1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Câu hỏi ôn thi Mác Lê nin (VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÊ NIN TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY)

41 32 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 85,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng hợp câu hỏi và câu trả lời mới nhất về Nội dung ôn tập thi Cuối kì môn học Triết học Mác Lê nin. Bài làm do chính sinh viên chuẩn bị để phục vụ cho việc ôn thi và làm tài liệu trong môn thi mở. Updated vào tháng 12.2021 nên nội dung còn rất mới và hay. Rất bổ ích cho các bạn sinh viên, giúp tiết kiệm thời gian. Câu 1: Khái niệm triết học Câu 2: Thế giới quan và các thành phần cơ bản cấu thành thế giới quan Câu 3: Vấn đề cơ bản của triết học vv.vv Tới hơn 20 câu hỏi và đáp án tương ứng Nội dung soạn theo bài giảng của Khoa Chính trị ĐHQG TP Hồ Chí Minh

Trang 1

Câu 1: Khái niệm triết học

Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ

thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp

Ở Trung Quốc, thuật ngữ triết học có gốc ngôn ngữ là chữ triết ( ); người Trung Quốc hiểu

triết học không phải là sự miêu tả mà là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính

là trí tuệ, là sự hiểu biết sâu sắc của con người

Ở ấn Độ, thuật ngữ dar’sana (triết học) có nghĩa là chiêm ngưỡng, nhưng mang hàm ý là tri

thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải

 Ở phương Tây, thuật ngữ triết học xuất hiện ở Hy Lạp Nếu chuyển từ tiếng Hy Lạp cổ sangtiếng Latinh thì triết học là Philosophia, nghĩa là yêu mến sự thông thái Với người Hy Lạp, philosophia vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người

Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt động

tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội

Đã có rất nhiều cách khái niệm khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung

cơ bản giống nhau:

- Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất

chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trongcuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý

Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế

giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy

- Triết học ra đời do hoạt động nhận thức của con người phục vụ nhu cầu sống; song, với tư

cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất, triết học chỉ có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định sau đây:

Con người đã phải có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ

Xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc Họ đã nghiên cứu, hệ thốnghóa các quan điểm, quan niệm rời rạc lại thành học thuyết, thành lý luận và triết học ra đời

Tất cả những điều trên cho thấy: Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn; nó có

nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội

VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÊ NIN TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY

1 Những người có trọng trách trong đổi mới tư duy lý luận của Đảng, của dân tộc đã nhận thức đúng đắn giá trị đích thực của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và học thuyết triết học Mác - Lênin nói riêng đối với sự nghiệp đổi mới đất nước

Những người cộng sản ưu tú của Việt Nam cùng các nhà lý luận của Đảng đã rất cẩn trọng

rà soát, nghiên cứu và nhận thức lại hệ thống quan điểm lý luận của các nhà kinh điển về triết học,

về kinh tế – chính trị học cũng như về chủ nghĩa xã hội khoa học và đối chiếu nó với tình hình thực

tế đang diễn ra trên thế giới và trong nước Một số công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng, còntuyệt đại bộ phận, đặc biệt các nguyên tắc, nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủnghĩa duy vật lịch sử, nhất là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết giá trị thặng dư, cácnguyên lý, nguyên tắc xây dựng chủ nghĩa xã hội vẫn giữ được tính khoa học và đúng đắn, vẫn giữnguyên giá trị định hướng cho những người cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh chống lại trật tự

xã hội cũ và xây dựng xã hội mới

Trang 2

Những người Việt Nam có tư duy lý luận rất tán thành với những nhận định khách quan, nghiêmtúc của một số học giả nổi tiếng trên thế giới về triết học Mác V.I.Lênin đã đánh giá học thuyếtMác là một học thuyết hoàn bị và triệt để nhất, nó soi sáng cho những người cách mạng trong cuộcđấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới Người đã bổ sung vào học thuyết Mác nhiều luậnthuyết mới được rút ra từ sự vận động, phát triển không ngừng của lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minhcủa chúng ta cũng đã từng khẳng định rằng, bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủnghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin Đó chính là lôgíc củalịch sử, là niềm tin khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam trong định hướngđổi mới vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

2 Lập trường thế giới quan và phương pháp luận Mác - Lênin đã góp phần quan trọng để cho Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc Việt Nam nhận thức đúng đắn các vấn đề thời đại có quan hệ chặt chẽ đến đổi mới tư duy lý luận.

Tư duy lý luận Việt Nam bước đầu đã phản ánh được những phát triển mới của thế giới,như sự phát triển của sản xuất vật chất, sự xuất hiện của kinh tế tri thức, sự phát triển mạnh mẽ củacách mạng khoa học và công nghệ hiện đại; quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra, sự thích nghi vàphát triển cao của chủ nghĩa tư bản, sự trì trệ và xuất hiện khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội hiệnthực Nhờ phân tích cụ thể tình hình cụ thể trong sự vận động, phát triển không ngừng của thế giớiđương đại, chúng ta đã bổ sung cho mình sự hiểu biết mới và từng bước điều chỉnh chủ trương,chính sách phát triển cho phù hợp với thực tiễn

Trước hết, cần phải khẳng định rằng, mặc dù thế giới có nhiều biến đổi, nhưng thời đại hiệnnay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; các mâu thuẫn cơ bản của thờiđại không thay đổi, nhưng chúng đã có nhiều đặc trưng mới Do vậy, việc Việt Nam lựa chọn mụctiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là đúng xu thế của thời đại, nhưng phải chấp nhận nhữngthử thách chưa từng có Đặc biệt, khi tương quan lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng đãthay đổi, bắt buộc phải thiết lập các quan hệ phù hợp, tổ chức lại lực lượng trong xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc

Theo đó, các nhà lý luận Việt Nam đã nhận thức đúng tính chất, vai trò của cuộc cách mạngkhoa học và công nghệ hiện đại đối với sự phát triển của cộng đồng thế giới cũng như từng quốcgia dân tộc; coi cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại vừa là một nhân tố mới, vừa làđộng lực của thời đại Từ thực tế cuộc sống, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định phát triển giáodục - đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu Đó là cơ sở để chúng ta tăngcường đầu tư cho các lĩnh vực này nhằm nhanh chóng tiếp cận tri thức tiên tiến, công nghệ hiệnđại, khắc phục sự lạc hậu quá xa so với sự phát triển của thế giới

Thứ nữa, xu thế toàn cầu hoá, trước hết là toàn cầu hoá kinh tế, sự xuất hiện của kinh tế trithức và vai trò to lớn của nó trong sản xuất vật chất, xu hướng gia tăng sự hợp tác quốc tế, khu vựcthông qua các mối quan hệ đa phương, song phương đã làm cho tư duy về thế giới đương đại trởnên năng động hơn Vì vậy, cần phải xuất phát từ thực tế đó để xây dựng một tư duy toàn diện hơn

về thế giới và lựa chọn chính sách đối nội, đối ngoại thích hợp Đổi mới tư duy về thế giới đươngđại lại là cơ sở cho việc phát triển quan hệ quốc tế của Việt Nam, tranh thủ ngoại lực, phát huy nộilực để phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc

3 Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận và phương pháp để tư duy đúng đắn về con đường phát triển của cách mạng Việt Nam trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt Đây là thành công đáng ghi nhận trong đổi mới tư duy lý luận của chúng ta trong suốt 20 năm qua.

Dựa trên việc phân tích các nhân tố tác động của thời đại và xuất phát từ thực tiễn của đấtnước, tư duy lý luận Việt Nam đã đánh giá một cách khách quan, khoa học các thành quả mà cáchmạng Việt Nam đã đạt được, khẳng định sự lựa chọn mục tiêu đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội ở Việt Nam là đúng đắn Mục tiêu đó vừa phản ánh tính tất yếu lịch sử, vừa đáp ứng

Trang 3

nguyện vọng cháy bỏng của bao thế hệ con người Việt Nam Chân lý ấy đã được thực tiễn cáchmạng Việt Nam kiểm nghiệm và thấm vào máu thịt của con người Việt Nam Nhiều thế hệ ngườiViệt Nam đã quyết chiến đấu, hy sinh vì mục tiêu cao đẹp đó

Kết quả tư duy lý luận trong sự nghiệp đổi mới đất nước được thể hiện thành sự lựa chọn

mô hình, bước đi, chính sách cho quá trình phát triển đất nước Tuân thủ quy luật vận động kháchquan của lịch sử, chủ động tận dụng các cơ hội hiện có, đồng thời phân tích đúng đắn sự tác độngbiện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc th ượngtầng, giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước ViệtNam đã lựa chọn được đường lối, mô hình phát triển thích hợp, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Đó là kết quả, là sự hội tụ của tư tưởng chính trị, triếthọc, kinh tế, chủ nghĩa xã hội, các giá trị truyền thống của Đảng, của dân tộc trong quá trình đổimới đất nước

Như vậy, các ý tưởng đổi mới đất nước, con người và tổ chức thực hiện sự đổi mới ở ViệtNam theo mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc và phát triển xã hội chủ nghĩa nhất thiết phải có tưduy lý luận, trong đó tư duy triết học là chìa khoá phương pháp luận khoa học Từ những thànhcông của chúng ta, có thể khẳng định rằng, triết học Mác - Lênin có vai trò to lớn và đặc biệt quantrọng đối với tiến trình đổi mới tư duy lý luận ở Việt Nam

Trang 4

2 Thế giới quan và các thành phần cơ bản cấu thành thế giới quan

Thế giới quan: Là khái niệm triết học chỉ hệ thống các tri thức, quan điểm, tình cảm, niềm

tin, lý tưởng xác định về thế giới và về vị trí của con người (bao gồm cá nhân, xã hội và cả nhân loại) trong thế giới đó Thế giới quan quy định các nguyên tắc, thái độ, giá trị trong định hướng nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người

Thế giới quan là một chỉnh thể luận điểm có trật tự, tổng hợp, có tính hệ thống, phức hợp cảnhân tố lý tính, cảm nhận, cảm xúc và thấu hiểu thế giới, con người, những luận điểm sống tích cực cho con người

Thành phần của Thế giới quan: Thế giới quan hình thành gồm những yếu tố thuộc về tất

cả thuộc hình thái ý thức xã hội:

- Quan điểm khoa học, chính trị, đạo đức, thẩm mỹ

- Quan điểm tôn giáo: sản phẩm của tâm thức, mô tả kiến thức qua trực giác cảm nhận.

- Kiến thức Khoa học nhằm đến mục tiêu phương hướng thực tiễn trực tiếp cho con người

trong tự nhiên và xã hội dựa theo quan sát và dữ kiện từ thực tiễn, phân tích tổng hợp chặt chẽ và có kiểm nghiệm đối sách khách quan lại với thực tiễn Để trả lời được thế giới quandựa trên mọi thành tựu đạt được, được xác thực của khoa học

- Các nguyên tắc và tiêu chuẩn đạo đức đóng vai trò điều chỉnh những quan hệ qua lại và

hành vi của con người

- Những quan điểm thẩm mỹ quy định những quan hệ với môi trường xung quanh, với những

hình thức, mục tiêu và kết quả của hoạt động

- Quan điểm triết học: Triết học là dạng thức quan trọng nhất đóng vai trò trung tâm cho thế giới quan Những vấn đề triết học là những vấn đề có mối liên hệ cao nhất, thường hằng của

lý tính nhân loại, đó là những vấn đề về số mệnh, tiền định của nhân loại, về chính lý tính

và những giá trị cao cả của con người Sống vì cái gì và sống ra sao? Làm thế nào để cuộc sống thực sự trở nên sáng suốt và hạnh phúc, cũng như làm thế nào để sống cho ra sống Những vấn đề đó không thể giải quyết được một cách triệt để bởi vì mỗi thời đại chúng lại được đặt ra trước con người một cách mới mẻ Mỗi bước tiến của lịch sử nhân loại, mỗi thành quả của kinh nghiệm xã hội, mỗi mốc đánh dấu sự tiến bộ trong lịch sử khoa học đều

mở ra trước lý tính triết học những giới hạn hiện thực mà trước đó chưa được biết tới, tạo rakhả năng phát hiện ngày càng nhiều luận cứ quan trọng trong tranh biện triết học Bởi vậy, Thế giới quan triết học có thể đồng nghĩa với sự phản tư văn hóa của một dân tộc, một thời đại

Quan điểm và niềm tin triết học tạo nên nền tảng cho thế giới quan đúng đắn bởi:

Triết học lý giải về lý luận toàn bộ các dữ liệu của khoa học và thực tiễn

Triết học biểu diễn kết quả và hình thức một bức tranh thực tại khách quan nhất.

VAI TRÒ CỦA THẾ GIỚI QUAN TRONG HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU

1.Thế giới quan là nhân tố định hướng cho quá trình hoạt động sống của con người Thế giới quan như một “thấu kính” qua đó con người xác định mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn cách thức đạt mục đích đó

Nhờ căn cứ vào thế giới quan đã tạo tiền đề giúp cho cá nhân có những định hướng phù hợp

và chuẩn xác cho từng cá nhân, cơ bản là em cho quá trình phát triển, hoạt động của mình Thôngquan thế giới quan là hệ thống các tri thức phối hợp với tình cảm nhằm cân nhắc mục tiêu cơ bảncủa cá nhân Cụ thể ở đây là xác định rõ mục tiêu hoàn thiện bản thân theo đúng những chuẩn mựcđược quy định về tri thức và góp phần xây dựng cho xung quanh nhằm nhận thức, truyền tải vàmang lại những thông điệp, những giá trị và bài học cho bản thân, gia đình và xã hội

Cụ thể qua những hoạt động tham gia các buổi thảo luận trao đổi kinh nghiệm trong việcứng dụng và nâng cao kiến thức trong chuyên ngành, lĩnh vực của bản thân do các đơn vị có liên

Trang 5

quan như trường lớp, công ty,… tổ chức Nó thể hiện rõ hơn về các tác động tích cực tuyệt đối đến

từ thế giới quan ( tự làm tiếp nha  )

2 Trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng về sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng nhất định

Môi trường lĩnh hội tri thức như trường hoc và giảng viên

3 Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn

và tri thức do các khoa học đưa lại Đó là chức năng thế giới quan của triết học.

4 Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực giúp cho con người sáng tạo trong hoạt động Thế giới quan sai lầm làm cho con người sống thụ động hoặc sai lệch trong hoạt động.Việc nghiên cứu triết học giúp ta định hướng hoàn thiện thế giới quan.

Trang 6

3 Vấn đề cơ bản của triết học

a Khái niệm triết học.

Triết học là hệ thống tri thức chung nhất về thế giới, về bản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó

b Vấn đề cơ bản của triết học.

Theo Ăngghen, vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại là vấn

đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại Vấn đề này được gọi là vấn đề cơ bản của triết học bởi hai lẽ: thứnhất, nó nảy sinh cùng với sự ra đời của triết học và tồn tại trong tất cả các trường phái triết học cho tới tận ngày nay; thứ hai, giải quyết vấn đề này là cơ sở để giải quyết tất cả các vấn đề triết họckhác còn lại và là tiêu chuẩn để xác định lập trường, thế giới quan của các nhà triết học cũng như các học thuyết của họ

Vấn đề cơ bản này có hai mặt:

- Mặt thứ nhất (bản thể luận): Giữa ý thức và vật chất cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?

- Mặt thứ hai (nhận thức luận): Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?

c Sự đối lập giữa giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học:

- Mặt thứ nhất:

+ Các nhà duy vật cho rằng bản chất của thế giới là vật chất; vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tínhthứ hai, vật chất là cái có trước và quyết định ý thức của con người; Học thuyết của họ hợp thành các trường phái chủ nghĩa duy vật khác nhau như: chủ nghĩa duy vật chất phác, chủ nghĩa duy vật siêu hình, chủ nghĩa duy vật biện chứng

+ Ngược lại, các nhà duy tâm cho rằng bản chất của thế giới là ý thức; ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai; ý thức quyết định vật chất; Học thuyết của họ hợp thành các trường phái duy tâm khác nhau; Có hai hình thức cơ bản là chủ nghĩa duy tâm chủ quan (coi sự vật, hiện tượng chỉ

là “phức hợp các cảm giác” của cá nhân, hay cái Tôi trừu tượng nào đó) và chủ nghĩa duy tâm khách quan (coi tinh thần/ý thức khách quan, có trước và tồn tại độc lập so với giới tự nhiên và conngười, chẳng hạn Thượng đế, linh hồn vũ trụ, ý niệm tuyệt đối, lý tính thế giới… là nền tảng của thế giới)

- Mặt thứ hai: Việc giải quyết mặt thứ hai trong vấn đề cơ bản của triết học đã chia quan điểm về nhận thức thành hai phái khả tri luận và bất khả tri luận

+ Khả tri luận: Phái bao hàm những quan điểm thừa nhận khả năng nhận thức của con người.+ Bất khả tri luận: Phái bao hàm những quan điểm phủ nhận khả năng nhận thức của con ng

Trang 7

4 Chủ nghĩa duy vật và các hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật

Chủ nghĩa duy vật là quan điểm của các triết gia, học thuyết coi vật chất, tự nhiên có trước và quyết định ý thức, tinh thần của con người Nói cách khác, chủ nghĩa duy vật khẳng định rằng thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan, độc lập với ý thức con người; ý thức xét cho cùng chỉ là

sự phản ánh thế giới vật chất khách quan vào trong đầu óc con người

Chủ nghĩa duy vật đã xuất hiện ngay từ thời cổ đại và cho đến nay, lịch sử phát triển của nó luôn gắn liền với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, tồn tại với nhiều hình thức khác nhau, trong đó có ba hình thức biểu hiện cơ bản sau:

Chủ nghĩa duy vật chất phác (thời cổ đại): là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy

vật thời cổ đại Trong khi thừa nhận tính thứ nhất của vật chất, chủ nghĩa duy vật giai đoạn này để lý giải toàn bộ sự hình thành của thế giới từ một hoặc một số dạng vật chất cụ thể, cảm tính, coi đó là thực thể đầu tiên, là bản nguyên của thế giới

– Ví dụ: Quan niệm của Talet, Hêraclit, Đêmôcrit

Chủ nghĩa duy vật siêu hình (thế kỷ XVII-XVIII ) hình thức cơ bản thứ hai của chủ nghĩa

duy vật, thể hiện khá rõ ở các nhà triết học thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII và đỉnh cao vào thế

kỉ thứ XVII, XVIII Đây là thời kì mà cơ học cổ điển thu được những thành tựu rực rỡ nên trong khi tiếp tục phát triển quan điểm của chủ nghĩa duy vật thời cổ đại, chủ nghĩa duy vật giai đoạn này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc của

cơ học cổ điển Do đó theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật siêu hình, thế giới giống như một cỗ máy cơ giới khổng lồ mà mỗi bộ phận tạo nên nó luôn ở trạng thái biệt lập, tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đó chỉ là sự tăng giảm đơn thuần về số lượng và do những nguyên nhân bên ngoài gây ra

– Ví dụ: Các quan niệm của Newton, Bêcơn và các nhà duy vật Pháp thế kỉ XVIII

Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của chủ nghĩa duy vật, do Mác

và Ăngghen xây dựng vào những năm 40 của thế kỉ XIX, sau đó được V.I.Lênin phát triển Với sự kế thừa tinh hoa của các học thuyết triết học trước đó và sử dụng khá triệt để thành tựu của khoa học đương thời, chủ nghĩa duy vật biện chứng, ngay từ khi mới ra đời để khắc phục được hạn chế của chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại, chủ nghĩa siêu hình và là đỉnh cao trong sự phát triển của chủ nghĩa duy vật Nó là kết quả của quá trình đúc kết, kháiquát hoá những tri thức của nhân loại về nhiều lĩnh vực để xây dựng nên hệ thống quan điểm lý luận chung, đồng thời định hướng cho các lực lượng xã hội tiến bộ trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của mình

Trang 8

5 Chủ nghĩa duy tâm

Chủ nghĩa duy tâm là trường phái triết học khẳng định rằng mọi thứ đều tồn tại bên trong tâm thức

và thuộc về tâm thức Là một nền tảng của ngành vũ trụ học, hay một cách tiếp cập tới hiểu biết về

sự tồn tại, chủ nghĩa duy tâm thường được đặt đối lập với chủ nghĩa duy vật.

Các hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy tâm:

Chủ nghĩa duy tâm xuất hiện ngay từ thời cổ đại và tồn tại dưới 2 dạng chủ yếu, đó là chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan

1 Chủ nghĩa duy tâm chủ quan

a Khái niệm: Chủ nghĩa duy tâm chủ quan phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan

và coi nó là một cái gì đó hoàn toàn do tính tích cực của chủ thể quy định

Chủ nghĩa duy tâm chủ quan với các đại biểu nổi tiếng như Béccli, Hium, Phíchtơ,…lại cho rằng cảm giác, ý thức là cái có trước và tồn tại sẵn trong con người, trong chủthể nhận thức, còn các sự vật bên ngoài chỉ là phức hợp của cái cảm giác ấy mà thôi

b Dẫn chứng: Người Duy tâm chủ quan cho rằng nếu không có cảm giác chủ quan của

chủ thể, tức cảm giác của mỗi cá nhân con người thì không thể nhận thức được sựvật, rồi từ đó phủ nhận sự tồn tại thực sự của vật chất, coi cảm giác là thực tại duynhất

2 Chủ nghĩa duy tâm khách quan

a Khái niệm: Chủ nghĩa duy tâm khách quan thừa nhận ý thức và tinh thần là thuộc

tính thứ nhất (có trước), vật chất là thuộc tính thứ hai (có sau), và coi cơ sở tồn tạikhông phải là tâm thức con người theo như quan niệm của Chủ nghĩa duy tâm chủquan mà là một tâm thức nào đó ở bên ngoài thế giới như "tinh thần tuyệt đối", "lýtính thế giới", v.v

Chủ nghĩa duy tâm khách quan với các đại biểu nổi tiếng như Platon, Hêghen,…chorằng có một thực thể tinh thần không chỉ tồn tại trước, tồn tại ở bên ngoài, độc lậpvới con người và với thế giới vật chất mà còn sản sinh ra và quyết định tất cả các quátrình của thế giới vật chất

b Dẫn chứng: Người Duy tâm khách quan thì cho rằng sự vật chỉ tồn tại do một ý thức

khách quan là Thượng Đế Do đó, chủ nghĩa Duy tâm thường trực tiếp hay gián tiếp gắnliền với tôn giáo, nên gọi là chủ nghĩa Duy linh (linh là linh hồn) Con người có cái tâmhay linh hồn là chủ yếu, nó tồn tại vĩnh viễn, điều khiển mọi hoạt động của thể xác Thểxác chỉ là khối vật chất, khi có linh hồn ngự trị thì thể xác sống và hoạt động; khi thểxác chết thì linh hồn xuất ra trở về cõi thiêng liêng, còn thể xác thì tan rã trở thành đất.Thế giới vật chất nầy cũng như sự sống trong thế giới đều do quyền năng sáng tạo củaThượng Đế Dù không biết rõ Thượng Đế nhưng không thể phủ nhận quyền năng củaNgài

Ví dụ: Nếu có một cái ghế tồn tại ở đâu đó trên trái đất, nhưng ta không biết đến sự tồn tại của cái

ghế đó, thì cái ghế đó liệu có tồn tại hay không? Người duy vật bảo là có, người duy tâm bảo làkhông

Trang 9

6 Thuyết khả tri, bất khả tri và hoài nghi

Giải quyết mặt thứ hai của vấn đề cơ bản “con người có nhận thức được thế giới không?

 Thuyết khả tri( Thuyết có thể biết) là những nhà Triết học cả duy vật và duy tâm trả lời một cách khẳng định: Con người có khả năng nhận thức được thế giới

 Hoài nghi luận xuất hiện từ thời Cổ đại (từ chữ Hy Lạp skeptikos và skiptomai có nghĩa là tôi thẩm tra) mà đại biểu là Pirôn (nhà triết học Hy Lạp cổ đại) Họ là những người đã luận nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức đã đạt được và cho rằng con người không thể đạt tới chân lý khách quan Hoài nghi luận thời Phục hưng lại có tác dụng quan trọng trong cuộc đấu tranh chống hệ tư tưởng Trung cổ và uy tín của Giáo hội thời trung cổ vì nó thừa nhận sự hoài nghi đối với cả Kinh thánh và các tín điều tôn giáo

 Thuyết bất khả tri (thuyết không thể biết): là sự phát triển mặt tiêu cực của trào lưu hoài nghi luận Theo thuyết này, con người không thể hiểu được thế giới hay ít ra là không thể nhận thức được bản chất của nó, hoặc có chăng chỉ là hiểu cái bề ngoài vì các hình ảnh về đối tượng do giác quan con người mang lại không bảo đảm tính chân thực, từ đó họ phủ nhận khả năng nhận thức của con người và các hình thức cơ bản của nó

Đại biểu nổi tiếng nhất của “thuyết không thể biết” là Hium (nhà triết học Anh) và Cantơ (nhà triếthọc Đức) Theo Hium, chẳng những chúng ta không thể biết được sự vật là như thế nào, mà cũng không thể biết được sự vật đó có tồn tại hay không Còn Cantơ thì thừa kế nhận có một thế giới sự vật tồn tại, ông gọi đó là “vật tự nó”; nhưng chúng ta không thể nhận thức được bản chất thế giới

ấy mà chỉ là nhận thức những hiện tượng của nó mà thôi

Thuyết không thể biết đã bị Hêghen và Phoiơbắc phê phán gay gắt Song, đúng như Ph Ăngghen

đã nhận xét, chính thực tiễn của con người đã bác bỏ thuyết không thể biết một cách triệt để nhất

“Sự bác bỏ một cách hết sức đanh thép những sự vặn vẹo triết học ấy, cũng như tất cả những triết học khác, là thực tiễn, chính là thực nghiệm và công nghiệp Nếu chúng ta có thể chứng minh đượctính chính xác của quan điểm của chúng ta về một hiện tượng tự nhiên nào đó, bằng cách tự chúng

ta làm ra hiện tượng ấy, bằng cách tạo ra nó từ những điều kiện của nó, và hơn nữa, còn bắt nó phảiphục vụ mục đích của chúng ta, thì sẽ không còn có cái “vật tự nó” không thể nắm được của Cantơ nữa”

Trang 10

7 Phép biện chứng và các hình thức cơ bản của phép biện chứng

a Khái niệm phép biện chứng

- Biện chứng là khái niệm dùng để chỉ những mối liên hệ, tương tác, chuyển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy

- Biện chứng bao gồm:

+ Biện chứng khách quan là biện chứng của thế giới vật chất

+ Biện chứng chủ quan là sự phản ánh biện chứng khách quan vào đời sống ý thức của con người

- Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn

Phép biện chứng thuộc về biện chứng chủ quan

Phép biện chứng đối lập với phép siêu hình - phương pháp tư duy về sự vật, hiện tượng của thế giới trong trạng thái cô lập tĩnh tại và tách rời

b Các hình thức cơ bản của phép biện chứng

Trong lịch sử triết học, phép biện chứng phát triển qua ba hình thức cơ bản: phép biện chứng chất phác thời cổ đại, phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức và phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin

Phép biện chứng chất phác thời cổ đại

- Phép biện chứng chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của phép biện chứng trong lịch sử triết học, là nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ

và Hy Lạp cổ đại

Tiêu biểu nhất của phép biện chứng chất phát thời cổ đại là các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, như: nhà triết học duy tâm Platon, Hêraclit Hêraclit coi sự biến đổi của thế giới như một dòng chảy Ông nói: “Mọi vật đều trôi đi, mọi vật đều biến đổi” “Người ta không thể tắm được hai lần trong cùng một dòng sông”…

- Phép biện chứng chất phác thời cổ đại có đặc điểm là: Nhận thức đúng về tính biện chứng của thế giới nhưng không phải dựa trên thành tựu của khoa học mà bằng trực kiến thiên tài, bằng trực quan chất phác, là kết quả của sự quan sát trực tiếp Do đó, chưa đạt tới trình độ phân tích giới tự nhiên, chưa chứng minh được mối liên hệ phổ biến nội tại của giới

tự nhiên

Phép biện chứng thời cổ đại có tác dụng mới chỉ dừng lại ở chỗ chống lại thế giới quan tôn giáo, thần thoại, nhưng chưa ddue để chỉ đạo hoạt động thực tiễn, nâng cao tính tự giác của con người

Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức

- Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức được khởi đầu từ Cantơ và hoàn thiện ở hệ thốngtriết học của G.Hêghen

- Triết học cổ điển Đức đã trình bày những tư tưởng cơ bản nhất của phép biện chứng duy tâm một cách có hệ thống Tính duy tâm trong triết học của G.Hêghen được biểu hiện ởchỗ, ông coi phép biện chứng là quá trình phát triển khởi đầu của “ý niệm tuyệt đối”, coi biện chứng chủ quan là cơ sở của biện chứng khách quan Ông cho rằng “ý niệm tuyệt đối”

là điểm khởi đầu của tồn tại, tự “tha hóa” thành giới tự nhiên và trở về với bản thân nó trongtồn tại tinh thần Tinh thần, tư tưởng, ý niệm tuyệt đối là cái có trước, thế giới hiện thực chỉ

là bản sao chép của ý niệm

Ph.Ăngghen nhận xét rằng: “Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ở trong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiên trình bày một cáchbao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng Ở Hêghen,

Trang 11

phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng nó lại là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó”

Phép biện chứng duy vật

- Phép biện chứng duy vật do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng trên cơ sở kế thừa có phê phán hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng của G.W.Ph.Hêghen, là phép biện chứng dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật, xuất phát từ biện chứng khách quan của tự nhiên và xã hội

Theo Ph.Ăngghen: “Phép biện chứng là môn khoa học về những quy luật phổ biến của

sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”

Trang 12

8 Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời Mác-Lênin

Chủ nghĩa Mác ra đời, phát triển trên cơ sở ba điều kiện, tiền đề cơ bản sau đây:

Điều kiện kinh tế - xã hội

Cho đến giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã được thiết lập và đã đạt được sự phát triển mạnh mẽ của nó ở các nước Tây Âu, đặc biệt là tại các nước Anh, Pháp Sự phát triển đó, một mặt đã tạo ra được những thành tựu to lớn về nhiều mặt kinh tế - xã hội Tuy nhiên, mặt trái của nó là đã tự tạo

ra những mâu thuẫn không thể giải quyết được trong phạm vi chế độ tư bản chủ nghĩa Trung tâm của những mâu thuẫn đó được biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn gay gắt giữa hai giai cấp: giai cấp tư sản (chủ sở hữu tư liệu sản xuất của xã hội) và giai cấp vô sản (giai cấp công nhân làm thuê) Mâu thuẫn đó được bộc lộ thành những cuộc đấu tranh ngày càng phát triển của giai cấp công nhân tại nhiều nước tư bản, đặc biệt là những cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân làm thuê tại các nước Anh, Pháp và Đức Sự phát triển của các cuộc đấu tranh đó làm phát sinh nhu cầu cần

có một lý luận cách mạng và khoa học của nó Sự ra đời của chủ nghĩa Mác là nhằm đáp ứng nhu cầu này Đồng thời chính thực tiễn phát triển của nó lại là một trong những điều kiện thực tiễn cho

sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa Mác

Tiền đề lý luận

Chủ nghĩa Mác ra đời không chỉ xuất phát từ nhu cầu khách quan của lịch sử mà còn là kết quả của

sự kế thừa tinh hoa di sản lý luận của nhân loại, trong đó trực tiếp nhất là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng ở các nước Pháp và Anh

+ Với Triết học cổ điển Đức, đặc biệt là triết học của Ph Hêghen và L Phoiơbắc đã ảnh hưởng sâusắc đến sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác

Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã kế thừa những nội dung cơ bản trong phép biện chứng của Hêghen, chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc Đồng thời, các ông cũng khắc phục những hạn chế cơ bản của hai học thuyết ấy; đó là thế giới quan duy tâm trong triết học Hêghen và phương pháp siêu hình trong triết học của Phoiơbắc Trên cơ sở đó các ông đã sáng lập ra một thế giới quan triết học mới là: chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật Nhờ thế giới quan mới này các ông đã vận dụng nó vào việc nghiên cứu một cách khoa học những quy luật chung nhất của sự pháttriển xã hội, đặc biệt là nghiên cứu những quy luật ra đời, phát triển, suy tàn của chủ nghĩa tư bản

và sự ra đời tất yếu của chủ nghĩa xã hội

+ Với Kinh tế chính trị cổ điển Anh, đặc biệt là với các học thuyết của những đại biểu lớn của nó (A Xmít và Đ Ricácđô), c Mác và Ph Ăngghen kế thừa những quan điểm hợp lý khoa học của những học thuyết này Đó là: quan điểm duy vật trong nghiên cứu lĩnh vực khoa học kinh tế chính trị và học thuyết giá trị về lao động Đồng thời các ông cũng phê phán và khắc phục tính chất chưa triệt để trong học thuyết giá trị về lao động và phương pháp siêu hình trong nghiên cứu của các nhàkinh tế học cổ điển Anh Trên cơ sở đó các ông đã xây dựng thành công học thuyết về giá trị lao động và học thuyết giá trị thặng dư

+ Với Chủ nghĩa xã hội không tưởng ở nước Anh và Pháp, đặc biệt là với những đại biểu lớn của

nó là H Xanh Ximông, S Phuriê và R Ôoen, c Mác và Ph Ăngghen đã kế thừa những tư tưởng nhân đạo và những sự phê phán hợp lý của các nhà tư tưởng này đối với những hạn chế của chủ nghĩa tư bản Đồng thời, các ông cũng khắc phục và vượt qua những hạn chế trong học thuyết của

họ Đó là tính chất không tưởng trong các học thuyết ấy Từ đó các ông xây dựng nên một lý luận mới - lý luận khoa học về chủ nghĩa xã hội

Tiền đề khoa học tự nhiên

Cho đến những năm giữa thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên đã có những bước phát triển mới, đem lại một số quan niệm mới mẻ về giới tự nhiên so với trước đó Tiêu biểu cho những quan niệm mới này là: khẳng định tính chất bảo toàn năng lượng trong quá trình biến đổi của vật chất trong giới tự nhiên; khẳng định tính thống nhất về cơ sở vật chất của mọi sự sống là tế bào; khẳng định tính tất yếu khách quan của quá trình phát triển các loài sinh vật trên trái đất Những quan niệm mới này

Trang 13

đóng vai trò là những bằng chứng xác thực (ở tầm khoa học) của các quan điểm duy vật biện chứng

về giới tự nhiên

Trang 14

9 Vật chất và các hình thức tồn tại của vật chất

 Các nhà bác học trước Mác:

- Chủ nghĩa duy vật chất phác và chủ nghĩa duy vật siêu hình định nghĩa vật chất là hạt nhỏ,

là động vật đầu tiên cấu tạo nên thế giới Họ đồng nhất vật chất với nước (Ta Lét), lửa(Hêraclít),không khí (Anaximen), hay nguyên tử phân tử (Đêmôcrít), ngũ hành (Trung Quốc)

+ Ưu điểm: Lấy chính bản thân vật chất để giải thích khái niệm vật chất

+ Hạn chế: Đồng nhất vật chất với những vật cụ thể nên: dễ dàng bị chủ nghĩa duy tâm tấncông bằng truy nguyên đưa thế giới vào phạm vi hẹp không thể định nghĩa vật chất vì thiếu logic

- Chủ nghĩa duy tâm: Vật chất do thế giới ý niệm sinh ra và chỉ là làm phong phú thêm thếgiới ý niệm mà thôi

- Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: Vật chất không có thật mà chỉ là sự phức hợp các cảm giác

mà thôi

 Mác và Ăngghen: chưa có định nghĩa cụ thể về vật chất nhưng đã nêu lên đc những đặcđiểm cơ bản và quan trọng về phạm trù vật chất

- Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau Bản chất thế giới là vật chất

- Theo Ăngghen, thành phần bản chất tự nhiên là : “Vật chất với tư cách là vật chất là mộtsáng tạo thuần túy của tư duy và là một điều trừu tượng thuần túy – chúng ta bỏ qua những sự khácnhau về chất của những sự vật khi chúng ta gặp chúng với tư cách là những tồn tại hữu hình vàokhái niệm vật chất Do đó, khác với những vật chất nhất định, vật chất với tư cách là vật chấtkhông có sự tồn tại cảm tính”

Vật chất với tư cách là phạm trù triết học đã có lịch sử phát triển trên 2.500 năm Ngay từthời cổ đại, xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa chủnghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Đồng thời, cũng giống những phạm trù khác, phạm trù vậtchất có quá trình phát triển gắn liền với thực tiễn và nhận thức của con người

 Theo Lênin phạm trù vật chất là một phạm trù rộng đến cùng cực, rộng nhất, mà cho đếnnay, thực ra nhận thức luận vẫn chưa vượt quá được Khi định nghĩa vật chất không thể quay

nó về vật thể hoặc một thuộc tính cụ thể nào đó, cũng không thể quy về phạm trù rộng hơn vìđến nay chưa có phạm trù nào rộng hơn phạm trù vật chất Do vậy, chỉ có thể định nghĩa vậtchất trong quan hệ với ý thức, phạm trù đối lập với nó và trong quan hệ ấy, vật chất là tínhthứ nhất, ý thức là tính thứ hai Bằng phương pháp như vậy Lênin đã đưa ra định nghĩa kinhđiển về vật chất:

“Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con ngườitrong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộcvào cảm giác” Theo định nghĩa của V.I.Lênin về vật chất:

Thứ nhất, cần phân biệt khái niệm “vật chất” với tư cách là phạm trù triết học với khái

niệm “vật chất” được sử dụng trong các khoa học chuyên ngành (tức khái niệm dùng để chỉ nhữngdạng vật chất cụ thể, cảm tính; những biểu hiện cụ thể của thế giới vật chất tự nhiên hay xã hội).Vật chất với tư cách là phạm trù triết học là kết quả của sự khái quát hóa,trừu tượng hóa nhữngthuộc tính, những mối liên hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng nên nó phản ánh cái chung, vô hạn,

vô tận, không sinh ra, không mất đi

Thứ hai, thuộc tính cơ bản nhất, phổ biến nhất của mọi tồn tại vật chất được khái quát trong

phạm trù vật chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng là thuộc tính tồn tại khách quan,tức là thuộctính tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con người,cho dù con người cónhận thức được hay không nhận thức được nó

Thứ ba, vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gây nên cảm giác ở con

người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của con người; ý thức của con người là

sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là cái được ý thức phản ánh

Trang 15

Định nghĩa của V.I.Lênin về vật chất có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của chủnghĩa duy vật và nhận thức khoa học

b) Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vận động là phương thức tồn tại của vậtchất; không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất

- Vận động là phương thức tồn tại của vật chất

Ph.Ăngghen định nghĩa: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, - tức được hiểu là mộtphương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, - thì bao gồm tất cả mọi sựthay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”

Theo quan điểm của Ph.Ăngghen: vận động không chỉ thuần túy là sự thay đổi vị trí trongkhông gian mà là “mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ”; vận động“là một phươngthức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất” nên thông qua vận động mà cácdạng cụ thể của vật chất biểu hiện sự tồn tại của mình; vận động của vật chất là tự thân vận động;

và sự tồn tại của vật chất luôn gắn liền với vận động

Dựa trên thành tựu khoa học ở thời đại mình, Ph.Ăngghen đã phân chia vận động thành nămhình thức vận động cơ bản: vận động cơ giới (sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian);vận động vật lý (vận động của các phân tử, điện tử, các hạt cơ bản, của quá trình nhiệt, điện,v.v…); vận động hóa (sự biến đổi các chất vô cơ, hữu cơ trong những quá trình hóa hợp và phângiải); vận động sinh vật (sự biến đổi của các cơ thể sống, biến thái cấu trúc gen, v.v…); vận động

xã hội (sự biến đổi trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị,văn hóa, v.v… của đời sống xã hội)

Khi khẳng định vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính cố hữu của vậtchất, chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng đã khẳng định vận động là tuyệt đối, là vĩnh viễn Điềunày không có nghĩa chủ nghĩa duy vật biện chứng phủ nhận sự đứng im, cânbằng; song, đứng im,cân bằng chỉ là hiện tượng tương đối, tạm thời và thực chất đứng im,cân bằng chỉ là một trạng tháiđặc biệt của vận động

Đứng im là trạng thái đặc biệt của vận động, đó là vận động trong thế cân bằng, ổn định;vận động chưa làm thay đổi cơ bản về chất, về vị trí, hình dáng, kết cấu của sự vật

- Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất:

Mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một vị trí nhất định, có một quảng tính(chiều cao,chiều rộng, chiều dài) nhất định và tồn tại trong các mối tương quan nhất định(trước hay sau, trênhay dưới, bên phải hay bên trái, v.v…) với những dạng vật chất khác Những hình thức tồn tại nhưvậy được gọi là không gian Mặt khác, sự tồn tại của sự vật còn được thể hiện ở quá trình biến đổi:nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyển hóa, v.v… Những Hình thức tồn tại như vậy được gọi là thờigian

Là những hình thức tồn tại của vật chất, không tách khỏi vật chất nên không gian,thời gian

có những tính chất chung như những tính chất của vật chất, đó là tính khách quan,tính vĩnh cửu,tính vô tận và vô hạn

Ngoài ra, không gian có thuộc tính ba chiều (chiều cao, chiều rộng, chiều dài) còn thời gianchỉ có một chiều (chiều từ quá khứ đến tương lai) Tính ba chiều của không gian và tính một chiềucủa thời gian biểu hiện hình thức tồn tại về quảng tính và quá trình diễn biến của vật chất vậnđộng

c) Tính thống nhất vật chất của thế giới

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thốngnhất ở tính vật chất Theo quan điểm đó:

Một là, chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất; thế giới vật chất là cái có trước, tồn

tại khách quan, độc lập với ý thức của con người

Trang 16

Hai là, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn, không được sinh ra và không bị

mất đi

Ba là, mọi tồn tại của thế giới vật chất đều có mối liên hệ khách quan, thống nhất với nhau,

biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, có nguồngốc vật chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan phổ biếncủa thế giới vật chất Trong thế giới vật chất không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đangbiến đổi và chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau

Bản chất vật chất và tính thống nhất vật chất của thế giới là kết luận được rút ra từ việc kháiquát những thành tựu của khoa học, được khoa học và cuộc sống hiện thực của con người kiểmnghiệm Nó không chỉ định hướng cho con người giải thích về tính đa dạng của thế giới mà cònđịnh hướng cho con người tiếp tục nhận thức về tính đa dạng ấy để thực hiện quá trình cải tạo hợpquy luật

Trang 17

10 Nguồn gốc của ý thức:

Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người một cách năng động,

sáng tạo Theo quan điểm duy vật biện chứng, ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội.

a Nguồn gốc tự nhiên của ý thức:

Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên của ý thức là bộ óc con người và hoạt động của nó cùngmối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan; trong đó, thế giới khách quan tác động đến bộ

óc con người từ đó tạo ra khả năng hình thành ý thức của con người về thế giới khách quan Nhưvậy, ý thức chính là sự phản ánh của con người về thế giới khách quan

– Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác trong quá

trinh tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng Phản ánh là thuộc tính của tất cả các dạng vật chất songphản ánh được thể hiện dưới nhiều hình thức: phản ánh vật lý, hoá học; phản ánh sinh học; phảnánh tâm lý và phản ánh năng động, sáng tạo (tức phản ánh ý thức) Những hình thức này tương ứngvới quá trình tiến hoá của vật chất tự nhiên

+ Phản ánh vật lý, hoá học là hình thức thấp nhất, đặc trưng cho vật chất vô sinh Phản ánh vật lý,

hoá học thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hoá (thay đổi kết cấu, vị trí, tính chất lý – hoá quaquá trình kết hợp, phân giải các chất) khi có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các dạng vật chất vôsinh Hình thức phản ánh này mang tính thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tácđộng

+ Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự nhiên hữu sinh Tương

ứng với quá trình phát triển của giới tự nhiên hữu sinh, phản ánh sinh học được thể hiện qua tínhkích thích, tính cảm ứng, phản xạ Tính kích thích là phản ứng của thực vật và động vật bậc thấpbằng cách thay đổi chiều hướng sinh trưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, thay đổi cấu trúc, v.v khinhận sự tác động trong môi trường sống Tính cảm ứng là phản ứng của động vật có hệ thần kinhtạo ra năng lực cam giác, được thực hiện trên cơ sở điều khiển của quá trình thần kinh qua cơ chếphản xạ không điều kiện, khi có sự tác động từ bên ngoài môi trường lên cơ thể sống

+ Phản ánh tâm lý là sự phản ánh đặc trưng cho động vật đã phát triển đến trình độ có hệ thần

kinh trung ương, được thực hiện thông qua cơ chế phản xạ có điều kiện đối với những tác động củamôi trường sống

+ Phản ánh ý thức là hình thức phản ánh năng động,sáng tạo chỉ có ở con người Đây là sự phản

ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra những thông tin mới, phát hiện ýnghĩa của thông tin

b Nguồn gốc xã hội của ý thức:

Nhân tố cơ bản nhất và trực tiếp nhất tạo thành nguồn gốc xã hội của ý thức là lao động và ngônngữ

+ Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự nhiên nhằm thay đổi giới

tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người; là quá trình trong đó bản thân con người đóng vaitrò môi giới, điều tiết sự trao đổi vật chất giữa mình với giới tự nhiên Trong quá trình lao động,con người tác động vào thế giới khách quan làm thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính,những kết cấu, những quy luật vận động của nó, biểu hiện thành những hiện tượng nhất định màcon người có thể quan sát được Những hiện tượng ấy, thông qua hoạt động của các giác quan, tácđộng vào bộ óc người, thông qua hoạt động của bộ não con người, tạo ra khả năng hình thành nênnhững tri thức nói riêng và ý thức nói chung

Như vậy, sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan thông qua quá trìnhlao động

+ Ngôn ngữ là “cái vỏ vật chất” của ý thức, tức hình thức vật chất nhân tạo đóng vai trò thể hiện

và lưu giữ các nội dung ý thức

Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động Lao động ngay từ đầu đã mang tính tập thể Mối

Trang 18

trao đổi tri thức, tình cảm, ý chí,… giữa các thành viên trong cộng đồng con người Nhu cầu nàylàm cho ngôn ngữ nảy sinh và phát triển ngay trong quá trình lao động sản xuất cũng như trongsinh hoạt xã hội Nhờ có ngôn ngữ, con người không chỉ giao tiếp, trao đổi trực tiếp mà còn có thểlưu giữ, truyền đạt nội dung ý thức từ thế hệ này sang thế hệ khác…

Trang 19

11 Bản chất của ý thức

Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.

Như vậy, bản chất của ý thức được thể hiện qua 4 khía cạnh sau đây:

1 Ý thức là sự phản ánh, cái phản ánh, còn vật chất là cái được phản ánh.

– Cái được phản ánh, tức vật chất, tồn tại khách quan, bên ngoài và độc lập với cái phản ánh, tức ýthức Ý thức là hình ảnh tinh thần của sự vật khách quan Vì vậy, không thể đồng nhất hoặc táchrời ý thức với vật chất

– Ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan, nhưng lại thuộc phạm vi chủ quan, không có tính vậtchất Nó là hình ảnh phi cảm tính của các đối tượng vật chất có tồn tại cảm tính

2 Ý thức là sự phản ánh có tính chủ động, năng động, sáng tạo.

Tuy thuộc phạm vi chủ quan, nhưng ý thức không phải là bản sao thụ động, giản đơn, máy móc của

sự vật Tức là, không phải cứ sự vật tác động như thế nào thì ý thức sẽ chép lại, chụp lại y nguyênnhư thế

Con người là một thực thể xã hội năng động, sáng tạo.

Trong quá trình lao động để cải tạo thế giới khách quan, con người tác động vào sự vật một cách

có định hướng, chọn lọc, tùy theo nhu cầu của mình (xây nhà, cày ruộng, đào mương, xây cầu…).Chính vì thế, ý thức của con người là sự phản ánh năng động, sáng tạo, có định hướng, chọn lọc vềhiện thực khách quan

Tính năng động, sáng tạo của ý thức được thể hiện ra rất phong phú.

Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cáikhông có trong thực tế Ý thức có thể tiên đoán, dự báo tương lai một cách tương đối chính xác,hoặc có thể tạo ra những ảo tưởng, huyền thoại Thậm chí, một số người còn có khả năng tiên tri,ngoại cảm, thấu thị…

Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất Sáng tạo của ý thức là sáng tạocủa sự phản ánh, theo quy luật và trong khuôn khổ của sự phản ánh

3 Ý thức là quá trình phản ánh đặc biệt, là sự thống nhất của 3 mặt sau:

Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể (con người) và đối tượng phản ánh (núi, sông, mưa,…) Sự

trao đổi này mang tính hai chiều, có định hướng, chọn lọc các thông tin cần thiết

Hai là, con người mô hình hóa (tức là vẽ lại, lắp ghép lại…) đối tượng trong tư duy dưới dạng hình

ảnh tinh thần Thực chất đây là quá trình ý thức sáng tạo lại hiện thực, là sự mã hóa các đối tượngvật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất

Ba là, chủ thể chuyển mô hình từ trong óc ra hiện thực khách quan Đây là qúa trình hiện thực hóa

tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn để biến quan niệm của mình thành dạng vật chất trongcuộc sống Ví dụ như con người sẽ xây cầu qua sông, làm đường xuyên núi… theo mô hình thiết

kế đã có ở bước 2 ở trên

4 Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội.

– Chỉ khi con người xuất hiện, tiến hành hoạt động thực tiễn để cải tạo thế giới khách quan theomục đích của mình, ý thức mới xuất hiện Như thế, ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiênthuần túy, mà bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử – xã hội, phản ánh những quan hệ xã hội khách quan.– Ý thức bị chi phối không chỉ bởi các quy luật tự nhiên, mà chủ yếu bởi các quy luật xã hội Ởnhững thời đại khác nhau, thậm chí trong cùng một thời đại, ý thức về cùng một sự vật, hiện tượng

có thể khác nhau ở các chủ thể khác nhau

Trang 20

12 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:

Trong lịch sử, Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trước vật chất có sau, ý thức quyết định vậtchất

Chủ nghĩa duy vật siêu hình cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức vàsinh ra ý thức Tuy nhiên quan điểm của họ chưa thấy được vai trò, tính năng động sáng tạo của ýthức

Mối quan hệ vật chất và ý thức chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng:

a Vai trò của vật chất đối với ý thức

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốccủa ý thức, quyết định ý thức vì:

Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nên chỉ khi có con ngườimới có ý thức Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vật chất thì con người là kết quả quátrình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là sản phẩm của thế giới vật chất Kết luận này đãđược chứng minh bởi sự phát triển hết sức lâu dài của khoa học về giới tự nhiên; nó là một bằngchứng khoa học chứng minh quan điểm: vật chất có trước, ý thức có sau

Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức (bộ óc người, thế giới kháchquan tác động đến bộ óc gây ra các hiện tượng phản ánh, lao động, ngôn ngữ), hoặc là chính bảnthân thế giới vật chất (thế giới khách quan), hoặc là những dạng tồn tại của vật chất (bộ óc người,hiện tượng phản ảnh, lao động, ngôn ngữ) đã khẳng định vật chất là nguồn gốc của ý thức

Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật chất nên nội dung của

ý thức được quyết định bởi vật chất Sự vận động và phát triển của ý thức, hình thức biểu hiện của

ý thức bị các quy luật sinh học, các quy luật xã hội và sự tác động của môi trường sống quyết định.Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất nên vật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyếtđịnh cả hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức

b Vai trò của ý thức đối với vật chất

Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thựctiễn của con người

Vì ý thức là ý thức của con người nên nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai trò của con người.Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực Muốn thay đổi hiện thực,con người phải tiến hành những hoạt động vật chất Song, mọi hoạt động của con người đều do ýthức chỉ đạo, nên vai trò của ý thức không phải trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà nótrang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan, trên cơ sở ấy con người xác định mục tiêu,

đề ra phương huớng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện,v.v để thực hiện mục tiêu của mình Ở đây, ý thức đã thể hiện sự tác động của mình đối với vậtchất thông qua hoạt động thực tiền của con người

Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu cực Nếucon người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách mạng, có nghị lực, có ý chí thìhành động của con người phù hợp với các quy luật khách quan, con người có năng lực vượt quanhững thách thức trong quá trình thực hiện mục đích của mình, thế giới được cải tạo - đó là sự tácđộng tích cực cúa ý thức Còn nếu ý thức của con người phản ánh không đúng hiện thực kháchquan, bản chất, quy luật khách quan thì ngay từ đầu, hướng hành động của con người đã đi ngượclại các quy luật khách quan, hành động ấy sẽ có tác dụng tiêu cực đổi với hoạt động thực tiễn, đốivới hiện thực khách quan

Như vậy, bằng việc định hướng cho hoạt động của con người, ý thức có thế quyết định hành độngcủa con người, hoạt động thực tiễn của con người đúng hay sai, thành công hay thất bại, hiệu quảhay không hiệu quả

Tìm hiểu về vật chất, về nguồn gốc, bản chất của ý thức, về vai trò của vật chất, của ý thức có thểthấy: vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung và khả năng sáng tạo ý thức; là điều

Ngày đăng: 11/12/2021, 09:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w