1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tạp chí Công Thương - Số 24 tháng 10 - Bản công bố

400 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 400
Dung lượng 17,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tự do báo chí trong Luật Nhân quyền quốc tế và những thách thức trong đại dịch Covid-19The freedom of the press in the international human rights law and challenges to this right during

Trang 2

Ban Trị sự - ĐT: 024.22218238 Fax: 024.22218237

Ban Thư ký - Xuất bản ĐT: 024.22218230Ban Truyền thông - ĐT: 024.22218239 Ban Chuyên đề - ĐT: 024.22218229Ban Phóng viên - ĐT: 024.22218232Trung tâm Thông tin Đa phương tiệnĐT: 024.2221 8231

Email: tapchicongthuong.moit@gmail.com

VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN PHÍA NAM

Số 12 Nguyễn Thị Minh Khai, P Đa Kao,

Q 1, TP Hồ Chí MinhĐT: (028) 38213488 Fax: (028) 38213478

Giấy phép hoạt động báo chí số:

60/GP-BTTTT Cấp ngày 05/3/2013 Trình bày: Tại Tòa soạn

In tại Công ty CP Đầu tư và Hợp tác quốc tế

GS.TSKH Nguyễn Xuân Quỳnh

GS.TS Đinh Văn Sơn

Trang 3

Tự do báo chí trong Luật Nhân quyền quốc tế và những thách thức trong đại dịch Covid-19

The freedom of the press in the international human rights law and challenges to this right during

the on-going COVID-19 pandemic .8

Lê Thị Dung

Những yếu tố tác động đến quy định và thực hiện điều kiện hoạt động kinh doanh bất động sản

của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Factors affecting regulations and implementation of real estate business conditions for foreign investors in Vietnam .14

Lê Thanh Thủy

Thực trạng quy định pháp luật về nguyên tắc công khai trong hoạt động thanh tra

Current provisions of publicity principles of inspection in Vietnam 20

nguyễn Trọng nhã

Hoàn thiện pháp luật đất đai đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước kiến tạo, phát triển

Improving the Law on Land’s shortcomings in order to meet requirements of a development state 26

Cao Thị Lê Thương

Biện pháp công nghệ bảo vệ quyền tác giả theo quy định của Hiệp ước WCT và pháp luật Việt Nam

Technological protection measures in the World Intellectual Property Organization Copyright Treaty

and in regulations of Vietnam 34

nguyễn Thị hưng

Cơ chế phân định thẩm quyền giữa các cấp chính quyền địa phương ở Indonesia và một vài gợi mở cho Việt Nam

The decentralization mechanism of local government in Indonesia and some recommendations for Vietnam .41

nguyễn Thị oanh

Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và vai trò tích cực của luật tục các dân tộc thiểu số

trong hoạt động của Ủy ban nhân dân tại các tỉnh Tây Nguyên

Innovating and improving the legal education and the important role of customary laws of ethnic minorities

in the operations of the provincial People's Committees in the Central Highlands 46

Vũ gia Kiên

Những nội dung mới của pháp luật về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực an toàn lao động

thông qua bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

New legal contents on social responsibilities of enterprises towards occupational accident insurance

and occupational disease 52

nguyễn Thị Bảo anh

Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về “tai biến” trong khám bệnh, chữa bệnh

Trang 4

and income of party members 70

LÊ THị DuNG - DOãN HỒNG NHuNG

Một số vấn đề pháp lý về điều kiện hoạt động kinh doanh bất động sản của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Some legal issues relating to real estate business conditions for foreigners in Vietnam .76

LÊ MINH TâM - NGuyễN THị THươNG HuyềN

Một số yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật thuế giá trị gia tăng đối với chủ thể kinh doanh trong lĩnh vực

thương mại điện tử có thanh toán quốc tế

Some factors affecting the compliance of businesses with regulations on value-added tax

when they conduct international transactions in the field of e-commerce 82

LÊ THANH TùNG

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của doanh nghiệp do hàng hóa có khuyết tật

The liability of businesses to compensate for damage caused by their defective goods 88

kinh tế

LẠI THị TuyếT LAN

Thực trạng và giải pháp phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam

Solutions to develop Vietnam’s supporting industry .92

LÊ PHươNG HOA

Giải pháp phục hồi nền kinh tế Việt Nam năm 2021 do ảnh hưởng từ đại dịch Covid -19

Some solutions to recover Vietnam’s economy in 2021 in the context of the on-going COVID-19 pandemic 96

NGuyễN THị LAN ANH

Phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Green economic development - Current situation and solutions 100

NGuyễN VĂN SONG - TrầN ANH TuyÊN

Phát triển tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình

The development of handicraft industry in Kim Son District, Ninh Binh Province .106

NGuyễN HOàNG THANH TrÚC - HuỳNH MINH ĐOàN

Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế nông nghiệp thành phố Cần Thơ

Factors affecting Can Tho City’s economic agricultural growth 112

LÊ VĂN SơN

Ứng dụng kinh tế số đối với phụ nữ khởi nghiệp tại Việt Nam

Digital economic applicaions for women entrepreneurs in Vietnam .117

LÊ THị CôNG NGâN

Thực trạng xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước trong sản xuất lâm nghiệp hiện nay

The current valuation of forestry state-owned enterprises 124

TrươNG NAM TruNG

Những gợi mở về kinh tế chính trị trong phát triển kinh tế số ở Việt Nam hiện nay

Some economic political suggestions about the digital economic development in Vietnam 129

TrầN THị GIANG - NGuyễN ANH CHâu

Giải pháp để ngành Dệt may châu Á vượt qua đại dịch Covid-19 và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Solutions for the Asian textile and garment industry to overcome challenges brought by the COVID-19 pandemic

and lessons learnt for Vietnam 136

PHẠM THị THu Hà

Giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với đại dịch

Solutions to help enterprises better respond to the COVID-19 pandemic 142

BùI THị HỒNG NGọC - ĐOàN THị THu HươNG

Trang 5

và vai trò của chính sách giá khuyến khích “Feed-in Tariff”

Estimating the economic potential of of offshore wind power in Vietnam’s Power Development Plan VIII

and the role of Feed-in-Tariff rate policy .154

ĐINH PHI HỔ - QuáCH THị MINH TrANG - NGuyễN QuốC NGHI

- NGuyễN VĂN HÒA - HuỳNH ĐìNH PHáT

Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia hợp tác xã của nông dân trồng lúa:

Trường hợp nghiên cứu ở đồng bằng sông Cửu Long

Factors affecting the decision of rice farming households to join cooperatives:

A case study in the Mekong Delta 163

NGuyễN THị TuyếT NHuNG

Một vài quan điểm về chính sách quản lý nền kinh tế trong hội nhập

Some viewpoints on manage policies for the integrated economy 178

TrươNG HuỳNH ANH - ĐặNG THùy LINH - NGuyễN TruNG TIếN - NGô THị THOẠI AN

Giải pháp giảm ảnh hưởng tiêu cực của xâm nhập mặn đến nông hộ trồng sầu riêng

tại huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long

Solutions to minimize negative effects of saltwater intrusion on durian growing households

in Vung Liem District, Vinh Long Province 184

KHAMSONe SOMLeT

Hoạt động xóa đói giảm nghèo của một số nước châu Á và bài học kinh nghiệm cho nước CHDCND Lào

Poverty reduction of some Asian countries and lessons learnt for Lao PDR 190

NGuyễN THị NGọC TrâM - NGuyễN THị HươNG - TrầN NGuyễN MINH áI - BùI THị Huế

Các yếu tố cấu thành giá trị thương hiệu ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ thẩm mỹ

của khách hàng Gen Z tại Thành phố Hồ Chí Minh

Factors constituting brand value that affect the intention of Gen Z customers

to use aesthetic services in Ho Chi Minh City 197

NGuyễN ĐỨC TrọNG

Ảnh hưởng của hành vi công dân tổ chức đến kết quả làm việc của người lao động

tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

The effect of organizational behavior on the job performance of employees working

at Hanoi University of Science and Technology 205

NGuyễN ĐìNH TuấN PHONG

Bảo trì năng suất toàn diện - Tiềm năng áp dụng cho các công ty Việt Nam

Total Productive Maintenace and its implementation potential in Vietnamese enteprirses 210

NGuyễN THị HIềN

Giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành kinh doanh nông nghiệp

Solutions to develop human resources for the agribussiness sector in Vietnam 218

VO THI DuyeN ANH

Using cartoon pictures to enhance English-language learners' attitude towards speaking skill

Sử dụng tranh hoạt hình để nâng cao thái độ của người học tiếng Anh đối với kỹ năng nói 222

DINH Ly VAN KHANH

The similarities and differences in the language learning styles and strategies between English-majored students

and non-English majored students of Van Lang University

Sự giống nhau và khác nhau trong phong cách và chiến lược học ngôn ngữ của sinh viên chuyên ngành tiếng Anh

và sinh viên không thuộc chuyên ngành tiếng Anh tại Trường Đại học Văn Lang 228

DAO PHuONG BAC - NGuyeN VIeT THANG - HA NGuyeN - NGuyeN VAN QuAN

Business and Management graduates’ perspective on the importance of learning outcomes

of bachelor programs to meet the recruitment requirements of enterprises in Vietnam

Trang 6

Case study of Nguyen Tat Thanh University 243

DươNG THị THANH HẬu - NGuyễN THị TrANG NHuNG

Đánh giá kỹ năng làm việc nhóm trong học tập của sinh viên Trường Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh

Evaluating the teamwork skills in learning environment of students studying at the Banking University

of Ho Chi Minh City 248

TrầN THị THùy LINH

Giải pháp góp phần hỗ trợ người lao động chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19

Solutions to help workers overcome difficulties caused by the COVID-19 pandemic 254

HO TrA GIANG - NGO GIA TuONG - QuACH CHANH DAI THANH THIeN

- PHAM NGuyeN MINH CHAu - Le NGuyeN HOANG TrIeu

Factors affecting customer satisfaction in delivery service during the Covid-19 pandemic

in the case of Yugen Bar, Ho Chi Minh City

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ giao hàng

trong giai đoạn dịch Covid-19: Nghiên cứu đối với Yugen Bar tại TP.Hồ Chí Minh .258

TrươNG CHâu BảO THOA - BùI VĂN TrịNH

Các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của nhân viên

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam tại TP Cần Thơ

Factors affecting the work motivation of employees at the BIDV in Can Tho City 263

NGuyễN VĂN THấu

Hiện trạng và giải pháp tạo hứng thú học trực tuyến cho sinh viên Trường Đại học Văn Lang

Current situation of online learning and solutions to get students more engaged

in online learning in Van Lang Universiy 270

GIAO THị KHáNH NGọC

Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm xã hội của Tập đoàn Masan

Solutions to improve the effectiveness of corporate social responsibility implementation

of Masan Group Corporation 276

GIAO THị HOàNG yếN

Rào cản đối với giáo dục khởi nghiệp trong các trường đại học ở Việt Nam

Barriers to entrepreneurship education in Vietnamese universities 281

kinh doanh

LÊ NGọC

Các yếu tố ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng trong hoạt động kinh doanh xăng dầu tại TP Hồ Chí Minh

Factors affecting the performance of gasoline supply chain in Ho Chi Minh City 286

tài chính - ngân hàng - bảo hiểm

Đỗ THị THu QuỳNH

Giải pháp hỗ trợ tín dụng giúp người nông dân tiếp cận vốn vay ngân hàng

Credit solutions to help farmers access to bank credit 292

NGuyễN NGọC ANH

Những giải pháp tháo gỡ khó khăn về nguồn vốn cho hợp tác xã Việt Nam

Solutions to the lack of credit sources for cooperatives in Vietnam 296

Võ ĐỨC TOàN

Chính sách tài chính Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020: Thực trạng và khuyến nghị

Vietnam’s financial policies over the period from 2011 to 2020: Current situation and recommendations .300

BùI VĂN THụy - Vũ THANH THủy - ĐàO THị LAN ANH

Phát triển dịch vụ Smartbanking tại Ngân hàng BIDV - Chi nhánh Đồng Nai trong giai đoạn 2021 - 2026

Trang 7

Các yếu tố tác động đến nợ xấu tại ngân hàng thương mại Việt Nam

Factors affecting Vietnamese commercial banks’ non-performing loan 322

kế toán - kiểm toán

BùI Duy THọ

Ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát đến tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ

tại các doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tô ở Việt Nam

Impacts of the internal control system on the effectiveness of internal control system

in Vietnamese passenger transportation service by car enterprises 329

NGuyễN KIM THOA - LÊ THị HỒNG PHượNG - Vũ THị áNH NGọC - LÊ THị Mỹ HằNG

Nghiên cứu ảnh hưởng quy mô doanh nghiệp đến kế toán trách nhiệm: Trường hợp điển hình ở Gia Lai

A study on the impact of business size on responsibility accounting:

Case study of enterprises in Gia Lai Province .336

LÊ THị THANH XuâN - Lý NGuyễN THu NGọC

Tổng quan nghiên cứu chất lượng kiểm toán - Hướng phân tích nhân tố

An overview about the audit quality with the factor analysis approach 341

TrầN THị KIM PHượNG - TrầN THị Mỹ HẠNH

Các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp ngành Viễn thông

Factors affecting the management accounting adoption in Vietnamese telecommunications companies 348

TĂNG TrÍ HùNG - NGuyễN HuỳNH NHâN

Nhân tố tác động đến việc thực hiện kiểm toán nội bộ tại các doanh nghiệp sản xuất

khu vực Thành phố Hồ Chí Minh

Factors affecting the internal audit in manufacturing enterprises located in Ho Chi Minh City 354

hóa học - công nghệ thực phẩm

TrầN THị Mỹ LINH - NGuyễN KIM PHụNG - PHẠM THị KIM CHI

Khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chôm chôm sấy dẻo

Examining some factors affecting the quality of dried rambutan .359

TẠ HỒNG ĐỨC - NGuyễN TruNG DũNG*

Nghiên cứu mô phỏng quy trình và phân tích hệ thống quá trình phản ứng cháy tầng sôi tuần hoàn

trong nhà máy nhiệt điện

Process simulation and sensitivity analysis of the circulating fluidized bed combustion reaction

in thermal power plant 366

khoa học - kỹ thuật

NGuyễN THANH QuANG - NGuyễN HOàNG KHôI - TrầN KIM SA - NGuyễN MINH TâM

Phương án xử lý rác nhiều hữu cơ phát điện - Một số chỉ tiêu kỹ thuật

Determining technical features of waste-to-energy method with pre-treating organic waste 372

PHAN THế HIếu

Ứng dụng Dialux và lồng ghép kỹ năng mềm trong giảng dạy môn thiết kế chiếu sáng

tại Trường Đại học Trà Vinh

Using Dialux software and integrating soft skills to teach Lighting design couurse in Tra Vinh University 380

NGuyễN THàNH CôNG - Từ HỒNG NHuNG

So sánh chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của giải pháp sàn bê tông cốt thép

sử dụng lưới thép hàn và lưới thép buộc

Comparing the economic and technical factors when using tied wire mesh and welded wire mesh

Trang 8

1 Đặt vấn đề

Tự do báo chí là một trong những quyền con

người cơ bản được ghi nhận và bảo vệ ở hầu hết

các quốc gia trên thế giới Trong luật nhân quyền

quốc tế, tự do báo chí có thể bị hạn chế trong một

số trường hợp nếu cần thiết và có lý do chính

đáng Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều quốc gia lạm

dụng điều luật này để hạn chế tự do báo chí, với

mục đích cuối cùng chính là hạn chế sự tiếp nhận,

truyền bá các quan điểm, hay các ý kiến Vấn đề

này ngày càng phức tạp hơn trong bối cảnh toàn

thế giới bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19

2 Khái quát về tự do báo chí

Dưới góc độ luật pháp quốc tế, tự do báo chí là

một trong những quyền cơ bản nhất, thông qua đó,

con người truyền tải thông tin, thể hiện quan

điểm, ý chí của mình mà không bị bất kỳ một sựhạn chế, lệ thuộc, can thiệp nào Báo chí là côngcụ chính của tự do biểu đạt Vì vậy, tự do báo chílà một phần hoặc đôi khi đồng nhất với tự do biểuđạt, tự do ngôn luận Quyền này không được đềcập cụ thể, trực tiếp trong các văn kiện nhânquyền quốc tế như nhiều quyền dân sự, chính trịkhác, mà thường được ghi nhận trong cùng 1 điềuvới quyền tự do quan điểm và biểu đạt

Theo Điều 19 Công ước quốc tế về các quyềndân sự, chính trị (ICCPR) năm 1966, quyền tự dobáo chí được hiểu như là 1 phần nằm trong quyềntự do biểu đạt: Mọi người có quyền tự do biểu đạt;quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận vàtruyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệtlĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng

toÙm tAét:

Bài viết nghiên cứu quy định về quyền tự do báo chí trong luật nhân quyền quốc tế; phân tíchcác yếu tố ảnh hưởng đến quyền tự do báo chí và mối quan hệ giữa quyền này với các quyền conngười khác Cuối cùng, bài viết đưa ra một số nhận định về thách thức đối với việc bảo đảmquyền tự do báo chí trong bối cảnh đại dịch Covid-19 trên toàn thế giới

từ khóa: tự do báo chí, quyền con người, nhân quyền, Covid-19.

tƯï Do BÁo CHÍ tRonG luẬt nHÂn QuYeÀn QuoÁC teÁ

VÀ nHỮnG tHÁCH tHỨC tRonG

ĐAïI DỊCH CoVID-19

lTrần Thị Loan

Trang 9

bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông

qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào

tùy theo sự lựa chọn của họ Liên quan đến nội

dung tự do báo chí, trong Bình luận chung số 34 về

điều 19 ICCPR của Ủy ban Nhân quyền (HRC)

cũng nhấn mạnh: Một nền báo chí hay truyền

thông tự do, không bị kiểm duyệt và không bị cản

trở là cần thiết trong bất kỳ xã hội nào để đảm bảo

tự do quan điểm, tự do biểu đạt và thụ hưởng các

quyền khác theo Công ước

Tự do báo chí đề cập đến các cơ quan, cá nhân

có liên quan trong việc thu thập và truyền đạt tin

tức, bao gồm các hình thức in ấn, chẳng hạn như

báo và tạp chí định kỳ; phát sóng tin tức, như đài

phát thanh và truyền hình; lan truyền tin tức trên

internet thông qua các trang báo điện tử,… Tự do

báo chí là cần thiết trong bất kỳ xã hội nào, để

đảm bảo tự do quan điểm, biểu đạt, tự do thông tin

và thụ hưởng các quyền con người khác Tuy

nhiên, tự do báo chí không phải là một quyền

tuyệt đối, mà có giới hạn của nó Những yêu cầu

chặt chẽ đòi hỏi các quốc gia phải đáp ứng khi đưa

ra hạn chế về tự do báo chí được tìm thấy trong

Khoản 3 Điều 19 ICCPR: Việc thực hiện quyền

này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định

Tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định

trong pháp luật và là cần thiết để: (a) Tôn trọng

các quyền hoặc uy tín của người khác, (b) Bảo vệ

an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe

hoặc đạo đức của xã hội Bình luận chung số 34

của HRC đã có những giải thích làm rõ hơn các

nội dung về hạn chế quyền Theo đó, Nhà nước

trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải đáp ứng

được những điều kiện cụ thể và chỉ với những

điều kiện này mới có thể đặt ra việc hạn chế

quyền tự do báo chí Đó là:

- Tính hợp pháp: Hạn chế phải được quy định

bởi pháp luật Điều này có nghĩa là giới hạn phải

được quy định trong pháp luật của quốc gia, có

hiệu lực tại thời điểm giới hạn được áp dụng Luật

pháp không được tùy tiện hoặc không hợp lý và

nó phải rõ ràng, có thể tiếp cận với công chúng

- Sự cần thiết: Sự hạn chế phải là cần thiết,

nhằm bảo vệ một trong những lý do đã được nêu

trong ICCPR, đó là tôn trọng các quyền hay uy tín

của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia, trật tựcông cộng, sức khỏe hoặc đạo đức công cộng

- Tính tương xứng: Các hạn chế phải là “cầnthiết” vì một mục đích chính đáng Hạn chế phảitương xứng với lợi ích đang bị đe dọa; phải phùhợp để đạt được chức năng bảo vệ; các hạn chế ấyphải là phương tiện ít xâm hại nhất trong số nhữnghạn chế có thể được đặt ra

3 mối quan hệ giữa tự do báo chí với các quyền con người khác

Các quyền con người đều có tính liên hệ vàphụ thuộc lẫn nhau Một quyền được thúc đẩyhay bị vi phạm sẽ trực tiếp, hoặc gián tiếp sẽ ảnhhưởng tích cực hoặc tiêu cực đến các quyềnkhác Tự do báo chí chỉ được thực thi hiệu quảkhi các quyền cơ bản, không thể bị đình chỉ trongmọi trường hợp được bảo đảm Ví dụ, một nhàbáo phải được bảo đảm quyền được sống; quyềntự do và an ninh cá nhân trước tiên, mới có thểthực hiện được quyền tự do báo chí của mình.Đồng thời, nhờ bảo đảm được quyền tự do báochí, các quyền khác như tự do ngôn luận, tự dothông tin, các quyền dân sự, các quyền về kinhtế, văn hóa, xã hội,… được thực thi, bảo vệ vàthúc đẩy tốt hơn

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, việc thựcthi quyền tự do báo chí lại ảnh hưởng, xâm hạiđến các quyền, tự do khác Chẳng hạn, nhà báođưa tin về đời tư của một cá nhân làm xâm hại đếnquyền bất khả xâm phạm về quyền riêng tư, haythể hiện quan điểm nhằm chế giễu, phỉ báng mộttôn giáo làm xúc phạm đến quyền tự do tư tưởng,tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân hay một cộngđồng, có bài viết gây phân biệt đối xử, kỳ thịquyền của đồng bào dân tộc thiểu số,…

Ngoài ra, tự do báo chí có quan hệ mật thiếthơn cả với một số quyền con người, bao gồm:quyền tự do biểu đạt, quyền tiếp cận thông tin.Cụ thể:

- Tự do báo chí với tự do biểu đạt

Báo chí và các phương tiện truyền thông khácgóp phần quan trọng để củng cố, thúc đẩy quyềntự do biểu đạt Từ việc phát triển tự do biểu đạt,tự do báo chí ngày càng được đề cao và chútrọng Tự do báo chí là điều kiện giúp cho tự do

Trang 10

biểu đạt được thực hiện một cách hoàn chỉnh

hơn, dễ dàng hơn

Để có thể thực hiện quyền tự do biểu đạt, mọi

người cần có diễn đàn để thể hiện ý kiến, quan

điểm, cũng như tiếp thu, chia sẻ quan điểm của

người khác Báo chí ra đời đã là một trong những

công cụ hữu hiệu để mỗi người thực hiện quyền tự

do biểu đạt của mình Báo chí và các phương tiện

truyền thông thúc đẩy tự do biểu đạt và từ đó, tự

do báo chí ngày càng phát triển

Tự do báo chí luôn gắn liền với tự do biểu đạt

Đây là những quyền tự do rất cơ bản và quan

trọng của con người, được gọi là “quyền bảo vệ

quyền”, bởi quyền này là một trong những phương

tiện quan trọng để bảo vệ quyền kia và quyền, tự

do khác [2, tr.12]

- Tự do báo chí với tự do thông tin

Tự do thông tin (freedom of information) bao

gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận, tiếp cận, chia sẻ,

trao đổi và phổ biến thông tin Tự do thông tin

thường đồng nghĩa với quyền tiếp cận thông tin

(right to access to information) [3, tr 53] Tự do

thông tin giúp hình thành nên các quan điểm,

ngôn luận một cách khách quan, minh bạch, giảm

thiểu những sự thiên vị, sai lệch Thông tin được

tiếp cận sẽ giúp các quyền chính trị (tự do ngôn

luận, tự do báo chí, tự do hội họp…), dân sự, cũng

như các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa được thực

hiện tốt hơn Tự do thông tin là điều kiện tiên

quyết để bảo đảm thực hiện tự do báo chí Không

có một nền báo chí nào thành công mà lại được

dựa trên một khả năng tiếp cận thông tin hạn chế

Việc thu thập thông tin của nhà báo là không thể

nếu thiếu sự tự do thông tin [4, tr 29]

Ngược lại, tự do báo chí đóng vai trò rất quan

trọng trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông

tin, là diễn đàn, hình thức truyền tải, phổ biến

thông tin đến mọi tầng lớp xã hội Nếu không có

tự do báo chí, thông tin sẽ khó được truyền tải một

cách trung thực, nhanh chóng, thường xuyên, hệ

thống và đầy đủ Đồng thời, thông qua báo chí,

người dân được bày tỏ quan điểm, nguyện vọng

với Nhà nước Cũng nhờ có báo chí, các thông tin

về hoạt động của Nhà nước được chuyển tải đến

các tầng lớp trong xã hội

4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tự do báo chí

- Yếu tố chính trị

Một chế độ chính trị coi báo chí là phương tiệnnhằm củng cố, giữ gìn chế độ, thì thông tin báo chísẽ bị giới hạn, kiểm duyệt chặt chẽ nhằm mụcđích hạn chế bất đồng chính kiến và truyền đinhững thông điệp tích cực về chính quyền Nhữngcách thức được các quốc gia chuyên chế này thựchiện có thể là chế độ kiểm duyệt trước khi xuấtbản, sự độc quyền của báo chí Nhà nước trongviệc đưa dẫn tin tức, sự độc quyền trong sở hữu cơquan báo chí,… Trong khi ở những quốc gia dânchủ, tự do báo chí được tôn trọng, sự kiểm duyệtđược nới lỏng, công chúng được tiếp xúc với cácsản phẩm báo chí đa dạng, tin tức được phổ biến

đa chiều sẽ là phương tiện hữu ích để củng cố chonền dân chủ và quản trị tốt Báo chí phản biện,giám sát hoạt động của Nhà nước, phát hiện thamnhũng, hoặc là diễn đàn ngôn luận để mọi cá nhâncó thể bày tỏ quan điểm về các sự kiện trong đờisống xã hội

- Yếu tố pháp luật

Pháp luật là công cụ giúp Nhà nước bảo đảmsự tuân thủ, thực thi các quyền con người, đồngthời là công cụ của các cá nhân trong việc bảo vệquyền của họ, trong đó có quyền tự do báo chí.Hiến pháp và các đạo luật được ban hành lànhững bảo đảm pháp lý quan trọng nhằm ghinhận, thực thi và bảo vệ quyền tự do báo chí Cácquy phạm pháp luật sẽ tác động đến mức độ hoạtđộng cũng giới hạn khả năng hoạt động của báochí Đồng thời, đây cũng là căn cứ để giới hạn tự

do báo chí thông qua các quy định về an ninh quốcgia, dân tộc, tôn giáo, hình phạt,… Hệ thống phápluật quốc gia xác định rõ ràng các điều kiện giớihạn tự do báo chí sẽ là cơ sở để tự do báo chí đượcbảo đảm tốt hơn, tránh sự lạm dụng các lý dochính đáng giới hạn tự do báo chí để xâm phạmquyền tự do báo chí của mỗi cá nhân

- Yếu tố kinh tế

Điều kiện kinh tế là một trong những yếu tốquan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của mộtnền báo chí Việc xuất bản một tờ báo hay thànhlập đài phát thanh, truyền hình,… đòi hỏi phải cókinh phí để thực hiện phục vụ cho hoạt động báo chí

Trang 11

từ việc thu thập, xử lý, sản xuất, chuyển tải thông

tin Ở các nước phát triển, điều kiện kinh tế tốt sẽ

tạo thuận lợi để báo chí phát huy khả năng của

mình Cơ sở hạ tầng hiện đại (đường xá, điện, viễn

thông,…) sẽ giúp cho thông tin báo chí được truyền

tải, phổ biến dễ dàng thông qua nhiều hình thức từ

báo in đến báo nói, báo hình, hoặc báo điện tử trên

internet, thiết bị di động Nền kinh tế mở, đa dạng

nhiều thành phần bao gồm Nhà nước, các doanh

nghiệp, tập đoàn trong và ngoài nước sẽ là cơ hội

để các cơ quan báo chí Nhà nước và tư nhân cùng

song song phát triển Ngoài ra, tình hình tài chính

cũng có thể tác động đến hoạt động của báo chí

Một nền tài chính minh bạch, bền vững sẽ bảo đảm

cho thông tin báo chí truyền tải được độc lập, không

bị giới hạn Ngược lại, nếu nền tài chính xảy ra

tham nhũng, hối lộ sẽ chi phối, gây trở ngại cho

việc sản xuất, truyền tải tin tức báo chí

- Yếu tố văn hóa, xã hội

Văn hóa, xã hội là những phạm trù rộng lớn và

phức tạp Trong mỗi xã hội đều có những đặc

trưng văn hóa, lịch sử phát triển riêng sẽ làm hình

thành hoặc ảnh hưởng đến ý thức hệ và hoạt động

của cá nhân trong xã hội đó, bao gồm cả các hoạt

động báo chí Tại xã hội phương Tây, ý thức về

các quyền tự do dân sự, chính trị được hình thành

từ rất sớm Lịch sử cho thấy các cuộc đấu tranh đòi

quyền tự do dân chủ đều bắt nguồn từ trong lòng

xã hội phương Tây và quyền tự do báo chí cũng

không phải ngoại lệ Trong xã hội mà yếu tố cá

nhân được đề cao, thì các cá nhân được tự do biểu

đạt quan điểm, thể hiện thông qua nhiều hình

thức, trong đó có báo chí Các cá nhân được tự do

thực hiện hoạt động báo chí miễn là không xâm

phạm các giới hạn chính đáng do pháp luật đặt ra

về quyền tự do báo chí Còn trong xã hội mà yếu

tố tập thể được coi trọng, tính thông tin đa dạng,

sáng tạo, phản biện của báo chí sẽ bị triệt tiêu

Lợi ích cộng đồng, xã hội được ưu tiên sẽ là một

trong những lý do để lạm dụng, giới hạn quyền tự

do báo chí của cá nhân

5 một số thách thức đối với việc bảo đảm

quyền tự do báo chí trong bối cảnh đại dịch

Covid-19

Với vai trò cơ bản và quan trọng hàng đầu là

thông tin, phản ánh trung thực khách quan các sựkiện, sự việc diễn ra trong đời sống xã hội, báochí tự do và độc lập là nền tảng thiết yếu của bất

kì một xã hội tự do nào Đặc biệt, khi đại dịchCovid-19 xảy ra, có rất ít thông tin đáng tin cậyvề loại virus mới này và sự tiến hóa của nó, rấtnhiều thông tin sai lệch được lan truyền dướinhiều hình thức mang đến nỗi sợ hãi, hoang mangcho công chúng, thì báo chí chính là chìa khóa đểcung cấp thông tin đáng tin cậy về dịch bệnh,chống lại các tin đồn, thuyết âm mưu Tuy nhiên,Covid-19 cũng mang đến nhiều thách thức choviệc bảo đảm quyền này ở các quốc gia Hoạtđộng tác nghiệp, xuất bản báo chí bị cản trở bởinhiều yếu tố:

Thứ nhất, trong tình huống cấp bách do đại dịch

toàn cầu, rất nhiều quốc gia trên thế giới đã banbố tình trạng khẩn cấp, hạn chế một số quyền conngười với lý do vì sức khỏe cộng đồng Quyền tự

do báo chí cũng nằm trong số các quyền bị hạnchế với mục đích là nhằm chống lại việc thông tinsai lệch, tin tức giả mạo Điều này đặt ra câu hỏivề tính tương xứng của các hạn chế này có phùhợp với các tiêu chuẩn của luật nhân quyền quốctế Bởi nhiều quốc gia lạm dụng hạn chế quyền đểbắt, kết tội các nhà báo khi họ đưa ra những thôngtin phản biện, giám sát hoặc tranh luận về chínhsách, hành động, hiệu quả chống dịch của chínhquyền Mức độ nghiêm trọng hơn thường xảy ra ởcác quốc gia có chế độ độc tài, khi chính quyềnmuốn che dấu tình trạng dịch bệnh1

Thứ hai, quyền tiếp cận thông tin của báo chí bị

giới hạn khi Nhà nước hạn chế báo chí tiếp cậnthông tin từ các cơ quan công quyền về các nghiêncứu, dữ liệu báo cáo về sức khỏe cộng đồng Cáchạn chế này có xu hướng ngăn cản việc tiếp cậnthông tin đáng tin cậy, vô hiệu hóa việc các nhàbáo đưa ra các câu hỏi về các quyết sách liênquan đến y tế, sức khỏe cộng đồng tới nhà cầmquyền Mục đích là nhằm giảm khả năng phảichịu trách nhiệm của các quan chức về các quyếtđịnh được đưa ra trong đại dịch Bên cạnh đó, hoạtđộng tiếp cận, khai thác, sản xuất thông tin củanhà báo cũng dễ bị hạn chế khi nhiều quốc gia tắthoặc chặn Ineternet2

Trang 12

tÀI lIeÄu tRÍCH DẪn:

1Xem thêm phân tích tại nghiên cứu The impact of coronavirus on media freedom - Tác động của vi rút Corona

đến tự do truyền thông của Nghị viện châu Âu năm 2020: https://www.europarl.europa.eu/RegData/etudes/

BRIE/2020/651905/EPRS_BRI(2020)651905_EN.pdf Ở các nước như Nga và Trung Quốc, nơi nổi tiếng là luật

kiểm duyệt phương tiện truyền thông nghiêm ngặt đã được ban hành, đại dịch đã tạo cơ hội để hạn chế quyền tự dotruyền thông hơn nữa

2 Xem thêm số liệu phân tích tại Bộ công cụ theo dõi các vi phạm tự do báo chí liên quan đến đại dịch covid của

Viện Báo chí quốc tế (IPI), https://ipi.media/covid19-media-freedom-monitoring/.

3 Ở Anh, theo tờ The Guardian đưa tin Hiệp hội phát thanh cộng đồng cảnh báo rằng 1/3 số đài phát thanh cộng

đồng có nguy cơ đóng cửa, xem tại:

https://www.theguardian.com/uk-news/2020/apr/22/uks-community-radio-stations-face-closure-as-covid-19-hits-ads.

4Có ít nhất 1.734 phóng viên ở 80 quốc gia đã bị chết vì nhiễm Covid-19, xem thêm tại

https://pressemblem.ch/-1.shtml.

tÀI lIeÄu tHAm KHẢo:

1 Vũ Công Giao, Nguyễn Minh Tâm (2015), Giới hạn của tự do biểu đạt - Một số phân tích pháp lý từ vụ Charlie

Hebdo, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 06(286), 12-16.

2 Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (2015), ABC về các quyền dân sự chính trị cơ bản, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.

3 Nguyễn Đăng Dung, Vũ Văn Huân (2016), Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo

trong hai dự thảo luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 05(309), 28-32.

Thứ ba, hậu quả của đại dịch Covid-19 gây ra

không chỉ đối với sức khỏe cộng đồng mà còn làm

suy thoái các nền kinh tế trên thế giới Điều này

khiến các tổ chức truyền thông, báo chí bị ảnh

hưởng nặng nề Nhiều cơ quan báo chí có nguy cơ

bị đóng cửa dẫn đến việc sa thải, cắt giảm lương

của nhà báo3 Do đó, hoạt động khai thác, cung

cấp thông tin của báo chí cũng sa sút, dẫn đến

việc tạo cơ hội cho các thông tin không được kiểm

chứng phát triển, các thông tin sai lệch càng có cơ

hội lấp đầy những khoảng trống tin tức

Thứ tư, hoạt động báo chí của các nhà báo

cũng bị tác động bởi đại dịch Covid-19 Về sức

khỏe, khi thực hiện tác nghiệp đưa tin, nhà báo có

thể bị thiếu các thiết bị, đồ dùng bảo hộ y tế như

găng tay, khẩu trang, dẫn đến nguy cơ bị lây

nhiễm dịch bệnh rất cao Rất nhiều nhà báo bị

nhiễm Covid-19 và đã tử vong4

Như vậy, cuộc khủng hoảng do đại dịch Covid-19 gây ra đang và sẽ tác động rất lâu dài đếntình hình kinh tế, xã hội trên khắp thế giới Cácquốc gia đang phải đối mặt với những thách thứcchưa từng có trong thời kỳ đại dịch này Tuy nhiên,đây không thể là lý do để ngăn cản tự do báo chí vàdẫn đến hạn chế quyền tiếp cận thông tin của mọingười dân Báo chí đóng một vai trò không thểthiếu trong việc truyền tải thông tin tới mọi người,tạo điều kiện cho các cá nhân thực hiện các quyềntìm kiếm, tiếp cận thông tin và bày tỏ ý kiến của họvề mối đe dọa sức khỏe cộng đồng để họ có thể chủđộng bảo vệ bản thân, gia đình và cộng đồng củahọ Nhà nước và các chủ thể liên quan cần kiềmchế các vi phạm, bảo vệ quyền tự do báo chí vàtruyền thông và đảm bảo rằng các biện pháp chốngdịch bệnh là cần thiết, tương xứng, phù hợp với cáctiêu chuẩn của pháp luật nhân quyền quốc tế n

Trang 13

tHe fReeDom of tHe PRess In tHe InteRnAtIonAl

HumAn RIGHts lAw AnD CHAllenGes to tHIs RIGHt

DuRInG ttHe on-GoInG CoVID-19 PAnDemIC

lMaster Tran Thi Loan

Institute of State and LawVietnam Academy of Social and sciences

ABstRACt:

This paper studies regulations of freedom of the press in the international human rights law.The paper also analyzes the factors affecting the freedom of the press, and the relationshipbetween the freedom of the press and other human rights This paper makes somerecommendations about the challenges to the freedom of the press during the on-going Covid-19pandemic in the world

Keywords: freedom of the press, human rights, Covid-19

ngày nhận bài: 11/8/2021

ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 11/9/2021

ngày chấp nhận đăng bài: 21/9/2021

Thông tin tác giả:

ths tRẦn tHỊ loAn

Viện nhà nước và Pháp luật

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt nam

Trang 14

1 Đặc điểm điều kiện hoạt động BĐs của

nhà đầu tư nước ngoài

Thứ nhất, "phạm vi hoạt động của tổ chức kinh

tế có vốn đầu tư nước ngoài có chức năng kinh

doanh BĐS hạn chế hơn nhà đầu tư trong nước khi

tham gia lựa chọn lĩnh vực đầu tư BĐS, theo Luật

Kinh doanh bất động sản năm 2014 gồm: Thuê

nhà, công trình xây dựng để cho thuê lại; đối với

đất được Nhà nước cho thuê thì được đầu tư xây

dựng nhà ở để cho thuê; đầu tư xây dựng nhà,

công trình xây dựng không phải là nhà ở để bán,

cho thuê, cho thuê mua; nhận chuyển nhượng toàn

bộ hoặc một phần dự án BĐS của chủ đầu tư đểxây dựng nhà, công trình xây dựng để bán, chothuê, cho thuê mua; đối với đất được Nhà nướcgiao thì được đầu tư xây dựng nhà ở để bán, chothuê, cho thuê mua; đối với đất thuê trong khucông nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khucông nghệ cao, khu kinh tế thì được đầu tư xâydựng nhà, công trình xây dựng để kinh doanh theođúng mục đích sử dụng đất Những quy định trên,trong những cam kết về điều kiện đầu tư giữa ViệtNam với WTO, FTAs: không quy định tại Biểucam kết Như vậy, người nước ngoài bao gồm cá

toÙm tAét:

Việc đưa ra các điều kiện hoạt động và giới hạn phạm vi kinh doanh của ngành nghề kinh doanhbất động sản (BĐS) đối với nhà đầu tư nước ngoài sẽ đảm bảo mọi hoạt động kinh doanh nằm trongphạm vi kiểm soát và quản lý của Nhà nước Việt Nam Đối với chủ thể kinh doanh BĐS, bên cạnhnhững điều kiện về năng lực pháp lý và năng lực hành vi của chủ thể kinh doanh theo quy định củapháp luật dân sự, thì cá nhân, tổ chức kinh doanh BĐS phải đáp ứng các điều kiện chuyên ngành

Do đó, cần có những đánh giá yếu tố tác động đến việc quy định và thực hiện về điều kiện hoạtđộng kinh doanh BĐS của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

từ khóa: pháp luật, điều kiện, kinh doanh, bất động sản, đầu tư.

nHỮnG YeÁu toÁ tÁC ĐoÄnG ĐeÁn QuY ĐỊnH VÀ tHƯïC HIeÄn ĐIeÀu KIeÄn

HoAït ĐoÄnG KInH DoAnH BẤt ĐoÄnG sẢn

CuÛA nHÀ ĐẦu tƯ nƯơÙC nGoÀI

tAïI VIeÄt nAm

lLê Thị Dung

Trang 15

nhân, tổ chức nước ngoài muốn kinh doanh BĐS

tại Việt Nam đều có quyền thành lập công ty và

được phép kinh doanh theo các hình thức trên

Thứ hai, nhà đầu tư nước ngoài muốn tiến hành

kinh doanh BĐS tại Việt Nam phải thực hiện quy

định về sự hiện diện chính thức chi nhánh, văn

phòng đại diện đang hoạt động tại Việt Nam

Khoản 1 Điều 159 Luật Nhà ở 2014 quy định đối

tượng tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu

nhà ở tại Việt Nam bao gồm: Tổ chức, cá nhân

nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại

Việt Nam theo quy định của Luật Nhà ở và pháp

luật có liên quan; doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện của

doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài

và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt

động tại Việt Nam (sau đây gọi chung là tổ chức

nước ngoài); cá nhân nước ngoài được phép nhập

cảnh vào Việt Nam

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được

kinh doanh BĐS dưới các hình thức sau: Thuê nhà,

công trình xây dựng để cho thuê lại; xây dựng

nhà, công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho

thuê mua trên đất thuê của Nhà nước; xây dựng

nhà, công trình xây dựng để cho thuê trên đất thuê

của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; nhận chuyển

nhượng toàn bộ hoặc một phần dự án BĐS của

chủ đầu tư để xây dựng nhà, công trình xây dựng

để bán, cho thuê, cho thuê mua; xây dựng nhà,

công trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê

mua trên đất được Nhà nước giao; xây dựng nhà,

công trình xây dựng để kinh doanh theo đúng mục

đích sử dụng đất tại khu công nghiệp, khu chế

xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được

kinh doanh các loại hình tương tự, trừ đầu tư đối

với đất thuê của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và

đất được Nhà nước giao Còn điều kiện hoạt động

môi giới BĐS được quy định riêng cho cá nhân và

tổ chức, không phân biệt quốc tịch Việt Nam hay

nước ngoài: Cá nhân có quyền kinh doanh dịch vụ

môi giới BĐS độc lập nhưng phải có chứng chỉ

hành nghề môi giới BĐS và nộp thuế theo quy

định của pháp luật; tổ chức/doanh nghiệp phải có

ít nhất 2 người có chứng chỉ hành nghề môi giớiBĐS; các đối tượng này không được đồng thời vừalà nhà môi giới vừa là một bên thực hiện hợp đồngtrong một giao dịch kinh doanh BĐS Để kinhdoanh sàn giao dịch BĐS, quản lý BĐS, cá nhân,tổ chức phải thành lập công ty và có ít nhất 2người có chứng chỉ hành nghề môi giới BĐS

Thứ ba, trong quá trình kinh doanh BĐS của

nhà đầu tư có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Namhọ phải tuân thủ pháp luật và được áp dụngnguyên tắc đối xử công bằng

Phạm vi kinh doanh BĐS của doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài về phạm vi hoạt động kinhdoanh BĐS của doanh nghiệp có vốn nước ngoàinắm giữ không quá 50% vốn điều lệ Theo LuậtKinh doanh bất động sản 2014, không có quy địnhvề phạm vi kinh doanh BĐS theo số vốn góp củanhà đầu tư nước ngoài vào doanh nghiệp kinhdoanh BĐS tại Việt Nam Đối với trường hợp làdoanh nghiệp trong nước thì được kinh doanh BĐStheo phạm vi quy định tại khoản 1 Điều 11 củaLuật Kinh doanh bất động sản 2014 Đối vớidoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì đượckinh doanh BĐS theo phạm vi quy định tại khoản

3 Điều 11 của Luật Kinh doanh bất động sản

2014, việc xác định doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài được thực hiện theo quy định của phápluật về doanh nghiệp

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 11 Luật Kinhdoanh bất động sản 2014 đã quy định phạm vi kinhdoanh BĐS của doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài Theo đó, doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài được kinh doanh BĐS dưới các hình thức: cáchình thức quy định tại các điểm b, d, h Khoản 1 vàđiểm b Khoản 2 Điều 11 Luật Kinh doanh bất độngsản Đối với đất thuê trong khu công nghiệp, cụmcông nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khukinh tế thì được đầu tư xây dựng nhà, công trình xâydựng để kinh doanh theo đúng mục đích sử dụngđất Luật Kinh doanh bất động sản 2014 không quyđịnh về việc xác định doanh nghiệp hoặc tổ chứckinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 16

Điều kiện nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh

BĐS tại Việt Nam, theo điều ước quốc tế, điều

ước quốc tế hiện không cam kết cho nhà đầu tư

nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh BĐS

Theo Luật Kinh doanh bất động sản 2014 thì

không hạn chế nhà đầu tư nước ngoài đầu tư

Phạm vi kinh doanh BĐS của doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài gồm:

+ Thuê nhà, công trình xây dựng để cho

thuê lại;

+ Đối với đất được Nhà nước cho thuê thì được

đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê; đầu tư xây

dựng nhà, công trình xây dựng không phải là nhà

ở để bán, cho thuê, cho thuê mua;

+ Nhận chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ

dự án BĐS của chủ đầu tư để xây dựng nhà, công

trình xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua;

+ Đối với đất được Nhà nước giao thì được đầu

tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê, cho thuê mua

Ngoài ra, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền

kinh doanh các dịch vụ môi giới BĐS, sàn giao

dịch BĐS, tư vấn BĐS, quản lý BĐS theo quy định

của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014

Để thực hiện đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh

BĐS tại Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài có 2 sự

lựa chọn là thành lập công ty kinh doanh dịch vụ

kinh doanh BĐS có vốn nước ngoài và góp vốn,

mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế có

kinh doanh dịch vụ kinh doanh BĐS

2 Ý nghĩa của điều kiện hoạt động BĐs của

nhà đầu tư nước ngoài hiện nay

Hiến pháp 2013 đã thừa nhận quyền tự do kinh

doanh là quyền con người và là một trong những

quyền cơ bản của công dân Song đối với việc

kinh doanh trong một số ngành, nghề nhất định,

mặc dù tinh thần “được tự do kinh doanh” nhưng

các chủ thể kinh doanh cần đáp ứng được các điều

kiện nhất định đối với ngành, nghề đó

Thứ nhất, yêu cầu các tổ chức, cá nhân nước

ngoài phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh

BĐS được quy định trong các văn bản quy phạm

pháp luật và các điều ước quốc tế mà nước Cộng

hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thể

hiện bằng các hình thức theo quy định của phápluật Bởi lẽ, kinh doanh BĐS là hoạt động đầu tưlớn và lâu dài, BĐS có thời gian sử dụng lâu dài,mỗi một công trình BĐS sẽ có tuổi thọ vật lý và tuổithọ kinh tế Tuổi thọ kinh tế quyết định tuổi thọ vậtlý Tuổi thọ kinh tế chấm dứt khi trong điều kiện thịtrường và trạng thái vận hành đều bình thường màchi phí sử dụng BĐS lại ngang bằng với lợi ích thuđược từ BĐS đó Tuổi thọ vật lý thường dài hơnnhiều tuổi thọ kinh tế, nó chấm dứt khi các kết cấuchịu lực chủ yếu bị lão hóa và hư hỏng, không thểtiếp tục bảo đảm an toàn cho việc sử dụng Do đó,quy định về điều kiện hoạt động đối với nhà đầu tưnước ngoài yêu cầu có vốn đầu tư lớn, trong thờigian đầu tư dài hạn Những doanh nghiệp có lợi thếvề vốn thì khả năng cạnh tranh cao Nhất là trongbối cảnh lãi suất ngân hàng và tín dụng thắt chặtđối với cho vay BĐS

Thứ hai, việc quy định điều kiện hoạt động

BĐS của nhà đầu tư nước ngoài nhằm hạn chế rủi

ro khi tiến hành kinh doanh BĐS tại Việt Nam, bởilẽ, hoạt động nhạy cảm, chịu ảnh hưởng mạnh mẽcủa pháp luật và chính sách Nhà nước quản lýtoàn bộ BĐS, trước hết là đất đai rồi đến các côngtrình xây dựng, tài sản trên đất thông qua các luật:Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Kinh doanhbất động sản… Quan hệ cung cầu BĐS khá nhạycảm, nhìn chung, cung nhỏ hơn cầu, do đó, Nhànước cần phải điều tiết thông qua hệ thống phápluật và chính sách

Thứ ba, việc quy định điều kiện hoạt động BĐS

của nhà đầu tư nước ngoài đảm bảo cho hoạt độngkinh doanh của họ đáp ứng được yêu cầu của hoạtđộng kinh doanh đa ngành, kinh doanh đặc thù -thị trường không hoàn hảo, thông tin không đầy đủcho các đối tượng trong thị trường và cung phảnứng chậm hơn cầu Cầu phức tạp, chịu ảnh hưởngnhiều yếu tố cả tâm linh, tập quán, thói quen

3 những yếu tố tác động đến quy định và thực hiện điều kiện hoạt động BĐs của nhà đầu

tư nước ngoài

Thứ nhất, yếu tố kinh tế vĩ mô: Trình độ phát

triển kinh tế là một nhân tố vĩ mô quyết định trình

Trang 17

độ, quy mô và mức độ hoàn thiện quy định và thực

hiện điều kiện hoạt động BĐS của nhà đầu tư

nước ngoài Khi nền kinh tế phát triển ở trình độ

cao với mục đích và kỹ năng sử dụng đất đai đa

dạng, chủng loại hàng hóa BĐS sẽ rất phong phú,

kéo theo nhu cầu quy định và thực hiện điều kiện

hoạt động BĐS của nhà đầu tư nước ngoài giữa

các chủ thể trong nền kinh tế ngày càng lớn

Ví dụ, vốn đầu tư FDI vào lĩnh vực kinh doanh

BĐS: Trong 5 tháng đầu năm 2019, lĩnh vực BĐS

thu hút vốn FDI đứng thứ hai trong tổng số 19 lĩnh

vực thu hút vốn FDI của cả nước, đạt 742,3 triệu

USD với 51 dự án cấp mới, chiếm 11,5%, tăng 119

triệu USD so với cùng kỳ năm 2018 Đối với hình

thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước

ngoài, vốn đầu tư vào lĩnh vực BĐS đạt 627,9 triệu

USD, chiếm 8,2%1

Như vậy, các nhà đầu tư nước ngoài rất quan

tâm đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh BĐS tại Việt

Nam Hơn nữa, sau khi ký kết các hiệp định tự do

hóa thương mại và mới đây nhất là Hiệp định

CPTPP với cam kết cắt giảm thuế quan đối với

hàng hóa, mở cửa thị trường,… nền kinh tế Việt

Nam được dự báo sẽ là điểm đến của nhiều nhà đầu

tư nước ngoài Điều này mở ra kỳ vọng thị trường

tăng trưởng mạnh về nguồn cung các sản phẩm

BĐS, đặc biệt trên phân khúc BĐS công nghiệp

Bên cạnh đó, ảnh hưởng của chiến tranh thương

mại Mỹ - Trung Quốc có thể tạo làn sóng dịch

chuyển các cơ sở sản xuất sang Việt Nam, giúp cho

thị trường BĐS công nghiệp gia tăng mạnh mẽ,

kèm theo nhu cầu xây dựng các khu nhà ở, dịch vụ

dành cho công nhân, người lao động tại các khu

công nghiệp sẽ có cơ hội phát triển

Sự xuất hiện các ngành mới, các doanh nghiệp

mới, các kỹ thuật xây dựng mới cũng dẫn đến nhu

cầu chuyển đổi và chuyển giao BĐS giữa các chủ

thể và giữa các ngành kinh tế Vì vậy, sự phát

triển của thị trường tín dụng cũng tạo điều kiện và

thúc đẩy thị trường BĐS có sự tham gia của nhà

đầu tư nước ngoài tồn tại và phát triển Tuy nhiên,

tốc độ kinh tế phát triển cũng đặt ra nhiều thách

thức, đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nước có những

chính sách hợp lý quy định và thực hiện điều kiệnhoạt động BĐS của nhà đầu tư nước ngoài

Thứ hai, yếu tố chính trị: Chế độ chính trị là

một trong các nhân tố ảnh hưởng đến việc BĐSnói chung có trở thành hàng hóa hay không Dướichế độ quốc hữu hóa ruộng đất xã hội chủ nghĩa,có những giới hạn nhất định về đất đai tham giavào thị trường BĐS Ví dụ như chính sách khốngchế mục đích sử dụng đất làm cho việc chuyểndịch giữa các loại chủng loại hàng hóa không dễdàng… quy định và thực hiện điều kiện hoạt độngBĐS của nhà đầu tư nước ngoài còn bị các nhân tốchính trị có những ảnh hưởng đến thị trường BĐSdưới khía cạnh quản lý của Nhà nước đối với cácgiao dịch BĐS

Có những nước quy định thủ tục giao dịch hợppháp khá phức tạp, chi phí lớn, làm cho khả năngphát triển của thị trường BĐS có sự tham gia củanhà đầu tư nước ngoài giảm đi Trong khi đó, cónhững nước có chi phí về thủ tục thấp sẽ khuyếnkhích đưa BĐS vào giao dịch Có thể thấy, Nhànước cần có những động thái tạo ra các tiền đềthuận lợi cho quy định và thực hiện điều kiện hoạtđộng BĐS của nhà đầu tư nước ngoài rất quantrọng Để làm tròn vai trò đó, đòi hỏi Nhà nướckhông chỉ có quyết tâm, mà còn phải có tri thức,lực lượng cán bộ vững vàng và một cơ chế điềuhành hiệu quả2

Thứ ba, yếu tố xã hội: Các yếu tố xã hội cũng

tác động lớn đến quy định và thực hiện điều kiệnhoạt động BĐS của nhà đầu tư nước ngoài Cụ thể,việc mật độ dân số tăng cao tại một khu vực sẽkhiến cho giá trị BĐS nơi đó sẽ tăng lên do cânbằng cung - cầu bị phá vỡ, do đó cần quy định vàthực hiện điều kiện hoạt động BĐS của nhà đầu tưnước ngoài

Ngoài ra, các yếu tố khác trong khu vực nhưchất lượng dịch vụ y tế, giáo dục, trình độ dân trí,vấn đề an ninh, tập quán người dân trong vùngcũng có những tác động lên nhu cầu thu hút đầu tưtrong việc quy định và thực hiện điều kiện hoạtđộng BĐS của nhà đầu tư nước ngoài Hệ thốnghạ tầng đô thị mới kết nối ngày càng đồng bộ hơn

Trang 18

sẽ tạo ra cơ hội rất lớn cho các doanh nghiệp “ăn

theo” để đầu tư, phát triển thị trường BĐS, cả

trong trung hạn và dài hạn

Thứ tư, yếu tố tính minh bạch của thị trường:

Việt Nam đã, đang hội nhập sâu rộng vào nền

kinh tế quốc tế và khu vực, kỳ vọng sẽ gia tăng

thu hút vốn FDI vào Việt Nam, trong đó có lĩnh

vực BĐS Tuy nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài

cũng rất coi trọng việc so sánh lợi ích giữa đầu tư

vào thị trường BĐS Việt Nam và các quốc gia

khác trong khu vực, như: Indonesia, Singapore…3

Ở thị trường BĐS Việt Nam, tính minh bạch

thông tin chưa cao đã gây cản trở quá trình đầu tư

của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường

Không phủ nhận chỉ số minh bạch của thị trường

BĐS Việt Nam đã có thay đổi đáng kể trên thị

trường quốc tế Cụ thể, năm 2014, Việt Nam nằm

trong danh sách có chỉ số minh bạch thấp, nhưng

đến năm 2018 đã có sự cải thiện đáng kể khi vươn

lên đứng thứ 61 trong bảng minh bạch do Công ty

TNHH Jones Lang LaSalle công bố nhưng sự cải

thiện này là chưa đủ, cần đẩy mạnh hơn nữa việc

minh bạch thông tin

Thứ năm, yêu cầu của Cách mạng công nghệ

4.0: Với sự phát triển của công nghệ 4.0 và trí tuệ

nhân tạo, các doanh nghiệp kỳ vọng việc

marketing sản phẩm và tìm kiếm khách hàng tiềm

năng sẽ được cải thiện hơn Theo đó, điều kiện

hoạt động BĐS của nhà đầu tư nước ngoài sẽ chất

xúc tác làm thay đổi hành vi của người mua và

người bán; mức phí hợp lý; công nghệ không thểthay thế hoàn toàn con người; niềm tin và uy tín;…

4 Kết luận

Vai trò của điều kiện hoạt động BĐS của nhàđầu tư nước ngoài có ý nghĩa hết sức quan trọngtrong phát triển kinh tế, đời sống, xã hội Từ việcphân tích, đánh giá về tính chất, đặc điểm củađiều kiện hoạt động BĐS của nhà đầu tư nướcngoài, các yếu tố ảnh hưởng tới quy định và thựchiện điều kiện hoạt động BĐS của nhà đầu tưnước ngoài , qua đó, nhìn nhận việc quy định vềđiều kiện hoạt động BĐS của nhà đầu tư nướcngoài là sự cần thiết và tất yếu khách quan.Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đangtrên đà hội nhập quốc tế, kéo theo sự phát triểnmạnh mẽ của kinh doanh BĐS của nhà đầu tưnước ngoài, đòi hỏi các quy định pháp luật vềđiều kiện hoạt động BĐS của nhà đầu tư nướcngoài cũng từng bước phát triển với xu hướng mởrộng hành lang pháp lý để các chủ thể kinh doanhkhác nhau có thể gia nhập thị trường Với sự rađời của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm

2020, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 đãcó nhiều điểm mới, quy định chi tiết và phù hợpvới xu thế phát triển Sự thay đổi các quy địnhcủa pháp luật không chỉ là sự kế thừa những quyđịnh cũ mà còn phát triển theo hướng thôngthoáng hơn, tạo điều kiện cho môi trường cạnhtranh lành mạnh giữa các cá nhân, tổ chức, manglại hiệu quả kinh tế cao cho đất nước n

tÀI lIeÄu tRÍCH DẪn:

1Ngô Bảo Anh (2018), Quản lý hành chính nhà nước về điều kiện kinh doanh bất động sản của nhà đầu tư nước

ngoài, Luận văn Thạc sĩ, năm 2018 tại Học viện Hành chính Quốc gia, tr.34.

2Trần Quang Huy (2009), Pháp luật đất đai Việt Nam hiện hành - Nhìn từ góc độ bảo đảm quyền của người sử

dụng đất, Tạp chí Luật học, số 8/2009, tr 37-45.

3Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2019) Báo cáo thực hiện pháp luật về kinh doanh bất động sản, Hà Nội, tr.10.

Trang 19

fACtoRs AffeCtInG ReGulAtIons AnD ImPlementAtIon of ReAl estAte BusIness

ConDItIons foR foReIGn InVestoRs In VIetnAm

lMaster Lawyer.Le Thi Dung

Singlaw Legal Company Limited

ABstRACt:

The introduction of operating conditions and limits on the scope of real estate business forforeign investors is to ensure that all business activities conducted by foreigners are within thecontrol and management scope of the Government of Vietnam For real estate business entities,besides conditions on legal capacity and behavioral capacity of entities which are prescribed inthe Civil Code, real estate business entities must meet specialized requirements As a result, it isnecessary to evaluate the factors affecting regulations and implementation of real estate businessconditions for foreign investors in Vietnam

Keywords: law, condition, business, real estate, investment.

tÀI lIeÄu tHAm KHẢo:

1 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2015) Rà soát pháp luật kinh doanh, Hà Nội.

2 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2017) Rà soát pháp luật kinh doanh, Hà Nội.

3 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2019) Rà soát pháp luật kinh doanh, Hà Nội.

4 Quốc hội (2013) Luật số 45/2013/QH13: Luật Đất đai, ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2013.

5 Quốc hội (2014) Luật số 66/2014/QH13: Luật Kinh doanh bất động sản, ban hành ngày 25 tháng 11 năm 2014.

6 Quốc hội (2014) Luật số 65/2014/QH13: Luật Nhà ở, ban hành ngày 25 tháng 11 năm 2014.

7 Quốc hội (2015) Luật số 91/2015/QH13: Bộ luật Dân sự, ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2015.

8 Quốc hội (2020) Luật số 61/2020/QH14: Luật Đầu tư, ban hành ngày 17 tháng 6 năm 2020.

ngày nhận bài: 18/9/2021

ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 1/10/2021

ngày chấp nhận đăng bài: 19/10/2021

Thông tin tác giả:

ths luật sư le tHỊ DunG

Công ty luật tnHH singlaw

Trang 20

toÙm tAét:

Bài viết phân tích nội dung các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến nguyên tắc công khai(NTCK) trong hoạt động thanh tra (HĐTT), làm cơ sở cho việc đánh giá và hoàn thiện những quyđịnh này, bảo đảm thực hiện đầy đủ, hiệu quả NTCK trong thực tiễn HĐTT ở Việt Nam hiện nay

từ khóa: công khai, nguyên tắc, pháp luật, hoạt động thanh tra.

tHƯïC tRAïnG QuY ĐỊnH PHÁP luẬt

VeÀ nGuYeÂn tAéC CoÂnG KHAI tRonG HoAït ĐoÄnG tHAnH tRA

lLê Thanh Thủy

1 Đặt vấn đề

NTCK là một trong các nguyên tắc thực hiện

trong quá trình thanh tra (TT), được thể hiện trong

quá trình TT từ khi chuẩn bị TT, trực tiếp TT cho

đến khi kết thúc TT Việc thực hiện nguyên tắc này

bảo đảm cho hoạt động quản lý nhà nước (QLNN)

nói chung, HĐTT nói riêng bảo đảm sự tuân thủ

pháp luật, bảo đảm cho các cơ quan, cá nhân, tổ

chức, báo chí thực hiện hiệu quả việc giám sát hoạt

động của Nhà nước1 Về phương diện pháp luật,

hiện nay, NTCK trong HĐTT được ghi nhận chung

tại Điều 7, Luật Thanh tra 2010, theo đó một trong

các NT của HĐTT là “bảo đảm [ ] công khai”2

Trên cơ sở NTCK trong hoạt động được Luật Thanh

tra 2010 quy định, các văn bản quy phạm pháp luật

có liên quan đã có những quy định chi tiết ở nhiều

khía cạnh khác nhau làm cơ sở để thực hiện nguyên

tắc này trong thực tiễn

2 Đối với việc công khai kế hoạch tt hàng

năm của cơ quan tt với đối tượng tt và cơ quan

báo chí, công dân

Trước hết cần lưu ý là Luật Thanh tra năm 2004

và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 không

quy định phải công khai Kế hoạch thanh tra

(KHTT) hàng năm Điều đáng ghi nhận là một số

văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quanđều có những quy định về vấn đề này Luật Thanhtra năm 2010 và Thông tư 01/2014/TT-TTCP ngày23/4/2014 của Thanh tra Chính phủ quy định việcxây dựng định hướng chương trình TT và KHTThàng năm của các đơn vị TT sau khi được phê duyệtKHTT hàng năm được gửi cho cơ quan TT cấp trênđể theo dõi, đôn đốc, kiểm tra Khoản 9, Điều 10

Thông tư 01/2014/TT-TTCP quy định “KHTT của

TT bộ, TT tỉnh gửi về TT Chính phủ chậm nhất là 05 ngày, kể từ ngày Bộ trưởng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh phê duyệt; KHTT của cơ quan được giao chức năng

TT chuyên ngành thuộc bộ gửi về TT bộ chậm nhất là 03 ngày, kể từ ngày Bộ trưởng phê duyệt để theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện”.

Khoản 9, Điều 11 Thông tư 01/2014/TT-TTCP

quy định “KHTT của TT huyện, TT sở gửi về TT tỉnh

chậm nhất là 05 ngày, kể từ ngày Chủ tịch UBND cấp huyện, Giám đốc sở phê duyệt; KHTT của cơ quan được giao chức năng TT chuyên ngành thuộc sở gửi về TT sở chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày Giám đốc sở phê duyệt để theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện” Luật Phòng, chống tham nhũng

năm 2018 đã quy định cụ thể các nội dung TT: “Cơ

quan, tổ chức, đơn vị phải công khai, minh bạch

Trang 21

thông tin về tổ chức, hoạt động của cơ quan, tổ chức,

đơn vị mình, trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước, bí

mật kinh doanh và nội dung khác theo quy định của

pháp luật” 3

Như vậy, KHTT hàng năm của các cơ quan chức

năng TT là một trong các nội dung phải công khai:

công khai với đối tượng thanh tra (ĐTTT), công

khai với cơ quan, tổ chức, cá nhân, báo chí Việc

công khai KHTT hàng năm giúp ĐTTT chủ động

chuẩn bị nội dung, thời gian, địa điểm để đoàn

thanh tra (ĐTT) thực hiện KHTT hàng năm đã được

phê duyệt Qua đó cơ quan thanh tra (CQTT) cũng

chủ động bố trí lực lượng cán bộ, thời gian tiến hành

để đảm bảo hoàn thành đúng KHTT đề ra Việc

công khai KHTT hàng năm cũng giúp cho các cơ

quan, tổ chức, cá nhân, báo chí giám sát theo dõi

hoạt động TT của các CQTT, tránh tình trạng bao

che hoặc cố tình không tiến hành TT

3 Đối với việc công khai nội dung, thời gian,

địa điểm nắm tình hình với Đttt

Theo Thông tư 05/2014/TT-TTCP của Thanh tra

Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ

công tác của ĐTT và trình tự, thủ tục tiến hành một

cuộc TT, quy định trong trường hợp cần thiết Thủ

trưởng cơ quan QLNN, Thủ trưởng CQTT, Thủ

trưởng cơ quan thực hiện chức năng TT chuyên

ngành cử tổ công tác đi nắm tình hình tại đơn vị

ĐTTT, nhằm mục đích ban hành Quyết định thanh

tra (QĐTT) Tổ công tác khi thực hiện nắm tình

hình cần công khai về: “văn bản của CQTT nhà

nước về việc cử người được giao nắm tình hình, thời

gian, nội dung làm việc, những thông tin cần thu

thập từ cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi

thẩm quyền TT biết; thẻ công chức hoặc thẻ TT” 4

Quy định này tiếp tục được khẳng định tại Thông tư

06/2021/TT-TTCP ngày 01/10/2021 (thay thế

Thông tư 05/2014/TT-TTCP) qua Điểm a, Khoản 1,

Thông tư 06/2021/TT-TTCP (cụ thể hóa tại Mẫu số

04 quy định về “Đề cương yêu cầu cung cấp thông

tin, tài liệu để ban hành QĐTT” ban hành kèm theo

Thông tư 06/2021/TT-TTCP)

4 Đối với việc thực hiện việc công khai QĐtt

Về công khai QĐTT với ĐTTT, Luật Thanh tra

2004, đã được quy định:“QĐTT phải được công bố

chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày ra QĐTT Việc

công bố QĐTT phải được lập thành văn bản” 5

Đồng thời, việc công bố QĐTT với ĐTTT cần nêurõ: căn cứ pháp lý để TT, nội dung, phạm vi, nhiệmvụ, thời hạn, trưởng đoàn thanh tra (ĐTT) và cácthành viên khác của ĐTT6

LTT năm 2010 tiếp tục khẳng định: “Chậm nhất

là 15 ngày kể từ ngày ký QĐTT, Trưởng ĐTT có trách nhiệm công bố QĐTT với ĐTTT Khi công bố QĐTT, Trưởng ĐTT phải nêu rõ nhiệm vụ, quyền hạn của ĐTT, thời hạn TT, quyền và trách nhiệm của ĐTTT, dự kiến kế hoạch làm việc của ĐTT với ĐTTT và những nội dung khác liên quan đến hoạt động của ĐTT” 7

Như vậy, về cơ bản việc thực hiện công khaiQĐTT với ĐTTT được quy định cụ thể về thời giancông bố, nội dung công bố, thành phần công bố tạođiều kiện cho Trưởng ĐTT thực hiện tốt việc côngbố, tránh tình trạng cố tình không công khai, hoặccông khai một phần sẽ khó khăn cho ĐTTT khônghiểu hoặc chỉ hiểu một phần về nội dung TT khôngrõ phạm vi, thời hạn TT, trách nhiệm, nhiệm vụ,quyền hạn của ĐTTT làm ảnh hưởng tới quyền, lợiích của ĐTTT

Về công khai QĐTT với cơ quan, tổ chức, cánhân Theo quy định tại Luật Thanh tra 2004, LuậtThanh tra năm 2010 và Luật Phòng, chống thamnhũng năm 2005, chỉ quy định việc công khaiQĐTT với ĐTTT Tuy nhiên, theo Điều 10 củaLuật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi năm 2018,QĐTT cũng được công khai đối với cơ quan, tổchức, cá nhân Quy định này giúp cho các cơ quan,tổ chức, cá nhân thông qua việc công khai QĐTTthực hiện quyền giám sát hoạt động của CQTT.Nếu có hành vi vi phạm bao che cho ĐTTT thì các

cơ quan, tổ chức, cá nhân thì cơ quan nhà nướcthực hiện quyền kiểm tra, các tổ chức, cá nhânkhác thực hiện quyền kiến nghị, tố cáo hành vi viphạm của CQTT, ĐTT Do vậy, CQTT khi thựchiện công khai QĐTT cũng sẽ thực hiện đúng quyđịnh pháp luật, không có tình trạng dừng cuộc TThoặc kết luận thanh tra (KLTT) chưa hết nội dungtrong QĐTT

5 Công khai việc tiến hành thu thập thông tin, tài liệu, xác minh với Đttt

Trong quá trình thanh tra (QTTT), Trưởng ĐTT,

Trang 22

thành viên ĐTT, Người ra QĐTT tiến hành thu thập

tài liệu, chứng cứ từ ĐTTT, các cơ quan, tổ chức, cá

nhân có liên quan nhằm chứng minh đối tượng có vi

phạm pháp luật hay không vi phạm pháp luật Khi

thực hiện, Trưởng ĐTT, thành viên ĐTT và người

ra QĐTT phải công khai với ĐTTT thông qua thủ

tục bắt buộc khi thực hiện thủ tục QTTT, thủ tục

thực hiện QTT, cụ thể: LTT năm 2004 và Nghị định

hướng dẫn thi hành quy định: “Khi tiến hành TT, TT

viên, Trưởng ĐTT hoặc người ra QĐTT có quyền

yêu cầu ĐTTT cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo

bằng văn bản, giải trình về những vấn đề liên quan

đến nội dung TT” 8

LTT năm 2010 và Nghị định hướng dẫn thi hành

quy định: “Trong QTTT, Trưởng ĐTT, thành viên

ĐTT, công chức được giao thực hiện nhiệm vụ TT

chuyên ngành hoặc người ra QĐTT có quyền yêu

cầu ĐTTT cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng

văn bản, giải trình về những vấn đề liên quan đến

nội dung TT” 9 và “Trường hợp cần thiết để kiểm tra,

xác minh thông tin, tài liệu hoặc làm rõ những vấn

đề có liên quan đến nội dung TT thì Trưởng ĐTT,

người ra QĐTT mời ĐTTT, đại diện cơ quan, tổ

chức, hoặc cá nhân có liên quan đến làm việc…

Trường hợp cần làm rõ những vấn đề có liên quan

đến nội dung TT thì Trưởng ĐTT, người ra QĐTT có

công văn yêu cầu yêu cầu ĐTTT báo cáo…” 10

Quyền tìm kiếm thông tin, tài liệu, chứng cứ

của ĐTTT cần phải được ghi nhận và bảo đảm thực

hiện Vì vậy, việc tiến hành thu thập thông tin, tài

liệu, xác minh phải công khai với ĐTTT để ĐTTT

nắm bắt nội dung thông tin, yêu cầu của ĐTT, kịp

thời báo cáo, giải trình với ĐTT hoặc đề xuất ý kiến

của ĐTTT với ĐTT Nếu không công khai hoặc

công khai một phần nội dung, yêu cầu của ĐTT thì

đối tượng không nắm bắt được nội dung, yêu cầu

của ĐTT, hoặc hiểu sai ý kiến của ĐTT dẫn tới

không hợp tác tốt với ĐTT

6 Công khai với Đttt việc giải quyết khiếu

nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của Đttt

Việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của

ĐTTT được thực hiện theo quy định của Luật

Khiếu nại, tố cáo năm 1998, sửa đổi năm 2004,

2005 và được thay thế bởi Luật Khiếu nại năm

2011, Luật Tố cáo năm 2011, Luật Tố cáo 2018,

Luật Tiếp công dân 2013 Theo đó, người khiếu nạiđược nhận văn bản trả lời về việc thụ lý để giảiquyết khiếu nại; nhận quyết định giải quyết khiếunại Người tố cáo được thông báo kết quả giải quyếttố cáo Người kiến nghị, phản ánh được nhận vănbản trả lời về thông báo kết quả giải quyết kiếnnghị, phản ánh

Nội dung công khai này giúp ĐTTT biết đượcviệc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh củaĐTTT đúng hay sai, từ đó nhận thức và có hànhđộng đúng quy định pháp luật hoặc qua việc côngkhai này ĐTTT nhận thấy ĐTT, người ra QĐTTthực hiện không đúng quy định pháp luật thì ĐTTTthực hiện các biện pháp bảo vệ với cơ quan có thẩmquyền xem lại việc thực hiện nhiệm vụ của ĐTT,người ra QĐTT Với việc công khai này cũng giúpĐTT, người ra QĐTT phải thực hiện đúng quy địnhpháp luật, thận trọng trong việc giải quyết khiếunại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của ĐTTT

7 Công khai việc thay đổi trưởng Đtt, thành viên Đtt với Đttt

Việc thay đổi Trưởng ĐTT, thành viên ĐTT tạiLuật Thanh tra năm 2004 chưa nêu cụ thể việccông khai với ĐTTT Tuy nhiên trên thực tiễn cácĐTT vẫn thực hiện theo NTCK chung cho toàn bộHĐTT, Luật Thanh tra 2010 và văn bản hướng dẫnthi hành đã quy định cụ thể về vấn đề này, theo đó

“quyết định thay đổi Trưởng ĐTT được gửi cho ĐTT, ĐTTT và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan” 11

và “quyết định thay đổi, bổ sung thành viên ĐTT được gửi cho ĐTT, ĐTTT và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan” 12 Việc công khai này giúp cho

ĐTTT biết người nào là thành viên ĐTT, TrưởngĐTT thực hiện nhiệm vụ TT tại đơn vị, tránh việcđể lộ thông tin qua việc cung cấp thông tin, tài liệu,chứng cứ cho người không có thẩm quyền ảnhhưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp củaĐTTT Việc công khai này cũng tránh được việcmạo danh, nhũng nhiễu ĐTTT

8 Công khai với Đttt về việc kết thúc thời gian tt

Kết thúc thời gian TT là việc ĐTT dừng việc TTtheo quy định tại QĐTT Theo Quyết định2151/2006/QĐ-TTCP về quy chế hoạt động của

ĐTT quy định: “Khi kết thúc việc TT tại nơi được

Trang 23

TT, Trưởng ĐTT có trách nhiệm thông báo bằng văn

bản cho Thủ trưởng cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân

là ĐTTT biết” Quy định này tiếp tục được khẳng

định tại Thông tư 05/2014/TT-TTCP ngày 16 tháng

10 năm 2014, cụ thể: “Trưởng ĐTT thông báo bằng

văn bản về thời gian kết thúc TT tại nơi được TT và

gửi cho ĐTTT biết Trường hợp cần thiết, có thể tổ

chức buổi làm việc với ĐTTT để thông báo việc kết

thúc TT trực tiếp Nội dung làm việc được lập thành

biên bản kết thúc việc TT tại nơi được TT” 14

Quy định này tiếp tục được ghi nhận cụ thể tại

Thông tư 06/2021/TT-TTCP thay thế Thông tư

05/2014/TT-TTCP, cụ thể tại Điều 28 của Thông tư

quy định: “thông báo bằng văn bản cho ĐTTT về

việc kết thúc TT trực tiếp Trong trường hợp cần

thiết, Trưởng ĐTT tổ chức buổi làm việc với ĐTTT

để thông báo việc kết thúc TT trực tiếp” đã giúp

ĐTTT biết việc kết thúc TT, (trừ trường hợp người

ra QĐTT yêu cầu ĐTTT hoặc yêu cầu Trưởng

ĐTT, thành viên ĐTT cung cấp thêm thông tin, tài

liệu, báo cáo, giải trình làm rõ thêm nội dung TT)

Qua đó, tránh trường hợp nhũng nhiễu tới ĐTTT

9 Công khai dự thảo Kltt với Đttt

Trước khi ban hành KLTT, nhằm đảm bảo tính

chính xác, khách quan, dân chủ, pháp luật quy

định: “Trong trường hợp Người ra QĐTT gửi dự

thảo KLTT cho ĐTTT và ĐTTT có văn bản giải

trình thì Trưởng ĐTT có trách nhiệm nghiên cứu và

đề xuất với Người ra QĐTT hướng xử lý nội dung

giải trình của ĐTTT” Quy định này tiếp tục được

khẳng định sau khi văn bản này được sửa đổi tại

Nghị Định 86/2011/NĐ-CP và Thông tư

05/2014/TT-TTCP: Trước khi KL chính thức, nếu

xét thấy cần thiết thì người ra QĐTT gửi dự thảo

KLTT cho ĐTTT Việc giải trình những vấn đề

chưa nhất trí (nếu có) của ĐTTT với nội dung của

dự thảo KLTT được thực hiện bằng văn bản và có

các bằng chứng kèm theo16

Nội dung này tiếp tục được ghi nhận trong

Thông tư 06/2021/TT-TTCP, cụ thể: “Trong trường

hợp yêu cầu ĐTTT giải trình thì người ra QĐTT gửi

văn bản yêu cầu kèm theo dự thảo KLTT hoặc một

số nội dung trong dự thảo KLTT liên quan đến yêu

cầu giải trình” 17 Qua việc công khai dự thảo KLTT

với ĐTTT, giúp ĐTTT biết về nội dung KL chấp

hành pháp luật của ĐTTT thuộc nội dung trongQĐTT, kịp thời kiến nghị, phản ánh, báo cáo, giảitrình những nội dung mà ĐTTT cho rằng chưađúng, chưa phù hợp Trên cơ sở giải trình củaĐTTT, ĐTT kiểm tra lại nội dung mà ĐTTT có ýkiến, nếu đủ chứng cứ chứng minh thì kiến nghịngười ra QĐTT sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ nộidung chưa phù hợp Trường hợp kiến nghị, phảnánh, báo cáo, giải trình không đúng thì Trưởng ĐTTbáo cáo Người ra QĐTT và giữ nguyên nội dungkết luận Với các quy định này đảm bảo tính chínhxác, khách quan, kịp thời trong HĐTT

10 Công khai Kltt

Luật Thanh tra năm 2004 và Luật Thanh tranăm 2010 quy định: người ra văn bản KLTT cótrách nhiệm công bố hoặc gửi KLTT cho ĐTTT.Việc quy định này giúp ĐTTT biết về đánh giá củaCQTT về việc chấp hành pháp luật của ĐTTT, quađó ĐTTT có thể bảo vệ quyền lợi của đơn vị, cánhân mình bằng hình thức kiến nghị, phản ánh vềKLTT những nội dung mà đối tượng cho rằngkhông đúng hoặc tố cáo hành vi vi phạm pháp luậtcủa Trưởng ĐTT, thành viên ĐTT, người ra QĐTT.Qua việc công khai KLTT với ĐTTT cũng giúpTrưởng ĐTT, CQTT xem xét kỹ lưỡng hơn các ýkiến từ phía ĐTTT bảo đảm KLTT chính xác,khách quan tránh việc kết luận sai cho ĐTTT.Theo quy định của Luật Phòng, chống thamnhũng năm 2005, KLTT không chỉ công khai vớiĐTTT mà phải công khai với cơ quan, tổ chức, cá

nhân, báo chí, cụ thể: “KLTT phải được công khai,

trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” 18 Nhưvậy, những KLTT có nội dung mật theo Quyết địnhsố 588/2004/QĐ-BCA(A11) ngày 25/6/2004; năm

2015 được thay thế bởi Thông tư 08/2015/TT-BCAngày 27/01/2015 và đến nay được thay thế bởiQuyết định 774/QĐ-TTg ngày 05/6/2020 quy địnhvề danh mục tài liệu mật thuộc lĩnh vực TT, giảiquyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống thamnhũng Ngoài ra, các CQTT được đặt trong hệthống các cơ quan nội chính, vì vậy cũng chịu sựđiều chỉnh của Thông tư 08/2014/TT-BCA-A81ngày 21/2/2014 quy định về danh mục bí mật nhànước độ mật của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng,chống tham nhũng và Ban nội chính Trung ương

Trang 24

tÀI lIeÄu tHAm KHẢo VÀ tRÍCH DẪn:

1Xem: Đề tài khoa học cấp Bộ: “Công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị theo quyđịnh của Luật Phòng, chống tham nhũng - Thực trạng và giải pháp, Thanh tra Chính phủ, 2011, Phạm Trọng Đạt

2Khoản 1, Điều 7 Luật Thanh tra 2010

3Khoản1, Điều 9 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018

4Khoản 2, Điều 16 Thông tư 05/2014/TT-TTCP ngày 16 tháng 10 năm 2014

5Khoản 2, Điều 37 Luật Thanh tra năm 2004

Trường hợp KLTT có các nội dung được quy

định như sau: “Tin, tài liệu, số liệu tuyệt đối về tình

hình, công tác nội chính và phòng, chống tham

nhũng chưa công bố hoặc không công bố Tin, tài

liệu, số liệu về hoạt động phòng, chống tham nhũng

của các bộ, ngành, địa phương chưa công bố… Ý

kiến chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng,

chống tham nhũng và ý kiến của Ban Nội chính

Trung ương với các ngành trong khối nội chính và

các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan về những

vấn đề nhạy cảm thuộc lĩnh vực công tác nội chính

và phòng, chống tham nhũng chưa công bố hoặc

không công bố (trừ trường hợp thuộc Danh mục bí

mật nhà nước độ Tuyệt mật, Tối mật)… nội dung làm

việc, trao đổi về những vấn đề liên quan đến an ninh,

chính trị, đối ngoại chưa công bố hoặc không công

bố (trừ trường hợp thuộc Danh mục bí mật nhà nước

độ Tuyệt mật, Tối mật)” 19thì không công khai với

cơ quan, tổ chức, cá nhân, chỉ công bố với ĐTTT và

các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để ĐTTT

biết và thực hiện KLTT Việc không công khai này

đảm bảo tránh các thế lực thù địch, phản động kích

động người dân ảnh hưởng tới hoạt động QLNN,

trật tự xã hội, lòng tin của công dân vào Nhà nước,

lợi ích quốc gia

Về hình thức công khai KLTT Thứ nhất, công

bố tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị; thứ

hai, niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ

chức, đơn vị; thứ ba, thông báo bằng văn bản đến cơ

quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan; thứ tư,

phát hành ấn phẩm; thứ năm, thông báo trên các

phương tiện thông tin đại chúng; thứ sáu, đưa lên

trang thông tin điện tử; thứ bảy, cung cấp thông tin

theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức cá nhân20 Với

những hình thức công khai này, theo quy định tạiđiểm a, Khoản 2, Điều 39 LTT quy định, công khai

KLTT được thực hiện bằng hình thức: “Công bố tại

cuộc họp với thành phần bao gồm người ra QĐTT, ĐTT, ĐTTT, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan hoặc tổ chức họp báo”

Thông qua việc quy định các hình thức côngkhai này giúp các CQTT căn cứ nội dung văn bảnKLTT, tình hình tại đơn vị, địa phương, phươngtiện tiếp cận của người dân mà lựa chọn hình thứccông khai phù hợp Qua đó, bảo đảm việc các cơquan, tổ chức, cá nhân, báo chí đều có thể tiếp cậnvăn bản Đặc biệt Thông tư 06/2021/TT-TTCP

còn quy định cụ thể, rõ hơn về việc “KLTT phải

được công khai toàn văn theo quy định của pháp luật, trừ nội dung bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật” 21

Ngoài ra, pháp luật cũng quy định cách thức tiếpcận thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân, theoquy định tại Nghị định 120/2006/NĐ-CP và đượcsửa đổi tại Nghị định 59/2013/NĐ-CP

Quyền tiếp cận thông tin tiếp tục được khẳngđịnh qua Luật Tiếp cận thông tin ban hành năm

2016, quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tụcthực hiện quyền tiếp cận thông tin, trách nhiệm,nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc bảođảm quyền tiếp cận thông tin của công dân Vớicác quy định này, bảo đảm cho công dân tiếp cậnđầy đủ, chính xác thông tin về văn bản KLTT.Qua đó, thực hiện quyền giám sát với hoạt độngcủa cơ quan QLNN, kịp thời kiến nghị, phản ánh,khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơquan, tổ chức, cá nhân, bảo đảm tăng cường hiệulực hiệu quả QLNN n

Trang 25

CuRRent PRoVIsIons of PuBlICItY PRInCIPles

of InsPeCtIon In VIetnAm

lMaster Le Thanh Thuy

School of InspectorsGovernment inspector

ABstRACt:

This paper analyzes current provisions of publicity principles of inspection in Vietnam.Based on the paper’s findings, some recommendations are made to strengthen and ensure theenforcement of these provisions fully and effectively in the coming time

Keywords: public, rule, law, inspection

6Điều 37 Luật Thanh tra năm 2004 và Điều 25 Nghị định 41/2005/NĐ-CP

7Khoản 1,2 Điều 26 Nghị định 86/2011/NĐ-CP

8Khoản 1, Điều 27 Nghị định 41/2005/NĐ-CP ngày 25 tháng 3 năm 2005

9Khoản 1, Điều 34 Nghị định 86/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2011

10Khoản 1, Điều 24 Thông tư 05/2014/TT-TTCP ngày 16 tháng 10 năm 2014

11Khoản 3, Điều 10, Thông tư 05/2014/TT-TTCP ngày 16 tháng 10 năm 2014

12Khoản 4, Điều 11, Thông tư 05/2014/TT-TTCP ngày 16 tháng 10 năm 2014

13Điều 21, Quyết định 2151/2006/QĐ-TTCP ngày 10 tháng 11 năm 2006

14Khoản 3, Điều 31, Thông tư 05/2014/TT-TTCP ngày 16 tháng 10 năm 2014

15Khoản 2, Điều 54, Quyết định 2151/2006/QĐ-TTCP ngày 10 tháng 11 năm 2006

16Khoản 2, Điều 30 Nghị định 86/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2011

17Khoản 3, Điều 41, Thông tư 06/2021/TT-TTCp ngày 01 tháng 10 năm 2021

18Điểm a, Khoản 2, Điều 27 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005

19Khoản 1,2,4,6 Điều 1 Thông tư 08/2014/TT-BCA(A18) ngày 21 tháng 02 năm 2014

20Điều 12, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005

ngày nhận bài: 18/9/2021

ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 2/10/2021

ngày chấp nhận đăng bài: 20/10/2021

Thông tin tác giả:

ths le tHAnH tHuÛY

trường Cán bộ thanh tra

thanh tra Chính phủ

Trang 26

toÙm tAét:

Pháp luật về đất đai là cơ sở để xác lập chế độ sở hữu đất đai, quyền hạn và trách nhiệm củaNhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, xác lập chế độquản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với đất đai thuộc lãnh thổcủa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Tuy nhiên, trong bối cảnh xây dựng nhà nướckiến tạo, phát triển hiện nay, pháp luật về đất đai còn tồn tại những bất cập cần hoàn thiện

từ khóa: pháp luật đất đai, bất cập, hoàn thiện.

HoÀn tHIeÄn PHÁP luẬt ĐẤt ĐAI

ĐÁP ỨnG YeÂu CẦu xÂY DƯïnG nHÀ nƯơÙC KIeÁn tAïo, PHÁt tRIển

lnguyễn Trọng nhã

1 Bất cập của pháp luật đất đai

1.1 Thiếu sự đồng nhất giữa các văn bản

pháp luật

- Về nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho

quyền sử dụng đất (QSDĐ) trồng lúa: Điều 609,

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, cá nhân có

quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình;

để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo

pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo

pháp luật Trong khi đó, Khoản 3, Điều 191, Luật

Đất đai năm 2013 quy định, hộ gia đình, cá nhân

không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được

nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho QSDĐ trồng

lúa Quy định này của Luật Đất đai làm hạn chế,

triệt tiêu quyền tặng cho, để lại di sản của cá nhân

hoặc quyền được nhận tặng cho, thừa kế là QSDĐ

trồng lúa từ người khác

- Về thu hồi đất: Điểm b khoản 1 Điều 16 Luật

Đất đai năm 2013 quy định, trường hợp Nhà nước

quyết định việc thu hồi đất do vi phạm pháp luậtđất đai Tuy nhiên, điểm a khoản 2 Điều 71 củaluật này chỉ quy định, trường hợp cưỡng chế thuhồi đất để thực hiện các dự án đầu tư mà khôngquy định cưỡng chế đối với trường hợp thu hồi đất

do vi phạm pháp luật đất đai

Nội dung thông báo thu hồi đất được quy địnhtại khoản 1 Điều 67 Luật Đất đai năm 2013: “Nộidung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thuhồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm”.Khoản 1 Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CPquy định kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát,

đo đạc, kiểm đếm gồm các nội dung: “(a) Lý dothu hồi đất; (b) Diện tích, vị trí khu đất thu hồi trên

cơ sở hồ sơ địa chính hiện có hoặc quy hoạch chitiết xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩmquyền phê duyệt; trường hợp thu hồi đất theo tiếnđộ thực hiện dự án thì ghi rõ tiến độ thu hồi đất;(c) Kế hoạch điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm

Trang 27

đếm; (d) Dự kiến về kế hoạch di chuyển và bố trí

tái định cư; (đ) Giao nhiệm vụ lập, thực hiện

phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 17 Nghị định số

43/2014/NĐ-CP quy định nội dung thông báo thu

hồi đất gồm các nội dung tại điểm (a), (b), (c), (d)

của Khoản 1 Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP,

không bao gồm nội dung được quy định tại điểm (đ)

khoản 1 điều này Như vậy, nếu hiểu theo quy định

của Luật Đất đai năm 2013 thì thông báo thu hồi đất

phải đầy đủ 5 nội dung được quy định tại khoản 1

Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP nhưng khoản

2 điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định

thông báo thu hồi đất chỉ bao gồm 4 nội dung

- Luật Đất đai năm 2013 và Luật Xây dựng đã

có “sự vênh” khi Luật Đất đai quy định bồi thường

giải phóng mặt bằng là trách nhiệm của Nhà nước

nhưng trong Luật Xây dựng lại quy định bồi

thường giải phóng mặt bằng là trách nhiệm của

chủ đầu tư

- Về thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không

đúng quy định của pháp luật nhưng đã chuyển

mục đích sử dụng đất và đã được giải quyết theo

quy định của pháp luật: Theo điểm d khoản 2

Điều 106 Luật Đất đai, Nhà nước không thu hồi

Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật nếu người

được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện chuyển

QSDĐ (chuyển QSDĐ gồm: chuyển đổi, chuyển

nhượng, thừa kế, tặng cho QSDĐ và góp vốn bằng

QSDĐ) còn theo khoản 5 Điều 87 Nghị định số

43/2014/NĐ-CP của Chính phủ, chỉ có trường hợp

đã thực hiện thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng

QSDĐ, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, Nhà

nước mới không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp

trái pháp luật và đã bổ sung thêm một trường hợp

không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không

đúng quy định của pháp luật khi người được cấp

Giấy chứng nhận đã thực hiện chuyển mục đích sử

dụng đất

- Về quy trình thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp

không đúng quy định của pháp luật: Giữa Luật Đất

đai và Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày

06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số

Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai đã

có sự khác nhau Khoản 3 Điều 106 Luật Đất đai

chỉ quy định cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy thuhồi sau khi có kết luận của Thanh tra cùng cấp, vănbản có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩmquyền về giải quyết tranh chấp đất đai trong khikhoản 56 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP, thìquy định cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấytự phát hiện Giấy đã cấp không đúng quy định củapháp luật đất đai thì quyết định thu hồi

- Về niêm yết thông báo việc mất giấy chứngnhận QSDĐ: Khoản 2 Điều 77 Nghị định số43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủquy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấtđai, quy định sau 30 ngày, kể từ ngày niêm yếtthông báo về việc mất giấy chứng nhận QSDĐmới nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận Tuynhiên, tại điểm b khoản 2 Điều 10 Thông tư số24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tàinguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chínhquy định thời gian niêm yết là 15 ngày Điều nàygây khó khăn cho địa phương trong thực hiện cácthủ tục đất đai cho người dân

1.2 Chưa có quy định cụ thể

- Chưa quy định nguyên tắc trong chi trả tiềnbồi thường, hỗ trợ: Quy định tại Điều 93 Luật Đấtđai năm 2013 đảm bảo quyền lợi của người có đấtthu hồi trong nhận tiền bồi thường, hỗ trợ: “Trongthời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đấtcủa cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lựcthi hành, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồithường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ chongười có đất thu hồi” Tuy nhiên, quy định chưaxác định rõ trách nhiệm hoàn tất việc chi trả trongthời gian trên hay có thể chi trả tiền bồi thường, hỗtrợ thành nhiều đợt

- Các trường hợp thu hồi đất tại Điều 62 LuậtĐất đai hầu hết là dự án lớn, trong khi những quỹđất nhỏ lẻ, xen kẹt trong đô thị, các khu vực lợithế thương mại lại không thuộc diện Nhà nước thuhồi đất theo quy định để có thể khai thác được

- Về trình tự thủ tục thu hồi đất: Không quyđịnh phương pháp ghi nhận hiện trạng khu đất bịthu hồi tại thời điểm thông báo thu hồi đất

Theo quy định tại khoản 2 Điều 93 Luật Đấtđai năm 2013, các tài sản gắn liền với đất đượctạo lập sau khi có thông báo thu hồi đất của cơ

Trang 28

quan nhà nước có thẩm quyền thì không được bồi

thường Vì vậy, việc ghi nhận hiện trạng khu đất

bị thu hồi tại thời điểm thông báo thu hồi đất có ý

nghĩa rất quan trọng trong việc bồi thường tài sản

gắn liền với đất Trong thực tiễn nhiều vụ việc có

sự tranh chấp không thống nhất được tài sản gắn

liền với đất giữa người đang sử dụng đất bị thu hồi

với Hội đồng bồi thường giải toả, đặc biệt là các

loại cây trồng và những tài sản mà việc tạo lập

không không cần khai báo Nguyên nhân là do

người đang sử dụng đất bị thu hồi cố tình tạo lập

tài sản đón đầu việc bồi thường nhằm mục đích

nâng giá trị đất và tài sản trên đất khi bị Nhà nước

thu hồi đất Mặt khác, đây cũng là một kẽ hở để

những người có chức quyền trong Hội đồng đền

bù giải tỏa nâng khống số lượng cây trồng, vật

nuôi hoặc tạo điều kiện tiếp tay cho người sử dụng

đất bị thu hồi tạo dựng tài sản gắn liền với khu đất

bị thu hồi

- Về sử dụng đất nông nghiệp: Tại khoản 3

Điều 210 Luật Đất đai, Điều 74 Nghị định số

43/2014/NĐ-CP chỉ quy định nội dung, trình tự,

thủ tục gia hạn sử dụng đất; xác nhận tiếp tục sử

dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân khi

hết hạn sử dụng đất Tuy nhiên, hiện nay chưa có

quy định nào cho phép gia hạn sử dụng đất; xác

nhận tiếp tục sử dụng đất nông nghiệp cho cộng

đồng dân cư

- Luật Đất đai chưa có quy định và hướng dẫn

rõ ràng về chuyển nhượng một phần dự án đầu tư

Đến nay, chưa có hướng dẫn trong việc lập, thẩm

định, phê duyệt phương án sử dụng đất với quỹ đất

thu hồi của các nông, lâm trường giao cho địa

phương quản lý cũng như việc áp dụng pháp luật

trong giao đất, cấp giấy chứng nhận QSDĐ, xác

định thời điểm sử dụng đất để tính toán nghĩa vụ

tài chính Các tổ chức kinh tế nhận chuyển

nhượng đất để thực hiện dự án nhưng vì lý do nào

đó không được phép tiếp tục thực hiện dự án thì

QSDĐ được xử lý như thế nào? Khi đất hết thời

hạn sử dụng việc gia hạn chưa có quy định cụ thể

- Pháp luật đất đai chưa có quy định về

condotel, bất động sản nghỉ dưỡng, làm hạn chế

sự phát triển của thị trường này và gây lúng túng

trong quy trình quản lý, như: Quy chuẩn quy

hoạch, việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ và quyềnsở hữu căn hộ khách sạn cho khách hàng muacondotel; thời hạn sở hữu đối với bất động sảnnghỉ dưỡng; mua bán chuyển nhượng hợp đồngbất động sản nghỉ dưỡng trong tương lai,

2 một số quy định còn bất hợp lý

- Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Tại điểm

a khoản 2 Điều 27 Nghị định số 77/2015/NĐ-CPngày 10/9/2015 của Chính phủ về kế hoạch đầu tưcông trung hạn và hàng năm thì việc phê duyệtQuyết định đầu tư đến ngày 31/10 của năm trướcnăm kế hoạch; do đó, việc đăng ký danh mục côngtrình, dự án cho kế hoạch sử dụng đất của năm sau

bị ảnh hưởng

Tại điểm a khoản 4 Điều 9 Nghị định số43/2014/NĐ-CP quy định, trong quý III hàng năm,UBND cấp huyện gửi hồ sơ kế hoạch sử dụng đấthàng năm của năm sau đến Sở Tài nguyên và Môitrường để thẩm định Do đó, nếu áp dụng theoNghị định số 43/2014/NĐ-CP vào thời gian này thìnhiều dự án đầu tư công vẫn chưa được phê duyệt

- Về khung giá đất: Quy định về khung giá đấthiện nay hoàn toàn không có khả năng điều tiếtcác yếu tố về giá trị đất đai Một trong nhữngnguyên tắc định giá đất là phải “phù hợp” với giáđất phổ biến trên thị trường, nhưng trên thực tếthực hiện thì hầu như khung giá đất thấp hơn giáthị trường rất nhiều lần Điều này dẫn đến khókhăn trong công tác giải phóng mặt bằng khi màgiá đền bù chênh lệch quá nhiều so với giá thịtrường, khiến cho người bị thu hồi đất thiệt thòi vàkhông có sự đồng thuận

Vì thế, khi Nhà nước thu hồi đất để triển khaicác dự án luôn bị “vướng” bởi yếu tố này, khiếncho các công trình bị chậm tiến độ, đồng thời tìnhtrạng khiếu kiện về đất đai cũng tăng mạnh, có sự

so bì giữa những người có đất bị thu hồi trên cùngmột vị trí hoặc vùng lân cận

Bên cạnh đó, trong thời gian qua nhiều doanhnghiệp được Nhà nước cho thuê đất, giao đất đãthực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyểncông năng sử dụng của công trình xây dựng gắnliền với đất, nhất là chuyển mục đích sử dụng từ đấtnông nghiệp thành đất phi nông nghiệp, đất ở thựchiện dự án kinh doanh bất động sản Căn nguyên

Trang 29

của phong trào này là giá đất do Nhà nước quy định

quá thấp so với giá thị trường, số tiền sử dụng đất

khi chuyển đổi mục đích đất là không nhiều trong

khi số tiền lợi nhuận thu được là cực lớn Điều này

đã và đang trở thành một điều kiện để các chủ đầu

tư “trục lợi” từ đất đai, làm ngân sách nhà nước thất

thu gấp nhiều lần so với số tiền thu được

- Về xác định hành vi vi phạm pháp luật đất

đai: Tại Khoản 3 Điều 22 Nghị định số

43/2014/NĐ-CP chỉ quy định vi phạm pháp luật

đất đai trước ngày 01/7/2014, Nghị định không

quy định cụ thể việc xác định hành vi vi phạm

pháp luật đất đai (lấn, chiếm đất) để không được

cấp Giấy chứng nhận như đã quy định tại Điểm đ

Khoản 4 Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP

ngày 25/5/2007 của Chính phủ trước đây Do đó,

những hành vi tự tạo lập, khai hoang, thấy đất

trống đến dựng làm nhà ở trước ngày 15/10/1993

xảy ra khá nhiều nhưng không quy định thì có xem

là hành vi lấn chiếm đất hoặc tự chuyển mục đích

sử dụng đất mà chưa được cơ quan nhà nước có

thẩm quyền cho phép không

Khi cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp

này áp dụng theo khoản 1 Điều 20 Nghị định số

43/2014/NĐ-CP (không nộp tiền sử dụng đất đối

với diện tích trong hạn mức đất ở) hay khoản 3

Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và phải nộp

tiền theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định

45/2014/NĐ-CP của Chính phủ (nộp 50% tiền sử

dụng đất đối với diện tích trong hạn mức đất ở

theo giá đất quy định tại Bảng giá đất)

- Về việc cho phép chuyển đổi mục đích sử

dụng đất: Theo khoản 1 Điều 58 Luật Đất đai năm

2013, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất phải

có Nghị quyết của HĐND tỉnh, mà Nghị quyết

HĐND tỉnh chỉ cho phép chuyển mục đích sử dụng

đất lúa dưới 10ha/dự án; đất rừng đặc dụng, rừng

phòng hộ dưới 20ha/dự án Vấn đề bất cập ở đây

là HĐND các tỉnh, thành có thể “lách luật” bằng

cách ban hành nhiều nghị quyết cho phép chuyển

đổi mục đích sử dụng đất trong 1 năm, nhiệm kỳ

với nhiều dự án trên một khu đất rộng hàng chục

hoặc hàng trăm ha

- Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

chưa cụ thể, rõ ràng khó thực hiện: Điều 68 Luật

Đất đai năm 2013 quy định tổ chức làm nhiệm vụbồi thường giải phóng mặt bằng gồm Hội đồngbồi thường, hỗ trợ và tái định cư và Tổ chức pháttriển quỹ đất Tuy nhiên Luật và các văn bảnhướng dẫn thi hành không quy định cụ thể thànhviên thành phần của các thành viên trong Hộiđồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư, không quyđịnh nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng và cơchế phối hợp của Hội đồng với các cơ quan, tổchức khác trong quá trình giải phóng mặt bằng.Điểm a khoản 2 Điều 69 Luật Đất đai năm

2013 quy định “Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường,giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập phươngán bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phối hợp vớiUBND cấp xã nơi có đất thu hồi tổ chức lấy ý kiếnvề phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theohình thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trongkhu vực có đất thu hồi, đồng thời niêm yết côngkhai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tạitrụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung củakhu dân cư nơi có đất thu hồi.”

Ở đây cần xác định người có đất thu hồi chỉ làmột đối tượng trong số những người dân trong khuvực có đất thu hồi cần phải lấy ý kiến, như vậynhững đối tượng còn lại là ai vẫn chưa được quyđịnh cụ thể

- Việc cưỡng chế thực hiện quyết định kiểmđếm bắt buộc chưa được quy định chặt chẽ thiếucụ thể: Ngoài quy định tại Điều 70 Luật Đất đainăm 2013 về cưỡng chế thực hiện quyết địnhkiểm đếm bắt buộc đối với những người sử dụngđất không hợp tác với Hội đồng bồi thường giảitỏa để tiến hành kiểm đếm, không có một văn bảnnào hướng dẫn thi hành trong khi công tác cưỡngchế thi hành quyết định kiểm đếm bắt buộc cũngkhông kém phần phức tạp so với việc cưỡng chếthu hồi đất

Về trình tự thủ tục thực hiện Quyết định cưỡngchế kiểm đếm bắt buộc quy định tại khoản 4 điều

70 Luật Đất đai năm 2013 cũng chưa cụ thể vàchặt chẽ, chỉ quy định Tổ chức được giao thực hiệncưỡng chế đã vận động, thuyết phục, đối thoại vớingười bị cưỡng chế mà họ không chấp hành thì thihành quyết định cưỡng chế mà không quy địnhthời gian bao lâu sau khi đã vận động, thuyết

Trang 30

phục, đối thoại để người bị cưỡng chế tự nguyện

thi hành Quy trình tiến hành tại buổi cưỡng chế

thực hiện quyết định kiểm đếm như thế nào,

phương án cưỡng chế, nhiệm vụ của các thành

viên tham gia cưỡng chế, biên bản cưỡng chế,…

và nhiều vấn đề khác chưa được quy định cụ thể

dẫn đến một thực trạng ở mỗi dự án khác nhau

việc tổ chức thực hiện cưỡng chế kiểm đếm bắt

buộc khác nhau

- Quy định nhà đầu tư tự thỏa thuận nhận

chuyển nhượng, thuê QSDĐ, nhận góp vốn bằng

QSDĐ (Điều 73 Luật Đất đai) thực hiện còn khó

khăn do chưa có cơ chế để xử lý đối với các trường

hợp chưa thỏa thuận được

- Khung giá đất, phương pháp định giá đất quy

định trong Luật Đất đai năm 2013 vẫn mang nặng

tính số học, chưa thể hiện được đầy đủ đặc tính

kinh tế của đất đai, chưa phù hợp với thực tế của

thị trường đất đai (Giá đất bồi thường thường thấp

hơn giá đất cùng loại trên thị trường) Với mỗi

phương pháp định giá khác nhau lại cho ra một

mức giá khác nhau Lỗ hổng này đã bị lợi dụng để

trục lợi làm thất thoát lãng phí tài sản đất đai diễn

ra ở nhiều nơi

- Việc xác định nguồn gốc sử dụng đất khai

hoang hay lấn chiếm để cấp GCNQSDĐ không có

giấy tờ theo quy định tại Điều 100 Luật Đất đai

còn nhiều bất cập

- Luật Đất đai đã hạn chế việc tiếp cận đất đai

với quy mô lớn, như: hạn điền chỉ từ 2ha đến 3ha,

nếu tập trung quá 10 lần sẽ chuyển sang thuê của

Nhà nước; quy định hộ gia đình, cá nhân không

trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận

chuyển nhượng, tặng cho đất trồng lúa Chính sự

giới hạn này đã dẫn đến các chủ thể tập trung

ruộng đất gặp khó khăn trong việc tạo lập, tìm

kiếm nguồn đầu tư kinh doanh cũng như hạn chế

sự tiếp cận đất nông nghiệp của các nhà đầu tư

- Về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về

đất đai: Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh

chấp về đất đai liên quan đến thẩm quyền của

nhiều cơ quan khác nhau: Bộ Tài nguyên và Môi

trường thực hiện chức năng quản lý đất đai, Bộ

Tài chính quản lý chính sách tài chính về đất đai,

Bộ Xây dựng quản lý về nhà ở Tình trạng này đã

gây khó khăn cho công dân và lúng túng trongviệc xác định thẩm quyền tham mưu giải quyết

3 Ảnh hưởng từ những bất cập của pháp luật đất đai

- Gây khó khăn, lúng túng cho các cơ quanquản lý nhà nước về đất đai trong quá trình thựchiện nhiệm vụ, quyền hạn, đồng thời cản trở, gâykhó khăn cho tổ chức, cá nhân trong quá trình thựchiện quyền, nghĩa vụ của họ đối với đất đai Tiềmnăng đất đai không được phát huy đúng mức

- Khiếu kiện kéo dài, đã đang hiện hữu và sẽphát sinh khi Nhà nước thu hồi đất nông dân đượcbồi thường về đất thấp hơn nhiều so với giá trị đấttheo thực tế thị trường Do đó, không có nguồn tàichính để tái tạo: “tư liệu sản xuất không thể thaythế trong nông nghiệp” và với một số nguyênnhân khác dẫn đến khiếu kiện kéo dài

Mặt khác, việc bồi thường về đất thấp hơnnhiều so với giá trị đất theo thực tế thị trường cũnglàm giảm nguồn lực tài chính huy động từ nôngnghiệp cho phát triển nông nghiệp, nông thôn donông dân khó tiếp cận vốn tín dụng khi dùng đất

ở, đất nông nghiệp thế chấp để vay vốn để đầu tưphát triển nông nghiệp Khi các hộ gia đình, cánhân cho doanh nghiệp thuê đất thì tiền thuê đấtthu được là quá thấp hoặc góp vốn liên doanh vớidoanh nghiệp thì giá trị vốn góp cũng thấp hơnnhiều so với giá thị trường của đất, gây thiệt hạicho nông dân Không ít hộ bỏ ruộng hoang còndoanh nghiệp khó thuê được đất nông nghiệp củadân để phát triển kinh doanh bằng công nghệ, kỹthuật cao cho những dự án sản xuất lớn

- Làm phát sinh và phát triển hành vi trục lợitừ đất đai: Giá đất do Nhà nước quy định quá thấp

so với mức giá phổ biến trên thị trường, dẫn tới sẽcó nhiều doanh nghiệp đang sử dụng đất thuê củaNhà nước, chuyển mục đích sử dụng sang đất

ở để thực hiện dự án kinh doanh bất động sản trục lợi

Giá đất Nhà nước quy định quá thấp lại đượcđịnh giá bằng phương pháp hệ số điều chỉnh giáđất chính là cơ hội cho các hành vi trục lợi từ đấtđai Vì những trường hợp này đều được định giátheo phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất để tínhthu tiền sử dụng đất

Trang 31

- Làm suy giảm nguồn lực tài chính từ đất đai

cho đầu tư phát triển: Theo quy định của pháp luật

đất đai hiện hành, tất cả các trường hợp chuyển

mục đích sử dụng đất từ loại đất khác sang đất ở

đều không phải đấu giá mà thực hiện định giá đất

để thu tiền sử dụng đất Việc định giá lại được

thực hiện bằng phương pháp hệ số điều chỉnh giá

đất Song bảng giá đất do các địa phương quy định

thấp nhiều hơn so với giá đất phổ biến trên thị

trường (có thể nói là tạo một khoảng cách biệt

lớn) lại là một căn cứ quan trọng để tổ chức tư vấn

thực hiện định giá và hội đồng thẩm định thực

hiện thẩm định, hơn nữa là một căn cứ để cơ quan

Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt giá đất tính

thu tiền sử dụng đất

Thực tế bán đất giá rất rẻ, mua công trình và

mua đất giá cao chót vót, đã và đang là hiện hữu

nghịch cảnh nhưng nó vẫn tồn tại và có nguy cơ

gia tăng

4 Giải pháp hoàn thiện pháp luật đất đai

Trên cơ sở phân tích bất cập của pháp luật đất

đai và hệ lụy của nó, tác giả đưa ra một số giải

pháp hoàn thiện pháp luật đất đai

- Cần rà soát, chỉnh sửa các quy định của pháp

luật đất đai, đặc biệt là Luật Đất đai với các quy

định của pháp luật có liên quan để đảm bảo tính

thống nhất của pháp luật Đồng thời, cũng cần bổ

sung một số quy định liên quan đến việc sử dụng

đất nông nghiệp, chuyển nhượng một phần dự án

đầu tư, biệt thự nghỉ dưỡng,…

- Đối với vấn đề thu hồi đất:

Cần bổ sung vào Điều 62 Luật Đất đai quy

định cụ thể về thu hồi đất theo quy hoạch, kế

hoạch sử dụng đất để tạo quỹ đất, trong đó quy

định về: Các trường hợp thu hồi đất theo quy

hoạch, kế hoạch sử dụng đất để khai thác quỹ đất

(trong đó bao gồm các trường hợp: (i) Thu hồi đất

của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp và doanh

nghiệp nhà nước trong trường hợp rà soát, sắp xếp

đất đai, đặc biệt là tại các vị trí có lợi thế và khả

năng sinh lợi cao; (ii) Thu hồi đất theo phương án

di dời các cơ sở sản xuất - kinh doanh, các trụ sở

cơ quan ra khỏi đô thị,…; cơ chế, chế tài để đảm

bảo khai thác hiệu quả quỹ đất phụ cận các công

trình kết cấu hạ tầng theo quy hoạch Bổ sung một

số trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế - xãhội vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, đặc biệtlà thu hồi đất để thực hiện dự án có vốn đầu tưnước ngoài

Sửa đổi, bổ sung quy định cơ chế thu hồi đất do

vi phạm, đặc biệt là vi phạm về tiến độ sử dụngđất theo hướng đơn giản và dễ tổ chức thực hiệnhơn trên thực tế, sử dụng biện pháp kinh tế (đánhthuế, phạt tiền nặng) thay cho biện pháp hànhchính thu hồi đất và không bồi thường, hỗ trợ vềđất và tài sản Bổ sung quy định về cơ chế xử lýđối với trường hợp nhà đầu tư không thỏa thuậnđược với chủ sử dụng đất để nhận chuyển nhượng,thuê, nhận góp vốn QSDĐ để thực hiện dự án sảnxuất - kinh doanh

Cần hoàn thiện các bước trong quá trình thuhồi đất trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc công khai,dân chủ, khoa học, chặt chẽ và công bằng; quyđịnh chi tiết về thành phần và chức năng nhiệm vụcủa Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cưnhằm đảm bảo cơ sở pháp lý và tính thống nhấttrong thành lập, hoạt động của Hội đồng

Nên thống nhất quy định về nội dung thôngbáo thu hồi đất giữa khoản 1 Điều 67 Luật Đất đaivà khoản 2 Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP,theo hướng nội dung thông báo thu hồi đất cần bổsung cả nội dung giao nhiệm vụ lập và thực hiệnphương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Bởiviệc thông báo thêm nội dung này đảm bảo sựthống nhất với Luật Đất đai và người dân biết cụthể nhiệm vụ của từng chủ thể, thuận lợi cho việcgiám sát của Nhân dân và trách nhiệm cung cấpthông tin, giải đáp thắc mắc cho người dân trongtừng công việc cụ thể

Nên quy định chi tiết cụ thể về lấy ý kiến vàphản hồi ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợtái định cư Cần xác định rõ người dân trong khu vực có đất thu hồi được lấy ý kiến cụ thể lànhững đối tượng nào hoặc quy định nguyên tắc đểxác định

Khi chi trả tiền bồi thường về đất đai, cần xâydựng nguyên tắc “chi trả một lần và trả đủ số tiềntheo quyết định phê duyệt phương án bồi thường,hỗ trợ, tái định cư”; quy đinh chi tiết về công táccưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt

Trang 32

buộc, cụ thể về chủ thể thực hiện, quy trình và

phương án cưỡng chế Về cưỡng chế thực hiện

quyết định thu hồi đất cần bổ sung quy định chi

tiết về phương án cưỡng chế Đồng thời, cũng cần

xác định rõ trách hiện của từng chủ thể và quy

định chi tiết xử lý sai phạm trong quá trình thực

hiện trình tự, thủ tục thu hồi đất

- Về khung giá đất: Có thể bỏ quy định về

khung giá đất, đồng thời giao quyền cho HĐND,

UBND cấp tỉnh ban hành “bảng giá đất” và xác

định giá đất cụ thể đối với từng trường hợp, trên

cơ sở giá đất thị trường Việc xây dựng khung giá

đất theo giá thửa đất chuẩn của vùng giá trị Song

hành cùng với đó là thay đổi phương thức tính tiền

sử dụng đất hiện nay để phù hợp với từng mục

đích sử dụng đất và khả năng tài chính của từng

đối tượng

- Nên quy định chi tiết về các dự án chuyển

nhượng một phần và cho gia hạn QSDĐ cho các

trường hợp chuyển nhượng QSDĐ không phải do

Nhà nước giao đất Quy định chặt chẽ với các

trường hợp xin cấp lại giấy chứng nhận QSDĐ để

tránh tình trạng người dân đã sang nhượng, thế

chấp vẫn kê khai xin cấp lại dẫn đến phát sinh

những vấn đề phức tạp

- Cần nghiên cứu, bổ sung quy định chế độ giao

đất có thu tiền sử dụng đất theo hạn mức để xâydựng cơ sở thờ tự, cho thuê đất đối với trường hợptổ chức tôn giáo sử dụng đất vào mục đích như xâydựng trường học, bệnh viện, cơ sở văn hóa đượcphép hoạt động; bổ sung quy định sử dụng đất cóyếu tố nước ngoài nhằm bảo đảm được an ninhquốc phòng, ổn định chính trị, kinh tế - xã hội, vừakhông tác động xấu đến môi trường đầu tư kinhdoanh có yếu tố nước ngoài

- Để phát triển thị trường nông nghiệp, thúcđẩy quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất nôngnghiệp theo yêu cầu phát triển nền nông nghiệpcông nghệ cao, hữu cơ và bền vững, Luật Đất đaicần có cơ chế linh hoạt để mở rộng hạn điền, mởrộng đối tượng được tiếp cận đất nông nghiệp; xâydựng những chính sách phù hợp với thị trườngchuyển nhượng, cho thuê ruộng đất, tạo hành langpháp lý về đất đai cho các đối tượng mua bánthuận lợi, thủ tục đơn giản Đồng thời, có chínhsách thuế, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp giaokhông thu tiền sử dụng đất cho hộ gia đình, cánhân và đất đã giao, cho thuê đối với doanhnghiệp nhưng lại bỏ hoang

- Nên tách 2 chức năng quyết định các vấn đềvề đất đai và thực thi quản lý đất đai cho một chủthể là UBND cấp huyện và UBND cấp tỉnh n

tÀI lIeÄu tHAm KHẢo:

1 Quốc hội (2015) Bộ luật Dân sự năm 2015.

2 Quốc hội (2013) Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành.

3 Thanh Hiền (2016) Nhiều bất cập trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Truy cập tại:

chung-nhan-quyen-su-dung-dat&dnn_ctr905_Main_rg_danhsachkhacChangePage=8.

http://dbnd.quangnam.gov.vn/Default.aspx?tabid=286&Group=9&NID=3796&nhieu-bat-cap-trong-cap-giay-4 Đặng Văn Cường (2021) Luật Đất đai hiện hành có những bất cập nào? Truy cập tại: https://baophapluat.vn/

bds/luat-dat-dai-hien-hanh-co-nhung-bat-cap-nao-post396595.html.

5 Nguyễn Phương Thảo (2018) Một số bất cập trong quy định về thu hồi đất trong Luật Đất đai 2013 Truy cập tại:

2013-304096/.

https://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/201806/mot-so-bat-cap-trong-quy-dinh-ve-thu-hoi-dat-trong-luat-dat-dai-6 Đoàn Phú (2021) Cần sớm điều chỉnh bất cập trong Luật Đất đai Truy cập tại: http://www.baodongnai.com.vn/

bandoc/202104/can-som-dieu-chinh-bat-cap-trong-luat-dat-dai-3054213/.

Trang 33

ImPRoVInG tHe lAw on lAnD’s sHoRtComInGs

In oRDeR to meet ReQuIRements

of A DeVeloPment stAte

National Academy of Public Administration

ABstRACt:

Land law prescribes the regime of land ownership, powers and responsibilities of the State inrepresenting the entire-people owner of land and uniformly managing land, the regime of landmanagement and use, the rights and obligations of land users involving land in the territory of theSocialist Republic of Vietnam However, in the current context of building a development state,the current Law on Land has many shortcomings that need to be improved

Keywords: land law, inadequacy, improve.

ngày nhận bài: 18/9/2021

ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 3/10/2021

ngày chấp nhận đăng bài: 21/10/2021

Thông tin tác giả:

ths nGuYeÃn tRọnG nHÃ

Học viện Hành chính Quốc gia

Trang 34

toÙm tAét:

Trong môi trường kỹ thuật số, người dùng internet có thể dễ dàng tiếp cận tác phẩm, sao chéptác phẩm và tạo ra nhiều bản sao để phân phối cho người khác gây ảnh hưởng nghiêm trọng đếnquyền lợi của các chủ thể quyền tác giả Để bảo vệ tác phẩm của mình, các chủ thể quyền tác giảđã sử dùng “biện pháp công nghệ bảo vệ - technological protection measures” (TPM) Phần đầubài nghiên cứu này làm sáng tỏ bản chất và nhu cầu bảo hộ pháp lý đối với biện pháp công nghệbảo vệ quyền tác giả Tiếp theo đó là nội dung nghiên cứu tìm hiểu những quy định cơ bản vềTPM tại Hiệp ước về quyền tác giả của WIPO và liên hệ với các quy định của Việt Nam

từ khóa: quyền tác giả, môi trường kỹ thuật số, biện pháp công nghệ bảo vệ quyền, Luật Sở

hữu trí tuệ, Hiệp ước WCT

BIeÄn PHÁP CoÂnG nGHeÄ BẢo VeÄ QuYeÀn tÁC GIẢ tHeo QuY ĐỊnH CuÛA HIeÄP ƯơÙC wCt

VÀ PHÁP luẬt VIeÄt nAm

lCao Thị Lê Thương

1 tPm là gì?

Dưới góc độ khoa học công nghệ, các biện

pháp công nghệ bảo vệ quyền tác giả là phần

mềm, linh kiện và các thiết bị khác mà chủ sở hữu

bản quyền sử dụng để bảo vệ tác phẩm, TPM có 2

loại chính là công nghệ kiểm soát quyền truy cập

tác phẩm và công nghệ kiểm soát việc sử dụng tác

phẩm (ii)1

(i) Kiểm soát quyền truy cập là kiểm soát cách

thức mà người dùng có thể xem, đọc, nghe hoặc

tiếp cận khác về nội dung tác phẩm2 Một số ví dụ

về TPM kiểm soát quyền truy cập tác phẩm, như:

mật khẩu, bức tường phí, giới hạn thời gian (ví dụ:thuê phim 48 giờ), giới hạn về số lượng ngườidùng đồng thời (ví dụ: sách điện tử trong thưviện), tính không tương thích có chọn lọc (ví dụ:đĩa CD sẽ đọc trong đầu đĩa CD, nhưng không đọctrong ổ đĩa CD máy tính),…

(ii) Kiểm soát quyền sử dụng cho phép tác giả,chủ sở hữu quyền tác giả giới hạn hành vi củangười dùng internet ngay cả khi họ đã truy cậpđược vào tác phẩm Tác giả, chủ sở hữu quyền tácgiả có thể giới hạn một tác phẩm có thể được xem,sao chép, truyền đạt, phát hoặc các hình thức sử

Trang 35

dụng khác ở mức độ nhất định3 Một số ví dụ về

TPM kiểm soát quyền sao chép tác phẩm, như: tác

phẩm chỉ đọc (sách điện tử), chặn tải xuống (nội

dung phát trực tuyến), chặn sao chép (nhạc kỹ

thuật số và phim), chặn in, ghi nhãn và hình mờ

lên tác phẩm,…

Hiện nay, nhiều TPM không chỉ dừng lại ở

phân loại nói trên mà có những TPM có cả chức

năng kiểm soát quyền truy cập và kiểm soát

quyền sao chép4

2 nhu cầu bảo hộ pháp lý đối với tPm?

Hiểu rằng những gì một công nghệ có thể làm,

một công nghệ khác có thể phá vỡ nó5nên TPM

cũng dễ dàng có thể bị phá vỡ khi người dùng

internet dùng một hay nhiều các thiết bị, cách

thức khác nhau làm vô hiệu hóa nó Internet là sự

kết nối với nhau trên toàn thế giới nên TPM có

thể bị phá vỡ bất cứ lúc nào, điều này sẽ dẫn đến

việc sử dụng, lưu hành trái phép các tác phẩm

được bảo hộ

Mặt khác, nếu chỉ những người sẵn sàng trả cái

“giá” mà chủ sở hữu quyền tác giả đặt ra mới có

cơ hội tiếp cận tác phẩm sẽ ảnh hưởng đến lợi ích

công cộng Đối với công chúng, ngoài các quyền

cơ bản, như: quyền được sống, quyền được mưu

cầu hạnh phúc, tự do ngôn luận,… họ còn có một

quyền hết sức quan trọng và chính đáng là quyền

được tiếp cận, kế thừa tri thức của nhân loại

Trong trường hợp này lợi ích của tác giả và công

chúng là mâu thuẫn nhau6 Chủ thể quyền tác giả

có thể sử dụng TPM để hạn chế tất cả người dùng,

trong đó có những trường hợp ngoại lệ

Có thể thấy, sử dụng TPM để bảo vệ tác phẩm

trong môi trường số là một nhu cầu tất yếu, song

chính các biện pháp này lại có nguy cơ bị vi phạm

Nhu cầu trước mắt là phải công nhận quyền bảo

vệ tác phẩm bằng TPM của chủ thể quyền tác giả

Sau đó, quy định việc bảo hộ pháp lý đầy đủ đối

với các TPM, như: khái niệm TPM, các trường

hợp TPM được bảo hộ hợp pháp; các hành vi

vi phạm với TPM, ngoại lệ trong việc vô hiệu

“Các Bên ký kết phải quy định sự bảo hộ pháp lý tương xứng và các biện pháp thực thi pháp lý hiệu quả đối với việc vô hiệu hóa các biện pháp công nghệ được tác giả sử dụng trong việc thực thi các quyền của mình theo Hiệp ước này hoặc Công ước Berne và ngăn chặn các hành vi mà không được tác giả cho phép hoặc không được phép theo luật đối với tác phẩm”

Theo Điều 11 WCT có thể thấy một số điểmsau về các TPM:

Thứ nhất, khái niệm

Hiệp ước WCT không đưa ra định nghĩa cụ thểmà cho phép các quốc gia thành viên có quyền tựquy định, miễn là luật quốc gia sẽ cung cấp sự bảohộ thích hợp và đầy đủ đối với các TPM Việckhông định nghĩa TPM như vậy phù hợp với đặcthù trong môi trường internet, vì công nghệ luônthay đổi nên không mô tả rõ ràng đối với thuậtngữ “biện pháp công nghệ” để đảm bảo khả năngthích ứng của Hiệp ước với những thay đổi củacông nghệ trong tương lai

Thứ hai, điều kiện các TPM sẽ được pháp luật bảo vệ Điều 11 WCT đã quy định định 3 yếu tố cần và đủ để 1 TPM được pháp luật bảo hộ như sau:

Yếu tố đầu tiên được phân tích trong Điều 11này đó chính là TPM phải hiệu quả nhưng ý nghĩacủa từ “hiệu quả” không được rõ ràng Có nghiêncứu cho rằng, từ "hiệu quả" đã được chèn để đảmbảo rằng nếu các TPM có thể quá dễ dàng bị phá

Trang 36

vỡ thì không được pháp luật bảo vệ7 Một nghiên

cứu khác lại lý giải rằng, một TPM bị phá vỡ vào

thời điểm không hoạt động hoặc hoạt động không

đúng cách (như bị lỗi phần mềm) thì không nhận

được sự bảo hộ của pháp luật8 Có thể nhận thấy

các nghiên cứu trên không chỉ ra chính xác cách

hiểu từ “hiệu quả”, nhưng nhìn chung không phải

bất cứ TPM nào cũng được pháp luật bảo vệ

Yếu tố tiếp theo, TPM được pháp luật bảo vệ

nếu nó được các tác giả sử dụng liên quan đến

thực hiện các quyền của họ theo Hiệp ước WCT

hoặc Công ước Berne Điều này có nghĩa là sự

bảo vệ pháp lý đối với các TPM chỉ có thể được

cấp cho các biện pháp công nghệ được chủ thể

quyền tác giả sử dụng trong khi thực hiện các

quyền của mình đối với các tác phẩm, hơn nữa các

quyền này phải là các quyền được quy định trong

Hiệp ươc WCT hoặc Công ước Berne Quy định

như vậy để loại trừ việc bảo vệ pháp lý đối với

các TPM không được sử dụng bởi tác giả, các chủ

thể có quyền khác hoặc TPMs áp dụng trên các

tác phẩm không được bảo hộ theo quy định Ví dụ:

tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ thì các TPM

hiệu quả được chủ thể có quyền khác sử dụng sẽ

không được bảo hộ pháp lý theo Điều 11, Hiệp

ước WCT

Cuối cùng, các TMP được áp dụng nhằm

“ngăn chặn các hành vi mà không được tác giả

cho phép hoặc không được phép theo luật đối với

tác phẩm” Có thể hiểu đơn giản là chỉ có những

hành vi phá vỡ các TPM không được tác giả cho

phép hoặc nhằm mục đích xâm phạm quyền tác

giả theo luật quốc gia mới bị coi là vi phạm Các

hành vi xâm phạm quyền tác giả này được quy

định trong luật đối với tác phẩm của mỗi quốc gia

là khác nhau, ví dụ ở Việt Nam là Luật Sở hữu trí

tuệ, ở Hoa kỳ là Luật Quyền tác giả năm 1976 và

Luật Quyền tác giả trong kỷ nguyên kỹ thuật số

năm 1998 Mục đích của yêu cầu thứ ba này là

đảm bảo rằng có sự tương đồng giữa phạm vi bảo

vệ quyền tác giả của các biện pháp công TPM và

Luật về quyền tác giả của các nước thành viên Vì

vậy, ngay cả khi TPM có đủ các điều kiện (1) và(2), nó cũng sẽ không được bảo vệ nếu các nướcthành viên không quy định về các hành vi khôngđược phép này

Thứ ba, các vấn đề không được giải quyết trong Điều 11 WCT

Hiệp ước WCT không yêu cầu cụ thể việc tíchhợp quy định về TPM trong luật về bản quyền màchỉ yêu cầu có “bảo hộ pháp lý tương xứng” Dođó, các quốc gia thành viên được tự do bảo vệTPM trong trong bất kỳ loại pháp luật nào nhưLuật Sở hữu trí tuệ, Luật An ninh mạng, LuậtCạnh tranh không lành mạnh,… Một số quốc giađã quy định ở các luật khác nhau như Nhật Bản đãphân chia phạm vi của các biện pháp công nghệgiữa Luật Bản quyền9và Luật Cạnh tranh khônglành mạnh10

Điều 11 Hiệp ước WCT không quy định hành

vi nào bị cấm đối với TPM và chủ thể nào phảichịu trách nhiệm trước hành vi đó Các hành vi bịcấm có thể là các hành vi gian lận nhằm vô hiệuhóa các TPM hoặc các hành vi giúp sức cho mụcđich phá vỡ TPM Tương ứng với các hình vi đó có

3 cách tiếp cận sau về chủ thể chịu trách nhiệm:người có hành vi gian lận phải chịu trách nhiệm,các doanh nghiệp kinh doanh các phương tiện phávỡ TPM phải chịu trách nhiệm và cả người thựchiện cùng doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm11

4 Quy định về tPm ở Việt nam

Pháp luật Việt Nam hiện hành đã ghi nhận chochủ thể có quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) bao gồmquyền tác giả áp dụng các biện pháp công nghệtại Điểm a, Khoản 1, Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ

2005, sửa đổi bổ sung 2009: “áp dụng biện phápcông nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạmquyền sở hữu trí tuệ” Ngay tại quy định này mụcđích của việc sử dụng TPM đã được quy định lànhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữutrí tuệ, trong đó có quyền tác giả Pháp luật ViệtNam đã đi theo hướng quy định các TPM là đểbảo vệ quyền SHTT, điều này khác với cách tiếpcận của WCT và của một số quốc gia khác quy

Trang 37

định các TPM dùng để bảo vệ tác phẩm có bản

quyền Điều này là do Việt Nam không tách dời

quy định quyền tác giả thành một Luật riêng mà

quy định chung trong Luật SHTT và đây là điều

luật chung về quyền tự bảo vệ của chủ thể có

quyền SHTT, nên quy định như vậy là hợp lý

- Về khái niệm

Luật SHTT hiện hành không đưa ra khái niệm

TPM, cũng không quy định các điều kiện khác để

nó được bảo hộ mà quy định về biện pháp công

nghệ bảo vệ quyền được hướng dẫn trong một số

một số văn bản dưới luật Tại các văn bản này,

TPM đã được giải thích rõ hơn nhưng lại chỉ quy

định mang tính liệt kê các chức năng của biện

pháp công nghệ (Xem Khoản 2, Điều 21, Nghị

định số 105/2006/NĐ-CP) hoặc xem xét dưới góc

độ đưa ra các thông tin quản lý quyền (xem Khoản

1, Điều 43, Nghị định số 100/2006/NĐ-CP) Việc

quy định như vậy chưa bao quát hết được bản chất

của TPM và không phù hợp với khả năng phát

triển khoa học của công nghệ

Hiện nay, trong quá trình xây dựng Luật Sửa

đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ,

khái niệm về TPM đã được quy định tại Điều 4

Giải thích từ ngữ như sau: "Biện pháp công nghệ

bảo vệ quyền là biện pháp sử dụng bất kỳ kỹ

thuật, công nghệ, thiết bị hoặc linh kiện nào trong

quá trình hoạt động bình thường có chức năng

chính nhằm bảo vệ quyền tác giả… khỏi các hành

vi được thực hiện mà không được cho phép của

chủ sở hữu quyền tác giả Biện pháp công nghệ

được coi là "hữu hiệu" khi các chủ thể quyền kiểm

soát việc sử dụng tác phẩm… được mã hóa thông

qua các ứng dụng kiểm soát truy cập, quy trình

bảo vệ hoặc kiểm soát sao chép”

Các nhà làm luật đang quy định TPM theo

hướng kỹ thuật và mục đích sử dụng, quy định như

vậy khá phù hợp với tinh thần của Hiệp ước WCT

và tính thích nghi khi các công nghệ về biện pháp

bảo vệ này thay đổi Tuy nhiên, mục đích của

TPM theo dự thảo này là nhằm bảo vệ quyền tác

giả khỏi các hành vi được thực hiện mà không

được cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả, chứkhông phải hành vi mà pháp luật cấm Vì vậy, cáchành vi mà tác giả đưa ra có thể bao gồm cảnhững hành vi pháp luật cấm và không cấm trongtrường hợp ngoại lệ Theo tác giả, cần phải quyđịnh thống nhất về mục đích sử dụng các TPMtheo hướng “bảo vệ khỏi các hành vi không đượcchủ sở hữu quyền tác giả hoặc pháp luật SHTTcho phép”

Ngoài ra, thông qua quy định này các nhà làmluật cũng quy định một số điều kiện để một TPMđược bảo vệ Đầu tiên, người sử dụng TPM là các

“chủ thể quyền”, có thể là tác giả hoặc chủ sở hữuquyền tác giả Tuy nhiên, liên quan đến vấn đềquy định Biện pháp công nghệ được coi là "hữuhiệu" gần giống như quy định về các biện phápcông nghệ hiệu quả của Điều 11 WCT sẽ có thểgây nhiều tranh cãi trong quá trình áp dụng Hơnnữa, điều này cũng không quy định các “TPM hữuhiệu” thì sẽ được bảo vệ như thế nào mà chỉ quyđịnh theo hướng TPM hữu hiệu là như thế nào Tạidự thảo Lần 2 phục vụ phiên họp của Ủy banthường vụ Quốc hội lần thứ 3, Quốc hội khóa XV,tháng 09/2021 thì không quy định về việc “hữuhiệu” như trên và chia thành biện pháp kiểm soáttiếp cận hoặc sao chép tác phẩm12 Theo đó, tácgiả nghiêng về dự thảo lần 2 nhiều hơn, vì quyđịnh như vậy khá rõ ràng

- Về các hành vi xâm phạm đối với TPM

Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành đã cóquy định về các hành vi bị cấm đối với TPM tạiĐiều 28 về các hành vi xâm phạm quyền tác giả,qua đó có thể phân loại các hành vi này thành 2nhóm, đó là: (i) Hành vi cố ý hủy bỏ hoặc làm vôhiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyềntác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối vớitác phẩm của mình và (ii) Hành vi giúp sức chongười trực tiếp vô hiệu hóa TPM (gồm: hành visản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu,xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặccó cơ sở để biết thiết bị đó làm vô hiệu các biệnpháp kỹ thuật)

Trang 38

tÀI lIeÄu tRÍCH DẪn:

1Ủy ban thường trực về các vấn đề pháp lý và hiến pháp, Hạ viện Úc (2006), “Review of technological protectionmeasures exceptions”, Tháng 2/2006, Chương 2, trang 8

2June M Besek (2003-2004), “Anti-Circumvention Laws and Copyright: A Report from the Kernochan Center for

Law, Media and the Art”, Columbia Journal of Law & the Arts, 27, tr.385- 415 , xem tại Mục 1 Access controls,

trang 450

Nhận thấy, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện

hành đã không nhất quán trong cách thức sử dụng

thuật ngữ Trong khi Điều 198 sử dụng thuật ngữ

“biện pháp công nghệ” để ghi nhận về quyền tự

bảo vệ của chủ sở hữu quyền tác giả, thì tại Điều 28

lại sử dụng thuật ngữ “biện pháp kỹ thuật” Khi ban

hành Luật ở hữu trí tuệ sửa đổi tới đây cần quy định

thống nhất thành “biện pháp công nghệ”

Khi quy định về các hành vi (1) như trên có thể

hiểu chỉ cần phá vỡ biện pháp công nghệ do chủ

sở hữu quyền tác giả sử dụng đã là vi phạm pháp

luật mà không xem xét đến các trường hợp ngoại

lệ đối với việc vô hiệu các TPM Đây là thiếu sót

rất quan trọng vì chưa điều hòa được lợi ích giữa

các chủ thể có quyền tác giả và lợi ích công cộng

Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi bổ sung lần này nên

sửa đổi theo hướng: “Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô

hiệu mà không được phép đối với các biện pháp

công nghệ bảo vệ quyền do các chủ thể quyền tác

giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác

phẩm được bảo hộ theo quy định của Luật này, trừ

trường hợp hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện

pháp công nghệ bảo vệ quyền đó để thực hiện các

ngoại lệ theo quy định của Luật này ”

Về hành vi (ii), bên cạnh việc liệt kê các hành

vi được cho là giúp sức cho người trực tiếp vô hiệu

hóa TPM thì pháp luật hiện hành còn đặt ra vấn

đề về nhận thức chủ quan của chủ thể thực hiện

hành vi đó Nói cách khác, quy định này không

hoàn toàn hướng đến chức năng chính yếu của

bản thân thiết bị, dịch vụ mà còn hướng đến ý chí

chủ quan của người cung cấp thiết bị, dịch vụ

Trong khi đó, ý chí của người cung cấp thiết bị,

dịch vụ được xác định thông qua yêu cầu về việc

“biết hoặc có cơ sở để biết” là mơ hồ và không rõràng13 Mặt khác, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Namchỉ cấm các hành vi sản xuất, buôn bán nói chungđối với các thiết bị được sử dụng cho mục đích vôhiệu hóa biện pháp công nghệ, mà không cấm cáchành vi trung gian nhằm thúc đẩy tiêu thụ thiết bịđó, như: tàng trữ nhằm mục đích thương mại, xúctiến hương mại (tiếp thị, quảng cáo, hội chợ,…) đốivới các thiết bị đó

Ngoài ra, việc định nghĩa lại TPM cũng làmthay đổi nội dung của quy định này khi thiết bịkhông còn là đối tượng duy nhất bị cấm mà còn cócác sản phẩm linh kiện hoặc dịch vụ Vì vậy, khithiết kế lại quy định này cần bổ sung các côngnghệ khác có thể vô hiệu hóa TPM

5 Kết luận

Pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam đã có một sốquy định cơ bản về TPM, nhưng vẫn còn một sốbất cập, hạn chế nhất định Việt Nam đang hoànthiện những bất cập đó bằng việc ban hành một sốquy định nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều củaLuật Sở hữu trí tuệ Qua nghiên cứu một số bản dựthảo, tác giả thấy rằng, các nhà làm Luật đã đưa

ra được khái niệm cơ bản về TPM, mục đích sửdụng và phân loại, đáp ứng được một số điều kiện

cơ bản để một TPM được bảo vệ theo tinh thầncủa Điều 11 Hiệp ước WCT Mặt khác, nhữngđiều mà WCT không đề cập đến nhưng là cầnthiết như những hành vi bị cấm và các trường hợpngoại lệ cũng đã được đề cập trong các điều luậtkhác nhau, tuy nhiên vẫn cần có những sửa đổicác quy định này hoàn thiện hơn khi ban hành n

Trang 39

3Xem chú thích 2 tại Mục 2 Use controls, trang 450.

4De Werra, Jacques (2002), The legal system of technological protection measures under the WIPO treaties, theDMCA, the European Union Directives and other National Laws (Japan, Australia), Đại hội ALAI từ ngày 13-17tháng 6 năm 2001, New York, Hoa Kỳ, tr 179-279

5Pamela Samuelson (1996-1997), The U.S Digital Agenda at WIPO, Virginia Journal of International Law, số

37:369, trang 410

6Lê Thị Nam Giang (2009), Nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ sở hữu trí tuệ và lợi ích của xã hội trong bắt buộc

chuyển giao quyền sử dụng sáng chế, Tạp chí Khoa học Pháp lý, Số 6, tr.42-50.

7Xem chú thích 4

8Jane C Ginsburg (2005), Legal Protection of Technological Measures Protecting Works of Authorship:International Obligations and the Us Experience, The Columbia Journal of Law & the Arts, Số 29, Trang 5-93

9Điều 120bis Luật số 48 của Nhật Bản, ban hành ngày 6/5/1970, đã được sửa đổi đến ngày 12/6/1988 Xem tại

<https://wipolex-res.wipo.int/edocs/lexdocs/laws/en/jp/jp046en.html> truy cập ngày 20/5/2021

10Điều khoản 2 (x) - (xi) Luật số 47 của Nhật Bản ngày 19/5/1993, sửa đổi lần cuối vào ngày 23/4/ 1999) - Xem tại

<https://wipolex.wipo.int/fr/text/128371>

11Xem chú thích 4

12Xem tại <https://duthaoonline.quochoi.vn/Pages/dsduthao/chitietduthao.aspx?id=7371>

13Võ Trung Hậu (2021), “Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường Internet”, Luận án tiến sỹ luật học,Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP.HCM, trang 135

tÀI lIeÄu tHAm KHẢo:

1 De Werra, Jacques (2002) The legal system of technological protection measures under the WIPO treaties, the

DMCA, the European Union Directives and other National Laws (Japan, Australia), Đại hội ALAI từ ngày 13-17

tháng 6/2001, New York, Hoa Kỳ, tr 179-279.

2 Jane C Ginsburg (2005) Legal Protection of Technological Measures Protecting Works of Authorship:

International Obligations and the Us Experience The Columbia Journal of Law & the Arts, Số 29, Trang 05-93

3 June M Besek (2003-2004) Anti-Circumvention Laws and Copyright: A Report from the Kernochan Center for

Law, Media and the Art Columbia Journal of Law & the Arts, 27, tr.385- 415.

4 Lê Thị Nam Giang (2009), Nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ sở hữu trí tuệ và lợi ích của xã hội trong bắt buộc

chuyển giao quyền sử dụng sáng chế, Tạp chí Khoa học Pháp lý, Số 6, tr.42-50

5 Luật số 47 về bản quyền, Luật số 48 về cạnh tranh không lành mạnh của Nhật Bản

6 Pamela Samuelson (1996-1997) The U.S Digital Agenda at WIPO Virginia Journal of International Law,

số 37:369

7 Ủy ban thường trực về các vấn đề pháp lý và hiến pháp, Hạ viện Úc (2006) Review of technological protection

measures exceptions, Tháng 2/2006, Chương 2.

8 Võ Trung Hậu (2021), “Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường Internet”, Luận án tiến sỹ luật học,

Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP.Hồ Chí Minh

9 Quốc hội (2021), Dự thảo luật Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ

Trang 40

teCHnoloGICAl PRoteCtIon meAsuRes

In tHe woRlD IntelleCtuAl PRoPeRtY oRGAnIzAtIon CoPYRIGHt tReAtY AnD In ReGulAtIons of VIetnAm

lMaster Cao Thi Le Thuong

Institute of State and LawVietnam Academy of Social Sciences

ABstRACt:

In the digital environment, internet users can easily access, copy and create copies of worksmade by others to distribute to other users These activities seriously affect the rights ofcopyright holders To protect their works, copyright holders have used technological protectionmeasures This study presents the nature and the needs for legal protection for technologicalmeasures to protect copyright The study also analyzes the fundamental provisions oftechnological protection measures in the World Intellectual Property Organization CopyrightTreaty and compares these provisions to current regulations of Vietnam

Keywords: copyright, digital environment, technological measures to protect rights, the

Law on Intellectual Property, the World Intellectual Property Organization Copyright Treaty

ngày nhận bài: 15/8/2021

ngày phản biện đánh giá và sửa chữa: 15/9/2021

ngày chấp nhận đăng bài: 25/9/2021

Thông tin tác giả:

ths CAo tHỊ le tHƯơnG

Viện nhà nước và Pháp luật

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt nam

Ngày đăng: 12/12/2021, 02:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam quý 1/2021 - Tạp chí Công Thương - Số 24 tháng 10 - Bản công bố
Hình 1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam quý 1/2021 (Trang 102)
Bảng 1. Tình hình chung về hoạt động sản xuất công nghiệp - TTCn - Tạp chí Công Thương - Số 24 tháng 10 - Bản công bố
Bảng 1. Tình hình chung về hoạt động sản xuất công nghiệp - TTCn (Trang 107)
Bảng 2. giá trị sản xuất và cơ cấu ngành nghề TTCn - Tạp chí Công Thương - Số 24 tháng 10 - Bản công bố
Bảng 2. giá trị sản xuất và cơ cấu ngành nghề TTCn (Trang 108)
Bảng 3. hiệu quả sản xuất TTCn bình quân trên 1 hộ điều tra - Tạp chí Công Thương - Số 24 tháng 10 - Bản công bố
Bảng 3. hiệu quả sản xuất TTCn bình quân trên 1 hộ điều tra (Trang 109)
Bảng 1. Kết quả hồi quy - Tạp chí Công Thương - Số 24 tháng 10 - Bản công bố
Bảng 1. Kết quả hồi quy (Trang 113)
Bảng 2. Tốc độ tăng trưởng  ngành nông nghiệp và các nhân tố đầu vào - Tạp chí Công Thương - Số 24 tháng 10 - Bản công bố
Bảng 2. Tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp và các nhân tố đầu vào (Trang 114)
Bảng 3. Đóng góp của các nhân tố  đến tăng trưởng ngành nông nghiệp (%) - Tạp chí Công Thương - Số 24 tháng 10 - Bản công bố
Bảng 3. Đóng góp của các nhân tố đến tăng trưởng ngành nông nghiệp (%) (Trang 114)
Hình 1: Cơ sở Công nghiệp 4.0 - Tạp chí Công Thương - Số 24 tháng 10 - Bản công bố
Hình 1 Cơ sở Công nghiệp 4.0 (Trang 119)
Hình 2: Tỷ trọng đầu tư theo ngành của Hàn Quốc tính theo FDI thực tế - Tạp chí Công Thương - Số 24 tháng 10 - Bản công bố
Hình 2 Tỷ trọng đầu tư theo ngành của Hàn Quốc tính theo FDI thực tế (Trang 149)
Bảng 1. Công suất đặt điện gió ngoài khơi trong kịch bản chọn - Tạp chí Công Thương - Số 24 tháng 10 - Bản công bố
Bảng 1. Công suất đặt điện gió ngoài khơi trong kịch bản chọn (Trang 155)
Bảng 3. Mức thuế suất thuế thu nhập cá nhân - Tạp chí Công Thương - Số 24 tháng 10 - Bản công bố
Bảng 3. Mức thuế suất thuế thu nhập cá nhân (Trang 156)
Bảng 2. Dữ liệu cố định - Tạp chí Công Thương - Số 24 tháng 10 - Bản công bố
Bảng 2. Dữ liệu cố định (Trang 156)
Bảng 4. Các kịch bản phân tích tiềm năng điện gió ngoài khơi - Tạp chí Công Thương - Số 24 tháng 10 - Bản công bố
Bảng 4. Các kịch bản phân tích tiềm năng điện gió ngoài khơi (Trang 157)
Hình 1 thể hiện sự khác biệt tiềm năng kinh tế - Tạp chí Công Thương - Số 24 tháng 10 - Bản công bố
Hình 1 thể hiện sự khác biệt tiềm năng kinh tế (Trang 158)
Bảng 5. giá trị NPV của các khu vực có tiềm năng kinh tế trong kịch bản cơ sở - Tạp chí Công Thương - Số 24 tháng 10 - Bản công bố
Bảng 5. giá trị NPV của các khu vực có tiềm năng kinh tế trong kịch bản cơ sở (Trang 159)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm