì các
cơ quan, tổ chức, cá nhân thì cơ quan nhà nướcthực hiện quyền kiểm tra, các tổ chức, cá nhânkhác thực hiện quyền kiến nghị, tố cáo hành vi viphạm của CQTT, ĐTT Do vậy, CQTT khi thựchiện công khai QĐTT cũng sẽ thực hiện đúng quyđịnh pháp luật, không có tình trạng dừng cuộc TThoặc kết luận thanh tra (KLTT) chưa hết nội dungtrong QĐTT
5 Công khai việc tiến hành thu thập thông tin, tài liệu, xác minh với Đttt
Trong quá trình thanh tra (QTTT), Trưởng ĐTT,
Trang 22thành viên ĐTT, Người ra QĐTT tiến hành thu thập
tài liệu, chứng cứ từ ĐTTT, các cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan nhằm chứng minh đối tượng có vi
phạm pháp luật hay không vi phạm pháp luật Khi
thực hiện, Trưởng ĐTT, thành viên ĐTT và người
ra QĐTT phải công khai với ĐTTT thông qua thủ
tục bắt buộc khi thực hiện thủ tục QTTT, thủ tục
thực hiện QTT, cụ thể: LTT năm 2004 và Nghị định
hướng dẫn thi hành quy định: “Khi tiến hành TT, TT
viên, Trưởng ĐTT hoặc người ra QĐTT có quyền
yêu cầu ĐTTT cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo
bằng văn bản, giải trình về những vấn đề liên quan
đến nội dung TT” 8
LTT năm 2010 và Nghị định hướng dẫn thi hành
quy định: “Trong QTTT, Trưởng ĐTT, thành viên
ĐTT, công chức được giao thực hiện nhiệm vụ TT
chuyên ngành hoặc người ra QĐTT có quyền yêu
cầu ĐTTT cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng
văn bản, giải trình về những vấn đề liên quan đến
nội dung TT” 9 và “Trường hợp cần thiết để kiểm tra,
xác minh thông tin, tài liệu hoặc làm rõ những vấn
đề có liên quan đến nội dung TT thì Trưởng ĐTT,
người ra QĐTT mời ĐTTT, đại diện cơ quan, tổ
chức, hoặc cá nhân có liên quan đến làm việc…
Trường hợp cần làm rõ những vấn đề có liên quan
đến nội dung TT thì Trưởng ĐTT, người ra QĐTT có
công văn yêu cầu yêu cầu ĐTTT báo cáo…” 10
Quyền tìm kiếm thông tin, tài liệu, chứng cứ
của ĐTTT cần phải được ghi nhận và bảo đảm thực
hiện Vì vậy, việc tiến hành thu thập thông tin, tài
liệu, xác minh phải công khai với ĐTTT để ĐTTT
nắm bắt nội dung thông tin, yêu cầu của ĐTT, kịp
thời báo cáo, giải trình với ĐTT hoặc đề xuất ý kiến
của ĐTTT với ĐTT Nếu không công khai hoặc
công khai một phần nội dung, yêu cầu của ĐTT thì
đối tượng không nắm bắt được nội dung, yêu cầu
của ĐTT, hoặc hiểu sai ý kiến của ĐTT dẫn tới
không hợp tác tốt với ĐTT
6 Công khai với Đttt việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của Đttt
Việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của
ĐTTT được thực hiện theo quy định của Luật
Khiếu nại, tố cáo năm 1998, sửa đổi năm 2004,
2005 và được thay thế bởi Luật Khiếu nại năm
2011, Luật Tố cáo năm 2011, Luật Tố cáo 2018,
Luật Tiếp công dân 2013 Theo đó, người khiếu nạiđược nhận văn bản trả lời về việc thụ lý để giảiquyết khiếu nại; nhận quyết định giải quyết khiếunại Người tố cáo được thông báo kết quả giải quyếttố cáo Người kiến nghị, phản ánh được nhận vănbản trả lời về thông báo kết quả giải quyết kiếnnghị, phản ánh
Nội dung công khai này giúp ĐTTT biết đượcviệc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh củaĐTTT đúng hay sai, từ đó nhận thức và có hànhđộng đúng quy định pháp luật hoặc qua việc côngkhai này ĐTTT nhận thấy ĐTT, người ra QĐTTthực hiện không đúng quy định pháp luật thì ĐTTTthực hiện các biện pháp bảo vệ với cơ quan có thẩmquyền xem lại việc thực hiện nhiệm vụ của ĐTT,người ra QĐTT Với việc công khai này cũng giúpĐTT, người ra QĐTT phải thực hiện đúng quy địnhpháp luật, thận trọng trong việc giải quyết khiếunại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của ĐTTT
7 Công khai việc thay đổi trưởng Đtt, thành viên Đtt với Đttt
Việc thay đổi Trưởng ĐTT, thành viên ĐTT tạiLuật Thanh tra năm 2004 chưa nêu cụ thể việccông khai với ĐTTT Tuy nhiên trên thực tiễn cácĐTT vẫn thực hiện theo NTCK chung cho toàn bộHĐTT, Luật Thanh tra 2010 và văn bản hướng dẫnthi hành đã quy định cụ thể về vấn đề này, theo đó
“quyết định thay đổi Trưởng ĐTT được gửi cho ĐTT, ĐTTT và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan” 11
và “quyết định thay đổi, bổ sung thành viên ĐTT được gửi cho ĐTT, ĐTTT và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan” 12 Việc công khai này giúp cho
ĐTTT biết người nào là thành viên ĐTT, TrưởngĐTT thực hiện nhiệm vụ TT tại đơn vị, tránh việcđể lộ thông tin qua việc cung cấp thông tin, tài liệu,chứng cứ cho người không có thẩm quyền ảnhhưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp củaĐTTT Việc công khai này cũng tránh được việcmạo danh, nhũng nhiễu ĐTTT
8 Công khai với Đttt về việc kết thúc thời gian tt
Kết thúc thời gian TT là việc ĐTT dừng việc TTtheo quy định tại QĐTT Theo Quyết định2151/2006/QĐ-TTCP về quy chế hoạt động của
ĐTT quy định: “Khi kết thúc việc TT tại nơi được
Trang 23TT, Trưởng ĐTT có trách nhiệm thông báo bằng văn
bản cho Thủ trưởng cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân
là ĐTTT biết” Quy định này tiếp tục được khẳng
định tại Thông tư 05/2014/TT-TTCP ngày 16 tháng
10 năm 2014, cụ thể: “Trưởng ĐTT thông báo bằng
văn bản về thời gian kết thúc TT tại nơi được TT và
gửi cho ĐTTT biết Trường hợp cần thiết, có thể tổ
chức buổi làm việc với ĐTTT để thông báo việc kết
thúc TT trực tiếp Nội dung làm việc được lập thành
biên bản kết thúc việc TT tại nơi được TT” 14
Quy định này tiếp tục được ghi nhận cụ thể tại
Thông tư 06/2021/TT-TTCP thay thế Thông tư
05/2014/TT-TTCP, cụ thể tại Điều 28 của Thông tư
quy định: “thông báo bằng văn bản cho ĐTTT về
việc kết thúc TT trực tiếp Trong trường hợp cần
thiết, Trưởng ĐTT tổ chức buổi làm việc với ĐTTT
để thông báo việc kết thúc TT trực tiếp” đã giúp
ĐTTT biết việc kết thúc TT, (trừ trường hợp người
ra QĐTT yêu cầu ĐTTT hoặc yêu cầu Trưởng
ĐTT, thành viên ĐTT cung cấp thêm thông tin, tài
liệu, báo cáo, giải trình làm rõ thêm nội dung TT)
Qua đó, tránh trường hợp nhũng nhiễu tới ĐTTT
9 Công khai dự thảo Kltt với Đttt
Trước khi ban hành KLTT, nhằm đảm bảo tính
chính xác, khách quan, dân chủ, pháp luật quy
định: “Trong trường hợp Người ra QĐTT gửi dự
thảo KLTT cho ĐTTT và ĐTTT có văn bản giải
trình thì Trưởng ĐTT có trách nhiệm nghiên cứu và
đề xuất với Người ra QĐTT hướng xử lý nội dung
giải trình của ĐTTT” Quy định này tiếp tục được
khẳng định sau khi văn bản này được sửa đổi tại
Nghị Định 86/2011/NĐ-CP và Thông tư
05/2014/TT-TTCP: Trước khi KL chính thức, nếu
xét thấy cần thiết thì người ra QĐTT gửi dự thảo
KLTT cho ĐTTT Việc giải trình những vấn đề
chưa nhất trí (nếu có) của ĐTTT với nội dung của
dự thảo KLTT được thực hiện bằng văn bản và có
các bằng chứng kèm theo16
Nội dung này tiếp tục được ghi nhận trong
Thông tư 06/2021/TT-TTCP, cụ thể: “Trong trường
hợp yêu cầu ĐTTT giải trình thì người ra QĐTT gửi
văn bản yêu cầu kèm theo dự thảo KLTT hoặc một
số nội dung trong dự thảo KLTT liên quan đến yêu
cầu giải trình” 17 Qua việc công khai dự thảo KLTT
với ĐTTT, giúp ĐTTT biết về nội dung KL chấp
hành pháp luật của ĐTTT thuộc nội dung trongQĐTT, kịp thời kiến nghị, phản ánh, báo cáo, giảitrình những nội dung mà ĐTTT cho rằng chưađúng, chưa phù hợp Trên cơ sở giải trình củaĐTTT, ĐTT kiểm tra lại nội dung mà ĐTTT có ýkiến, nếu đủ chứng cứ chứng minh thì kiến nghịngười ra QĐTT sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ nộidung chưa phù hợp Trường hợp kiến nghị, phảnánh, báo cáo, giải trình không đúng thì Trưởng ĐTTbáo cáo Người ra QĐTT và giữ nguyên nội dungkết luận Với các quy định này đảm bảo tính chínhxác, khách quan, kịp thời trong HĐTT
10 Công khai Kltt
Luật Thanh tra năm 2004 và Luật Thanh tranăm 2010 quy định: người ra văn bản KLTT cótrách nhiệm công bố hoặc gửi KLTT cho ĐTTT.Việc quy định này giúp ĐTTT biết về đánh giá củaCQTT về việc chấp hành pháp luật của ĐTTT, quađó ĐTTT có thể bảo vệ quyền lợi của đơn vị, cánhân mình bằng hình thức kiến nghị, phản ánh vềKLTT những nội dung mà đối tượng cho rằngkhông đúng hoặc tố cáo hành vi vi phạm pháp luậtcủa Trưởng ĐTT, thành viên ĐTT, người ra QĐTT.Qua việc công khai KLTT với ĐTTT cũng giúpTrưởng ĐTT, CQTT xem xét kỹ lưỡng hơn các ýkiến từ phía ĐTTT bảo đảm KLTT chính xác,khách quan tránh việc kết luận sai cho ĐTTT.Theo quy định của Luật Phòng, chống thamnhũng năm 2005, KLTT không chỉ công khai vớiĐTTT mà phải công khai với cơ quan, tổ chức, cá
nhân, báo chí, cụ thể: “KLTT phải được công khai,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” 18 Nhưvậy, những KLTT có nội dung mật theo Quyết địnhsố 588/2004/QĐ-BCA(A11) ngày 25/6/2004; năm
2015 được thay thế bởi Thông tư 08/2015/TT-BCAngày 27/01/2015 và đến nay được thay thế bởiQuyết định 774/QĐ-TTg ngày 05/6/2020 quy địnhvề danh mục tài liệu mật thuộc lĩnh vực TT, giảiquyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống thamnhũng Ngoài ra, các CQTT được đặt trong hệthống các cơ quan nội chính, vì vậy cũng chịu sựđiều chỉnh của Thông tư 08/2014/TT-BCA-A81ngày 21/2/2014 quy định về danh mục bí mật nhànước độ mật của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng,chống tham nhũng và Ban nội chính Trung ương
Trang 24tÀI lIeÄu tHAm KHẢo VÀ tRÍCH DẪn:
1Xem: Đề tài khoa học cấp Bộ: “Công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị theo quyđịnh của Luật Phòng, chống tham nhũng - Thực trạng và giải pháp, Thanh tra Chính phủ, 2011, Phạm Trọng Đạt
2Khoản 1, Điều 7 Luật Thanh tra 2010
3Khoản1, Điều 9 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018
4Khoản 2, Điều 16 Thông tư 05/2014/TT-TTCP ngày 16 tháng 10 năm 2014
5Khoản 2, Điều 37 Luật Thanh tra năm 2004
Trường hợp KLTT có các nội dung được quy
định như sau: “Tin, tài liệu, số liệu tuyệt đối về tình
hình, công tác nội chính và phòng, chống tham
nhũng chưa công bố hoặc không công bố Tin, tài
liệu, số liệu về hoạt động phòng, chống tham nhũng
của các bộ, ngành, địa phương chưa công bố… Ý
kiến chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng,
chống tham nhũng và ý kiến của Ban Nội chính
Trung ương với các ngành trong khối nội chính và
các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan về những
vấn đề nhạy cảm thuộc lĩnh vực công tác nội chính
và phòng, chống tham nhũng chưa công bố hoặc
không công bố (trừ trường hợp thuộc Danh mục bí
mật nhà nước độ Tuyệt mật, Tối mật)… nội dung làm
việc, trao đổi về những vấn đề liên quan đến an ninh,
chính trị, đối ngoại chưa công bố hoặc không công
bố (trừ trường hợp thuộc Danh mục bí mật nhà nước
độ Tuyệt mật, Tối mật)” 19thì không công khai với
cơ quan, tổ chức, cá nhân, chỉ công bố với ĐTTT và
các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để ĐTTT
biết và thực hiện KLTT Việc không công khai này
đảm bảo tránh các thế lực thù địch, phản động kích
động người dân ảnh hưởng tới hoạt động QLNN,
trật tự xã hội, lòng tin của công dân vào Nhà nước,
lợi ích quốc gia
Về hình thức công khai KLTT Thứ nhất, công
bố tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị; thứ
hai, niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ
chức, đơn vị; thứ ba, thông báo bằng văn bản đến cơ
quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan; thứ tư,
phát hành ấn phẩm; thứ năm, thông báo trên các
phương tiện thông tin đại chúng; thứ sáu, đưa lên
trang thông tin điện tử; thứ bảy, cung cấp thông tin
theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức cá nhân20 Với
những hình thức công khai này, theo quy định tạiđiểm a, Khoản 2, Điều 39 LTT quy định, công khai
KLTT được thực hiện bằng hình thức: “Công bố tại
cuộc họp với thành phần bao gồm người ra QĐTT, ĐTT, ĐTTT, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc tổ chức họp báo”
Thông qua việc quy định các hình thức côngkhai này giúp các CQTT căn cứ nội dung văn bảnKLTT, tình hình tại đơn vị, địa phương, phươngtiện tiếp cận của người dân mà lựa chọn hình thứccông khai phù hợp Qua đó, bảo đảm việc các cơquan, tổ chức, cá nhân, báo chí đều có thể tiếp cậnvăn bản Đặc biệt Thông tư 06/2021/TT-TTCP
còn quy định cụ thể, rõ hơn về việc “KLTT phải
được công khai toàn văn theo quy định của pháp luật, trừ nội dung bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật” 21
Ngoài ra, pháp luật cũng quy định cách thức tiếpcận thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân, theoquy định tại Nghị định 120/2006/NĐ-CP và đượcsửa đổi tại Nghị định 59/2013/NĐ-CP
Quyền tiếp cận thông tin tiếp tục được khẳngđịnh qua Luật Tiếp cận thông tin ban hành năm
2016, quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tụcthực hiện quyền tiếp cận thông tin, trách nhiệm,nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc bảođảm quyền tiếp cận thông tin của công dân Vớicác quy định này, bảo đảm cho công dân tiếp cậnđầy đủ, chính xác thông tin về văn bản KLTT.Qua đó, thực hiện quyền giám sát với hoạt độngcủa cơ quan QLNN, kịp thời kiến nghị, phản ánh,khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơquan, tổ chức, cá nhân, bảo đảm tăng cường hiệulực hiệu quả QLNN n
Trang 25CuRRent PRoVIsIons of PuBlICItY PRInCIPles
of InsPeCtIon In VIetnAm
lMaster Le Thanh Thuy
School of InspectorsGovernment inspector
ABstRACt:
This paper analyzes current provisions of publicity principles of inspection in Vietnam.Based on the paper’s findings, some recommendations are made to strengthen and ensure theenforcement of these provisions fully and effectively in the coming time
Keywords: public, rule, law, inspection
6Điều 37 Luật Thanh tra năm 2004 và Điều 25 Nghị định 41/2005/NĐ-CP
7Khoản 1,2 Điều 26 Nghị định 86/2011/NĐ-CP
8Khoản 1, Điều 27 Nghị định 41/2005/NĐ-CP ngày 25 tháng 3 năm 2005
9Khoản 1, Điều 34 Nghị định 86/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2011
10Khoản 1, Điều 24 Thông tư 05/2014/TT-TTCP ngày 16 tháng 10 năm 2014
11Khoản 3, Điều 10, Thông tư 05/2014/TT-TTCP ngày 16 tháng 10 năm 2014
12Khoản 4, Điều 11, Thông tư 05/2014/TT-TTCP ngày 16 tháng 10 năm 2014
13Điều 21, Quyết định 2151/2006/QĐ-TTCP ngày 10 tháng 11 năm 2006
14Khoản 3, Điều 31, Thông tư 05/2014/TT-TTCP ngày 16 tháng 10 năm 2014
15Khoản 2, Điều 54, Quyết định 2151/2006/QĐ-TTCP ngày 10 tháng 11 năm 2006
16Khoản 2, Điều 30 Nghị định 86/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2011
17Khoản 3, Điều 41, Thông tư 06/2021/TT-TTCp ngày 01 tháng 10 năm 2021
18Điểm a, Khoản 2, Điều 27 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005
19Khoản 1,2,4,6 Điều 1 Thông tư 08/2014/TT-BCA(A18) ngày 21 tháng 02 năm 2014
20Điều 12, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005
ngày nhận bài: 18/9/2021
ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 2/10/2021
ngày chấp nhận đăng bài: 20/10/2021
Thông tin tác giả:
ths le tHAnH tHuÛY
trường Cán bộ thanh tra
thanh tra Chính phủ
Trang 26toÙm tAét:
Pháp luật về đất đai là cơ sở để xác lập chế độ sở hữu đất đai, quyền hạn và trách nhiệm củaNhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, xác lập chế độquản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với đất đai thuộc lãnh thổcủa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Tuy nhiên, trong bối cảnh xây dựng nhà nướckiến tạo, phát triển hiện nay, pháp luật về đất đai còn tồn tại những bất cập cần hoàn thiện
từ khóa: pháp luật đất đai, bất cập, hoàn thiện.
HoÀn tHIeÄn PHÁP luẬt ĐẤt ĐAI
ĐÁP ỨnG YeÂu CẦu xÂY DƯïnG nHÀ nƯơÙC KIeÁn tAïo, PHÁt tRIển
lnguyễn Trọng nhã
1 Bất cập của pháp luật đất đai
1.1 Thiếu sự đồng nhất giữa các văn bản
pháp luật
- Về nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho
quyền sử dụng đất (QSDĐ) trồng lúa: Điều 609,
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, cá nhân có
quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình;
để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo
pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo
pháp luật Trong khi đó, Khoản 3, Điều 191, Luật
Đất đai năm 2013 quy định, hộ gia đình, cá nhân
không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được
nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho QSDĐ trồng
lúa Quy định này của Luật Đất đai làm hạn chế,
triệt tiêu quyền tặng cho, để lại di sản của cá nhân
hoặc quyền được nhận tặng cho, thừa kế là QSDĐ
trồng lúa từ người khác
- Về thu hồi đất: Điểm b khoản 1 Điều 16 Luật
Đất đai năm 2013 quy định, trường hợp Nhà nước
quyết định việc thu hồi đất do vi phạm pháp luậtđất đai Tuy nhiên, điểm a khoản 2 Điều 71 củaluật này chỉ quy định, trường hợp cưỡng chế thuhồi đất để thực hiện các dự án đầu tư mà khôngquy định cưỡng chế đối với trường hợp thu hồi đất
do vi phạm pháp luật đất đai
Nội dung thông báo thu hồi đất được quy địnhtại khoản 1 Điều 67 Luật Đất đai năm 2013: “Nộidung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thuhồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm”.Khoản 1 Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CPquy định kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát,
đo đạc, kiểm đếm gồm các nội dung: “(a) Lý dothu hồi đất; (b) Diện tích, vị trí khu đất thu hồi trên
cơ sở hồ sơ địa chính hiện có hoặc quy hoạch chitiết xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩmquyền phê duyệt; trường hợp thu hồi đất theo tiếnđộ thực hiện dự án thì ghi rõ tiến độ thu hồi đất;(c) Kế hoạch điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm
Trang 27đếm; (d) Dự kiến về kế hoạch di chuyển và bố trí
tái định cư; (đ) Giao nhiệm vụ lập, thực hiện
phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 17 Nghị định số
43/2014/NĐ-CP quy định nội dung thông báo thu
hồi đất gồm các nội dung tại điểm (a), (b), (c), (d)
của Khoản 1 Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP,
không bao gồm nội dung được quy định tại điểm (đ)
khoản 1 điều này Như vậy, nếu hiểu theo quy định
của Luật Đất đai năm 2013 thì thông báo thu hồi đất
phải đầy đủ 5 nội dung được quy định tại khoản 1
Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP nhưng khoản
2 điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định
thông báo thu hồi đất chỉ bao gồm 4 nội dung
- Luật Đất đai năm 2013 và Luật Xây dựng đã
có “sự vênh” khi Luật Đất đai quy định bồi thường
giải phóng mặt bằng là trách nhiệm của Nhà nước
nhưng trong Luật Xây dựng lại quy định bồi
thường giải phóng mặt bằng là trách nhiệm của
chủ đầu tư
- Về thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không
đúng quy định của pháp luật nhưng đã chuyển
mục đích sử dụng đất và đã được giải quyết theo
quy định của pháp luật: Theo điểm d khoản 2
Điều 106 Luật Đất đai, Nhà nước không thu hồi
Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật nếu người
được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện chuyển
QSDĐ (chuyển QSDĐ gồm: chuyển đổi, chuyển
nhượng, thừa kế, tặng cho QSDĐ và góp vốn bằng
QSDĐ) còn theo khoản 5 Điều 87 Nghị định số
43/2014/NĐ-CP của Chính phủ, chỉ có trường hợp
đã thực hiện thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng
QSDĐ, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, Nhà
nước mới không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp
trái pháp luật và đã bổ sung thêm một trường hợp
không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không
đúng quy định của pháp luật khi người được cấp
Giấy chứng nhận đã thực hiện chuyển mục đích sử
dụng đất
- Về quy trình thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp
không đúng quy định của pháp luật: Giữa Luật Đất
đai và Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày
06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số
Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai đã
có sự khác nhau Khoản 3 Điều 106 Luật Đất đai
chỉ quy định cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy thuhồi sau khi có kết luận của Thanh tra cùng cấp, vănbản có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩmquyền về giải quyết tranh chấp đất đai trong khikhoản 56 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP, thìquy định cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấytự phát hiện Giấy đã cấp không đúng quy định củapháp luật đất đai thì quyết định thu hồi
- Về niêm yết thông báo việc mất giấy chứngnhận QSDĐ: Khoản 2 Điều 77 Nghị định số43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủquy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấtđai, quy định sau 30 ngày, kể từ ngày niêm yếtthông báo về việc mất giấy chứng nhận QSDĐmới nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận Tuynhiên, tại điểm b khoản 2 Điều 10 Thông tư số24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tàinguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chínhquy định thời gian niêm yết là 15 ngày Điều nàygây khó khăn cho địa phương trong thực hiện cácthủ tục đất đai cho người dân
1.2 Chưa có quy định cụ thể
- Chưa quy định nguyên tắc trong chi trả tiềnbồi thường, hỗ trợ: Quy định tại Điều 93 Luật Đấtđai năm 2013 đảm bảo quyền lợi của người có đấtthu hồi trong nhận tiền bồi thường, hỗ trợ: “Trongthời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đấtcủa cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lựcthi hành, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồithường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ chongười có đất thu hồi” Tuy nhiên, quy định chưaxác định rõ trách nhiệm hoàn tất việc chi trả trongthời gian trên hay có thể chi trả tiền bồi thường, hỗtrợ thành nhiều đợt
- Các trường hợp thu hồi đất tại Điều 62 LuậtĐất đai hầu hết là dự án lớn, trong khi những quỹđất nhỏ lẻ, xen kẹt trong đô thị, các khu vực lợithế thương mại lại không thuộc diện Nhà nước thuhồi đất theo quy định để có thể khai thác được
- Về trình tự thủ tục thu hồi đất: Không quyđịnh phương pháp ghi nhận hiện trạng khu đất bịthu hồi tại thời điểm thông báo thu hồi đất
Theo quy định tại khoản 2 Điều 93 Luật Đấtđai năm 2013, các tài sản gắn liền với đất đượctạo lập sau khi có thông báo thu hồi đất của cơ
Trang 28quan nhà nước có thẩm quyền thì không được bồi
thường Vì vậy, việc ghi nhận hiện trạng khu đất
bị thu hồi tại thời điểm thông báo thu hồi đất có ý
nghĩa rất quan trọng trong việc bồi thường tài sản
gắn liền với đất Trong thực tiễn nhiều vụ việc có
sự tranh chấp không thống nhất được tài sản gắn
liền với đất giữa người đang sử dụng đất bị thu hồi
với Hội đồng bồi thường giải toả, đặc biệt là các
loại cây trồng và những tài sản mà việc tạo lập
không không cần khai báo Nguyên nhân là do
người đang sử dụng đất bị thu hồi cố tình tạo lập
tài sản đón đầu việc bồi thường nhằm mục đích
nâng giá trị đất và tài sản trên đất khi bị Nhà nước
thu hồi đất Mặt khác, đây cũng là một kẽ hở để
những người có chức quyền trong Hội đồng đền
bù giải tỏa nâng khống số lượng cây trồng, vật
nuôi hoặc tạo điều kiện tiếp tay cho người sử dụng
đất bị thu hồi tạo dựng tài sản gắn liền với khu đất
bị thu hồi
- Về sử dụng đất nông nghiệp: Tại khoản 3
Điều 210 Luật Đất đai, Điều 74 Nghị định số
43/2014/NĐ-CP chỉ quy định nội dung, trình tự,
thủ tục gia hạn sử dụng đất; xác nhận tiếp tục sử
dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân khi
hết hạn sử dụng đất Tuy nhiên, hiện nay chưa có
quy định nào cho phép gia hạn sử dụng đất; xác
nhận tiếp tục sử dụng đất nông nghiệp cho cộng
đồng dân cư
- Luật Đất đai chưa có quy định và hướng dẫn
rõ ràng về chuyển nhượng một phần dự án đầu tư
Đến nay, chưa có hướng dẫn trong việc lập, thẩm
định, phê duyệt phương án sử dụng đất với quỹ đất
thu hồi của các nông, lâm trường giao cho địa
phương quản lý cũng như việc áp dụng pháp luật
trong giao đất, cấp giấy chứng nhận QSDĐ, xác
định thời điểm sử dụng đất để tính toán nghĩa vụ
tài chính Các tổ chức kinh tế nhận chuyển
nhượng đất để thực hiện dự án nhưng vì lý do nào
đó không được phép tiếp tục thực hiện dự án thì
QSDĐ được xử lý như thế nào? Khi đất hết thời
hạn sử dụng việc gia hạn chưa có quy định cụ thể
- Pháp luật đất đai chưa có quy định về
condotel, bất động sản nghỉ dưỡng, làm hạn chế
sự phát triển của thị trường này và gây lúng túng
trong quy trình quản lý, như: Quy chuẩn quy
hoạch, việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ và quyềnsở hữu căn hộ khách sạn cho khách hàng muacondotel; thời hạn sở hữu đối với bất động sảnnghỉ dưỡng; mua bán chuyển nhượng hợp đồngbất động sản nghỉ dưỡng trong tương lai,
2 một số quy định còn bất hợp lý
- Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Tại điểm
a khoản 2 Điều 27 Nghị định số 77/2015/NĐ-CPngày 10/9/2015 của Chính phủ về kế hoạch đầu tưcông trung hạn và hàng năm thì việc phê duyệtQuyết định đầu tư đến ngày 31/10 của năm trướcnăm kế hoạch; do đó, việc đăng ký danh mục côngtrình, dự án cho kế hoạch sử dụng đất của năm sau
bị ảnh hưởng
Tại điểm a khoản 4 Điều 9 Nghị định số43/2014/NĐ-CP quy định, trong quý III hàng năm,UBND cấp huyện gửi hồ sơ kế hoạch sử dụng đấthàng năm của năm sau đến Sở Tài nguyên và Môitrường để thẩm định Do đó, nếu áp dụng theoNghị định số 43/2014/NĐ-CP vào thời gian này thìnhiều dự án đầu tư công vẫn chưa được phê duyệt
- Về khung giá đất: Quy định về khung giá đấthiện nay hoàn toàn không có khả năng điều tiếtcác yếu tố về giá trị đất đai Một trong nhữngnguyên tắc định giá đất là phải “phù hợp” với giáđất phổ biến trên thị trường, nhưng trên thực tếthực hiện thì hầu như khung giá đất thấp hơn giáthị trường rất nhiều lần Điều này dẫn đến khókhăn trong công tác giải phóng mặt bằng khi màgiá đền bù chênh lệch quá nhiều so với giá thịtrường, khiến cho người bị thu hồi đất thiệt thòi vàkhông có sự đồng thuận
Vì thế, khi Nhà nước thu hồi đất để triển khaicác dự án luôn bị “vướng” bởi yếu tố này, khiếncho các công trình bị chậm tiến độ, đồng thời tìnhtrạng khiếu kiện về đất đai cũng tăng mạnh, có sự
so bì giữa những người có đất bị thu hồi trên cùngmột vị trí hoặc vùng lân cận
Bên cạnh đó, trong thời gian qua nhiều doanhnghiệp được Nhà nước cho thuê đất, giao đất đãthực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyểncông năng sử dụng của công trình xây dựng gắnliền với đất, nhất là chuyển mục đích sử dụng từ đấtnông nghiệp thành đất phi nông nghiệp, đất ở thựchiện dự án kinh doanh bất động sản Căn nguyên
Trang 29của phong trào này là giá đất do Nhà nước quy định
quá thấp so với giá thị trường, số tiền sử dụng đất
khi chuyển đổi mục đích đất là không nhiều trong
khi số tiền lợi nhuận thu được là cực lớn Điều này
đã và đang trở thành một điều kiện để các chủ đầu
tư “trục lợi” từ đất đai, làm ngân sách nhà nước thất
thu gấp nhiều lần so với số tiền thu được
- Về xác định hành vi vi phạm pháp luật đất
đai: Tại Khoản 3 Điều 22 Nghị định số
43/2014/NĐ-CP chỉ quy định vi phạm pháp luật
đất đai trước ngày 01/7/2014, Nghị định không
quy định cụ thể việc xác định hành vi vi phạm
pháp luật đất đai (lấn, chiếm đất) để không được
cấp Giấy chứng nhận như đã quy định tại Điểm đ
Khoản 4 Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP
ngày 25/5/2007 của Chính phủ trước đây Do đó,
những hành vi tự tạo lập, khai hoang, thấy đất
trống đến dựng làm nhà ở trước ngày 15/10/1993
xảy ra khá nhiều nhưng không quy định thì có xem
là hành vi lấn chiếm đất hoặc tự chuyển mục đích
sử dụng đất mà chưa được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cho phép không
Khi cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp
này áp dụng theo khoản 1 Điều 20 Nghị định số
43/2014/NĐ-CP (không nộp tiền sử dụng đất đối
với diện tích trong hạn mức đất ở) hay khoản 3
Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và phải nộp
tiền theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định
45/2014/NĐ-CP của Chính phủ (nộp 50% tiền sử
dụng đất đối với diện tích trong hạn mức đất ở
theo giá đất quy định tại Bảng giá đất)
- Về việc cho phép chuyển đổi mục đích sử
dụng đất: Theo khoản 1 Điều 58 Luật Đất đai năm
2013, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất phải
có Nghị quyết của HĐND tỉnh, mà Nghị quyết
HĐND tỉnh chỉ cho phép chuyển mục đích sử dụng
đất lúa dưới 10ha/dự án; đất rừng đặc dụng, rừng
phòng hộ dưới 20ha/dự án Vấn đề bất cập ở đây
là HĐND các tỉnh, thành có thể “lách luật” bằng
cách ban hành nhiều nghị quyết cho phép chuyển
đổi mục đích sử dụng đất trong 1 năm, nhiệm kỳ
với nhiều dự án trên một khu đất rộng hàng chục
hoặc hàng trăm ha
- Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
chưa cụ thể, rõ ràng khó thực hiện: Điều 68 Luật
Đất đai năm 2013 quy định tổ chức làm nhiệm vụbồi thường giải phóng mặt bằng gồm Hội đồngbồi thường, hỗ trợ và tái định cư và Tổ chức pháttriển quỹ đất Tuy nhiên Luật và các văn bảnhướng dẫn thi hành không quy định cụ thể thànhviên thành phần của các thành viên trong Hộiđồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư, không quyđịnh nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng và cơchế phối hợp của Hội đồng với các cơ quan, tổchức khác trong quá trình giải phóng mặt bằng.Điểm a khoản 2 Điều 69 Luật Đất đai năm
2013 quy định “Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường,giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập phươngán bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phối hợp vớiUBND cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiếnvề phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theohình thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trongkhu vực có đất thu hồi, đồng thời niêm yết côngkhai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tạitrụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung củakhu dân cư nơi có đất thu hồi.”
Ở đây cần xác định người có đất thu hồi chỉ làmột đối tượng trong số những người dân trong khuvực có đất thu hồi cần phải lấy ý kiến, như vậynhững đối tượng còn lại là ai vẫn chưa được quyđịnh cụ thể
- Việc cưỡng chế thực hiện quyết định kiểmđếm bắt buộc chưa được quy định chặt chẽ thiếucụ thể: Ngoài quy định tại Điều 70 Luật Đất đainăm 2013 về cưỡng chế thực hiện quyết địnhkiểm đếm bắt buộc đối với những người sử dụngđất không hợp tác với Hội đồng bồi thường giảitỏa để tiến hành kiểm đếm, không có một văn bảnnào hướng dẫn thi hành trong khi công tác cưỡngchế thi hành quyết định kiểm đếm bắt buộc cũngkhông kém phần phức tạp so với việc cưỡng chếthu hồi đất
Về trình tự thủ tục thực hiện Quyết định cưỡngchế kiểm đếm bắt buộc quy định tại khoản 4 điều
70 Luật Đất đai năm 2013 cũng chưa cụ thể vàchặt chẽ, chỉ quy định Tổ chức được giao thực hiệncưỡng chế đã vận động, thuyết phục, đối thoại vớingười bị cưỡng chế mà họ không chấp hành thì thihành quyết định cưỡng chế mà không quy địnhthời gian bao lâu sau khi đã vận động, thuyết
Trang 30phục, đối thoại để người bị cưỡng chế tự nguyện
thi hành Quy trình tiến hành tại buổi cưỡng chế
thực hiện quyết định kiểm đếm như thế nào,
phương án cưỡng chế, nhiệm vụ của các thành
viên tham gia cưỡng chế, biên bản cưỡng chế,…
và nhiều vấn đề khác chưa được quy định cụ thể
dẫn đến một thực trạng ở mỗi dự án khác nhau
việc tổ chức thực hiện cưỡng chế kiểm đếm bắt
buộc khác nhau
- Quy định nhà đầu tư tự thỏa thuận nhận
chuyển nhượng, thuê QSDĐ, nhận góp vốn bằng
QSDĐ (Điều 73 Luật Đất đai) thực hiện còn khó
khăn do chưa có cơ chế để xử lý đối với các trường
hợp chưa thỏa thuận được
- Khung giá đất, phương pháp định giá đất quy
định trong Luật Đất đai năm 2013 vẫn mang nặng
tính số học, chưa thể hiện được đầy đủ đặc tính
kinh tế của đất đai, chưa phù hợp với thực tế của
thị trường đất đai (Giá đất bồi thường thường thấp
hơn giá đất cùng loại trên thị trường) Với mỗi
phương pháp định giá khác nhau lại cho ra một
mức giá khác nhau Lỗ hổng này đã bị lợi dụng để
trục lợi làm thất thoát lãng phí tài sản đất đai diễn
ra ở nhiều nơi
- Việc xác định nguồn gốc sử dụng đất khai
hoang hay lấn chiếm để cấp GCNQSDĐ không có
giấy tờ theo quy định tại Điều 100 Luật Đất đai
còn nhiều bất cập
- Luật Đất đai đã hạn chế việc tiếp cận đất đai
với quy mô lớn, như: hạn điền chỉ từ 2ha đến 3ha,
nếu tập trung quá 10 lần sẽ chuyển sang thuê của
Nhà nước; quy định hộ gia đình, cá nhân không
trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận
chuyển nhượng, tặng cho đất trồng lúa Chính sự
giới hạn này đã dẫn đến các chủ thể tập trung
ruộng đất gặp khó khăn trong việc tạo lập, tìm
kiếm nguồn đầu tư kinh doanh cũng như hạn chế
sự tiếp cận đất nông nghiệp của các nhà đầu tư
- Về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về
đất đai: Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh
chấp về đất đai liên quan đến thẩm quyền của
nhiều cơ quan khác nhau: Bộ Tài nguyên và Môi
trường thực hiện chức năng quản lý đất đai, Bộ
Tài chính quản lý chính sách tài chính về đất đai,
Bộ Xây dựng quản lý về nhà ở Tình trạng này đã
gây khó khăn cho công dân và lúng túng trongviệc xác định thẩm quyền tham mưu giải quyết
3 Ảnh hưởng từ những bất cập của pháp luật đất đai
- Gây khó khăn, lúng túng cho các cơ quanquản lý nhà nước về đất đai trong quá trình thựchiện nhiệm vụ, quyền hạn, đồng thời cản trở, gâykhó khăn cho tổ chức, cá nhân trong quá trình thựchiện quyền, nghĩa vụ của họ đối với đất đai Tiềmnăng đất đai không được phát huy đúng mức
- Khiếu kiện kéo dài, đã đang hiện hữu và sẽphát sinh khi Nhà nước thu hồi đất nông dân đượcbồi thường về đất thấp hơn nhiều so với giá trị đấttheo thực tế thị trường Do đó, không có nguồn tàichính để tái tạo: “tư liệu sản xuất không thể thaythế trong nông nghiệp” và với một số nguyênnhân khác dẫn đến khiếu kiện kéo dài
Mặt khác, việc bồi thường về đất thấp hơnnhiều so với giá trị đất theo thực tế thị trường cũnglàm giảm nguồn lực tài chính huy động từ nôngnghiệp cho phát triển nông nghiệp, nông thôn donông dân khó tiếp cận vốn tín dụng khi dùng đất
ở, đất nông nghiệp thế chấp để vay vốn để đầu tưphát triển nông nghiệp Khi các hộ gia đình, cánhân cho doanh nghiệp thuê đất thì tiền thuê đấtthu được là quá thấp hoặc góp vốn liên doanh vớidoanh nghiệp thì giá trị vốn góp cũng thấp hơnnhiều so với giá thị trường của đất, gây thiệt hạicho nông dân Không ít hộ bỏ ruộng hoang còndoanh nghiệp khó thuê được đất nông nghiệp củadân để phát triển kinh doanh bằng công nghệ, kỹthuật cao cho những dự án sản xuất lớn
- Làm phát sinh và phát triển hành vi trục lợitừ đất đai: Giá đất do Nhà nước quy định quá thấp
so với mức giá phổ biến trên thị trường, dẫn tới sẽcó nhiều doanh nghiệp đang sử dụng đất thuê củaNhà nước, chuyển mục đích sử dụng sang đất
ở để thực hiện dự án kinh doanh bất động sản trục lợi
Giá đất Nhà nước quy định quá thấp lại đượcđịnh giá bằng phương pháp hệ số điều chỉnh giáđất chính là cơ hội cho các hành vi trục lợi từ đấtđai Vì những trường hợp này đều được định giátheo phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất để tínhthu tiền sử dụng đất
Trang 31- Làm suy giảm nguồn lực tài chính từ đất đai
cho đầu tư phát triển: Theo quy định của pháp luật
đất đai hiện hành, tất cả các trường hợp chuyển
mục đích sử dụng đất từ loại đất khác sang đất ở
đều không phải đấu giá mà thực hiện định giá đất
để thu tiền sử dụng đất Việc định giá lại được
thực hiện bằng phương pháp hệ số điều chỉnh giá
đất Song bảng giá đất do các địa phương quy định
thấp nhiều hơn so với giá đất phổ biến trên thị
trường (có thể nói là tạo một khoảng cách biệt
lớn) lại là một căn cứ quan trọng để tổ chức tư vấn
thực hiện định giá và hội đồng thẩm định thực
hiện thẩm định, hơn nữa là một căn cứ để cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt giá đất tính
thu tiền sử dụng đất
Thực tế bán đất giá rất rẻ, mua công trình và
mua đất giá cao chót vót, đã và đang là hiện hữu
nghịch cảnh nhưng nó vẫn tồn tại và có nguy cơ
gia tăng
4 Giải pháp hoàn thiện pháp luật đất đai
Trên cơ sở phân tích bất cập của pháp luật đất
đai và hệ lụy của nó, tác giả đưa ra một số giải
pháp hoàn thiện pháp luật đất đai
- Cần rà soát, chỉnh sửa các quy định của pháp
luật đất đai, đặc biệt là Luật Đất đai với các quy
định của pháp luật có liên quan để đảm bảo tính
thống nhất của pháp luật Đồng thời, cũng cần bổ
sung một số quy định liên quan đến việc sử dụng
đất nông nghiệp, chuyển nhượng một phần dự án
đầu tư, biệt thự nghỉ dưỡng,…
- Đối với vấn đề thu hồi đất:
Cần bổ sung vào Điều 62 Luật Đất đai quy
định cụ thể về thu hồi đất theo quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất để tạo quỹ đất, trong đó quy
định về: Các trường hợp thu hồi đất theo quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất để khai thác quỹ đất
(trong đó bao gồm các trường hợp: (i) Thu hồi đất
của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp và doanh
nghiệp nhà nước trong trường hợp rà soát, sắp xếp
đất đai, đặc biệt là tại các vị trí có lợi thế và khả
năng sinh lợi cao; (ii) Thu hồi đất theo phương án
di dời các cơ sở sản xuất - kinh doanh, các trụ sở
cơ quan ra khỏi đô thị,…; cơ chế, chế tài để đảm
bảo khai thác hiệu quả quỹ đất phụ cận các công
trình kết cấu hạ tầng theo quy hoạch Bổ sung một
số trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xãhội vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, đặc biệtlà thu hồi đất để thực hiện dự án có vốn đầu tưnước ngoài
Sửa đổi, bổ sung quy định cơ chế thu hồi đất do
vi phạm, đặc biệt là vi phạm về tiến độ sử dụngđất theo hướng đơn giản và dễ tổ chức thực hiệnhơn trên thực tế, sử dụng biện pháp kinh tế (đánhthuế, phạt tiền nặng) thay cho biện pháp hànhchính thu hồi đất và không bồi thường, hỗ trợ vềđất và tài sản Bổ sung quy định về cơ chế xử lýđối với trường hợp nhà đầu tư không thỏa thuậnđược với chủ sử dụng đất để nhận chuyển nhượng,thuê, nhận góp vốn QSDĐ để thực hiện dự án sảnxuất - kinh doanh
Cần hoàn thiện các bước trong quá trình thuhồi đất trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc công khai,dân chủ, khoa học, chặt chẽ và công bằng; quyđịnh chi tiết về thành phần và chức năng nhiệm vụcủa Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cưnhằm đảm bảo cơ sở pháp lý và tính thống nhấttrong thành lập, hoạt động của Hội đồng
Nên thống nhất quy định về nội dung thôngbáo thu hồi đất giữa khoản 1 Điều 67 Luật Đất đaivà khoản 2 Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP,theo hướng nội dung thông báo thu hồi đất cần bổsung cả nội dung giao nhiệm vụ lập và thực hiệnphương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Bởiviệc thông báo thêm nội dung này đảm bảo sựthống nhất với Luật Đất đai và người dân biết cụthể nhiệm vụ của từng chủ thể, thuận lợi cho việcgiám sát của Nhân dân và trách nhiệm cung cấpthông tin, giải đáp thắc mắc cho người dân trongtừng công việc cụ thể
Nên quy định chi tiết cụ thể về lấy ý kiến vàphản hồi ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợtái định cư Cần xác định rõ người dân trong khu vực có đất thu hồi được lấy ý kiến cụ thể lànhững đối tượng nào hoặc quy định nguyên tắc đểxác định
Khi chi trả tiền bồi thường về đất đai, cần xâydựng nguyên tắc “chi trả một lần và trả đủ số tiềntheo quyết định phê duyệt phương án bồi thường,hỗ trợ, tái định cư”; quy đinh chi tiết về công táccưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt
Trang 32buộc, cụ thể về chủ thể thực hiện, quy trình và
phương án cưỡng chế Về cưỡng chế thực hiện
quyết định thu hồi đất cần bổ sung quy định chi
tiết về phương án cưỡng chế Đồng thời, cũng cần
xác định rõ trách hiện của từng chủ thể và quy
định chi tiết xử lý sai phạm trong quá trình thực
hiện trình tự, thủ tục thu hồi đất
- Về khung giá đất: Có thể bỏ quy định về
khung giá đất, đồng thời giao quyền cho HĐND,
UBND cấp tỉnh ban hành “bảng giá đất” và xác
định giá đất cụ thể đối với từng trường hợp, trên
cơ sở giá đất thị trường Việc xây dựng khung giá
đất theo giá thửa đất chuẩn của vùng giá trị Song
hành cùng với đó là thay đổi phương thức tính tiền
sử dụng đất hiện nay để phù hợp với từng mục
đích sử dụng đất và khả năng tài chính của từng
đối tượng
- Nên quy định chi tiết về các dự án chuyển
nhượng một phần và cho gia hạn QSDĐ cho các
trường hợp chuyển nhượng QSDĐ không phải do
Nhà nước giao đất Quy định chặt chẽ với các
trường hợp xin cấp lại giấy chứng nhận QSDĐ để
tránh tình trạng người dân đã sang nhượng, thế
chấp vẫn kê khai xin cấp lại dẫn đến phát sinh
những vấn đề phức tạp
- Cần nghiên cứu, bổ sung quy định chế độ giao
đất có thu tiền sử dụng đất theo hạn mức để xâydựng cơ sở thờ tự, cho thuê đất đối với trường hợptổ chức tôn giáo sử dụng đất vào mục đích như xâydựng trường học, bệnh viện, cơ sở văn hóa đượcphép hoạt động; bổ sung quy định sử dụng đất cóyếu tố nước ngoài nhằm bảo đảm được an ninhquốc phòng, ổn định chính trị, kinh tế - xã hội, vừakhông tác động xấu đến môi trường đầu tư kinhdoanh có yếu tố nước ngoài
- Để phát triển thị trường nông nghiệp, thúcđẩy quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất nôngnghiệp theo yêu cầu phát triển nền nông nghiệpcông nghệ cao, hữu cơ và bền vững, Luật Đất đaicần có cơ chế linh hoạt để mở rộng hạn điền, mởrộng đối tượng được tiếp cận đất nông nghiệp; xâydựng những chính sách phù hợp với thị trườngchuyển nhượng, cho thuê ruộng đất, tạo hành langpháp lý về đất đai cho các đối tượng mua bánthuận lợi, thủ tục đơn giản Đồng thời, có chínhsách thuế, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp giaokhông thu tiền sử dụng đất cho hộ gia đình, cánhân và đất đã giao, cho thuê đối với doanhnghiệp nhưng lại bỏ hoang
- Nên tách 2 chức năng quyết định các vấn đềvề đất đai và thực thi quản lý đất đai cho một chủthể là UBND cấp huyện và UBND cấp tỉnh n
tÀI lIeÄu tHAm KHẢo:
1 Quốc hội (2015) Bộ luật Dân sự năm 2015.
2 Quốc hội (2013) Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành.
3 Thanh Hiền (2016) Nhiều bất cập trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Truy cập tại:
chung-nhan-quyen-su-dung-dat&dnn_ctr905_Main_rg_danhsachkhacChangePage=8.
http://dbnd.quangnam.gov.vn/Default.aspx?tabid=286&Group=9&NID=3796&nhieu-bat-cap-trong-cap-giay-4 Đặng Văn Cường (2021) Luật Đất đai hiện hành có những bất cập nào? Truy cập tại: https://baophapluat.vn/
bds/luat-dat-dai-hien-hanh-co-nhung-bat-cap-nao-post396595.html.
5 Nguyễn Phương Thảo (2018) Một số bất cập trong quy định về thu hồi đất trong Luật Đất đai 2013 Truy cập tại:
2013-304096/.
https://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/201806/mot-so-bat-cap-trong-quy-dinh-ve-thu-hoi-dat-trong-luat-dat-dai-6 Đoàn Phú (2021) Cần sớm điều chỉnh bất cập trong Luật Đất đai Truy cập tại: http://www.baodongnai.com.vn/
bandoc/202104/can-som-dieu-chinh-bat-cap-trong-luat-dat-dai-3054213/.
Trang 33ImPRoVInG tHe lAw on lAnD’s sHoRtComInGs
In oRDeR to meet ReQuIRements
of A DeVeloPment stAte
National Academy of Public Administration
ABstRACt:
Land law prescribes the regime of land ownership, powers and responsibilities of the State inrepresenting the entire-people owner of land and uniformly managing land, the regime of landmanagement and use, the rights and obligations of land users involving land in the territory of theSocialist Republic of Vietnam However, in the current context of building a development state,the current Law on Land has many shortcomings that need to be improved
Keywords: land law, inadequacy, improve.
ngày nhận bài: 18/9/2021
ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 3/10/2021
ngày chấp nhận đăng bài: 21/10/2021
Thông tin tác giả:
ths nGuYeÃn tRọnG nHÃ
Học viện Hành chính Quốc gia
Trang 34toÙm tAét:
Trong môi trường kỹ thuật số, người dùng internet có thể dễ dàng tiếp cận tác phẩm, sao chéptác phẩm và tạo ra nhiều bản sao để phân phối cho người khác gây ảnh hưởng nghiêm trọng đếnquyền lợi của các chủ thể quyền tác giả Để bảo vệ tác phẩm của mình, các chủ thể quyền tác giảđã sử dùng “biện pháp công nghệ bảo vệ - technological protection measures” (TPM) Phần đầubài nghiên cứu này làm sáng tỏ bản chất và nhu cầu bảo hộ pháp lý đối với biện pháp công nghệbảo vệ quyền tác giả Tiếp theo đó là nội dung nghiên cứu tìm hiểu những quy định cơ bản vềTPM tại Hiệp ước về quyền tác giả của WIPO và liên hệ với các quy định của Việt Nam
từ khóa: quyền tác giả, môi trường kỹ thuật số, biện pháp công nghệ bảo vệ quyền, Luật Sở
hữu trí tuệ, Hiệp ước WCT
BIeÄn PHÁP CoÂnG nGHeÄ BẢo VeÄ QuYeÀn tÁC GIẢ tHeo QuY ĐỊnH CuÛA HIeÄP ƯơÙC wCt
VÀ PHÁP luẬt VIeÄt nAm
lCao Thị Lê Thương
1 tPm là gì?
Dưới góc độ khoa học công nghệ, các biện
pháp công nghệ bảo vệ quyền tác giả là phần
mềm, linh kiện và các thiết bị khác mà chủ sở hữu
bản quyền sử dụng để bảo vệ tác phẩm, TPM có 2
loại chính là công nghệ kiểm soát quyền truy cập
tác phẩm và công nghệ kiểm soát việc sử dụng tác
phẩm (ii)1
(i) Kiểm soát quyền truy cập là kiểm soát cách
thức mà người dùng có thể xem, đọc, nghe hoặc
tiếp cận khác về nội dung tác phẩm2 Một số ví dụ
về TPM kiểm soát quyền truy cập tác phẩm, như:
mật khẩu, bức tường phí, giới hạn thời gian (ví dụ:thuê phim 48 giờ), giới hạn về số lượng ngườidùng đồng thời (ví dụ: sách điện tử trong thưviện), tính không tương thích có chọn lọc (ví dụ:đĩa CD sẽ đọc trong đầu đĩa CD, nhưng không đọctrong ổ đĩa CD máy tính),…
(ii) Kiểm soát quyền sử dụng cho phép tác giả,chủ sở hữu quyền tác giả giới hạn hành vi củangười dùng internet ngay cả khi họ đã truy cậpđược vào tác phẩm Tác giả, chủ sở hữu quyền tácgiả có thể giới hạn một tác phẩm có thể được xem,sao chép, truyền đạt, phát hoặc các hình thức sử
Trang 35dụng khác ở mức độ nhất định3 Một số ví dụ về
TPM kiểm soát quyền sao chép tác phẩm, như: tác
phẩm chỉ đọc (sách điện tử), chặn tải xuống (nội
dung phát trực tuyến), chặn sao chép (nhạc kỹ
thuật số và phim), chặn in, ghi nhãn và hình mờ
lên tác phẩm,…
Hiện nay, nhiều TPM không chỉ dừng lại ở
phân loại nói trên mà có những TPM có cả chức
năng kiểm soát quyền truy cập và kiểm soát
quyền sao chép4
2 nhu cầu bảo hộ pháp lý đối với tPm?
Hiểu rằng những gì một công nghệ có thể làm,
một công nghệ khác có thể phá vỡ nó5nên TPM
cũng dễ dàng có thể bị phá vỡ khi người dùng
internet dùng một hay nhiều các thiết bị, cách
thức khác nhau làm vô hiệu hóa nó Internet là sự
kết nối với nhau trên toàn thế giới nên TPM có
thể bị phá vỡ bất cứ lúc nào, điều này sẽ dẫn đến
việc sử dụng, lưu hành trái phép các tác phẩm
được bảo hộ
Mặt khác, nếu chỉ những người sẵn sàng trả cái
“giá” mà chủ sở hữu quyền tác giả đặt ra mới có
cơ hội tiếp cận tác phẩm sẽ ảnh hưởng đến lợi ích
công cộng Đối với công chúng, ngoài các quyền
cơ bản, như: quyền được sống, quyền được mưu
cầu hạnh phúc, tự do ngôn luận,… họ còn có một
quyền hết sức quan trọng và chính đáng là quyền
được tiếp cận, kế thừa tri thức của nhân loại
Trong trường hợp này lợi ích của tác giả và công
chúng là mâu thuẫn nhau6 Chủ thể quyền tác giả
có thể sử dụng TPM để hạn chế tất cả người dùng,
trong đó có những trường hợp ngoại lệ
Có thể thấy, sử dụng TPM để bảo vệ tác phẩm
trong môi trường số là một nhu cầu tất yếu, song
chính các biện pháp này lại có nguy cơ bị vi phạm
Nhu cầu trước mắt là phải công nhận quyền bảo
vệ tác phẩm bằng TPM của chủ thể quyền tác giả
Sau đó, quy định việc bảo hộ pháp lý đầy đủ đối
với các TPM, như: khái niệm TPM, các trường
hợp TPM được bảo hộ hợp pháp; các hành vi
vi phạm với TPM, ngoại lệ trong việc vô hiệu
“Các Bên ký kết phải quy định sự bảo hộ pháp lý tương xứng và các biện pháp thực thi pháp lý hiệu quả đối với việc vô hiệu hóa các biện pháp công nghệ được tác giả sử dụng trong việc thực thi các quyền của mình theo Hiệp ước này hoặc Công ước Berne và ngăn chặn các hành vi mà không được tác giả cho phép hoặc không được phép theo luật đối với tác phẩm”
Theo Điều 11 WCT có thể thấy một số điểmsau về các TPM:
Thứ nhất, khái niệm
Hiệp ước WCT không đưa ra định nghĩa cụ thểmà cho phép các quốc gia thành viên có quyền tựquy định, miễn là luật quốc gia sẽ cung cấp sự bảohộ thích hợp và đầy đủ đối với các TPM Việckhông định nghĩa TPM như vậy phù hợp với đặcthù trong môi trường internet, vì công nghệ luônthay đổi nên không mô tả rõ ràng đối với thuậtngữ “biện pháp công nghệ” để đảm bảo khả năngthích ứng của Hiệp ước với những thay đổi củacông nghệ trong tương lai
Thứ hai, điều kiện các TPM sẽ được pháp luật bảo vệ Điều 11 WCT đã quy định định 3 yếu tố cần và đủ để 1 TPM được pháp luật bảo hộ như sau:
Yếu tố đầu tiên được phân tích trong Điều 11này đó chính là TPM phải hiệu quả nhưng ý nghĩacủa từ “hiệu quả” không được rõ ràng Có nghiêncứu cho rằng, từ "hiệu quả" đã được chèn để đảmbảo rằng nếu các TPM có thể quá dễ dàng bị phá
Trang 36vỡ thì không được pháp luật bảo vệ7 Một nghiên
cứu khác lại lý giải rằng, một TPM bị phá vỡ vào
thời điểm không hoạt động hoặc hoạt động không
đúng cách (như bị lỗi phần mềm) thì không nhận
được sự bảo hộ của pháp luật8 Có thể nhận thấy
các nghiên cứu trên không chỉ ra chính xác cách
hiểu từ “hiệu quả”, nhưng nhìn chung không phải
bất cứ TPM nào cũng được pháp luật bảo vệ
Yếu tố tiếp theo, TPM được pháp luật bảo vệ
nếu nó được các tác giả sử dụng liên quan đến
thực hiện các quyền của họ theo Hiệp ước WCT
hoặc Công ước Berne Điều này có nghĩa là sự
bảo vệ pháp lý đối với các TPM chỉ có thể được
cấp cho các biện pháp công nghệ được chủ thể
quyền tác giả sử dụng trong khi thực hiện các
quyền của mình đối với các tác phẩm, hơn nữa các
quyền này phải là các quyền được quy định trong
Hiệp ươc WCT hoặc Công ước Berne Quy định
như vậy để loại trừ việc bảo vệ pháp lý đối với
các TPM không được sử dụng bởi tác giả, các chủ
thể có quyền khác hoặc TPMs áp dụng trên các
tác phẩm không được bảo hộ theo quy định Ví dụ:
tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ thì các TPM
hiệu quả được chủ thể có quyền khác sử dụng sẽ
không được bảo hộ pháp lý theo Điều 11, Hiệp
ước WCT
Cuối cùng, các TMP được áp dụng nhằm
“ngăn chặn các hành vi mà không được tác giả
cho phép hoặc không được phép theo luật đối với
tác phẩm” Có thể hiểu đơn giản là chỉ có những
hành vi phá vỡ các TPM không được tác giả cho
phép hoặc nhằm mục đích xâm phạm quyền tác
giả theo luật quốc gia mới bị coi là vi phạm Các
hành vi xâm phạm quyền tác giả này được quy
định trong luật đối với tác phẩm của mỗi quốc gia
là khác nhau, ví dụ ở Việt Nam là Luật Sở hữu trí
tuệ, ở Hoa kỳ là Luật Quyền tác giả năm 1976 và
Luật Quyền tác giả trong kỷ nguyên kỹ thuật số
năm 1998 Mục đích của yêu cầu thứ ba này là
đảm bảo rằng có sự tương đồng giữa phạm vi bảo
vệ quyền tác giả của các biện pháp công TPM và
Luật về quyền tác giả của các nước thành viên Vì
vậy, ngay cả khi TPM có đủ các điều kiện (1) và(2), nó cũng sẽ không được bảo vệ nếu các nướcthành viên không quy định về các hành vi khôngđược phép này
Thứ ba, các vấn đề không được giải quyết trong Điều 11 WCT
Hiệp ước WCT không yêu cầu cụ thể việc tíchhợp quy định về TPM trong luật về bản quyền màchỉ yêu cầu có “bảo hộ pháp lý tương xứng” Dođó, các quốc gia thành viên được tự do bảo vệTPM trong trong bất kỳ loại pháp luật nào nhưLuật Sở hữu trí tuệ, Luật An ninh mạng, LuậtCạnh tranh không lành mạnh,… Một số quốc giađã quy định ở các luật khác nhau như Nhật Bản đãphân chia phạm vi của các biện pháp công nghệgiữa Luật Bản quyền9và Luật Cạnh tranh khônglành mạnh10
Điều 11 Hiệp ước WCT không quy định hành
vi nào bị cấm đối với TPM và chủ thể nào phảichịu trách nhiệm trước hành vi đó Các hành vi bịcấm có thể là các hành vi gian lận nhằm vô hiệuhóa các TPM hoặc các hành vi giúp sức cho mụcđich phá vỡ TPM Tương ứng với các hình vi đó có
3 cách tiếp cận sau về chủ thể chịu trách nhiệm:người có hành vi gian lận phải chịu trách nhiệm,các doanh nghiệp kinh doanh các phương tiện phávỡ TPM phải chịu trách nhiệm và cả người thựchiện cùng doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm11
4 Quy định về tPm ở Việt nam
Pháp luật Việt Nam hiện hành đã ghi nhận chochủ thể có quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) bao gồmquyền tác giả áp dụng các biện pháp công nghệtại Điểm a, Khoản 1, Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ
2005, sửa đổi bổ sung 2009: “áp dụng biện phápcông nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạmquyền sở hữu trí tuệ” Ngay tại quy định này mụcđích của việc sử dụng TPM đã được quy định lànhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữutrí tuệ, trong đó có quyền tác giả Pháp luật ViệtNam đã đi theo hướng quy định các TPM là đểbảo vệ quyền SHTT, điều này khác với cách tiếpcận của WCT và của một số quốc gia khác quy
Trang 37định các TPM dùng để bảo vệ tác phẩm có bản
quyền Điều này là do Việt Nam không tách dời
quy định quyền tác giả thành một Luật riêng mà
quy định chung trong Luật SHTT và đây là điều
luật chung về quyền tự bảo vệ của chủ thể có
quyền SHTT, nên quy định như vậy là hợp lý
- Về khái niệm
Luật SHTT hiện hành không đưa ra khái niệm
TPM, cũng không quy định các điều kiện khác để
nó được bảo hộ mà quy định về biện pháp công
nghệ bảo vệ quyền được hướng dẫn trong một số
một số văn bản dưới luật Tại các văn bản này,
TPM đã được giải thích rõ hơn nhưng lại chỉ quy
định mang tính liệt kê các chức năng của biện
pháp công nghệ (Xem Khoản 2, Điều 21, Nghị
định số 105/2006/NĐ-CP) hoặc xem xét dưới góc
độ đưa ra các thông tin quản lý quyền (xem Khoản
1, Điều 43, Nghị định số 100/2006/NĐ-CP) Việc
quy định như vậy chưa bao quát hết được bản chất
của TPM và không phù hợp với khả năng phát
triển khoa học của công nghệ
Hiện nay, trong quá trình xây dựng Luật Sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ,
khái niệm về TPM đã được quy định tại Điều 4
Giải thích từ ngữ như sau: "Biện pháp công nghệ
bảo vệ quyền là biện pháp sử dụng bất kỳ kỹ
thuật, công nghệ, thiết bị hoặc linh kiện nào trong
quá trình hoạt động bình thường có chức năng
chính nhằm bảo vệ quyền tác giả… khỏi các hành
vi được thực hiện mà không được cho phép của
chủ sở hữu quyền tác giả Biện pháp công nghệ
được coi là "hữu hiệu" khi các chủ thể quyền kiểm
soát việc sử dụng tác phẩm… được mã hóa thông
qua các ứng dụng kiểm soát truy cập, quy trình
bảo vệ hoặc kiểm soát sao chép”
Các nhà làm luật đang quy định TPM theo
hướng kỹ thuật và mục đích sử dụng, quy định như
vậy khá phù hợp với tinh thần của Hiệp ước WCT
và tính thích nghi khi các công nghệ về biện pháp
bảo vệ này thay đổi Tuy nhiên, mục đích của
TPM theo dự thảo này là nhằm bảo vệ quyền tác
giả khỏi các hành vi được thực hiện mà không
được cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả, chứkhông phải hành vi mà pháp luật cấm Vì vậy, cáchành vi mà tác giả đưa ra có thể bao gồm cảnhững hành vi pháp luật cấm và không cấm trongtrường hợp ngoại lệ Theo tác giả, cần phải quyđịnh thống nhất về mục đích sử dụng các TPMtheo hướng “bảo vệ khỏi các hành vi không đượcchủ sở hữu quyền tác giả hoặc pháp luật SHTTcho phép”
Ngoài ra, thông qua quy định này các nhà làmluật cũng quy định một số điều kiện để một TPMđược bảo vệ Đầu tiên, người sử dụng TPM là các
“chủ thể quyền”, có thể là tác giả hoặc chủ sở hữuquyền tác giả Tuy nhiên, liên quan đến vấn đềquy định Biện pháp công nghệ được coi là "hữuhiệu" gần giống như quy định về các biện phápcông nghệ hiệu quả của Điều 11 WCT sẽ có thểgây nhiều tranh cãi trong quá trình áp dụng Hơnnữa, điều này cũng không quy định các “TPM hữuhiệu” thì sẽ được bảo vệ như thế nào mà chỉ quyđịnh theo hướng TPM hữu hiệu là như thế nào Tạidự thảo Lần 2 phục vụ phiên họp của Ủy banthường vụ Quốc hội lần thứ 3, Quốc hội khóa XV,tháng 09/2021 thì không quy định về việc “hữuhiệu” như trên và chia thành biện pháp kiểm soáttiếp cận hoặc sao chép tác phẩm12 Theo đó, tácgiả nghiêng về dự thảo lần 2 nhiều hơn, vì quyđịnh như vậy khá rõ ràng
- Về các hành vi xâm phạm đối với TPM
Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành đã cóquy định về các hành vi bị cấm đối với TPM tạiĐiều 28 về các hành vi xâm phạm quyền tác giả,qua đó có thể phân loại các hành vi này thành 2nhóm, đó là: (i) Hành vi cố ý hủy bỏ hoặc làm vôhiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyềntác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối vớitác phẩm của mình và (ii) Hành vi giúp sức chongười trực tiếp vô hiệu hóa TPM (gồm: hành visản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu,xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặccó cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biệnpháp kỹ thuật)
Trang 38tÀI lIeÄu tRÍCH DẪn:
1Ủy ban thường trực về các vấn đề pháp lý và hiến pháp, Hạ viện Úc (2006), “Review of technological protectionmeasures exceptions”, Tháng 2/2006, Chương 2, trang 8
2June M Besek (2003-2004), “Anti-Circumvention Laws and Copyright: A Report from the Kernochan Center for
Law, Media and the Art”, Columbia Journal of Law & the Arts, 27, tr.385- 415 , xem tại Mục 1 Access controls,
trang 450
Nhận thấy, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện
hành đã không nhất quán trong cách thức sử dụng
thuật ngữ Trong khi Điều 198 sử dụng thuật ngữ
“biện pháp công nghệ” để ghi nhận về quyền tự
bảo vệ của chủ sở hữu quyền tác giả, thì tại Điều 28
lại sử dụng thuật ngữ “biện pháp kỹ thuật” Khi ban
hành Luật ở hữu trí tuệ sửa đổi tới đây cần quy định
thống nhất thành “biện pháp công nghệ”
Khi quy định về các hành vi (1) như trên có thể
hiểu chỉ cần phá vỡ biện pháp công nghệ do chủ
sở hữu quyền tác giả sử dụng đã là vi phạm pháp
luật mà không xem xét đến các trường hợp ngoại
lệ đối với việc vô hiệu các TPM Đây là thiếu sót
rất quan trọng vì chưa điều hòa được lợi ích giữa
các chủ thể có quyền tác giả và lợi ích công cộng
Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi bổ sung lần này nên
sửa đổi theo hướng: “Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô
hiệu mà không được phép đối với các biện pháp
công nghệ bảo vệ quyền do các chủ thể quyền tác
giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác
phẩm được bảo hộ theo quy định của Luật này, trừ
trường hợp hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện
pháp công nghệ bảo vệ quyền đó để thực hiện các
ngoại lệ theo quy định của Luật này ”
Về hành vi (ii), bên cạnh việc liệt kê các hành
vi được cho là giúp sức cho người trực tiếp vô hiệu
hóa TPM thì pháp luật hiện hành còn đặt ra vấn
đề về nhận thức chủ quan của chủ thể thực hiện
hành vi đó Nói cách khác, quy định này không
hoàn toàn hướng đến chức năng chính yếu của
bản thân thiết bị, dịch vụ mà còn hướng đến ý chí
chủ quan của người cung cấp thiết bị, dịch vụ
Trong khi đó, ý chí của người cung cấp thiết bị,
dịch vụ được xác định thông qua yêu cầu về việc
“biết hoặc có cơ sở để biết” là mơ hồ và không rõràng13 Mặt khác, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Namchỉ cấm các hành vi sản xuất, buôn bán nói chungđối với các thiết bị được sử dụng cho mục đích vôhiệu hóa biện pháp công nghệ, mà không cấm cáchành vi trung gian nhằm thúc đẩy tiêu thụ thiết bịđó, như: tàng trữ nhằm mục đích thương mại, xúctiến hương mại (tiếp thị, quảng cáo, hội chợ,…) đốivới các thiết bị đó
Ngoài ra, việc định nghĩa lại TPM cũng làmthay đổi nội dung của quy định này khi thiết bịkhông còn là đối tượng duy nhất bị cấm mà còn cócác sản phẩm linh kiện hoặc dịch vụ Vì vậy, khithiết kế lại quy định này cần bổ sung các côngnghệ khác có thể vô hiệu hóa TPM
5 Kết luận
Pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam đã có một sốquy định cơ bản về TPM, nhưng vẫn còn một sốbất cập, hạn chế nhất định Việt Nam đang hoànthiện những bất cập đó bằng việc ban hành một sốquy định nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều củaLuật Sở hữu trí tuệ Qua nghiên cứu một số bản dựthảo, tác giả thấy rằng, các nhà làm Luật đã đưa
ra được khái niệm cơ bản về TPM, mục đích sửdụng và phân loại, đáp ứng được một số điều kiện
cơ bản để một TPM được bảo vệ theo tinh thầncủa Điều 11 Hiệp ước WCT Mặt khác, nhữngđiều mà WCT không đề cập đến nhưng là cầnthiết như những hành vi bị cấm và các trường hợpngoại lệ cũng đã được đề cập trong các điều luậtkhác nhau, tuy nhiên vẫn cần có những sửa đổicác quy định này hoàn thiện hơn khi ban hành n
Trang 393Xem chú thích 2 tại Mục 2 Use controls, trang 450.
4De Werra, Jacques (2002), The legal system of technological protection measures under the WIPO treaties, theDMCA, the European Union Directives and other National Laws (Japan, Australia), Đại hội ALAI từ ngày 13-17tháng 6 năm 2001, New York, Hoa Kỳ, tr 179-279
5Pamela Samuelson (1996-1997), The U.S Digital Agenda at WIPO, Virginia Journal of International Law, số
37:369, trang 410
6Lê Thị Nam Giang (2009), Nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ sở hữu trí tuệ và lợi ích của xã hội trong bắt buộc
chuyển giao quyền sử dụng sáng chế, Tạp chí Khoa học Pháp lý, Số 6, tr.42-50.
7Xem chú thích 4
8Jane C Ginsburg (2005), Legal Protection of Technological Measures Protecting Works of Authorship:International Obligations and the Us Experience, The Columbia Journal of Law & the Arts, Số 29, Trang 5-93
9Điều 120bis Luật số 48 của Nhật Bản, ban hành ngày 6/5/1970, đã được sửa đổi đến ngày 12/6/1988 Xem tại
<https://wipolex-res.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/jp/jp046en.html> truy cập ngày 20/5/2021
10Điều khoản 2 (x) - (xi) Luật số 47 của Nhật Bản ngày 19/5/1993, sửa đổi lần cuối vào ngày 23/4/ 1999) - Xem tại
<https://wipolex.wipo.int/fr/text/128371>
11Xem chú thích 4
12Xem tại <https://duthaoonline.quochoi.vn/Pages/dsduthao/chitietduthao.aspx?id=7371>
13Võ Trung Hậu (2021), “Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường Internet”, Luận án tiến sỹ luật học,Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM, trang 135
tÀI lIeÄu tHAm KHẢo:
1 De Werra, Jacques (2002) The legal system of technological protection measures under the WIPO treaties, the
DMCA, the European Union Directives and other National Laws (Japan, Australia), Đại hội ALAI từ ngày 13-17
tháng 6/2001, New York, Hoa Kỳ, tr 179-279.
2 Jane C Ginsburg (2005) Legal Protection of Technological Measures Protecting Works of Authorship:
International Obligations and the Us Experience The Columbia Journal of Law & the Arts, Số 29, Trang 05-93
3 June M Besek (2003-2004) Anti-Circumvention Laws and Copyright: A Report from the Kernochan Center for
Law, Media and the Art Columbia Journal of Law & the Arts, 27, tr.385- 415.
4 Lê Thị Nam Giang (2009), Nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ sở hữu trí tuệ và lợi ích của xã hội trong bắt buộc
chuyển giao quyền sử dụng sáng chế, Tạp chí Khoa học Pháp lý, Số 6, tr.42-50
5 Luật số 47 về bản quyền, Luật số 48 về cạnh tranh không lành mạnh của Nhật Bản
6 Pamela Samuelson (1996-1997) The U.S Digital Agenda at WIPO Virginia Journal of International Law,
số 37:369
7 Ủy ban thường trực về các vấn đề pháp lý và hiến pháp, Hạ viện Úc (2006) Review of technological protection
measures exceptions, Tháng 2/2006, Chương 2.
8 Võ Trung Hậu (2021), “Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường Internet”, Luận án tiến sỹ luật học,
Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh
9 Quốc hội (2021), Dự thảo luật Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ
Trang 40teCHnoloGICAl PRoteCtIon meAsuRes
In tHe woRlD IntelleCtuAl PRoPeRtY oRGAnIzAtIon CoPYRIGHt tReAtY AnD In ReGulAtIons of VIetnAm
lMaster Cao Thi Le Thuong
Institute of State and LawVietnam Academy of Social Sciences
ABstRACt:
In the digital environment, internet users can easily access, copy and create copies of worksmade by others to distribute to other users These activities seriously affect the rights ofcopyright holders To protect their works, copyright holders have used technological protectionmeasures This study presents the nature and the needs for legal protection for technologicalmeasures to protect copyright The study also analyzes the fundamental provisions oftechnological protection measures in the World Intellectual Property Organization CopyrightTreaty and compares these provisions to current regulations of Vietnam
Keywords: copyright, digital environment, technological measures to protect rights, the
Law on Intellectual Property, the World Intellectual Property Organization Copyright Treaty
ngày nhận bài: 15/8/2021
ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 15/9/2021
ngày chấp nhận đăng bài: 25/9/2021
Thông tin tác giả:
ths CAo tHỊ le tHƯơnG
Viện nhà nước và Pháp luật
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt nam