TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA NGỮ VĂN BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC: Đại cương Văn học dân gian TÊN CHỦ ĐỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HÌNH THỨC DIỄN XƯỚNG CA DAO MINH HOẠ BẰNG HÌNH THỨC DIỄN XƯỚNG PÁO D
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA NGỮ VĂN
BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC: Đại cương Văn học dân gian
TÊN CHỦ ĐỀ
ĐẶC ĐIỂM CỦA HÌNH THỨC DIỄN XƯỚNG CA DAO MINH HOẠ BẰNG HÌNH THỨC DIỄN XƯỚNG PÁO DUNG GIAO DUYÊN
CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ MIỀN BẮC (DAO ĐỎ)
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Nhật Anh
Hà Nội, tháng 8 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TIỂU LUẬN 3
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC DIỄN XƯỚNG CA DAO 6
1 Diễn xướng ca dao trong tiến trình lịch sử văn học dân gian 6
2 Diễn xướng ca dao cùng những biểu hiện đa dạng gắn bó
chặt chẽ với đời sống sinh hoạt
Chương 3 HÌNH THỨC DIỄN XƯỚNG HÁT PÁO DUNG
Trang 31.1 Tên gọi “Páo dung” 7
Trang 4I MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
1.1 Các bài học hiện nay phần lớn đều nghiên cứu ca dao – một bộ phận của văn học
dân gian dưới góc nhìn là sáng tác ngôn từ mà quên mất rằng “Mọi lý thuyết đều màu xám, chỉ cây đời là mãi mãi xanh tươi” – Goethe Các câu ca dao là những sáng tác mà
xuất phát điểm của nó là đời sống nhân dân và gắn liền với lời ăn tiếng nói của dân gian trong cuộc sống hàng ngày Ca dao không chỉ nằm yên trên giấy mà còn có sức sống mạnh mẽ khi được cất lên thành tiếng, thành câu hát Tiểu luận xin dành sự quan tâm đến diễn xướng ca dao, đến việc đưa lời ca dao thành tiếng hát với những yếu tố đặc trưng của nó (hình thức, ngôn ngữ, kết cấu, không gian, thời gian )
1.2 Ở Việt Nam, bên cạnh hát quan họ Bắc Ninh, hát ghẹo Phú Thọ, hát giặm Nghệ –
Tĩnh, hò Huế, dân ca Nam Bộ, thì ở dân tộc Dao Đỏ – một dân tộc thiểu số ở miền Bắc, những điệu hát truyền thống vẫn được cất lên dù rằng thực tế, mức độ không còn nhiều Khác dân tộc Tày nơi thấp với tiếng đàn dịu ngọt, dân tộc Mông vùng cao với tiếng khèn réo rắt, dân tộc Khơ Mú với tiếng trống “cầu mùa”, dân tộc Dao Đỏ có cho riêng mình một điệu hát dân gian, điệu hát Páo dung Từ hát uống rượu, hát trong lễ cấp sắc, trong đám cưới, lễ tang tiếng Páo dung được người Dao Đỏ cất lên còn là tiếng hát của tình yêu bất tận và niềm cảm mến nồng hậu Vì thế, tiểu luận xin phép được đi sâu tìm hiểu về Páo dung giao duyên, một nét đẹp nét duyên của tộc người Dao
Đỏ
2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là đặc điểm của hình thức diễn xướng ca dao
và diễn xướng Páo dung giao duyên ở dân tộc Dao Đỏ; tức bao gồm nội dung diễn xướng phản ánh và cách thức diễn xướng
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Dựa trên đối tượng nghiên cứu, tiểu luận xác định nhiệm vụ cần đạt:
− Tìm hiểu một số vấn đề lí luận và thực tế về diễn xướng cũng như dân tộc Dao Đỏ
có liên quan đến chủ đề
Trang 5− Tìm hiểu, nghiên cứu đặc điểm của hình thức diễn xướng ca dao nói chung trong cái nôi của văn hoá dân gian
− Khảo sát, nghiên cứu nội dung phản ánh và đặc trưng nghệ thuật của diễn xướng Páo dung giao duyên
4 Phương pháp nghiên cứu
− Phương pháp nghiên cứu lý luận: được áp dụng nhằm tổng hợp và lý giải các vấn
đề lý thuyết liên quan đến ca dao, diễn xướng cũng như diễn xướng ca dao ở dân tộc thiểu số
− Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để tiến hành phân tích môi trường diễn xướng, cách thức diễn xướng, ngôn ngữ và kết cấu của ca từ diễn xướng
− Phương pháp văn hoá học: được tiểu luận sử dụng nhằm tìm hiểu Páo dung giao duyên trong mối quan hệ với văn hoá cộng đồng, văn hoá tộc người
− Phương pháp liên ngành: được kết hợp sử dụng trong tiểu luận với các ngành dân tộc học, địa lý học để tìm hiểu sâu hơn những giá trị nội dung và ý nghĩa biểu đạt của Páo dung giao duyên người Dao Đỏ
5 Đóng góp của tiểu luận
Dựa trên việc nghiên cứu một cách có hệ thống, tiểu luận giới thiệu hình thức diễn xướng trong văn học dân gian nói chung và diễn xướng Páo dung giao duyên nói riêng như một loại hình nghệ thuật đặc sắc trong kho tàng văn hoá dân tộc Từ đó, tiểu luận hy vọng góp phần vào việc bảo tồn, gìn giữ, phát huy những nét đẹp trong bản sắc của dân tộc Dao Đỏ, một dân tộc thiểu số đang sinh sống ở miền Bắc nước ta
Trang 6II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TIỂU LUẬN
1 Ca dao và dân ca
1.1 Thuật ngữ “ca dao” và “dân ca”
“Ca dao” là một thuật ngữ Hán Việt, có thể hiểu bằng cách chiết tự Trong đó,
“ca” là bài ca có chương khúc hoặc âm nhạc kèm theo, còn “dao” là lời hát không cần
đi kèm nhạc đệm Theo Giáo trình Văn học dân gian, thuật ngữ “ca dao” được định nghĩa: “là thơ ca dân gian tồn tại ở dạng lời thơ hoặc điệu hát, gắn bó mật thiết với đời sống sinh hoạt của nhân dân Với bản chất trữ tình, ca dao có chức năng diễn tả một cách trực tiếp tâm hồn, tình cảm của nhân dân lao động” [1]
Trong một tác phẩm của mình, Vũ Ngọc Phan từng nêu ý kiến về ca dao và dân
ca Theo nhà nghiên cứu, ca dao khi được cất lên thành lời hát sẽ biến thành dân ca, vì
“hát yêu cầu phải có khúc điệu và như vậy phải có thêm tiếng đệm” [2] Ngăn giữa ca
dao và dân ca là một ranh giới mờ nhạt mà khi tước bỏ những tiếng đệm lót, tiếng láy
ở một bài dân ca, hiển hiện lên sẽ là một bài tựa như ca dao quen thuộc Và bởi thế, có thể hiểu dân ca là ca dao hoá nhạc; là những bài hát mang nhạc điệu được xây đắp dựa trên cơ sở ca dao
1.2 Đặc trưng của ca dao
1.1.1 Tác giả sáng tác ca dao là tập thể nhân dân lao động
Ca dao là những sáng tác được lưu truyền bởi tập thể dân nhân lao động Có thể hiểu, một bài ca dao ban đầu do một người xướng lên, rồi sau đó thông qua truyền miệng, được thêm bớt, sửa chữa và trở nên phổ biến rộng rãi trong cộng đồng dân tộc
Cứ như vậy, ca dao dần được hoàn chỉnh về cả lời lẫn ý và được bồi đắp không chỉ bởi một lớp người, mà còn là từ thế hệ này sang thế hệ khác
1.1.2 Nội dung ca dao phản ánh và chức năng thể loại
Tác giả ca dao là những người nhân dân bình dị, hồn hậu, mang chứa tình cảm gắn bó nhiều mặt với cuộc sống hàng ngày như tình yêu đôi lứa, yêu gia đình, yêu xóm làng, yêu lao động, yêu thiên nhiên, yêu đất nước Và bởi lẽ đó, ca dao biểu lộ đời sống tình cảm, đời sống vật chất; đồng thời phản ánh trình độ nhận thức của con người và
tình hình xã hội Đi vào lòng ca dao là bước vào “cuộc du ngoạn trong tâm hồn nhân
Trang 7dân” như A N Ghersen [3] đã viết, bởi ca dao là “sự tạo thành tâm hồn dân tộc chúng ta” – Rabisep [4]
1.1.3 Thi pháp ca dao
Là sản phẩm phản ánh nhận thức của nhân dân nên ngôn từ ca dao thanh thoát, trong sáng mà giản dị Ca dao cất lên vừa như lời ăn tiếng nói hàng ngày nhẹ nhàng, gọn gàng, cũng vừa mang nét thơ ca bác học trau chuốt và sâu sắc
Với ca dao, dân gian sử dụng nhiều biện pháp tu từ như so sánh, nhân hoá, ẩn
dụ, biểu tượng cùng kết cấu mang đậm nét của lối đối đáp, trò chuyện Có thể bắt gặp
ở ca dao một số kết cấu quen thuộc như kết cấu tương đồng, kết cấu nói vòng, kết cấu trùng điệp
Về thể thơ – chất liệu nghệ thuật quan trọng làm nên ca dao, thể thường được dùng là lục bát Bên cạnh lục bát, thơ ba chữ, bốn chữ, năm chữ, thơ hỗn hợp tự do cũng được sử dụng để cấu thành bài ca dao
2 Hình thức diễn xướng
2.1 Nhận định về diễn xướng
Dưới góc nhìn tiếp nhận của GS Vũ Ngọc Khánh trong Kho tàng diễn xướng dân gian Việt Nam, có thể định nghĩa “diễn xướng” bằng cách chiết tự thành hai thành
tố “diễn” và “xướng” Nếu “diễn” dùng để chỉ hành động, sự việc, có (hoặc không có)
âm thanh thì “xướng” là phần âm thanh, làn điệu, là tiếng ca hát của người tham gia diễn xướng Với phần xướng, giáo sư cho rằng đó là một phương thức, cách trình bày, thể hiện thông qua lời nói, việc kể, điệu ví
Đồng thời, Vũ Ngọc Phan cũng cho rằng văn hoá dân gian là đối tượng của diễn xướng – đồng nhất quan điểm với một số công trình nghiên cứu khác của các tác giả như Tuấn Giang, Vũ Ngọc Phan, Lê Anh Trà Với họ, diễn xướng là một yếu tố quan trọng làm nên tính nguyên hợp của văn học dân gian Việt Nam Đó là hình thức nằm ngoài văn bản nghệ thuật ngôn từ thông thường, là tổng thể các phương thức nghệ thuật hướng đến thể hiện một chiều thẩm mỹ
Trải qua một chặng đường lịch sử đi tìm cách hiểu cho “diễn xướng dân gian”
có thể thống nhất rằng: “Diễn xướng là hình thức biểu hiện, trình bày các sáng tác dân
Trang 8gian bằng lời lẽ, âm thanh, điệu bộ, cử chỉ [5]” mà cũng cần phải linh hoạt khi tìm
hiểu bởi nó có sự thay đổi theo thời gian
2.2 Hình thức diễn xướng ca dao
Nói đến sinh hoạt ca hát dân gian – một bộ phận của sinh hoạt văn hoá dân gian, khó để không nhắc đến diễn xướng ca dao, dân ca trước tiên Đây là một nhánh quan trọng, đậm đà nét trữ tình trong kho tàng thơ ca dân tộc Phụ thuộc vào ca dao và môi trường sinh hoạt văn hoá mà tồn tại những hình thức diễn xướng với cung cách thể hiện, cử chỉ, điệu múa, phong thái, không gian biểu diễn cụ thể mà sống động, linh hoạt
Ca dao có hai hình thức diễn xướng cơ bản là hát cuộc (hay còn gọi là hát lề lối, hát quy cách) và hát lẻ (hát ví vặt, hát ví lẻ)
2.2.1 Hát cuộc
Hát cuộc là cách thức hát tập thể đối ca giữa nam và nữ được diễn ra có quy mô,
có tổ chức trong lao động hoặc trong hội hè Đây là hình thức hát có quy cách với ba chặng: (1) hát chào, mời chầu, mời nước, thử tài; (2) hát xe kết (hát thương); (3) hát xa cách (hát giã bạn, hát tiễn) Các chặng diễn ra theo tiến trình của buổi gặp gỡ ban đầu:
từ chào hỏi làm quen, đưa lời mời chầu, mời nước “Hỏi chàng quê quán nơi nao/ Sao
àm chàng biết vườn đào có huê” cho đến thăm thiết, thân quen “Tình anh như nước dâng cao/ Tình em như dải lụa đào tẩm hương” và kết bằng sự bịn rịn thương nhớ
“Người về em những khóc thầm/ Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa”
2.2.2 Hát lẻ
Ngược với hát cuộc, hát lẻ là hình thức hát không cần tuân thủ qui cách, lề lối
mà tự do, ngẫu hứng Tiếng hát lẻ có thể được cất lên khi đang nghỉ ngơi, dùng để
chòng ghẹo nhau làm tươi khoảng thời gian trống: “Anh ở trong ấy anh ra/ Cớ sao anh biết vườn hoa chị tàn”
3 Đôi nét về dân tộc Dao Đỏ
Dao Đỏ là một trong những nhánh thuộc người Dao, bên cạnh Dao Thanh Y, Dao Quần Trắng, Dao Áo Dài… Dân tộc Dao Đỏ sinh sống chủ yếu ở Lào Cai, Yên
Trang 9Bái, Lai Châu, Tuyên Quang, Cao Bằng, Hà Giang, Bắc Kạn và Thái Nguyên Vùng Tây Bắc có câu thành ngữ “Người Mông ăn theo mây, người Thái ăn theo nước, người Dao ăn theo lửa” Nếu người Mông gắn bó với những ngọn núi mù mây sương sớm, người Thái hòa mình với nguồn nước từ suối, sông thì người Dao có nhiều tín ngưỡng, tập tục mang biểu tượng lửa Có thể kể đến Lễ cấp sắc 12 đèn, tục nhảy lửa… Lửa là một biểu tượng có ý nghĩa thiêng liêng với người dao và nhảy lửa là sinh hoạt văn hoá lâu đời mỗi đợt tháng Giêng về, để cầu cho một năm no đủ và mùa màng tươi tốt
Với người Dao Đỏ, trang phục là một trong những yếu tố đầu tiên để phân biệt người thuộc dân tộc này hay dân tộc khác Trang phụ người Dao Đỏ nổi bật với màu sắc rực rỡ và sự cầu kỳ; với màu đỏ – màu của lửa mà theo quan niệm, là mang lại hạnh phúc, may mắn, năng lượng và sự đầy đủ
Về ngôn ngữ, ngôn ngữ của người Dao Đỏ thuộc hệ H’mông – Dao (Mèo – Dao)
và chữ viết được dùng là Hán – Nôm với hệ thống ký tự Hán được phiên âm theo tiếng Dao
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC DIỄN XƯỚNG CA DAO
1 Diễn xướng ca dao trong tiến trình lịch sử văn học dân gian
Trên chặng đường lịch sử của văn học, các mốc nảy sinh và phát triển của diễn xướng ca dao chưa được xác định một các rõ nét Bức tranh nền của diễn xướng ca dao
khi lội về quá khứ vẫn chỉ là “những phác hoạ sơ giản” mà theo Đỗ Bình Trị, “tuổi của nhóm thể loại những câu hát dân gian ( ) được tính từ thời đại Hùng Vương Nhưng hầu hết, nếu không phải tất cả, những bài ca ta hiện có, đều thuộc những thế kỷ sau – thế kỷ thứ XVI [6]”
Dựa trên các tài liệu nghiên cứu, những bài ca dân gian đã có mặt từ sớm và gắn
bó với hoạt đồng tinh thần cũng như vật chất của người Việt, nằm trong mối quan hệ khăng khít với âm nhạc và nhảy múa Quay ngược lại triều vua Lý Thái Tổ, có nữ danh
ca họ Đào đã được vua ban thưởng nhờ tiếng hát; đến thời vua Lý Nhân Tông thì vũ
nữ có nơi gọi là “Thôi luân vũ” để tập múa hát cho hay Có thể thấy, những bài ca lao động thời cổ ấy chính là nền, là lời hò lao động khi còn ở giai đoạn sơ khai Diễn xướng
ca dao đã gieo mầm từ lâu trong địa hạt dân gian, mà nếu “không đề cập đến phương diện âm nhạc của diễn xướng ca dao, chúng ta đã tự hạn chế kết quả nghiên cứu nó về mặt lịch sử [7]”
Trang 102 Diễn xướng ca dao cùng những biểu hiện đa dạng gắn bó chặt chẽ với đời sống sinh hoạt
Diễn xướng nói riêng, theo Lê Trung Vũ, “là hình thức sinh hoạt văn hoá xã hội định kỳ (như Hội Gióng, Hội Xoan, Hội chùa Keo ) quy mô làng xã; lại vừa là hình thái sinh hoạt văn hoá xã hội không định kỳ, nhưng định lệ (lễ làm nhà mới, đám cưới, đám tang, lễ thành niên, lễ thượng thọ ) quy mô một gia đình hoặc việc của một người; lại cũng vừa là lối trình diễn rất tự nhiên không định kỳ cũng không định lệ mà do nhu cầu sinh hoạt, lao động (ru con, hát trong lúc lao động, vì lao động hoặc để giải trí
[8]” và cũng tương tự với diễn xướng ca dao nói riêng Như vậy, các bài diễn xướng lao động từ xưa đã được khơi nguồn từ cảm hứng của người lao động và gắn với nhịp điệu công việc lao động, nhịp điệu cuộc sống sinh hoạt thường nhật
Đời sống với những lĩnh vực phong phú từ lao động, nghi lễ, chiến tranh đến tình yêu, đời sống gia đình được phản ánh qua hình thức diễn xướng ca dao Những cử chỉ, phong cách, địa điểm, thời gian diễn xướng, ngôn ngữ lại có sự chuyển mình đa dạng với từng lĩnh vực sinh hoạt Ví dụ, cùng là hát xẩm thôi, nhưng điệu hát sẽ mạnh, tiếng đệm và tiếng đưa hơi sẽ nổi lên nếu là hát xẩm chợ; còn điệu hát sẽ dịu dàng, mềm mỏng và tiếng đệm, tiếng đưa hơi lẩn vào lời hát chính thì khi ấy, người diễn xướng đang cất câu hát xẩm cô đào
Chương 3 HÌNH THỨC DIỄN XƯỚNG HÁT PÁO DUNG DAO DUYÊN CỦA DÂN TỘC DAO ĐỎ
1 Điệu hát Páo dung
1.1 Tên gọi “Páo dung”
Theo lời ông Triệu Tạ Phấu, một người có tuổi định cư tại xã Thông Nguyên, huyện Hoàng Su Phì, hát Páo dung là “hát theo vần thơ” Còn bà La Thị Xuân, bậc cao niên sinh sống ở khu tái định cư thôn Tân Quang (Yên Sơn) bảo rằng trong tiếng Dao,
“hát” là “dung”; và người Dao có “Páo dung” là hình thức hát ngẫu hứng dựa trên cơ
sở giai điệu có sẵn, do người hát tự đặt lời và được truyền lại cho các thế hệ Làn điệu Páo dung (tên gọi khác là “Pá dung” hoặc “Pả dung”), mang trong mình hơi thở cuộc sống của người Dao, nói về tình yêu đôi lứa, yêu gia đình, thiên nhiên, làng xóm; về nếp sinh hoạt, tín ngưỡng, phong tục; về những tâm tư tình cảm
Trang 111.2 Điệu hát Páo dung khi xét về hình thức
Páo dung là lối hát theo bài, mỗi bài thường đủ 4 câu, mỗi câu gồm 7 chữ như thể thơ thất ngôn Páo dung bao gồm: (1) hát – hát (Páo dung) là cách hát hơi ngân dài nhất; (2) đọc – hát (Tộ dung) là cách hát ngân trung bình và (3) nói – hát (Coóng dung)
là cách hát gần như nói, gần như không kéo dài giọng Trong đó, hai hình thức Páo dung và Tộ dung được người Dao Đỏ sử dụng nhiều nhất, và có thể chuyển hoá thay phiên lẫn nhau trong một lần hát Với Páo dung, lối hát đối đáp được chuộng hơn lối hát đơn một mình [9]
1.3 Các loại hình của điệu hát Páo dung
Xét về loại hình, Páo dung được chia ra thành Páo dung hát trong lễ nghi tín ngưỡng và Páo dung sinh hoạt
Páo dung lễ nghi tín ngưỡng là những làn điệu cổ ra đời từ sớm, nội dung hướng đến cảm tạ thần linh và cầu mong mùa màng bội thu, mưa thuận gió hoà Vì là làn điệu
cổ nên lời ca của Páo dung lễ nghi lời ít ý nhiều, đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về văn hoá tộc người mình
Trong khi đó, Páo dung sinh hoạt vô cùng phong phú Đó có thể là hát ru, hát uống rượu, cũng có thể hát giao duyên, hát về tình yêu đôi lứa, hát mừng đám cưới
và chiếm vị trí lớn trong kho tàng dân ca người Dao Đỏ So với Páo dung lễ nghi tín ngưỡng, Páo dung sinh hoạt dễ hiểu, dễ nhớ, dễ đi vào lòng người hơn Những điệu Páo dung sinh hoạt không giới hạn về không gian, thời gian diễn xướng và tài nghệ đối đáp linh hoạt của người hát vì thế cũng được thể hiện Qua những làn điệu đó, những giá trị văn hoá được tái hiện, không khí thân quen vui vẻ được tạo lập, làm chặt thêm tình cảm giữa những người Dao Đỏ với nhau
2 Hát Páo dung giao duyên
Theo PGS Chu Xuân Diên, lĩnh vực phong phú nhất của ca dao cổ truyền là lĩnh
vực về tình yêu nam nữ Sự phong phú đó đã “phản ánh nhu cầu bộc lộ một loại tình cảm và nhu cầu thực hiện một loại sinh hoạt tình cảm phong phú của con người [10]”
Trang 12Ở người Dao Đỏ, khao khát tình yêu, khao khát trao đổi tâm tình cũng lớn như lời nhận định của Chu Xuân Diên và điệu hát giao duyên là không thể thiếu trong sinh hoạt của tộc người này
2.1 Nội dung phản ánh của Páo dung giao duyên
Như cái tên “giao duyên”, Páo dung giao duyên là điệu hát để người đến với người bằng cái “duyên” của mình, để tìm bạn, tìm người tâm giao, tìm người trao thân gửi phận Hát giao duyên, theo ông Hoàng Thồng Quấy (xóm Tàn Pà) cho biết, xưa kia là cách duy nhất để bên trai bên gái tìm hiểu lẫn nhau [11] Đây là tục hát đối ứng giữa nam và nữ mà thông qua đó, họ trao cho phía kia những lời dò hỏi, những sở thích, thói quen, nếp sống của bản thân Bên cạnh đó, Páo dung giao duyên cũng có khi là để trêu đùa, thể hiện tình cảm giản dị, nồng hậu giữa những con người Dao Đỏ
“Duyên” là nét tế nhị đáng yêu trời ban cho mỗi người, không hạn định ở một mốc tuổi cụ thể nào hết Vì vậy, không chỉ được cất lên bởi thanh niên trẻ mà hát giao duyên còn là điệu hát để người trung niên hoặc cao tuổi tham gia góp tiếng Nhu cầu tìm bạn, tìm người tri kỉ, người đồng điệu không bao giờ vơi cạn Thông qua tiếng hát, những người Dao Đỏ ấy hỏi thăm nhau, giãi bày với nhau những câu chuyện trong cuộc sống sinh hoạt, lao động, sản xuất và thấu hiểu lẫn nhau
Lời Dao: Muộn chầm dầu dâu chấu hái chiêu
Muộn chầm dầu dâu chấu hái quyên Phín búa phái mìu tồng lẩu dầu
(Dịch nghĩa: Mình muốn hỏi người đang đi đâu?
Người đi đâu xa đến huyện nào?
Cho mình biết để cùng đi )
Khi hát Páo dung giao duyên, người hát là những người linh hoạt, biết lắng nghe bởi người Dao Đỏ thường tự hát ứng tác chứ không ghi lại đầy đủ nội dung lời ca bài hát Chỉ khi tham gia trực tiếp vào các cuộc hát giao duyên ở những bối cảnh khác nhau, bài giao duyên được cất lên mới phong phú và ẩn chứa nhiều chiều sâu sắc, nhiều giá trị
2.2 Hình thức diễn xướng Páo dung giao duyên