1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Rèn luyện kỹ năng sử dụng thao tác lập luận bác bỏ trong văn nghị luận cho học sinh THPT

58 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn Luyện Kỹ Năng Sử Dụng Thao Tác Lập Luận Bác Bỏ Trong Văn Nghị Luận Cho Học Sinh THPT
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng Kiến Kinh Nghiệm
Năm xuất bản 2014
Thành phố Việt Nam
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 109,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bác bỏ với tư cách là một thao tác bộ phận trong kĩ năng làm văn nghị luận * Khái niệm văn nghị luận Văn nghị luận là loại văn trong đó người nói, người viết sử dụng lí luận,bao gồm lí l

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP

VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: Rèn luyện kỹ năng sử dụng thao tác lập luận bác bỏ trong văn nghị luận cho học sinh THPT.

2 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 05/09/2014.

3 Các thông tin cần bảo mật (nếu có): không.

4 Mô tả các giải pháp cũ thường làm

4.1 Giáo viên dạy rập khuôn theo SGK: trong giờ dạy kiến thức lí thuyết

Thao tác lập luận bác bỏ giáo viên mới chỉ thực hiện các nội dung SGK theo

những định hướng trong SGV Thông thường, giáo viên đưa ra các câu hỏi gợi ý,hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu theo phần nội dung trong SGK, sau đónhận xét, bổ sung rồi rút ra kết luận theo phần ghi nhớ trong SGK Cuối cùng,giáo viên hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức lí thuyết đã học vào việc giảiquyết các bài tập trong SGK

Bên cạnh đó, thời gian dành cho bài “Thao tác lập luận bác bỏ” là một tiết

và một tiết cho bài “Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ” Do đó, giáo viên ít cóđiều kiện mở rộng kiến thức và việc luyện tập cũng chưa được kĩ càng, sâu sắc

Bên cạnh những thành công đạt được do việc đổi mới chương trình SGKNgữ văn, việc giảng dạy của giáo viên cũng còn gặp nhiều lúng túng, chất lượng

sử dụng thao tác lập luận bác bỏ chưa đạt như mong muốn Học sinh mắc khánhiều lỗi thông thường Việc giảng dạy đã có lí luận nhưng việc vận dụng lí luận

đó vào thực tiễn viết bài dùng thao tác lập luận bác bỏ của học sinh còn gặpkhông ít khó khăn

4.2 Học sinh thụ động nghe - chép: trong quá trình học thao tác lập luận

bác bỏ, nhìn chung, học sinh vẫn còn thụ động Mặc dù, giáo viên khi lên lớp đã

cố gắng đổi mới phương pháp dạy - học, lấy học sinh làm trung tâm, dạy họctích cực hóa, nhằm tổ chức hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu chiếm lĩnh tri thức,phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo của học sinh Tuy nhiên, học sinh chưathực sự tiếp thu một cách chủ động, sáng tạo mà phần lớn các em vẫn học theokiểu cũ: nghe, ghi, chép, nhớ và tái hiện những gì giáo viên nói mà chưa có thóiquen chủ động tìm hiểu, khám phá bài học Thực tế, mặc dù được học thao táclập luận bác bỏ nhưng giờ luyện thực hành còn khá ít Các đề kiểm tra cũng ít

Trang 2

không được trau dồi kĩ năng làm văn bác bỏ.

Ngoài ra, cần phải nói tới thực trạng học sinh ngại chữa lỗi trong các bàikiểm tra của mình Khi giáo viên hướng dẫn, các em nhận ra lỗi sai nhưngkhông trực tiếp chữa những lỗi sai đó vào bài Nó cho thấy các em chưa ý thứcđầy đủ về giờ luyện tập thực hành

5 Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến:

5.1 Trong những năm gần đây đổi mới phương pháp dạy học luôn là vấn

đề được quan tâm hàng đầu của ngành giáo dục Điểm mấu chốt của đổi mớiphương pháp dạy học là việc người học - đối tượng của hoạt động dạy, chủ thểcủa hoạt động học - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổchức và chỉ đạo, để khám phá những điều mình chưa rõ, chứ không phải là tiếpthu một cách thụ động những tri thức đã được giáo viên sắp đặt, từ đó nắm chắckiến thức, kĩ năng, không rập khuôn theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ

và phát huy tiềm năng sáng tạo

5.2 Trước cải cách giáo dục, Làm văn được tách thành một phân môn và

được soạn thành sách giáo khoa (SGK) riêng Quan điểm tích hợp gần đây đãdẫn tới sự ra đời của SGK Ngữ văn với ba bộ phận: Văn học - Làm văn - tiếngViệt, dựa trên sự thống nhất về mục tiêu hình thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viếtbằng tiếng Việt cho học sinh Làm Văn là môn thực hành tổng hợp Năng lực màhọc sinh có được ở phần Văn học (đọc hiểu và tiếp nhận văn bản), Tiếng Việt(năng lực giao tiếp bằng tiếng Việt) tạo điều kiện trực tiếp để đạt tới mục tiêuquan trọng nhất của làm văn: tạo lập văn bản (nói và viết) Giáo dục phổ thôngcoi trọng trình độ viết văn của học sinh, bởi với tư cách là "đầu ra", kết quả làmvăn của học sinh phản ánh kết quả học Tiếng Việt và Văn học

Trong nhà trường phổ thông, văn nghị luận được đánh giá là trọng tâmcủa chương trình dạy học Ngữ văn, bởi lẽ, văn nghị luận là loại văn trong đóngười viết đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đó và thông quacách thức bàn luận mà làm cho người đọc hiểu, tin, tán đồng những ý kiến củamình và hành động theo những gì mình đề xuất Bản thân văn nghị luận có liênquan trực tiếp tới quá trình các em học sinh tập vận dụng tổng hợp các tri thứcvăn học, tri thức xã hội và đời sống vào quá trình làm văn, rèn luyện kĩ năngdiễn đạt bằng ngôn ngữ và đặc biệt giúp đắc lực vào việc phát triển tư duy khoahọc, tư duy lí luận Những đề bài nghị luận đặt ra những vấn đề tư tưởng và họcthuật đòi hỏi học sinh phải huy động những hiểu biết lí luận và thực tiễn để giảiquyết nhằm xây dựng một phương pháp, tư tưởng khoa học để có nhận thức vàthái độ đúng trước những vấn đề bàn luận cũng tức là giúp học sinh có sự chuẩn

Trang 3

bị cần thiết để tiến tới những hành động đúng đắn, tích cực và sáng tạo trong đờisống hiện tại và tương lai Để học sinh làm được các bài văn nghị luận hay, các

em phải hiểu được các thao tác lập luận có trong văn nghị luận

5.3 Trước đây, thao tác lập luận được gọi là kiểu bài nghị luận Nhưng

do việc thay đổi quan điểm giáo dục và cũng là do thực tế viết văn nghị luận làphải vận dụng kết hợp các thao tác lập luận, chương trình Ngữ văn trung họcphổ thông (THPT) đã đưa thêm một số thao tác lập luận cơ bản trong đó có thaotác lập luận bác bỏ

Có thể nói, trong sáu thao tác lập luận (giải thích, phân tích, bình luận,chứng minh, so sánh, bác bỏ), bác bỏ là thao tác học sinh ít được rèn luyện hơn

cả Điều này xuất phát từ cái khó của bản thân thao tác Một lí do khác là hiệnnay trong các kì thi, dạng đề yêu cầu học sinh vận dụng thao tác lập luận nàychưa nhiều, bởi những vấn đề đưa ra bàn luận hầu hết là những vấn đề đúng,mang tính chân lí Thực tế này đưa đến tình trạng học sinh chủ quan với lối tưduy một chiều, chưa có ý thức chuẩn bị tinh thần phản biện trong tranh luận, dẫnđến phiến diện trong tư duy và lập luận

5.4 Về vấn đề thao tác lập luận bác bỏ, từ rất xa xưa con người đã có

những cách bác bỏ ý kiến sai lầm rất thú vị Trong cuốn Phương pháp biện luận - Thuật hùng biện của Triệu Truyền Đống do Nguyễn Quốc Siêu biên

dịch Triệu Truyền Đống đã đưa ra 280 bài viết tổng kết những cách thức, chiếnthuật và mưu mẹo giành chiến thắng trong tranh luận trong đó có nói tới bác bỏthông qua phần nghiên cứu về tranh luận

Cùng viết về nghệ thuật tranh luận, Dale Breckenridge Carnegie trong

Đắc Nhân Tâm cũng đã đưa ra những phương pháp tranh luận hết sức sắc sảo.

Trong 14 bí quyết để luôn tranh luận thành công, do tạp chí Doanh nghiệp sưu tầm, đã đưa ra 14 bí quyết quan trọng giúp chiến thắng trong các

cuộc tranh luận, biến những cuộc tranh luận thành những trao đổi thú vị, có tinhthần xây dựng và cùng đi tới những kết luận đúng đắn

Như vậy, nghệ thuật bác bỏ đã được bàn đến trong giao tiếp Tuy nhiên,đây là một thao tác mới trong SGK Ngữ văn dành cho bậc THPT Qua tìm hiểu,chúng tôi nhận thấy các tài liệu nghiên cứu nghiêng nhiều về việc tìm hiểu vănnghị luận, chẳng hạn các công trình:

Phương pháp dạy học Làm văn do Phan Trọng Luận chủ biên đã đưa ra

những lí thuyết cơ bản cũng như phương pháp dạy học văn nghị luận cho họcsinh Nghiên cứu cách thức tổ chức một giờ giảng lí thuyết và thực hành làm văn

Trang 4

Cùng tác giả trên, trong cuốn Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11 đã đưa ra phương pháp dạy học

chương trình SGK Ngữ văn, trong đó có phân môn Làm văn Tuy nhiên đâycũng chỉ là những định hướng việc dạy thao tác lập luận bác bỏ ở phương diện líthuyết cũng như thực hành, chưa có nhiều bài tập cho học sinh rèn luyện

Cuốn Thực hành Làm văn lớp 11 do Lê A chủ biên khẳng định vị trí

cũng như tính chất của làm văn (là môn thực hành tổng hợp), nêu lên những kiếnthức cơ bản về văn nghị luận cũng như các thao tác về văn nghị luận, trong đó

có bác bỏ Trong công trình nghiên cứu này, tác giả cũng chưa đi vào nghiên cứu

hệ thống bài tập rèn luyện cụ thể về từng thao tác lập luận

Ở nhóm nghiên cứu này, các nhà sư phạm đã quan tâm tới việc dạy líthuyết và thực hành, coi trọng cả hai khâu cung cấp kiến thức lí thuyết và rènluyện kĩ năng Hầu hết các công trình nghiên cứu đều đã xác định lại vị trí củaphân môn Làm văn trong chương trình Ngữ văn ở THPT, đưa ra những phươnghướng dạy học, hướng ra đề kiểm tra và chấm bài cho học sinh; đồng thời tíchhợp các môn học khác vào dạy học làm văn Nói tóm lại, những công trình này

đã xây dựng được một hệ thống kiến thức cơ bản về dạy học làm văn Tuy nhiênvẫn còn thiếu những bài tập cụ thể giúp các em học sinh rèn luyện kỹ năng viếtvăn

Thao tác lập luận bác bỏ cũng được đưa vào SGK (SGK Ngữ văn 11 Nâng cao, tập 2 do Trần Đình Sử làm tổng chủ biện; SGK Ngữ văn 11, tập 2 do Phan Trọng Luận làm tổng chủ biên); Sách giáo viên; Sách tham khảo (Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11, tập 2 – Phan Trọng Luận) Song cũng vẫn với tinh thần

trên, với lượng thời gian ít ỏi, các bài trong SGK cũng mới chỉ dừng lại ở việcgiúp học sinh nhận biết, nhận diện thao tác mà chưa có điều kiện đi sâu vào thựchành Việc hình thành kỹ năng cho học sinh ở thao tác lập luận này (cũng nhưmột số thao tác lập luận khác) vì thế còn nhiều hạn chế

Với mong muốn thay đổi thói quen tư duy, mài sắc tư duy để đáp ứng tốt

hơn yêu cầu viết văn cũng như phục vụ cho giao tiếp trong cuộc sống, chúng tôi

lựa chọn sáng kiến: Rèn luyện kỹ năng sử dụng thao tác lập luận bác bỏ trong văn nghị luận cho học sinh THPT.

6 Mục đích của giải pháp sáng kiến

Thứ nhất, nghiên cứu sáng kiến này, các tác giả nhằm mục đích rèn luyện

kĩ năng lập luận bác bỏ trong làm văn nghị luận cho học sinh Giúp học sinhphát huy được năng lực cá nhân, lối tư duy phản biện, khả năng sáng tạo cũngnhư sự tự tin bộc lộ ý kiến riêng trước những vấn đề văn học hay đời sống, xã

Trang 5

Thứ hai, nâng cao hiệu quả giảng dạy của giáo viên cũng như chất lượnghọc tập của học sinh trong việc dạy và học văn nghị luận Từ đó, giúp bước đầuxóa bỏ tình trạng thờ ơ với môn văn, sợ viết văn, ngại viết văn của một bộ phậnhọc sinh Giúp cho học sinh và cả giáo viên có thể nối liền khoảng cách vănchương và đời sống, biến những kiến thức sách vở trở nên sinh động trong cuộcsống đời thường, khả năng ứng dụng vào thực tế sinh động và linh hoạt hơn

7 Nội dung:

7.1 Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến

7.1.1 Giải pháp 1

a Tên giải pháp: Hệ thống cơ sơ lí luận và cơ sở thực tiễn về bác bỏ,

thao tác lập luận bác bỏ trong văn nghị luận.

b Nội dung: Thao tác lập luận bác bỏ là một hoạt động tư duy nhằm giúp

cho con người trên cơ sở nhận thức được cái đúng mà biết phê phán cái sai, cáilệch lạc, phiến diện Tuy nhiên đây là thao tác khá mới trong dạy học Làm văn,song cũng vì mới nên những công trình nhiên cứu về thao tác và dạy học thao

tác này chưa nhiều Vì vậy trong giải pháp này, nhóm tác giả cung cấp kiến thức

về:

* Cơ sở lí luận:

- Thao tác lập luận với tư cách là một hoạt động tư duy

- Bác bỏ với tư cách là một thao tác lập luận

- Bác bỏ với tư cách là một thao tác bộ phận trong kĩ năng làm văn nghịluận

- Kỹ năng và sự hình thành kỹ năng qua hệ thống bài tập

* Cơ sở thực tiễn

c Các bước tiến hành thực hiện giải pháp

c.1 Trình bày cơ sở lí luận:

c.1.1 Thao tác lập luận với tư cách là một hoạt động tư duy

* Khái niệm thao tác

Trong cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) thì thao tác được

định nghĩa: Thực hiện những động tác nhất định để làm một việc gì đó trong sản xuất

Trong tâm lí học, thao tác được xem là những hệ thống những hành độngtrong tư duy Thao tác chính là cốt lõi của các cách thức hành động bị quy định

và phụ thuộc chặt chẽ bởi phương tiện, điều kiện cụ thể

Trang 6

* Khái niệm tư duy

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4 (NXB Từ điển Bách

khoa, Hà Nội, 2005): Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não người Tư duy phản ánh hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lí luận…

Như vậy, tư duy chính là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vàobản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật, hiện tượng bằng những hìnhthức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí

* Khái niệm thao tác lập luận: Lập luận là đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng

một cách đầy đủ, chặt chẽ, nhất quán và đáng tin cậy nhằm dẫn dắt người đọc,người nghe đến một kết luận hoặc chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói,người viết muốn đạt tới

Lập luận trong văn nghị luận bao gồm các yếu tố luận điểm, luận cứ, luậnchứng, cách thức, phương pháp lập luận Trong đó, luận điểm chính là ý kiếnxác định của người viết về vấn đề đặt ra Luận cứ là các tài liệu dùng làm cơ sởcho việc thuyết minh cho luận điểm Còn luận chứng là sự phối hợp tổ chức các

lí lẽ và dẫn chứng để thuyết minh cho luận điểm Thực chất đây là cách đưa luận cứvào quỹ đạo logic để tạo sức thuyết phục của luận điểm

Thao tác lập luận: là người viết phải sử dụng ngôn ngữ để nêu vấn đề,trình bày lí lẽ và qua đó đánh giá đúng - sai, đưa ra các phán đoán, nêu ra cáckiến giả, phát biểu ý kiến, thể hiện rõ lập trường quan điểm của bản thân Việctrình bày lí lẽ được người viết thể hiện thông qua các phương thức tư duy logicnhư: khái niệm, phán đoán, suy lí và hệ thống dẫn chứng nhằm đạt được mụcđích khiến người đọc tin theo Vậy thao tác lập luận chính là thao tác được sửdụng để thực hiện một hành động lập luận Nói cách khác, thao tác lập luận lànhững động tác được thực hiện theo trình tự và yêu cầu kĩ thuật được quy địnhtrong hoạt động lập luận

Trong cuốn Phương pháp dạy học tiếng Việt, do Lê A chủ biên, các nhà

nghiên cứu cũng nhận thấy: Trước đây, nhiều người cho rằng các vấn đề tư duylogic gắn liền với tất cả các ngành khoa học nên sẽ quá rộng nếu coi tư duy làmột trong những tiền đề của việc dạy học làm văn Nhưng gần đây trên conđường xác định một lí thuyết thực sự khoa học cho môn Làm văn, các nhànghiên cứu lại thấy rằng nhiều vấn đề của làm văn liên quan tới tư duy logic.Các thao tác tư duy như suy diễn, chứng minh, bác bỏ… đã và đang được vậndụng triệt để trong làm văn Không nắm được thao tác tư duy, không thể tạodựng những bài văn chặt chẽ, mạch lạc về nội dung, trong sáng về diễn đạt

Trang 7

Trong SGK Ngữ văn 11, tập 2 cũng viết: Nói một cách tổng quát thì các thao

tác trên (phân tích- tổng hợp, diễn dịch- quy nạp) một mặt là thao tác của logic, tức là của hoạt động tư duy nhằm tìm ra chân lí, cũng tức là tìm ra các ý kiến, mặt khác, là thao tác trình bày các ý trong một bài văn nghị luận hoặc: Nghị luận là vận dụng tư duy và ngôn ngữ.

Lập luận trong bài làm văn nghị luận là một hoạt động có mối liên hệ trựctiếp tới các hoạt động tư duy, tới vấn đề logic và đó là một hoạt động mang tínhtrí tuệ cao

c.1.2 Bác bỏ với tư cách là một thao tác lập luận

Bác bỏ là một thao tác lập luận cơ bản của quá trình tư duy

Theo Từ điển Tiếng Việt: bác là bác đi, gạt đi, không chấp nhận (bác bỏ

ý kiến, bác bỏ luận điệu vu khống, dự án bị bác bỏ…)

Khi đứng trước một vấn đề nào đó, có thể có nhiều ý kiến, quan niệmkhác nhau: có quan niệm, ý kiến đúng đắn, nhưng cũng có quan niệm, ý kiếnkhông chính xác hoặc không hoàn toàn chính xác, khoa học, người nói (viết) cần

có khả năng phát hiện ra những ý kiến, quan niệm mà mình cho là không thỏađáng để bàn bạc, tranh luận và bác bỏ, có như vậy lập luân mới có giá trị sâu sắc

và sức thuyết phục cao

c.1.3 Bác bỏ với tư cách là một thao tác bộ phận trong kĩ năng làm văn nghị luận

* Khái niệm văn nghị luận

Văn nghị luận là loại văn trong đó người nói, người viết sử dụng lí luận,bao gồm lí lẽ, dẫn chứng, trình bày những ý kiến của mình để làm rõ một vấn đềnào đó nhằm thuyết phục người đọc (người nghe) hiểu, tin theo những ý kiến đó.Văn nghị luận bao gồm nghị luận văn học và nghị luận xã hội

* Các thao tác lập luận cơ bản

Trong lập luận có các thao tác cơ bản sau:

Trang 8

- Lập luận giải thích: là thao tác lập luận sử dụng lí lẽ, kết hợp với dẫn

chứng để giảng giải, cắt nghĩa, giúp người đọc, người nghe hiểu rõ một hiệntượng, một vấn đề nào đó Thao tác giải thích thường được vận dụng khi đề bài

có những khái niệm, những nhận xét, nhận định cần làm sáng tỏ, hoặc nhữngcách diễn đạt bằng hình ảnh, hình tượng cần làm rõ nghĩa Cũng có khi việc giảithích tập trung vào mối quan hệ giữa các khái niệm, các vế của ý kiến, nhậnđịnh Giải thích cần phải sát với khái niệm Nếu rộng quá thì triển khai sẽ bị xa

đề, nếu hẹp quá thì bài viết lại nghèo nàn, thiếu ý

- Lập luận phân tích: phân tích là chia tách đối tượng, sự vật hiện tượng

thành nhiều bộ phận, yếu tố nhỏ để đi sâu xem xét kĩ lưỡng nội dung và mối liên

hệ bên trong đối tượng

Tác dụng của phân tích là thấy được giá trị ý nghĩa của sự vật hiện tượng,mối quan hệ giữa hình thức với bản chất, nội dung Phân tích giúp nhận thức đầy

đủ, sâu sắc cái giá trị hoặc cái phi giá trị của đối tượng Riêng đối với tác phẩmvăn học, phân tích là khám phá ba giá trị của văn học là nhận thức, tư tưởng vàthẩm mĩ (chân – thiện – mỹ)

Phân tích phải nắm vững đặc điểm cấu trúc của đối tượng để chia tách mộtcách hợp lí Sau khi phân tích tìm hiểu từng bộ phận, chi tiết phải tổng hợp kháiquát lại để nhận thức đối tượng đầy đủ sâu sắc và trình bày ngắn gọn

- Lập luận chứng minh: là đưa ra cứ liệu, dẫn chứng xác đáng để làm sáng

tỏ một lí lẽ, một ý kiến để thuyết phục người đọc, người nghe tin tưởng vào vấnđề

Để chứng minh, chúng ta đưa lí lẽ trước khi chọn dẫn chứng và đưa dẫnchứng Cần thiết phải phân tích dẫn chứng để lập luận chứng minh thuyết phụchơn Cũng có khi thuyết minh trước rồi đưa dẫn chứng sau Việc đưa ra các dẫnchứng, bằng chứng để chứng minh cần đảm bảo: mối quan hệ giữa chất và lượngcủa dẫn chứng; tính tiêu biểu, toàn diện của dẫn chứng dựa trên việc xử lí hàihòa các mối quan hệ

- Lập luận bình luận: bình luận là đề xuất và thuyết phục người đọc

(người nghe) tán đồng với nhận xét, đánh giá, bàn luận của mình về một hiệntượng (vấn đề) trong đời sống hoặc trong văn học

- Lập luận bác bỏ: là dùng lí lẽ và dẫn chứng để gạt bỏ những quan điểm,

ý kiến sai lệch hoặc thiếu chính xác, từ đó nêu ý kiến đúng của mình để thuyếtphục người nghe, người đọc Người viết có thể bác bỏ một luận điểm, luận cứhoặc cách lập luận bằng cách nêu tác hại, chỉ ra nguyên nhân hoặc phân tíchnhững khía cạnh sai lệch, thiếu chính xác,…của luận điểm, luận cứ, lập luận ấy

Trang 9

- Lập luận so sánh: Là đối chiếu hai hay nhiều sự vật, hoặc là các mặt

trong cùng một sự vật So sánh để chỉ ra những nét giống nhau gọi là so sánhtương đồng; so sánh để chỉ ra sự khác biệt, đối chọi gọi là so sánh tương phản.Tóm lại, so sánh là để thấy sự giống, khác nhau, từ đó thấy rõ đặc điểm và giá trịcủa mỗi sự vật, hiện tượng

* Thao tác bác bỏ trong văn nghị luận

Như đã nói trên, lập luận bác bỏ là thao tác dùng lí lẽ và dẫn chứng để phêphán, gạt bỏ những quan điểm, ý kiến sai lệch hoặc thiếu chính xác,…Từ đó nêulên ý kiến đúng của mình để thuyết phục người nghe Có thể bác bỏ ở các cấp

độ, khía cạnh: bác bỏ luận điểm, bác bỏ luận cứ, bác bỏ lập luận

- Bác bỏ luận điểm: là chỉ ra sự sai lầm của ý kiến (luận điểm) Có nhiều

cách bác bỏ luận điểm, thông thường là hai cách:

+ Dùng thực tế bác bỏ tức tìm ra những điểm trái với thực tế, tác phẩmhoặc đời sống

+ Dùng phép suy luận để tìm ra cái sai của luận điểm cần phải bác bỏ

- Bác bỏ luận cứ: là vạch ra tính chất sai lầm, giả tạo trong lí lẽ và dẫn

chứng được sử dụng

- Bác bỏ lập luận: là vạch ra sự mâu thuẫn, không nhất quán, phi logic

trong lập luận của người tạo lập văn bản, chỉ ra sự đổi thay, đánh tráo khái niệmtrong quá trình lập luận

Ba cách bác bỏ trên đây được tách ra để thuyết minh cho dễ hiểu, trongthực tế chúng lại liên kết với nhau rất chặt chẽ Mục đích cao nhất của bác bỏ làbảo vệ chân lí, lẽ phải Xa rời mục đích này, bác bỏ sẽ trở thành ngụy biện, vô

bổ và có hại

Khi bác bỏ ý kiến nào đó không phải chỉ đơn giản là tuyên bố ý kiến đó sailầm, mà quan trọng là phải có lập luận đầy đủ để chứng minh là nó sai thì mớithuyết phục được người đọc, người nghe Muốn bác bỏ ý kiến đó sai, trước hếtphải trích dẫn ý kiến đó một cách đầy đủ, khách quan và trung thực Sau đóngười viết phải làm sáng tỏ hai phương diện: ý kiến đó sai ở chỗ nào và vì saonhư thế lại là sai

Để tìm hiểu vì sao ý kiến đó lại sai lầm thì chúng ta phải dùng lí lẽ và dẫnchứng để phân tích, lí giải nguyên nhân sai lầm của ý kiến Khi sử dụng thao táclập luận bác bỏ chúng ta dựa vào mức độ đúng, sai của các ý kiến mà vận dụngthao tác này cho thích hợp và đưa ra kết quả thỏa đáng

* Mối quan hệ giữa các thao tác lập luận trong văn nghị luận

Trang 10

Văn nghị luận chủ yếu dùng các thao tác: chứng minh, giải thích, phântích, so sánh, bác bỏ, bình luận Mỗi thao tác đều nhằm đạt tới một mục tiêu cụthể Trong thực tế, Làm văn nghị luận rất hiếm trường hợp chỉ sử dụng một thaotác lập luận duy nhất Bởi vậy, cần biết vận dụng kết hợp các thao tác lập luận.Tùy thuộc vào vấn đề, vào đối tượng tiếp nhận mà người viết có thể chọn một sốthao tác nhất định Việc lựa chọn này tùy thuộc vào mục đích bàn luận Đểngười đọc (nghe) bước đầu nhận diện được vấn đề, người viết (nói) phải dùngthao tác giải thích; Nhưng muốn hiểu vấn đề một cách cặn kẽ (hiểu và tin) thìphải dùng phân tích, chứng minh Cần đề xuất ý kiến thì phải dùng thao tác bìnhluận Ttrong một đoạn văn, một bài văn nghị luận sẽ có một hoặc hai thao tácchính có vai trò nòng cốt tạo nên mạch lập luận của vấn đề đưa ra để nghị luận

và những thao tác phối hợp giúp cho lập luận được chặt chẽ sinh động, có nhiềuchiều

Thao tác lập luận bác bỏ là một bộ phận không thể tách rời trong hệ thốngcác thao tác lập luận Bởi trong thực tế, cái đúng, cái sai không tồn tại cách biệtnhau Trong các ý kiến, có ý kiến đúng, có ý kiến sai, trường hợp này đúng,trường hợp kia sai; Có ý kiến mặt này đúng nhưng mặt kia sai Phải tùy theo tínhchất đúng, sai của các ý kiến mà vận dụng thao tác lập luận bác bỏ cho thích hợp

và nêu ra kết quả thỏa đáng Nói quá hoặc nói chưa tới là tự biến ý kiến củamình thành đối tượng để người khác phê phán, bác bỏ Để ý kiến được chấpnhận, thuyết phục được người khác, bác bỏ phải được thực hiện một cách trungthực, có mức độ và đúng quy cách

c.1.4 Kỹ năng và sự hình thành kỹ năng qua hệ thống bài tập

* Quan niệm về kỹ năng

- Kỹ năng

Theo Từ điển tiếng Việt: kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức

vào một lĩnh vực nào đó trong thực tế.

Trong Tâm lí học, kỹ năng được nghiên cứu nhiều, đặc biệt là vấn đề hìnhthành kỹ năng, cùng với đó là sự song song tồn tại nhiều luồng quan điểm Tuynhiên, các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau rằng: Kỹ năng được hìnhthành trong hoạt động A.N.Leonchiev đã mô tả mô hình cấu trúc của hoạt độngnhư sau: Hoạt động <-> hành động<->thao tác và tương ứng chúng là các yếu tốkhách quan: đối tượng (động cơ)<-> mục đích <-> phương tiện (điều kiện)

Như vậy, kỹ năng được hình thành thông qua việc kết hợp giữa hành động,

sự nhận thức về mục tiêu hành động và giữa mức độ thực hiện hành động

- Kỹ xảo

Trang 11

Theo Từ điển tiếng Việt: kỹ xảo là hành động tự động hóa nhờ luyện tập.

Trong Tâm lí học, kỹ xảo cũng được nghiên cứu khá nhiều Có người hiểu

kỹ năng là những nấc thang đầu, còn kỹ xảo là những nấc thang cuối Nhưngcũng có người hiểu là kỹ xảo là thành tố của kỹ năng, là những yếu tố của kỹnăng đã được tự động hóa

Như vậy về cơ bản, kỹ năng mang tính chất máy móc, còn kỹ xảo mangtính chất tự động hóa Ranh giới giữa kỹ năng và kỹ xảo khó có thể chỉ ra mộtcách thật rạch ròi, dứt khoát trong thực tiễn dạy học Làm văn

* Quan niệm về hệ thống bài tập

Theo cách hiểu chung, hệ thống là một thể thống nhất bao gồm các các

yếu tố có mối quan hệ và liên hệ lẫn nhau Mỗi đối tượng trọn vẹn làm một hệthống Nói đến hệ thống, cần phải nói đến hai điều kiện: tập hợp các yếu tố vànhững mối quan hệ và liên hệ lẫn nhau giữa các yếu tố đó

Bài tập được hiểu theo nhiều cách Cách hiểu Bài tập là bài ra cho học sinh để vận dụng những điều đã học chủ yếu phù hợp với các bài học lí thuyết,

là loại bài mà trong nội dung đã học, có sự phân biệt khá rạch ròi giữa lí thuyết

và vận dụng (phần lí thuyết được dạy trước, phần vận dụng được dạy sau bằngmột hệ thống bài tập) Bài tập ở bài học lí thuyết chủ yếu giúp học sinh nắmchắc khái niệm lí thuyết, củng cố các đơn vị kiến thức lí thuyết vừa học Còn bàitập trong bài thực hành chủ yếu giúp học sinh hình thành phát triển các kĩ năng.Nói cách khác, ở bài học thực hành, phần việc chủ yếu là tổ chức cho học sinhrèn luyện kĩ năng bằng các bài tập thích hợp

Như vậy, hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng thao tác lập luận bác

bỏ cho học sinh phải được xây dựng trên cơ sở tiếp thu, kế thừa mang đầy đủđặc trưng của một hệ thống: đó là một chỉnh thể gồm nhiều yếu tố (yếu tố ở đây

là loại, kiểu, dạng bài tập) có liên quan với nhau và giá trị của một yếu tố đượcxác định bởi mối quan hệ giữa nó và các yếu tố khác trong cùng hệ thống Giốngnhư các trường hợp khác, hệ thống bài tập về thao tác lập luận bác bỏ cũng cótính cấp bậc: loại ( bậc 1), kiểu (bậc 2), dạng (bậc 3)…

* Sự hình thành kỹ năng qua hệ thống bài tập

Tâm lí học hiện đại đã kết luận: chỉ trong hoạt động thì kỹ năng mới đượchình thành và phát triển Như vậy bài tập là một tập hợp yêu cầu hoạt động đểđạt tới kết quả nào đó Nếu làm một loại bài tập cùng kiểu lặp đi lặp lại tới mức

độ cần thiết thì sẽ hình thành được kĩ năng tương ứng Như vậy, có thể coi bàitập là phương tiện, kỹ năng là mục đích trọng yếu, chủ yếu cần đạt tới Bài tập làyếu tố không thể thiếu và có vị trí, vai trò rất quan trọng

Trang 12

Như đã phân tích ở trên, kỹ năng kỹ xảo là sự vận dụng tri thức vào hoạtđộng thực tiễn để giải quyết một nhiệm vụ nào đó, là năng lực thực hiện để đạtđược kết quả đã đề ra Do đó muốn có kỹ năng trước hết ta phải có tri thức vềmột lĩnh vực nào đó và phải trực tiếp thực hiện các thao tác, các hành động vàphải luyện tập nhiều lần để đạt được kết quả như mong muốn.

Hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng thao tác lập luận bác bỏ cho học sinhtrung học phổ thông được đề cập tới ở đây là loại bài tập được sử dụng trong bàihọc lí thuyết và cả bài học thực hành Qua các bài tập, giáo viên giúp học sinh hìnhthành và phát triển kỹ năng lập luận bác bỏ trong văn nghị luận

c.2 Cơ sở thực tiễn :

Lâu nay trong chương trình sách Làm văn ít chú ý đề cập tới thao tác lập

luận bác bỏ Nay được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập 2 và được coi

như một trong những thao tác chính được trang bị lí thuyết và thực hành

Thao tác lập luận bác bỏ được triển khai trong chương trình sách giáo

khoa Ngữ văn lớp 11, tập 2 bao gồm các tiết học cụ thể:

- Về lí thuyết: 01 bài: "Thao tác lập luận bác bỏ"

- Về thực hành: 01 bài: "Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ"

Về số lượng bài tập trong SGK bao gồm có 5 bài, trong đó:

- Bài tập nhận diện : 2 bài - chiếm 40%

- Bài tập tạo lập: 3 bài - chiếm 60%

Để các dạng bài tập trong sáng kiến không xa lạ với học sinh, tác giả tiếnhành khảo sát SGK Ngữ văn trong nhà trường Qua khảo sát, chúng tôi rút rađược một số nhận định bước đầu như sau:

Một là, các bài tập trong sách vừa mang tính chất củng cố lí thuyết vừamang tính chất cung cấp các kỹ năng tạo lập đoạn văn sử dụng thao tác lập luậnbác bỏ Bởi vậy, hướng đề xuất bài tập trong sáng kiến cũng cần phù hợp với đặcđiểm này

Hai là, các loại bài tập trong SGK chưa đa dạng, số lượng ít Vì vậy,chúng ta vẫn có thể đưa thêm những bài tập mới để giáo viên có thể tham khảo

và đưa ra những bài tập phong phú hơn, giúp các em học sinh có thêm nhiều ngữliệu mới trong quá trình học thao tác lập luận này

d Kết quả khi thực hiện giải pháp:

- Về phía giáo viên: hạn chế được rất nhiều tình trạng giáo viên thuyết giảng

lí thuyết khô khan, rập khuôn, máy móc trong các giờ Làm văn Giáo viên chútrọng nhiều hơn đến việc rèn luyện kỹ năng, vận dụng thao tác lập luận cho họcsinh một cách nhịp nhàng, nhuần nhuyễn, và thành công hơn cả là giáo viên đã

Trang 13

giúp học sinh tiếp cận với cuộc sống thực tế một cách tinh tế; để học sinh lànhững chủ thể chiếm lĩnh tri thức một cách thực sự, tạo cho học sinh nhữngđộng cơ hứng thú với phân môn Làm văn.

- Về phía học sinh: có hiểu biết đầy đủ về cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn củathao tác Học sinh hào hứng với bài học, chủ động khám phá bài học, liên hệ vàgắn bài học với thực tế viết bài, với các môn học khác khi tranh biện và thực tếcuộc sống

c Các bước tiến hành thực hiện giải pháp

c.1 Nguyên tắc chung đối với việc xây dựng hệ thống bài tập

Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nói trên của bài tập rèn kỹ năng sử dụngthao tác lập luận bác bỏ, hệ thống bài tập này phải được biên soạn, xây dựng dựatrên các nguyên tắc nhất định Đó là những nguyên tắc cơ bản sau:

c.1.1 Nguyên tắc khoa học

Tính khoa học của việc xây dựng hệ thống bài tập trước hết đòi hỏi bài tậpphải đảm bảo tính chính xác khoa học, đồng thời còn đòi hỏi sự thống nhất,tránh mâu thuẫn giữa nội bộ kiến thức bài tập với các kiến thức được trình bày.Các kiến thức trang bị cho học sinh phải là những kiến thức cơ sở của thao tác

Trang 14

lập luận bác bỏ trong văn nghị luận Tính khoa học còn đòi hỏi các bài tập đưa

ra phải mang tính rõ ràng, rành mạch, phù hợp với lí luận dạy học nhằm pháthuy tính chủ thể ở học sinh Cách trình bày bài tập sao cho phù hợp với tâm lílứa tuổi, tâm lí tiếp nhận và quá trình nhận thức của học sinh, phục vụ đắc lựccho bài giảng của giáo viên về thao tác lập luận bác bỏ

Bài tập trang bị cho học sinh phải là những bài tập cơ bản giúp học sinhtìm hiểu cách thức làm bài văn nghị luận có sử dụng thao tác lập luận bác bỏ,đồng thời phải hình thành được ở học sinh kỹ năng, kỹ xảo làm bài văn nghịluận

ưu Và hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng thao tác lập luận bác bỏ trong vănnghị luận cũng vậy Bởi việc sắp xếp kiểu loại bài tập thành một hệ thống là sựsắp xếp có cơ sở khoa học và mang tính tự nhiên, chứ không hoàn toàn là sự bàyđặt, khiên cưỡng Theo tinh thần đó, như bất cứ một hệ thống nào khác, hệ thốngbài tập rèn kĩ năng sử dụng thao tác lập luận bác bỏ trong văn nghị luận cho họcsinh trung học phổ thông mà đề tài xây dựng, trên cơ sở tiếp thu, kế thừa cáckiểu bài tập trong các tài liệu trước, cũng mang đầy đủ đặc trưng của một hệthống: đó là một chỉnh thể bao gồm nhiều yếu tố (yếu tố ở đây là nhóm, loại bàitập) có liên quan với nhau và giá trị của nó được xác định bởi quan hệ giữa nó

và các yếu tố khác trong cùng hệ thống Những mối liên quan giữa các yếu tốtrong cùng một hệ thống không phải đơn tuyến, một chiều, theo đường thẳng màtác động lẫn nhau theo nhiều chiều

Nguyên tắc khoa học luôn liên hệ mật thiết với nguyên tắc hệ thống.Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống yêu cầu phải đưa các bài tập một cách toàndiện theo một thứ tự hợp lí và nêu được mối quan hệ giữa chúng, đi từ bài tập dễđến bài tập khó Bởi mục đích xây dựng hệ thống bài tập là nhằm củng cố kiếnthức và khái niệm, yêu cầu và cách thức làm bài văn nghị luận

Trang 15

c.1.3 Nguyên tắc vừa sức

Hiện nay có nhiều quan điểm về sức của học sinh "Sức" không phải đượcchấp nhận như một chỉ số cố định, đồng loạt cho mọi đối tượng, mọi địa bàn,mọi thời đại… "Sức" là cái luôn biến đổi và có sự vận động Vì vậy, đưa ra hệthống bài tập cần chú ý tới sức của học sinh (tính vừa sức)

Tính vừa sức (học sinh) được hiểu là các bài tập đưa ra phải phù hợp vớitrình độ tri thức và trình độ nhận thức của học sinh

Nếu bài tập quá dễ sẽ không phát huy được tính sáng tạo của các em Nếubài tập quá khó các em sẽ không đủ kiến thức để giải quyết các bài tập

Học sinh ở mỗi lứa tuổi khác nhau có những đặc điểm tâm lí riêng trongquá trình tiếp thu kiến thức và kĩ năng mới Mặt khác, ở cùng một tập thể họcsinh trình độ nhận thức của các em cũng khác nhau vì vậy phải lựa chọn các bàitập khác nhau, giáo viên phải xuất phát từ thực tế trình độ nhận thức của các em

để đưa ra các dạng bài tập phù hợp, gây được hứng thú cho các em

Tuân theo nguyên tắc này, người giáo viên phải nắm vững đặc điểm tâm lícủa các em, nắm chắc trình độ kiến thức của học sinh để đưa ra những bài tập,

để hình thành kỹ năng mới cho các em

Để có thể ứng dụng vào thực tế dạy học, hệ thống bài tập không thể khôngdựa vào nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính sáng tạo của học sinh

c.1.4 Nguyên tắc tích hợp

Tích hợp nghĩa là tổng hợp một đơn vị học, một tiết học hay một bàitập… nhiều mảng kiến thức liên quan tới nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáodục và tiết kiệm thời gian học tập cho người học

Tích hợp dọc là tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn họcthuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau Đây là tích hợp đồngtâm, tích hợp theo từng vấn đề trong từng phân môn, cụ thể đó là hướng tích hợptheo mối liên hệ (trực tiếp hoặc gián tiếp), giữa các vấn đề trong cùng một phânmôn, giữa các bài học với nhau trong cùng một lớp, giữa lớp trước và lớp sauthậm chí giữa các cấp học Đó là mối liên hệ kiến thức theo chiều dọc, là mốiliên hệ theo kiểu xâu chuỗi, móc xích một cách chặt chẽ Khi xây dựng hệ thốngbài tập cần tận dụng tất cả những hiểu biết lí thuyết về Làm văn mà học sinh đãđược học ở lớp dưới để xây dựng bài tập

Tích hợp ngang là dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiêncứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau xung quanh một chủ đề Nói cụ thểthì tích hợp ngang được hiểu là tích hợp liên môn, liên phân môn và là hình thứctích hợp theo từng thời điểm Nói cụ thể hơn đó là sự khai thác triệt để mối liên

Trang 16

hệ kiến thức giữa các phần Văn, tiếng Việt và Làm văn trong từng đơn vị bàihọc, cũng có khi là giữa các đơn vị bài học với nhau.

Chương trình Làm văn ở THPT được xây dựng theo quan điểm tích hợptrong đó có thao tác lập luận bác bỏ trong văn nghị luận Bởi vậy, hệ thống bàitập được đưa vào đề tài phải đảm bảo tích hợp được các thao tác lập luận kháctrong văn nghị luận

Tính tích hợp là đặc trưng nổi bật của dạy học Làm văn trong quá trìnhđổi mới Vì vậy khi xây dựng hệ thống bài tập cần chú ý tới nguyên tắc này

c.2 Hệ thống bài tập rèn kỹ năng sử dụng thao tác lập luận bác bỏ trong văn nghị luận.

c.2.1 Giới thiệu khái quát bài tập

Sáng kiến chia hệ thống bài tập thành hai nhóm:

- Nhóm 1: Bài tập nhận diện

- Nhóm 2: Bài tập tạo lập

Cơ sở để phân nhóm chủ yếu dựa vào mục đích, tác dụng của bài tập (tạmgọi là đích bài tập) Cụ thể, đích của nhóm bài tập 1 là giúp học sinh hiểu đượcthao tác lập luận bác bỏ, trước hết ta phải nhận diện được thao tác lập luận bác

bỏ cũng như cách thức lập luận bác bỏ trong văn nghị luận Đích của nhóm bàitập 2 là trong việc luyện tập thực hành thao tác lập luận bác bỏ, chúng ta cũngphải biết cách tạo lập một văn bản có sử dụng thao tác này Hệ thống bài tập nàyvừa giúp học sinh rèn luyện kỹ năng nhận diện thao tác lập luận bác bỏ, đồngthời rèn kỹ năng sử dụng thao tác lập luận bác bỏ trong văn nghị luận

Ở mỗi nhóm, các bài tập được chia thành nhiều loại Cụ thể, ở nhóm 1,căn cứ vào những đặc điểm cần nhận diện của thao tác lập luận bác bỏ, các bàitập chia thành hai loại: bài tập nhận diện yếu tố bị bác bỏ và bài tập nhận diệncách thức bác bỏ Ở nhóm 2, căn cứ vào các cách thức bác bỏ và các kỹ năngcần được hình thành, bài tập được chia thành sáu loại: bài tập viết đoạn văn bác

bỏ một luận điểm, viết đoạn văn bác bỏ một luận cứ, viết đoạn văn bác bỏ mộtlập luận, viết đoạn văn theo cách thức nêu cái sai chỉ ra nguyên nhân, viết đoạnvăn theo cách thức nêu dẫn chứng chỉ ra cái sai, viết đoạn văn theo cách thứcdùng lí lẽ bác bỏ kết hợp so sánh

Như vậy, ở mỗi nhóm bài tập có một tiêu chí phân loại riêng, bởi vì mỗi

nhóm có đặc trưng riêng, mục đích riêng, tác dụng riêng

c.2.2 Hệ thống bài tập

c.2.2.1 Bài tập nhận diện

Trang 17

Như đã trình bày ở giải pháp 1, căn cứ để xây dựng nhóm bài tập này làdựa vào đặc điểm của thao tác lập luận bác bỏ.

* Miêu tả bài tập

Bài tập nhận diện là loại bài tập đơn giản nhất trong hệ thống bài tập rènluyện kỹ năng Bài tập nhận diện không đòi hỏi tư duy cao và yêu cầu của mẫubài tập này là ngắn gọn, rõ ràng, khoa học Bài tập giúp học sinh tái hiện tri thứcmột cách dễ dàng, nhớ lâu những kiến thức mà học sinh nắm bắt được trong quátrình học tập

Đây là loại bài tập cho sẵn ngữ liệu và yêu cầu phân tích, xác định, nhậndiện các yếu tố bị bác bỏ, cách thức bác bỏ trong đoạn văn… nói chung là nhậnbiết thao tác lập luận bác bỏ có trong ngữ liệu

Bên cạnh đó, bài tập nhận diện còn yêu cầu học sinh phải dựa vào nhữngđặc trưng cơ bản của thao tác lập luận bác bỏ, có thể bỏ qua những biểu hiện chitiết, để nhận diện, phân tích đoạn văn sử dụng thao tác lập luận nào, từ đó củng

cố thêm khái niệm và cách thức bác bỏ của bài văn nghị luận

- Cấu tạo

Loại bài tập này thường có 2 phần: phần trình bày yêu cầu và phần dẫnngữ liệu Yêu cầu có thể được diễn đạt bằng nhiều cách như: tìm, xác định, chobiết, phân tích, tìm hiểu… Đồng thời có thể thêm một số yêu cầu khác

Từ lập luận cho sẵn nhận ra các yếu tố bị bác bỏ trong lập luận đó

Nhận ra chính xác cách thức lập luận được sử dụng trong đoạn văn đó

Ví dụ minh họa:

Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Huyền Đức lại nói:

- … Viên Thiệu ở Hà Bắc, bốn đời làm tam công, có nhiều đầy tớ cũ; hiện nay như con hổ dữ hùng cứ ở Kí Châu; bộ hạ nhiều tay tài giỏi, có thể cho là anh hùng được chăng?

Tháo lại cười nói:

Trang 18

- Viên Thiệu ngoài mặt mạnh bạo, trong bụng nhút nhát, thích mưu mẹo

mà không quyết đoán, làm việc lớn lại lo đến bản thân, thấy lợi nhỏ thì lại quên mình, không thể gọi là anh hùng được.

( Tào Tháo uống rượu luận anh hùng, SGK Ngữ văn 10, tập 2)

+ Đoạn văn bản trên nói về vấn đề gì?

+ Luận điểm nào bị bác bỏ và bác bỏ bằng cách nào?

* Cách thức hướng dẫn chung

Với loại bài tập này, khi thực hành, giáo viên hướng dẫn học sinh nhậndiện yếu tố bị bác bỏ cũng như cách thức bác bỏ thông qua những kiến thức vềkhái niệm, yêu cầu và cách thức của thao tác lập luận bác bỏ

- Bước 1: Đọc kĩ đề bài, xác định yêu cầu chính của đề bài

- Bước 2: Ghi lại những vấn đề quan trọng, vận dụng kiến thức lí thuyếtvào nhận diện các yếu tố, cách thức bác bỏ có trong đoạn văn: bác bỏ luận điểm,bác bỏ luận cứ, bác bỏ lập luận

- Bước 3: Kiểm tra độ chính xác của bài tập, sửa chữa kịp thời (đối chiếuyếu tố được nhận diện với lí thuyết đã học)

Ví dụ: Vấn đề nào bị bác bỏ trong đoạn văn sau? Người nói (viết) đã bác

bỏ bằng cách nào?

…Lại có cả danh từ xác nhận địa danh của từng phong cảnh ấy Thành thử nhiều người bình giảng khổ thơ của Hàn Mặc Tử đã lầm tưởng, đây là bức tranh tả vẻ đẹp thơ mộng của Vĩ Dạ, vùng nông thôn ngoại thành xứ Huế Thực

ra trong thơ không phải bao giờ địa danh cũng được sử dụng để chỉ địa danh Chẳng hạn, trong Tây Tiến của Quang Dũng, một loạt địa danh được tung ra, như Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, … chỉ cốt gây ấn tượng về

sự hoang sơ, xa ngái Vĩ Dạ trong bài thơ của Hàn Mặc Tử là tín hiệu về cuộc đời trần thế ấm nóng tình người…

(Theo Lã Nguyên, Đây thôn Vĩ Dạ, trong sách Giảng văn chọn lọc văn học Việt Nam,Trần Đình Sử (tuyển chọn), NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội,

2003)

Hướng dẫn:

- Bước 1: Đọc đề bài, xác định yêu cầu của đề bài: yêu cầu phân tích ngữliệu, tìm ra yếu tố bị bác bỏ và cách thức bác bỏ

- Bước 2: Ghi lại những vấn đề quan trọng?

+ Thao tác lập luận: thao tác bác bỏ

Trang 19

+ Yếu tố bị bác bỏ: có nhiều từ chỉ địa danh khiến nhiều người bình giảngnghĩ rằng đó là bức tranh tả thực vẻ đẹp thôn Vĩ Dạ, vùng nông thôn ngoại ôHuế

+ Cách bác bỏ: bác bỏ luận điểm (dùng suy luận và thực tế để bác bỏ)

- Bước 3: Đối chiếu kết quả và sửa chữa những lỗi sai (đối chiếu với kiếnthức lí thuyết như: thao tác bác bỏ là gì? Luận điểm là gì? Luận điểm đó có saihay không? Luận điểm có cần phải bác bỏ hay không? )

* Một số dạng bài tập nhận diện

- Bài tập nhận diện yếu tố bị bác bỏ

Đây là bài tập cho trước ngữ liệu (đoạn văn) trong đó có chứa thao táclập luận bác bỏ, từ đó yêu cầu học sinh phát hiện, chỉ ra yếu tố bị gạt bỏ (luậnđiểm, luận cứ, lập luận sai lệch, thiếu chính xác)

Như vậy, kiểu bài tập này có thể đưa về những dạng cụ thể: nhận diệnluận điểm bị bác bỏ, nhận diện luận cứ bị bác bỏ, nhận diện lập luận bị bác bỏ

+ Loại thứ nhất: luận điểm bị bác bỏ

Đây là loại bài tập yêu cầu học sinh nhận biết luận điểm bị bác bỏ tronglập luận

Với bài tập này, học sinh phải nắm vững kiến thức về luận điểm cũng nhưthao tác lập luận bác bỏ:

Thế nào là luận điểm? Luận điểm là tư tưởng, quan điểm của người viếtvới vấn đề nghị luận trong bài văn, được thể hiện dưới hình thức những câu vănkhẳng định hay phủ định

Thế nào là bác bỏ một luận điểm? Bác bỏ luận điểm là chỉ ra ý kiến, quanđiểm sai lầm qua hai phương thức chính là dùng thực tế và dùng suy luận

Dùng thực tế bác bỏ tức tìm ra những điểm trái với thực tế đời sống hoặcvăn học

Dùng phép suy luận để tìm ra cái sai của luận điểm cần phải bác bỏ đượcbộc lộ đầy đủ

Trong một lập luận thường có cấu tạo bao gồm ba yếu tố: luận điểm, luận

cứ, lập luận Khi luận điểm (ý chính) bị bác bỏ, Người viết phải đưa ra những lí

lẽ và dẫn chứng phù hợp nhằm thuyết phục người đọc nhận ra cái sai trong luậnđiểm đó

Khi thực hiện bài tập, trước hết giáo viên phải yêu cầu học sinh xác định ýchính của đoạn văn (luận điểm) và tìm hiểu ý chính đó nói về vấn đề gì? Sai hayđúng? Và người viết đã sử dụng những lí lẽ và dẫn chứng như thế nào để bác bỏluận điểm đó

Trang 20

Ví dụ minh họa:

Đọc đoạn văn sau và cho biết yếu tố nào bị bác bỏ:

Có người nói: “Đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy là không cần thiết” Suy nghĩ đó hoàn toàn sai lầm Đội mũ bảo hiểm giúp bảo vệ chính bản thân người đội mũ khi đi lại trên đường nếu chẳng may gặp phải tai nạn rủi ro Các số liệu thống kê cũng cho thấy đội mũ bảo hiểm giúp giảm 30% thương vong do chấn thương sọ não trong các vụ tai nạn giao thông Vì vậy việc đội mũ bảo hiểm khi

đi xe máy là hết sức cần thiết.

Ở đoạn văn trên, người viết đã bác bỏ quan điểm : Đội mũ bảo hiểm khi đi

xe máy là không cần thiết Đây là một quan niệm sai lầm, cần phải loại bỏ trong

suy nghĩ của mỗi người, đặc biệt là đối với giới trẻ hiện nay Người viết đã dùngthực tế để bác bỏ (số liệu thống kê cũng cho thấy đội mũ bảo hiểm giúp giảm30% thương vong do chấn thương sọ não trong các vụ tai nạn giao thông), bằngnhững câu khẳng định nhằm nhấn mạnh và khẳng định chắc chắn đó là một quanniệm sai lầm Vì vậy, đây là bác bỏ luận điểm

+ Loại thứ hai: luận cứ bị bác bỏ

Tương tự như bài tập nhận diện luận điểm bị bác bỏ, bài tập nhận diệnluận cứ bị bác bỏ yêu cầu học sinh nhận ra những luận cứ sai lầm trong lập luận

Với bài tập này, học sinh phải nắm vững kiến thức về luận cứ:

Luận cứ là gì? Luận cứ là những lí lẽ, dẫn chứng được rút ra từ thực tiễnđời sống xã hội, đời sống văn học hoặc những chân lí được nhiều người thừanhận Dùng làm sáng tỏ luận điểm cũng như làm cơ sở, chỗ dựa cho việc rút rakết luận

Thế nào là bác bỏ luận cứ? Bác bỏ luận cứ là vạch ra tính chất sai lầm giảtạo trong lí lẽ và dẫn chứng được sử dụng

Với loại bài tập này, học sinh nhận ra những luận cứ không chính xáctrong lập luận : luận cứ sai lầm, mâu thuẫn, thiếu tính thuyết phục bị bác bỏ vàngười viết đã vạch ra tính chất sai lầm, giả tạo trong luận cứ đó như thế nào ?

Ví dụ minh họa:

Cho đoạn văn sau :

Nhiều đồng bào của chúng ta, để biện minh cho việc từ bỏ tiếng mẹ đẻ, đã than phiền rằng tiếng nước mình còn nghèo nàn Lời trách cứ này không có cơ

sở nào cả Họ chỉ biết những từ thông dụng của ngôn ngữ và còn nghèo những

từ An Nam hơn bất cứ người phụ nữ và nông dân An Nam nào Ngôn ngữ của Nguyễn Du nghèo hay giàu?

Trang 21

Vì sao người An Nam có thể dịch những tác phẩm của Trung Quốc sang nước mình, mà lại không thể viết những tác phẩm tương tự?

Phải quy lỗi cho sự nghèo nàn của ngôn ngữ hay sự bất tài của con người ?

(Nguyễn An Ninh, Tiếng mẹ đẻ - nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức)

Yếu tố nào bị bác bỏ trong đoạn văn trên?

Ở ngữ liệu trên, tác giả bác bỏ luận cứ tiếng nước mình còn nghèo nàn bằng cách phê phán trực tiếp: lời trách cứ này không có cơ sở nào cả, từ đó

phân tích bằng lí lẽ và dẫn chứng, tìm nguyên nhân của luận cứ sai lệch (đó là

do sự bất tài của con người chứ không phải do tiếng nước mình còn nghèo nàn).

Như vậy, đây là một lập luận bị bác bỏ luận cứ

+ Loại thứ ba: lập luận bị bác bỏ

Với dạng bài tập này, giáo viên hướng học sinh nắm được các kiến thức líthuyết như: Lập luận là gì? Thế nào là lập luận bị bác bỏ?

Lập luận là đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng một cách đầy đủ, chặt chẽ, nhấtquán và đáng tin cậy nhằm dẫn dắt người đọc, người nghe đến với một kết luậnhoặc chấp nhận một kết luận nào đó mà người viết, người nói muốn hướng tới

Bác bỏ lập luận là vạch ra sự mâu thuẫn, không nhất quán, phi logic tronglập luận, chỉ ra sự đổi thay, đánh tráo khái niệm trong quá trình lập luận

Ví dụ minh họa:

Cho đoạn văn sau:

Khởi đầu chương VI, nói về cá tính Nguyễn Du ta đọc thấy: "Trước hết ta phải ghi điều nhận xét quan trọng này: Nguyễn Du là một con bệnh thần kinh" (tr 20) rồi xa một chút ít: " một cảnh đêm thu, trong một túp lều, dưới một ngon đồi, thi nhân đang quằn quại trên giường, vì bệnh thần kinh của mình" (tr 131) Ta tự hỏi: Tác giả căn cứ vào đâu mà biết như vậy rằng Nguyễn Du mắc bệnh thần kinh, một thứ "bệnh thần kinh không có sự tổn thương về khí quan"? Căn cứ vào những chứng ngôn của người cùng thời với Nguyễn Du, hay vào những di bút của thi sĩ? Không thế đâu Về di bút của Nguyễn Du, tác giả có dẫn mấy câu trích bài "Mạn hứng", bài " U cư", nhưng những câu đó chỉ nói rằng Nguyễn Du mắc bệnh thôi, chứ không nói là Nguyễn Du mắc bệnh thần kinh Pa-xcan cũng là người mắc bệnh, mà tư tưởng ông vẫn sáng suốt và khỏe mạnh phi thường Tác giả đã căn cứ vào cái khiếu ảo giác của Nguyễn Du, biểu thị ra ở bài Văn tế thập loại chúng sinh và mấy bài thơ khác nữa Tác giả cho ra rằng Nguyễn Du nhìn thấy ma quỷ thực (ở bài "Lam giang") chứ không phải thấy chúng trong tưởng tượng Căn cứ vào mấy bài thơ mà quyết đoán rằng người làm ra nó mắc chứng bệnh loạn thần kinh đến nỗi luôn luôn trông thấy ảo

Trang 22

hình, đã là một sự quá bạo Gia dĩ tác giả lại không đem bằng chứng nào khác nữa để bênh vực thuyết của ông ngoài cái lòng tin quả quyết của ông Để chứng minh rằng một người trông thấy ma quỷ thực mà vẫn dẫn mấy câu tựa như: "Dĩ ngạn băng bạo lôi - Hồng đào kiến kì quỷ", thì lối lập luận ấy có khoa học không? Nếu không có bằng chứng gì khác mấy bài thơ tả sợ hãi và sầu muộn của Nguyễn Du, thì cái mà tác giả bảo là ảo giác, ta cho là tưởng tượng của một nghệ sĩ Có những thi sĩ Anh Cát Lợi, Na Uy, Đan Mạch thường sẵn thứ tưởng tượng kì dị, có khi quái dị ấy Thiết tưởng một người bạn ngày trông thấy

ma quỷ, ban đêm trông thấy âm hồn, tất phải là người có Bộ thần kinh rối loạn

và khủng hoảng tới cực độ và người ấy không tài nào có được cái nghệ thuật minh mẫu của kẻ tạo ra "Truyện Kiều".

(Đinh Gia Trinh, Hoài vọng của lí trí, NXB Văn học, Hà Nội, 1996)

Nội dung bị bác bỏ của lập luận: Nguyễn Du là một con bệnh thần kinh Ở

đây tác giả chỉ ra những suy diễn vô căn cứ trong lập luận (mắc bệnh trong U

cư, Mạn hứng; khiếu ảo giác trong Văn tế thập loại chúng sinh; mấy bài thơ tả

nỗi sầu muộn và sợ hãi) mà đã quyết rằng Nguyễn Du mắc chứng bệnh thầnkinh Bên cạnh đó, tác giả so sánh lối viết đó của Nguyễn Du với một số thi sĩnước ngoài có lối viết tương tự nhằm khẳng định đó không phải là "ảo giác" mà

là trí tưởng tượng của người nghệ sĩ Kết hợp với một số câu hỏi tu từ như thì lối lập luận ấy có khoa học không ? Từ đó một lần nữa khẳng định lập luận cho rằng Nguyễn Du bị mắc chứng bệnh thần kinh là hoàn toàn sai lầm.

Đây là thao tác bác bỏ một lập luận

Cách thức lập luận: là cách trình bày, tổ chức, liên kết các luận cứ, luậnchứng theo những cách thức, suy luận nào đó để dẫn đến một kết luận và làmnổi bật kết luận

Cách thức bác bỏ trong văn nghị luận là sự phối hợp, tổ chức, liên kết cácluận cứ luận chứng theo các cách thức như nêu tác hại, chỉ nguyên nhân; phân

Trang 23

tích những khía cạnh sai lầm của lập luận Từ đó bác bỏ những ý kiến sai lầm,phiến diện, bảo vệ những quan điểm, ý kiến đúng đắn.

Nhận diện cách thức bác bỏ là chỉ ra cách thức nghị luận bác bỏ được sửdụng trong đoạn văn, bài văn nghị luận

Một số dạng bài tập nhận diện thường gặp:

+ Loại thứ nhất: bác bỏ bằng cách nêu tác hại, chỉ nguyên nhân

Cách thức bác bỏ nêu tác hại, chỉ nguyên nhân là cách thức lập luận xuấtphát từ việc chỉ ra tác hại của quan niệm sai trái, và chỉ ra nguyên nhân dẫn đếncách nhìn nhận sai lầm đó Với cách thức này, lập luận thường được triển khaitheo hướng nêu nhận định, ý kiến quan niệm cần bác bỏ, sau đó đi từ việc phântích tác hại của quan niệm đến nguyên nhân dẫn đến cách nhìn nhận như vậybằng lí lẽ và dẫn chứng khoa học

Ví dụ minh họa

Cho ngữ liệu sau:

Có người bảo "Tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi !" Xin đáp lại: hút thuốc là quyền của anh, nhưng anh không có quyền đầu độc những người gần anh Anh uống rượu say mèm, anh làm anh chịu Nhưng hút thuốc thì người gần anh cũng hít phải luồng khói độc Điều này hàng nghìn công trình nghiên cứu đã chứng minh rất rõ.

Vợ con, những người làm việc cùng phòng với những người nghiện thuốc cũng bị nhiễm độc, cũng đau tim mạch, viêm phế quản, cũng bị ung thư Anh có quyền hút, nhưng có mặt người khác, xin mời anh ra ngoài sân, ngoài hành lang

mà hút.

Tội nghiệp thay những cái thai còn nằm trong bụng mẹ, chỉ vì có người hút thuốc ngồi cạnh mẹ mà thai bị nhiễm độc, rồi mẹ đẻ non, con sinh ra đã suy yếu Hút thuốc cạnh một người đàn bà có thai quả là một tội ác.

Bố và anh hút, chú bác hút không những đầu độc con em mà còn nêu gương xấu

(Nguyễn Khắc Viện, Ôn dịch, thuốc lá)

Đoạn văn trên bác bỏ bằng cách nào?

Ở ngữ liệu trên, người viết bác bỏ ý kiến: tôi hút, tôi bị bệnh, mặc tôi.

Cách bác bỏ tác giả sử dụng ở đây là nêu tác hại, chỉ nguyên nhân sai lầm củaquan điểm đó Trước hết, tác giả đưa ra sự so sánh giữa tác hại của rượu và táchại của thuốc lá: uống rượu thì chỉ người uống chịu, còn hút thuốc lá thì nhữngngười ở gần người hút cũng hít phải luồng khói độc Từ đó, ông phân tích tác hại

do những người hút thuốc lá gây ra: đầu độc, gây bệnh cho những người xung

Trang 24

quanh, làm nhiễm độc, suy yếu thai nhi, nêu gương xấu cho con trẻ Cách thứcbác bỏ này giúp cho người đọc thấy được tác hại của việc suy nghĩ sai lầm, từ đó

đi đến những hành động có trách nhiệm hơn (bỏ thuốc lá, hoặc không hút thuốc

Ví dụ minh họa

Cho ngữ liệu sau:

Trong lý luận - phê bình văn học đô thị miền Nam 1954 – 1975, khi đánh giá về Tự lực văn đoàn, không chỉ có những ý kiến khẳng định, đồng tình mà còn có những ý kiến phản biện Xu hướng này thể hiện rõ trong cuộc thảo luận với chủ đề nhìn lại Văn nghệ Tiền chiến ở Việt Nam trên tạp chí Sáng Tạo số tháng 10/1960 Đó là ý kiến của Thanh Tâm Tuyền phê phán cái nhìn hạn hẹp của các nhà văn Tự lực văn đoàn trong việc phản ánh đời sống xã hội Theo ông: “Các nhà văn Tự lực văn đoàn nhìn một cách rất thu hẹp, trong phạm vi gia đình, cá nhân, mà không hề thấy đó là sự đảo lộn cả một nếp sinh hoạt mấy nghìn năm mà trong đó dân tộc phải tìm lấy một đường lối giải thoát thích hợp.”[…]

Như vậy, trong suy nghĩ của Thanh Tâm Tuyền thì nhãn quan của các nhà văn Tự lực văn đoàn chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình cá nhân mà chưa nhìn thấy được sự tất yếu phải đến của một cuộc cách mạng xã hội Nhận định này, theo chúng tôi là chưa thỏa đáng Bởi lẻ, thông qua tác phẩm của mình, các nhà văn Tự lực văn đoàn cũng đã dự báo về những đổi thay của xã hội lúc bấy giờ Những đổi thay ấy, tuy chưa phải là những đổi thay mang tính cách mạng theo nghĩa tích cực mà nhiều khi còn rơi vào chủ nghĩa cải lương, nhưng dẫu sao những vấn đề đặt ra trong việc giải quyết những xung đột cũ / mới , cá nhân / gia đình mà các tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn luận bàn cũng có những tác động nhất định đến những thay đổi về một số phương diện nào đó của đời sống xã hội lúc bây giờ Và đây cũng là một trong những nhân tố góp phần đổi mới và hiện đại hóa văn học, làm tiền đề cho sự phát triển của văn học Việt Nam vốn đã ngủ quá lâu trong lũy tre làng của nền văn học trung đại để bước đầu hội nhập vào nền văn học hiện đại của thế giới.

(Theo Trần Hoài Anh – ĐH Văn Hóa TP.Hồ Chí Minh )

Trang 25

Ngữ liệu trên bác bỏ vấn đề gì và cho biết tác giả đã dùng cách thức nào

để bác bỏ?

Ở ngữ liệu trên, tác giả đã bác bỏ ý kiến cho rằng: Cái nhìn của các nhàvăn Tự lực văn đoàn là cái nhìn rất thu hẹp, trong phạm vi gia đình, cá nhân, màkhông hề thấy đó là sự đảo lộn cả một nếp sinh hoạt mấy nghìn năm mà trong đódân tộc phải tìm lấy một đường lối giải thoát thích hợp Đây là một ý kiến chưachính xác, và tác giả đã phân tích các khía cạnh cho rằng Tự lực văn đoàn có cáinhìn hạn hẹp trong việc phản ánh đời sống Trước hết, đó là việc thông qua tácphẩm của mình thì Tự lực văn đoàn cũng đã có những dự báo về sự thay đổi của

xã hội, mặc dù nhiều khi rơi vào chủ nghĩa cải lương, nhưng cũng đã bàn tớiviệc giải quyết xung đột cũ, mới Và khẳng định đây là một nhân tố góp phầnđổi mới văn học chứ không phải chỉ là cái nhìn hạn hẹp trong phạm vi gia đình,

cá nhân

+ Loại thứ ba: bác bỏ bằng câu hỏi tu từ

Trước hết, để nhận diện được cách bác bỏ bằng câu hỏi tu từ, giáo viêncần gợi cho học sinh nhớ lại khái niệm câu hỏi tu từ đã được học ở trung học cơ

sở, từ đó phát hiện ra những câu hỏi tu từ có trong ngữ liệu

Câu hỏi tu từ là loại câu hỏi không có mục đích hỏi, vì nội dung của nó đãbao hàm một ý trả lời, và biểu thị cảm xúc hoặc gợi liên tưởng Đối với câu hỏi

tu từ, hỏi chỉ là hình thức biểu hiện chứ không phải là mục đích

Như vậy, bác bỏ bằng cách nêu câu hỏi tu từ là cách thức lập luận đưa ranhững luận điểm, luận cứ, lập luận sai lầm, từ đó nêu câu hỏi tu từ nhằm bác bỏ

ý kiến sai lầm của đối phương Cách bác bỏ này vừa chặt chẽ, vừa thể hiện sựsai lầm của đối phương trực tiếp trong câu hỏi, đồng thời cũng thể hiện đượcthái độ của người viết đối với quan niệm đó

Ví dụ minh họa

Cho ngữ liệu sau:

Trả lời những nhận định của Nhất Chi Mai về Số đỏ 1937 : Đọc xong một

đoạn văn, tôi thấy trong lòng phẫn uất, khó chịu, tức tối Không phải phẫn uất, khó chịu cái vết thương xã hội tả trong câu văn mà là vì cảm thấy tư tưởng hắc

ám, căm hờn, nhỏ nhen trong đó,Vũ Trọng Phụng đã viết:

Hắc ám, có! Vì tôi vốn là người bi quan, căm hờn cũng có, vì tôi cho rằng cái xã hội nước nhà mà lại không đáng căm hờn, mà lại cứ "vui vẻ trung", trưởng giả, ăn mặc tân thời, khiêu vũ như các ông chủ trương thì một là không muốn cải cách gì xã hội, hai là ích kỉ một cách đáng sỉ nhục.

Còn bảo nhỏ nhen thì thế nào?

Trang 26

Tả thực cái xã hội khốn nạn, công kích cái xa hoa dâm đãng của bọn người có nhiều tiền, kêu ca sự thống khổ của dân nghèo bị bóc lột, bị áp chế, bị cưỡng bức, muốn cho xã hội công bình hơn nữa, đừng có chuyện dâm đãng, mà bảo là nhỏ nhen, thì há dễ Zôla (Dôla), Hugo (Huygô), Mabrax (Mabrô), Dostoievski (Đôtstôiepski), Maxime Gorki (Maxim Gorki) lại không cũng nhỏ nhen ?

Trong ngữ liệu trên, Vũ Trọng Phụng đã bác bỏ ý kiến của Nhất Chi Maibằng cách nào?

Ở đây, Vũ Trọng Phụng đã bác lại ý kiến của Nhất Chi Mai cho rằng trong

Số đỏ có tư tưởng hắc ám, căm hờn, nhỏ nhen trong đó Cách bác bỏ ở đây

chính là tác giả đã sử dụng câu hỏi tu từ: Tả thực cái xã hội khốn nạn, công kích cái xa hoa dâm đãng của bọn người có nhiều tiền, kêu ca sự thống khổ của dân nghèo bị bóc lột, bị áp chế, bị cưỡng bức, muốn cho xã hội công bình hơn nữa, đừng có chuyện dâm đãng, mà bảo là nhỏ nhen, thì há dễ Zôla (Dôla), Hugo (Huygô), Mabrax (Mabrô), Dostoievski (Đôtstôiepski), Maxime Gorki (Maxim Gorki) lại không cũng nhỏ nhen? Khi Nhất Chi Mai cho rằng cảm thấy tư tưởng

nhỏ nhen ở trong đó, tác giả đã đưa ra câu hỏi ngược lại đồng thời dẫn ra một sốtác giả tiêu biểu khác trên thế giới như Huygô, Macxim Gorki, Cách sử dụngcâu hỏi tu từ; dùng lí lẽ kết hợp so sánh đã làm cho lập luận có sức thuyết phục

+ Loại thứ tư: bác bỏ bằng phân tích kết hợp so sánh

Bác bỏ bằng cách phân tích kết hợp so sánh là cách thức đưa ra ý kiến,quan điểm sai lầm, phân tích những sai lầm đó, so sánh với những quan điểmkhác nhằm làm nổi bật quan điểm ý kiến đúng đắn, phê phán và thấy rõ cái saitrong luận điểm cần bác bỏ

Ví dụ minh họa

Cho ngữ liệu sau:

Cuộc sống riêng không biết gì hết ở bên kia ngưỡng cửa nhà mình là một cuộc sống nghèo nàn, dù nó có đầy đủ tiện nghi đến đâu đi nữa Nó giống như một mảnh vườn được chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm, gọn gàng và sạch sẽ Mảnh vườn này có thể làm chủ nhân của nó êm ấm trong một thời gian dài, nhất

là lớp rào bao quanh không làm họ vướng mắt nữa Nhưng hễ có một cơn giông

tố nổi lên là cây cối sẽ bị bật khỏi đất, hoa sẽ nát và mảnh vườn sẽ xấu xí hơn bất kì một nơi hoang dại nào Con người không thể hạnh phúc với một hạnh phúc mỏng manh như thế Con người cần một đại dương mênh mông bị bão táp làm nổi sóng, nhưng rồi lại phẳng lì và trong sáng như trước Số phận của

Trang 27

những cái tuyệt đối cá nhân , không bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng có gì đáng thèm muốn.

(Theo A.L Ghéc-xen, 3555 câu danh ngôn, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà

Nội, 1997)

Đoạn văn trên bác bỏ bằng cách nào?

Ngữ liệu trên, tác giả bác bỏ một quan niệm sống sai lầm: cuộc sống bó hẹp trong ngưỡng cửa của nhà mình Ghec-xen đã dùng lí lẽ bác bỏ trực tiếp,

kết hợp với so sánh (mảnh vườn rào kín - đại đương mênh mông bị bão táp nổisóng) vừa bác bỏ, vừa nêu ý đúng, động viên người đọc làm theo

Cách bác bỏ này khiến đoạn văn sinh động, thân mật và có sức thuyếtphục cao

c.2.2.2 Bài tập tạo lập

* Miêu tả bài tập

Bài tập tạo lập là loại bài tập yêu cầu học sinh tự mình tạo nên sản phẩmtheo yêu cầu nào đó Việc thực hiện bài tập này gắn với hoạt động viết văn hàngngày của học sinh nhưng vẫn ở dạng luyện tập theo yêu cầu Đây là loại bài tậpphát huy tư duy sáng tạo của học sinh, vừa củng cố lí thuyết thao tác lập luậnbác bỏ, vừa rèn kỹ năng sử dụng ngôn ngữ, rèn cho học sinh đầu óc phê phán cáixấu, đồng tình với cái tốt Loại bài tập này giúp học sinh rèn luyện các kỹ năngviết văn, phục vụ cho các giờ Làm văn Và đây cũng chính là quá trình học sinh

đi từ lí thuyết tới thực hành

- Cấu tạo

Loại bài tập này không cho đoạn văn ngữ liệu như bài tập nhận diện màchỉ có yêu cầu về một số phương diện nào đó của sản phẩm: lập dàn ý, viết đoạnvăn, viết bài văn có sử dụng thao tác lập luận bác bỏ… Có thể có nhiều mức độyêu cầu: từ ít đến nhiều, từ đơn giản đến phức tạp Cho nên việc tạo lập sảnphẩm phải luôn luôn chú ý để đáp ứng được các yêu cầu này Việc đáp ứng cácyêu cầu cũng là quá trình rèn luyện năng lực tư duy về phương diện đó

- Mục đích bài tập

Trong nhà trường, năng lực của học sinh được thể hiện rõ nhất qua quátrình tạo lập văn bản Vì vậy, kiểu bài tập tạo lập có vị trí rất quan trọng trongdạy học Làm văn Mục đích của việc luyện tập kiểu bài tập này nhằm rèn kỹnăng lập luận có sử dụng thao tác lập luận bác bỏ, phá vỡ thói quen tư duy mộtchiều, nâng cao năng lực giao tiếp cho học sinh

Ví dụ minh họa

Trang 28

Có quan niệm cho rằng: Gia đình chỉ là phù du, Su Ju là tất cả.(Su Ju viết tắt của nhóm nhạc Super Junior)

Anh (chị) hãy lập dàn ý và viết bài nghị luận bác bỏ quan niệm trên

* Cách thức hướng dẫn làm bài

Với loại bài tập này, giáo viên hướng dẫn học sinh hiểu và nắm vững cácyêu cầu, rồi tiến hành thao tác lập luận đáp ứng với yêu cầu Cụ thể gồm cácbước sau:

- Bước 1: giáo viên đưa bài tập, học sinh đọc và xác định yêu cầu đề bài

- Bước 2: Lập dàn ý sơ lược (hình thành ý, cố định hóa các ý, sắp xếp các

ý theo trình tự logic, hợp lí)

- Bước 3: Học sinh luyện tập, chuyển hóa dàn ý thành đoạn văn hoàn chỉnh

- Bước 4 : Giáo viên yêu cầu học sinh đọc đoạn văn và nhận xét

- Bước 5: Cuối cùng giáo viên đánh giá lại việc sử dụng thao tác lập luậnbác bỏ trong quá trình tạo lập văn bản cho học sinh Điều chỉnh những chỗ chưaphù hợp hoặc bổ sung những chỗ còn thiếu trong bài văn của các em

Vậy để thực hiện kiểu bài tập này, yêu cầu nhất thiết là phải tăng thời gianthực hành Mặt khác, giáo viên cũng phải căn cứ vào thời gian thực hành để lựachọn cách ra những bài tập thích hợp với thời gian để không làm chậm tiến trìnhhọc tập

Để hướng dẫn học sinh chuẩn bị nói hoặc viết đoạn văn bác bỏ, giáo viênchú ý nhắc các em xem kĩ lại đoạn nói, viết sao cho luận cứ sáng sủa, rànhmạch, sắp xếp hợp lí, dẫn chứng chuẩn mực, khoa học và chặt chẽ

Trang 29

Sau ba bước trên, cần kiểm tra xem sản phẩm tạo lập có đáp ứng đúng và

đủ các yêu cầu của bài luyện tập không Nếu sai sót thì cần tiến hành sửa chữa

* Một số dạng bài tập tạo lập

Bài tập này chủ yếu căn cứ vào nội dung luyện tập của thao tác thực hànhLàm văn nói chung và thao tác lập luận bác bỏ nói riêng Dựa vào các phươngdiện nội dung cần luyện tập, các kỹ năng bộ phận cần hình thành, phát triển chohọc sinh, đề tài chia bài tập vận dụng sáng tạo thành một số dạng nhỏ:

- Tạo lập đoạn văn (bài văn nghị luận) để bác bỏ một luận điểm, một luận cứ hay một lập luận bằng cách nêu tác hại, chỉ nguyên nhân

Đây là loại bài tập giáo viên đưa ra ngữ liệu và yêu cầu học sinh tạo lậpđoạn văn hay bài văn nghị luận sử dụng thao tác lập luận bác bỏ bằng cách nêutác hại, chỉ nguyên nhân

Ví dụ minh hoạ:

Hãy viết một đoạn văn bác lại quan điểm: Nên sống thử trước hôn nhân

bằng cách nêu tác hại, chỉ nguyên nhân

Với bài tập này, học sinh cần tìm hiểu quan điểm trên sai ở chỗ nào?

Sau đó học sinh phân tích yêu cầu của đề bài: xác định bác bỏ bằng cáchnêu tác hại, chỉ nguyên nhân

Xác định tác hại của quan điểm sai lầm đó (sống thử trước hôn nhân làmột cuộc sống không bền vững, đi ngược lại với lối sống lành mạnh Khi "sốngthử" tan vỡ sẽ để lại nhiều hậu quả, đặc biệt là với các bạn nữ cả về tinh thần lẫnthể xác, ảnh hưởng tới tương lai ) Đồng thời chỉ ra tác hại của quan niệm sailầm đó (ảnh hưởng tới những người xung quanh, từ quan niệm đó có thể dẫn tớitình trạng sống thử tràn lan khắp cộng đồng và gây hậu quả nghiêm trọng chobản thân, gia đình và xã hội )

Cuối cùng, các em có thể đưa ra những quan điểm, ý kiến đúng (khẳngđịnh đây là một quan niệm đáng phê phán và phải ngăn chặn, và nêu lên quanniệm đúng)

- Tạo lập đoạn văn (bài văn nghị luận) để bác bỏ một luận điểm, một luận cứ hay một lập luận bằng cách phân tích kết hợp với so sánh

Tương tự như dạng bài tập trên, bài tập này giáo viên cũng yêu cầu họcsinh tạo lập một đoạn văn hay bài văn nghị luận có sử dụng thao tác lập luận bác

bỏ theo cách thức nhất định (cụ thể ở đây là cách thức phân tích kết hợp sosánh)

Ngày đăng: 11/12/2021, 13:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A (chủ biên), Phạm Thị Huệ, Trần Văn Toàn, Nguyễn Thị Hồng Vân, Trần Văn Vụ,(2009), Thực hành Làm văn lớp 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Thực hành Làm văn lớp 11
Tác giả: Lê A (chủ biên), Phạm Thị Huệ, Trần Văn Toàn, Nguyễn Thị Hồng Vân, Trần Văn Vụ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
2. Lê A, Đình Cao (1992), Làm văn tập 1, 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Làm văn tập 1, 2
Tác giả: Lê A, Đình Cao
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
3. Lê A (chủ biên), Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán, Phương pháp dạy học tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương phápdạy học tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Trọng Hoàn (2006), Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đổi mớiphương pháp dạy học
Tác giả: Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2006
5. Nguyễn Đức Dân, (1998), Lôgic và tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lôgic và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
6. Triệu Truyền Đống, (1999), Phương pháp biện luận, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp biện luận
Tác giả: Triệu Truyền Đống
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
7. Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Sinh Huy, Hà Thị Đức, (1991), Giáo dục học đại cương 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục họcđại cương 2
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Sinh Huy, Hà Thị Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1991
8. Lê Văn Hồng (chủ biên), (2007), Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sưphạm
Tác giả: Lê Văn Hồng (chủ biên)
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2007
9. Phan Trọng Luận (chủ biên), (2006), Thiết kế Ngữ văn lớp 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Thiết kế Ngữ văn lớp 11
Tác giả: Phan Trọng Luận (chủ biên)
Nhà XB: NXBGiáo dục
Năm: 2006
10. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên), (2006), Sách giáo khoa Ngữ văn 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Ngữ văn11
Tác giả: Phan Trọng Luận (tổng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
11. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên), (2006), Sách giáo viên Ngữ văn 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ văn11
Tác giả: Phan Trọng Luận (tổng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
12. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên), (2006), Sách Bài tập Ngữ văn 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Bài tập Ngữ văn 11
Tác giả: Phan Trọng Luận (tổng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
13. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 11 THPT, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thựchiện chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 11 THPT
14. Nguyễn Quang Ninh, Nguyễn Thị Ban, Trần Hữu Phòng (2000), Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh THPT, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh THPT
Tác giả: Nguyễn Quang Ninh, Nguyễn Thị Ban, Trần Hữu Phòng
Nhà XB: NXBĐHQG Hà Nội
Năm: 2000
15. Trần Đăng Suyền (1984), Từ điển văn học (tập 2), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học (tập 2)
Tác giả: Trần Đăng Suyền
Nhà XB: NXB Khoa học xãhội
Năm: 1984
16. Trần Đình Sử (2001), Bàn về vấn đề dạy làm văn trong chương trình SGK ở THPT, Tạp trí ngôn ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về vấn đề dạy làm văn trong chương trìnhSGK ở THPT
Tác giả: Trần Đình Sử
Năm: 2001
17. Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), Nguyễn Thanh Huyền (2001), Dạy và học nghị luận xã hội, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và họcnghị luận xã hội
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), Nguyễn Thanh Huyền
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
18. Lê Thánh Tông, Nguyễn Lệ Thu, Phương pháp làm bài văn nghị luận, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp làm bài văn nghịluận
Nhà XB: NXB Đà Nẵng

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Thêm nữa, nếu xà nu chỉ giữ vai trò là phông, nền…, các hình tượng Tnú, cụ Mết, Dít, Heng… mới là quan trọng thì nhan đề Rừng xà nu thiết nghĩ cũng phải thay đổi. - SKKN Rèn luyện kỹ năng sử dụng thao tác lập luận bác bỏ trong văn nghị luận cho học sinh THPT
h êm nữa, nếu xà nu chỉ giữ vai trò là phông, nền…, các hình tượng Tnú, cụ Mết, Dít, Heng… mới là quan trọng thì nhan đề Rừng xà nu thiết nghĩ cũng phải thay đổi (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w