BÀI TẬP TIỂU LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI: KHẢO SÁT, MIÊU TẢ, PHÂN LOẠI VÀ PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA CÁC ÂM TIẾT TRONG BÀI THƠ “XUÂN VỀ” CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN BÍNH (bộ môn Dẫn luận Ngôn ngữ và Ngữ âm học)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA NGỮ VĂN
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC: Dẫn luận Ngôn ngữ học và Ngữ âm học Tiếng Việt
TÊN CHỦ ĐỀ
KHẢO SÁT VÀ MIÊU TẢ, PHÂN LOẠI VÀ PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CÁC ÂM TIẾT TRONG BÀI THƠ
“XUÂN VỀ” CỦA NGUYỄN BÍNH
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Nhật Anh
Hà Nội, tháng 8 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Chương 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ 2
1.2.1 Âm tiết Tiếng Việt thuộc ngôn ngữ phân tích – âm tiết tính 3 1.2.2 Âm tiết Tiếng Việt có tính ổn định về hình thức, tính độc lập cao 3
1.2.3 Âm tiết Tiếng Việt phần lớn mang nghĩa 3
Chương 2 ÂM TIẾT TRONG BÀI THƠ BẢY CHỮ “XUÂN VỀ” – 7 NGUYỄN BÍNH
Trang 33 Gieo vần trong bài thơ “Xuân về” 9
5.1 Thanh điệu khi xét về âm điệu (bằng – trắc) 13
5.3 Đóng góp của thanh điệu trong việc biểu đạt giá trị biểu cảm 14
Trang 4I MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
1.1 Trong thi ca, giữa hình thức ngữ âm và nội dung cần truyền đạt dường như tồn tại
một “duyên cớ” R Jacobson từng viết rằng: “Ý nghĩa tượng trưng của âm thanh là một mối quan hệ, về mặt khách quan là không thể phủ nhận được, nó được xác lập trên
sự liên tưởng kỳ lạ giữa các phương thức khác nhau của giác quan – đặc biệt là thị giác và thính giác [1]” Có thể thấy, âm tiết – đơn vị được sử dụng một cách tự nhiên
trong hoạt động giao tiếp hàng ngày, mang một mối liên hệ âm – nghĩa đặc biệt Mối liên hệ này được tô đậm hơn khi đặt vào mảnh đất thi ca Ở mảnh đất ấy, “thi trung hữu nhạc”, nhạc ở trong thơ Thơ được đọc lên từ những âm tiết nối liền và chọn lựa, sử dụng những âm tiết ấy như thế nào để tạo ra giá trị biểu đạt của riêng bài thơ, là một câu hỏi muôn thuở đặt ra với người cầm bút
1.2 Trong phong trào thơ Mới, Nguyễn Bính xuất hiện, nổi lên và để cho nhà thơ Vũ
Quần Phương phải đặt câu hỏi: “Ngay cả những người không biết chữ cũng thuộc thơ Nguyễn Bính như thuộc ca dao Ma lực gì tạo nên sức phổ cập đó của thơ Nguyễn Bính? [2]” Có thể tìm thấy câu trả lời cho băn khoăn ấy ở lời nhận xét của Tạ Tỵ: “Cá tính trong thơ Bính rất tự nhiên, mộc mạc không gò bó, kiểu cách như các thi nhân cùng thời Thơ Bính đi gần với ca dao, rất gần với đại đa số quần chúng [3]” Sự giản
dị, mộc mạc đó của thơ Nguyễn Bính được truyền tải qua các biểu tượng ngữ âm để chạm tới lòng người nghe, người đọc Vì vậy, việc nghiên cứu biểu tượng ngữ âm trong thơ Nguyễn Bính nhằm hy vọng làm rõ những ý nghĩa được biểu lộ qua âm tiết – MỘT đơn vị ngữ âm Tiểu luận xin phép chỉ khảo sát bài thơ “Xuân về” của nhà thơ để phù hợp với phạm vi cho phép
2 Đối tượng nghiên cứu
Tiểu luận tập trung nghiên cứu hệ thống âm tiết trong bài thơ “Xuân về” của Nguyễn Bính (sử dụng tài liệu trên Thi viện*)
Trang 53 Nhiệm vụ nghiên cứu
− Khảo sát, thống kê và phân loại các âm tiết và yếu tố liên quan đến âm tiết trong bài thơ “Xuân về” của Nguyễn Bính
− Tổng hợp, phân tích kết quả khảo sát được và đưa ra những nhận xét, đánh giá về giá trị biểu đạt của những biểu tượng ngữ âm đó
4 Phương pháp nghiên cứu
− Phương pháp nghiên cứu lý luận: được dùng để tổng hợp và lý giải các vấn đề lý thuyết về âm tiết và thơ
− Phương pháp khảo sát, thống kê và phân loại: được dùng cho việc khảo sát và thống
kê loại âm tiết, luật thơ, thanh điệu có trong bài thơ “Xuân về”
− Phương pháp phân tích, tổng hợp: được áp dụng nhằm căn cứ vào ngữ liệu để tiến hành phân tích âm tiết, luật thơ, thanh điệu trong bài thơ nhằm thấy rõ được giá trị biểu đạt của những yếu tố đó
5 Đóng góp của tiểu luận
Bằng phương pháp nghiên cứu phù hợp, tiểu luận đã cung cấp số liệu khoa học,
cụ thể về hệ thống âm tiết, vần, thanh điệu trong bài thơ “Xuân về” của Nguyễn Bính Như vậy, có thể coi đây là tài liệu đóng góp và tạo cơ sở cho việc phân tích, nghiên cứu
về biểu tượng ngữ âm trong hệ thống các tác phẩm nói chung của nhà thơ
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Chương 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ
1 Âm tiết
1.1 Khái niệm âm tiết
TheoNGND.GS.TS Đoàn Thiện Thuật, trong hoạt động nói, “Chuỗi lời nói được con người phát ra thành những mạch khác nhau, những khúc đoạn, từ lớn đến nhỏ khác nhau Đơn vị phát âm nhỏ nhất là âm tiết [4]” Cùng với đó, nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo nhận định: “Trong tất cả các ngôn ngữ của nhân loại, âm tiết là âm đoạn tự nhiên nhỏ nhất: đó là đơn vị cấu âm và nhận diện âm thanh nhỏ nhất [5]”
Trang 6Như vậy, có thể tổng kết lại: âm tiết là đơn vị nhỏ nhất của ngữ âm, là chuỗi âm thanh phát âm ngắn nhất trong lời nói con người
1.2 Đặc điểm của âm tiết tiếng Việt
1.2.1 Âm tiết Tiếng Việt thuộc ngôn ngữ phân tích – âm tiết tính
Âm tiết Tiếng Việt nói riêng và âm tiết trong các ngôn ngữ phân tích – âm tiết tính nói chung có ranh giới trùng với hình vị Trong đó, hình vị ở nhóm ngôn ngữ này
có thể “bằng” hoặc “lớn hơn” âm tiết, nhưng không bao giờ “nhỏ” hơn âm tiết
1.2.2 Âm tiết Tiếng Việt có tính ổn định về hình thức, tính độc lập cao
Hình thức âm tiết Tiếng Việt ổn định và không có sự biến đổi khi đặt trong những hoàn cảnh ngữ pháp khác nhau Khác với Tiếng Anh, âm tiết Tiếng Việt không áp dụng
cách thức nối âm hoặc nuốt âm Ví dụ:
đời anh là một trái tim (1) it is a heart (2)
/ɗɤi̯/² /ɛ̆ŋ/¹ /la/² /mot/⁶ /ƫai̯/⁵ /tim/¹ /ɪt/ /ɪzə/ /hɑːrt/
1.2.3 Âm tiết Tiếng Việt phần lớn mang nghĩa
Âm tiết Tiếng Việt, tuỳ từng mức độ mà tương đương với từ (thực từ, hư từ) hoặc thành phần của từ ghép, từ láy Dựa trên đặc điểm này của âm tiết mà quy định của một số thể thơ như lục bát (câu 6 – 8 âm tiết sóng đôi phối vần với nhau), thất ngôn tứ tuyệt (bài thơ 4 câu và mỗi câu 7 âm tiết) đã được hình thành
1.3 Cấu tạo âm tiết Tiếng Việt
Mô hình cấu tạo âm tiết Tiếng Việt được xác định với 2 bậc và 5 thành tố:
Thanh điệu
Trong đó, 2 bậc của âm tiết được xác lập theo công thức:
Bậc I: âm tiết = phụ âm đầu + vần + thanh điệu;
Bậc II: vần = âm đầu vần + âm chính + âm cuối
Trang 71.3.1 Xét về nguyên tắc hiệp vần thơ
Vần được định nghĩa là một “phương tiện tổ chức văn bản thơ dựa trên cơ sở sự lặp lại không hoàn toàn các tiếng ở những vị trí nhất định của dòng thơ nhằm tạo nên tính hài hòa và liên kết của dòng thơ và giữa các dòng thơ [6].”
Dựa trên việc lặp lại vần với vần chính giữ nguyên và vần thông thay đổi (nguyên
âm hoặc phụ âm cuối theo quy định nguyên âm cùng hàng và phụ âm cùng nhóm) cùng với thanh điệu (thanh bằng, thanh trắc), giữa các câu thơ có sự hiệp vần
(a) Ai đem rắc bướm lên hoa
Rắc bèo xuống giếng rắc ta vào nàng?
(b) Ai đem nhuộm lá cho vàng
Nhuộm đời cho bạc, cho nàng phụ ta?
Rắc bướm lên hoa – Nguyễn Bính
Ở ví dụ (a), vần là vần thông – vần gần đúng Hai âm tiết hoa và ta tham gia
hiệp vần Trong đó, phụ âm đầu /h/ và /t/ tách ra, vần /u͡o/ và /a/ cùng thanh bằng (thanh ngang) hiệp vần với nhau (nguyên âm đôi /u͡o/ được thay bằng nguyên âm /a/ cùng hàng)
Ở ví dụ (b), vần là vần chính – hoàn toàn khớp Hai âm tiết vàng và nàng tham
gia hiệp vần Trong đó, phụ âm đầu /v/ và /n/ tách ra, vần /aŋ/ và thanh bằng (thanh huyền) hiệp vần với nhau
1.3.2 Xét về từ láy
Về từ láy, TS.NGƯT Đỗ Hữu Châu nhận định: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa [7]”
Từ láy Tiếng Việt được chia thành hai nhóm: từ láy toàn bộ (đăm đăm, đo đỏ )
và từ láy bộ phận Trong đó, từ láy bộ phận gồm có láy phụ âm đầu (mỏng manh, leo lắt, ) và láy vần (liêu xiêu, thăm thẳm, )
1.3.3 Yếu tố siêu âm đoạn – Thanh điệu
Thanh điệu mang đến cho âm tiết đường nét và âm vực Thanh điệu, nếu xét về
sự đối lập âm điệu được chia thành 2 nhóm: thanh bằng (gồm thanh ngang, thanh
Trang 8huyền) và thanh trắc (gồm thanh sắc, hỏi, ngã, nặng) Sự đối lập âm vực này làm cho câu thơ có tính nhạc, từ ngữ có sự hoà phối Còn khi xét về âm vực cao – thấp, thanh điệu được chia thành: thanh bổng (gồm thanh ngang, hỏi, sắc) và thanh trầm (gồm thanh huyền, ngã, nặng)
Như vậy, để tạo ra sự hài hoà trong thơ, bài thơ cần tuân thủ một số quy tắc gieo vần và luật bằng trắc (nằm ở mục 2.1, 2.2)
1.4 Phân loại
Lấy nguyên âm làm mốc, có thể phân loại âm tiết dựa trên:
− Thành phần mở đầu + Không có thành phần mở đầu → âm tiết nhẹ;
+ Mở đầu là âm đầu vần → âm tiết hơi nhẹ;
+ Mở đầu là phụ âm → âm tiết hơi nặng;
+ Mở đầu là phụ âm + âm đầu vần → âm tiết nặng
− Thành phần kết thúc + Không có thành phần kết thúc → âm tiết mở;
+ Thành phần kết thúc là bán âm → âm tiết hơi mở;
+ Thành phần kết thúc là phụ âm vang (/m, n, ɲ, ŋ/) → âm tiết hơi đóng;
+ Thành phần kết thúc là phụ âm tắc vô thanh (/p, t, c, k/) → âm tiết đóng
2 Thơ mới bảy chữ
Thơ bảy chữ là một khái niệm rất rộng, bao hàm thơ bảy chữ cổ phong (như
Phản chiêu hồn của Nguyễn Du ), thơ thất ngôn bát cú Đường luật (như Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến ), thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (như Bánh trôi nước
của Hồ Xuân Hương ), thơ mới bảy chữ gồm nhiều khổ Ở đây, bài tiểu luận xin phép được tập trung vào thơ mới bảy chữ – thể thơ của đối tượng nghiên cứu
2.1 Gieo vần
Trong phạm vi một khổ gồm 4 câu, vần thường được gieo ở cuối câu 1, câu 2, câu 4 hoặc có thể chỉ ở cuối câu 2, câu 4 Vần có thể là vần chính hoặc vần thông (đã nêu ở mục 1.3.1)
Trang 92.2 Luật bằng trắc
Để thơ có nhạc điệu thì bài thơ cần tuân theo luật bằng trắc của các câu thơ kề nhau Căn cứ vào âm tiết thứ hai của câu thơ mở đầu, có thể phân loại được bài thơ được viết theo luật bằng hay luật trắc Âm tiết thứ hai của câu thơ đầu mang thanh bằng thì bài thơ sẽ tuân thủ luật bằng, và ngược lại, nếu mang thanh trắc thì bài thơ sẽ theo luật trắc
Mô hình một khổ trong bài thơ bảy chữ theo luật trắc (*):
Âm tiết
Trong mô hình trên, dòng 2 và dòng 3, dòng 1 và dòng 4 lần lượt niêm với nhau (áp dụng luật bằng trắc giống nhau) Còn dòng 1 và dòng 2, dòng 3 và dòng 4 đôi một đối nhau về cách đặt thanh bằng trắc
Tương tự, mô hình một trong bài thơ bảy chữ theo luật bằng:
Âm tiết
Trong thơ mới bảy chữ, luật bằng và trắc có thể được áp dụng xen kẽ lẫn nhau
2.3 Nhịp thơ
Nhịp thơ, theo Bùi Công Hùng, “lặp lại đều đặn, nhịp nhàng những đoạn tiết tấu được quy luật thanh điệu chi phối [8]” Khi xét về số lượng âm tiết cấu thành nhịp
Việt Nam, tr 105
Trang 10thơ, nhịp có loại nhịp chẵn (nhịp 2, nhịp 4) và nhịp lẻ (nhịp 3, nhịp 5) Trong thơ mới bảy chữ, nhịp thường gặp là nhịp 3/4, 4/3 hoặc 2/2/3
3 Tính nhạc trong thơ
Xưa có quan niệm: “thi trung hữu nhạc”, trong thơ có nhạc Nhạc điệu được tạo nên bởi sự hoà phối giữa các mảng đối lập đã tạo nên hình tượng âm nhạc cho thơ Đó
là đối lập giữa sự trầm – bổng, khép – mở của âm tiết; giữa phụ âm cuối tắc vô thanh
và phụ âm cuối vang; giữa thanh điệu bằng – trắc
Chương 2 ÂM TIẾT TRONG BÀI THƠ BẢY CHỮ “XUÂN VỀ” – NGUYỄN BÍNH
1 Ký hiệu phiên âm bài thơ “Xuân về”
Đã thấy xuân về với gió đông /ɗa/3 /t’ɤ̆i̯/5 /su̯ɤ̆n/1 /ve/2 /vɤi̯/5 /zɔ/5 /ɗoŋ/1 Với trên màu má gái chưa chồng
/vɤi̯/5 /ƫen/1 /mau̯/2 /ma/5 /ɣai̯/5 /cɯ͡ɤ/1 /coŋ/2 Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm
/ben/1 /hi͡en/1 /haŋ/2 /sɔm/5 /ko/1 /haŋ/2 /sɔm/5 Ngước mắt nhìn giời đôi mắt trong
/ŋɯ͡ɤk/5 /măt/5 /ɲin/2 /zɤi̯/2 /ɗoi/1 /măt/5 /ƫɔ̆ŋ/1
Từng đàn con trẻ chạy xun xoe /tɯŋ/2 /ɗan/2 /kɔn/1 /ƫɛ/4 /cai̯/6 /sun/1 /su̯ɛ/1 Mưa tạnh giời quang nắng mới hoe /mɯ͡ɤ/1 /tɛ̆ŋ/6 /zɤi̯/2 /ku̯aŋ/1 /năŋ/5 /mɤi̯/5 /hu̯ɛ/1
Lá nõn ngành non ai tráng bạc /la/5 /nɔn/3 /ŋaŋ/2 /nɔn/1 /ai̯/1 /ƫaŋ/5 /bak/6 Gió về từng trận gió bay đi
/zɔ/5 /ve/2 /tɯŋ/2 /ƫɤ̆n/6 /zɔ/5 /bai̯/1 /ɗi/1
Thong thả dân gian nghỉ việc đồng
Trang 11/t’ɔŋ/1 /t’a/4 /zɤ̆n/1 /zan/1 /ŋi/4 /vi͡ek/6 /ɗoŋ/2 Lúa thì con gái mượt như nhung
/lu͡o/5 /t’i/2 /kɔn/1 /ɣai̯/5 /mɯ͡ɤt/6 /ɲɯ/1 /ɲuŋ/1 Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng
/ɗɤ̆i̯/2 /vɯ͡ɤn/2 /hu̯a/1 /bɯ͡ɤi̯/4 /hu̯a/1 /kam/1 /ʐuŋ/6 Ngào ngạt hương bay, bướm vẽ vòng
/ŋau̯/2 /ŋat/6 /hɯ͡ɤŋ/1 /bai̯/1, /bɯ͡ɤm/5 /vɛ/3 /vɔ̆ŋ/2
Trên đường cát mịn một đôi cô /ƫen/1 /ɗɯ͡ɤŋ/2 /kat/5 /min/6 /mot/ /ɗoi/1 /ko/1 Yếm đỏ khăn thâm trảy hội chùa
/i͡em/5 /ɗɔ/4 /χăn/1 /t’ɤ̆m/1 /ƫai̯/4 /hoi/6 /cu͡o/2 Gậy trúc dắt bà già tóc bạc
/ɣɤ̆i̯/ /ƫuk/5 /ɗăt/5 /ba/2 /za/2 /tɔk/5 /bak/6 Tay lần tràng hạt miệng nam vô
/tai̯/1 /lɤ̆n/2 /ƫaŋ/2 /hat/6 /mi͡eŋ/6 /nam/1 /vo/1
2 Phân loại âm tiết bài thơ “Xuân về”
Căn cứ vào phân loại âm tiết ở mục 1.4, tiểu luận đã thống kê âm tiết thành bảng dưới đây:
Dựa vào thành phần mở đầu
Âm tiết nhẹ yếm, ai
Âm tiết hơi nhẹ
Âm tiết nặng xoe, hoe, hoa, hoa, xuân
Âm tiết hơi nặng
đã, về, gió, má, chưa, cô, trẻ, mưa, lá, gió, về, gió, đi, thả, nghỉ, lúa, thì, như, vẽ, cô, đỏ, chùa,
bà, già, vô, thấy, với, với, màu, gái, giời, gái, giời, đôi, chạy, mới, bay, đôi, đầy, bưởi, bay, ngào, trảy, hội, gậy, tay, ngước, mắt, mắt, bạc, việc, mượt, ngạt, cát, một, trúc, dắt, tóc, bạc,
Trang 12hạt, đông, trên, chồng, bên, hiên, hàng, xóm, hàng, xóm, nhìn, trong, từng, đàn, con, xun, tạnh, quang, nắng, nõn, ngành, non, tráng, từng, trận, thong, dân, gian, đồng, con, nhung, vườn, cam, rụng, hương, bướm, vòng, trên, đường, mịn, khăn, thâm, lần, tràng, miệng, nam
Dựa vào thành phần kết thúc
Âm tiết mở
xoe, hoe, hoa, hoa, đã, về, gió, má, chưa, cô, trẻ, mưa, lá, gió, về, gió, đi, thả, nghỉ, lúa, thì, như,
vẽ, cô, đỏ, chùa, bà, già, vô
Âm tiết hơi mở
thấy, với, với, màu, gái, giời, gái, giời, đôi, chạy, mới, bay, đôi, đầy, bưởi, bay, ngào, trảy, hội, gậy, tay, ai
Âm tiết hơi đóng
xuân, đông, trên, chồng, bên, hiên, hàng, xóm, hàng, xóm, nhìn, trong, từng, đàn, con, xun, tạnh, quang, nắng, nõn, ngành, non, tráng, từng, trận, thong, dân, gian, đồng, con, nhung, vườn, cam, rụng, hương, bướm, vòng, trên, đường, mịn, khăn, thâm, lần, tràng, miệng, nam, yếm
Âm tiết đóng ngước, mắt, mắt, bạc, việc, mượt, ngạt, cát, một,
trúc, dắt, tóc, bạc, hạt Như vậy, nếu xét về thành phần mở đầu, âm tiết nhẹ chiếm 1, 786%, âm tiết hơi nhẹ chiếm 0%, âm tiết nặng chiếm 4, 464% và âm tiết hơi nặng chiếm 93, 75% trên tổng số 112 âm tiết Nếu xét về thành phần kết thúc, âm tiết mở chiếm 25, 9%, âm tiết hơi mở chiếm 19, 64%, âm tiết hơi đóng chiếm 41, 96% và âm tiết đóng chiếm 12, 5% Phụ âm đầu xét về khả năng gợi tả, so với phụ âm cuối có phần hạn chế hơn Ở đây, các âm tiết hơi đóng kết thúc bằng phụ âm vang (/m, n, ɲ, ŋ/) chiếm vị trí lớn đã tạo cho lời thơ độ ngân, vang, sự lan toả, bay bổng và trải rộng Điều này phần nào thể hiện nhận xét của Hegel: “Trữ tình sử dụng độ vang làm phương tiện nội cảm” [9]
3 Gieo vần trong bài thơ “Xuân về”
Vần trong bài thơ là vần chân, được gieo ở cuối câu 1, câu 2 và câu 4 ở cuối mỗi khổ
Trang 133.1 Vần
3.1.1 Vần trong khổ thơ đầu
Đã thấy xuân về với gió đông Với trên màu má gái chưa chồng Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm Ngước mắt nhìn giời đôi mắt trong
Vần ở cuối câu 1 và câu 2 là vần chính; so với vần ở cuối câu 4 là vần thông
+ Hai âm tiết đông và chồng hiệp vần chính Trong đó, phụ âm đầu /ɗ/ và /c/ tách
ra, vần /oŋ/ và thanh bằng hiệp vần với nhau
+ Các âm tiết đông/chồng và trong hiệp vần thông Trong đó, phụ âm đầu /ɗ/, /c/
và /ƫ/ tách ra, vần /oŋ/ và /ɔ̆ŋ/ cùng thanh bằng hiệp vần với nhau (nguyên âm /o/ được thay bằng nguyên âm /ɔ̆/ cùng hàng)
3.1.2 Vần trong khổ thơ thứ hai
Từng đàn con trẻ chạy xun xoe Mưa tạnh giời quang nắng mới hoe
Lá nõn ngành non ai tráng bạc Gió về từng trận gió bay đi
Vần ở cuối câu 1 và câu 2 là vần chính; so với vần ở cuối câu 4 là vần thông
+ Hai âm tiết xoe và hoe hiệp vần chính Trong đó, phụ âm đầu /s/ và /h/ tách ra,
vần /ɛ/, âm đầu vần /u̯/ và thanh bằng hiệp vần với nhau
+ Các âm tiết xoe/hoe và đi hiệp vần thông Trong đó, phụ âm đầu /s/, /h/ và /ɗ/
tách ra, vần /ɛ/ và /i/ cùng thanh bằng hiệp vần với nhau (nguyên âm /ɛ/ được thay bằng nguyên âm /i/ cùng hàng)
3.1.3 Vần trong khổ thơ thứ ba
Thong thả dân gian nghỉ việc đồng Lúa thì con gái mượt như nhung Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng Ngào ngạt hương bay, bướm vẽ vòng
Vần ở cuối câu 1, câu 2 và câu 4 đều là vần thông Các âm tiết đồng, nhung và vòng
hiệp vần với nhau Trong đó, phụ âm đầu /ɗ/, /ɲ/ và /v/ tách ra, vần /oŋ/, /uŋ/ và /ɔ̆ŋ/