1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt luận án Tiến sĩ Triết học: Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam hiện nay

24 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 420,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án phân tích để làm rõ thực trạng của việc giữ gìn, phát huy BSVH các DTTS vùng Đông Bắc Việt Nam hiện nay; từ đó đưa ra một số quan điểm và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc giữ gìn và phát huy BSVH các DTTS ở đây.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

VH tạo nên diện mạo đặc thù của mỗi một DT Khi nhắc đến một DT nào người ta thường nghĩ đến nền VH của DT đó, cũng như muốn tìm hiểu một DT nào, cách tốt nhất là tìm hiểu nền VH của họ, vì nó là hồn cốt của DT, là nét đặc trưng căn bản để phân biệt DT này với DT khác BSVH của mỗi DT chính là cái cốt lõi, đặc trưng, bản chất nhất của VHDT, nó là bản chất, linh hồn, cốt cách, bản lĩnh của một DT Do đó, giữ được BSVH thì DT còn, mất BSVH thì có thể DT đó mất vĩnh viễn

Chính vì vậy Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chủ trương xây dựng nền VH Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc DT - thực chất, đó là xây dựng, phát triển, giữ gìn BSDT Việt Nam, trong đó có BSVH các DT

Ngày nay, xã hội hiện đại với toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, phát triển khoa học công nghệ, kinh tế thị trường đang tác động nhiều tới BSVHDT nói chung, BSVH tộc người nói riêng BSVH các DTTS cũng đang đứng trước những thách thức, có nguy cơ mai một, lệch lạc, mờ nhạt Nhiều yếu tố không lành mạnh thâm nhập vào nhận thức và cuộc sống vốn trong lành của đồng bào các DTTS, tạo nên sự lai tạp trong cách nghĩ, lối sống của đồng bào, có xu hướng làm mờ nhạt và mất đi BSVH truyền thống vốn có của các DTTS

-Vùng Đông Bắc Việt Nam là vùng đất sinh sống của hơn hai mươi DT, chủ yếu là các DTTS không nằm ngoài xu thế chung của cả nước BSVH của đồng bào các DTTS nơi đây vô cùng phong phú, đa dạng về các sắc thái biểu hiện thông qua các giá trị VH vật thể

và VH phi vật thể nhưng đều chứa đựng những giá trị VH đặc trưng, cốt lõi tồn tại lâu đời trong lịch sử như tinh thần đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau; lối sống giản dị, mộc mạc, chân tình, hài hòa với con người, với thiên nhiên núi rừng Đông Bắc; sự sáng tạo, cần cù, chịu khó trong lao động, sự thích ứng cao với thiên nhiên có phần khắc nghiệt và luôn biết cách đảm bảo sự cân bằng tâm lý Những giá trị VH này đã tạo nên cốt cách, bản lĩnh của

cả cộng đồng các DTTS vùng Đông Bắc, giúp cho đồng bào tồn tại, phát triển bền vững trong lịch sử Bối cảnh và các điều kiện của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nhất là quá trình phát triển kinh tế thị trường và xây dựng xã hội hiện đại ở nước ta hiện nay một mặt đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho đồng bào các DTTS tiếp tục duy trì, tồn tại, phát triển các giá trị VH theo hướng hiện đại, mặt khác cũng làm cho các giá trị VH đó bị pha tạp, biến đổi thậm chí mai một, mất dần BSVHDT như một thách thức lớn

Tình hình đó đang đặt ra vấn đề bức xúc hiện nay là làm thế nào để hội nhập quốc tế

và phát triển kinh tế thị trường, xây dựng xã hội hiện đại để phát triển nhanh mà vẫn giữ gìn

và phát huy được BSVH các DTTS; làm thế nào để giữ gìn, phát huy BSVH các DTTS vùng Đông Bắc một cách hiệu quả để biến sức mạnh VH vùng Đông Bắc vào sức mạnh chung của sự phát triển đất nước; giải pháp nào để có thể nâng cao hiệu quả việc giữ gìn và phát huy BSVH các DTTS vùng Đông Bắc góp phần đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi

Trang 2

mới? Vấn đề này có ý nghĩa thiết thực đối với sự phát triển vùng Đông Bắc nói riêng và cả nước nói chung, bởi “VH thực sự là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc” Với lý

do đó, nghiên cứu sinh chọn vấn đề “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án Tiến sĩ triết học của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

- Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Khái quát tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và xác định những vấn

đề luận án cần tiếp tục giải quyết

+ Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về BSVH các DTTS và việc giữ gìn, phát huy BSVH các DTTS vùng Đông Bắc Việt Nam

+ Phân tích làm rõ thực trạng của việc giữ gìn, phát huy BSVH các DTTS vùng Đông Bắc Việt Nam hiện nay, chỉ ra nguyên nhân của thực trạng đó và xác định những vấn đề đặt ra đối với việc giữ gìn và phát huy BSVH các DTTS vùng Đông Bắc Việt Nam hiện nay

+ Đề xuất quan điểm và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của việc giữ gìn, phát huy BSVH các DTTS vùng Đông Bắc Việt Nam trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề giữ gìn và phát huy BSVH các DTTS vùng

Đông Bắc Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Luận án nghiên cứu việc giữ gìn và phát huy BSVH các DTTS vùng Đông Bắc nước ta trong thời kỳ đổi mới, khi Việt Nam đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

+ Vùng Đông Bắc theo sự phân chia của Tổng cục Thống kê gồm 10 tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Yên Bái, Lào Cai, Bắc Giang, Phú Thọ Tuy nhiên, luận án chỉ nghiên cứu BSVH các DTTS ở 6 tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng,

Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Kạn vì ở đó đậm nét các BSVH vùng này

+ BSVH các DTTS vùng Đông Bắc được thể hiện hết sức đa dạng Trong khuôn khổ một luận án tiến sĩ, luận án chỉ tập trung nghiên cứu BSVH đó ở một số khía cạnh của VH vật thể và VH phi vật thể; chủ thể, nội dung, cách thức giữ gìn, phát huy BSVH các DTTS

Trang 3

+ Trong các Văn kiện của Đảng và Nhà nước ta, thuật ngữ “dân tộc” được sử dụng với cả nghĩa rộng để chỉ DT quốc gia (nation) và cả nghĩa hẹp để chỉ tộc người (ethnic) Trong luận án này, thuật ngữ các DTTS được sử dụng đồng nghĩa với khái niệm tộc người (ethnic) - tức là theo cách gọi chung ở nước ta hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về việc giữ gìn và phát huy BSVH các DTTS trong chiến lược phát triển kinh -

tế xã hội của cả nước nói chung, DTTS vùng Đông Bắc nói riêng Luận án kế thừa kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học, tài liệu tổng kết thực tiễn của cơ quan Đảng, Nhà nước và địa phương liên quan đến đề tài

- Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, so sánh, lý luận gắn với thực tiễn, tham quan, quan sát thực tế…,

Phương pháp tham quan, quan sát thực tế các bảo tàng, các lễ hội, một số địa bàn vùng đồng bào các DTTS sinh sống

Luận án sử dụng tư liệu thực tế, thu thập thông tin, số liệu của các địa phương vùng Đông Bắc, cụ thể số liệu của 6 tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên,

Hà Giang, Tuyên Quang để phân tích, khái quát thực trạng giữ gìn, phát huy BSVH các DTTS ở đây

5 Đóng góp mới của luận án

- Từ góc độ triết học, luận án đã tiếp cận, nghiên cứu VH, BSVH, BSVH các

Trang 4

DTTS vùng Đông Bắc không chỉ dưới dạng hình thức biểu hiện, mà ở các tầng lớp bên trong của chúng, như phương thức sống và phương thức lao động sáng tạo ra các giá trị VH

- Từ cách tiếp cận và nghiên cứu đó, luận án đã khái quát được thành công và hạn chế trong giữ gìn, phát huy BSVH các DTTS vùng Đông Bắc; Xác định được nguyên nhân của thành công và hạn chế của việc giữ gìn, phát huy BSVH các DTTS vùng Đông Bắc

- Luận án đã đưa ra được một số quan điểm hợp lý và những giải pháp cụ thể, khả thi để nâng cao hiệu quả giữ gìn, phát huy BSVH các DTTS vùng Đông Bắc trong bối cảnh và điều kiện hiện nay

6 Ý nghĩa của luận án

- Ý nghĩa lý luận:

+ Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm phong phú và sâu hơn lý luận

về giữ gìn, phát huy BSVHDT, đặc biệt là của các DTTS vùng Đông Bắc Việt Nam

+ Cung cấp cơ sở khoa học cho công tác hoạch định chiến lược, chính sách phát triển VH ở đồng bào các DTTS vùng Đông Bắc nước ta

- Ý nghĩa thực tiễn:

Luận án là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong các cơ quan nghiên cứu chuyên ngành và các trường Đại học, Cao đẳng ở nước ta

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận án được kết cấu thành 4 chương với 10 tiết

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN 1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Nghiên cứu về VH, BSVH, BSVH các DTTS

* Tình hình nghiên cứu về VH

VH là lĩnh vực hoạt động rộng lớn của xã hội, nó cũng là lĩnh vực khoa học

cơ bản của khoa học xã hội và nhân văn Nghiên cứu về VH đã được đề cập từ xa xưa trong lịch sử khoa học nhân loại Cho đến ngày nay, VH vẫn là đề tài vừa cơ bản vừa cấp thiết tiếp tục được các nhà khoa học, các nhà hoạt động VH, các tổ chức quốc tế nghiên cứu, mổ xẻ dưới nhiều góc độ khác nhau Trước hết, nghiên cứu VH là nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản, chung nhất, xác định bản chất, cấu trúc và đặc điểm của VH Có công trình thì tiếp cận VH theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm các giá trị tinh thần, có công trình thì tiếp cận VH theo nghĩa rộng, bao gồm

Trang 5

các hoạt động sáng tạo của con người và kết quả của hoạt động sáng tạo đó là các giá trị vật chất và tinh thần

Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau: “Văn hóa nguyên thủy” của E.B.Tylor; “Khái niệm và quan niệm về văn hóa” của tác giả Trần Độ; “Văn hóa và đổi mới” của Phạm Văn Đồng; “Văn hóa, một số vấn đề lý luận” của tác giả Trường Lưu;

“Văn hóa và phát triển” của tác giả Đỗ Huy

Tóm lại, các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động VH trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có sự nhận diện VH là khác nhau về độ rộng hẹp của vấn đề, về giới hạn phạm trù của các hệ thống, lĩnh vực VH; về thành tố, cấu trúc, đặc trưng của VH, về mối quan hệ giữa VH học với các khoa học khác, chứ không phải khác nhau về cái gốc, cái nền, cái tổng quát, cái đại thể của VH

* Tình hình nghiên cứu về BSVH

Tiêu biểu là một số công trình sau: “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của tác giả Trần Ngọc Thêm; “Bản sắc văn hóa Việt Nam” của Phan Ngọc; “Văn hóa, phát huy bản sắc và hội nhập” của tác giả Nguyễn Văn Huyên; Công trình “Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc - vai trò của nghiên cứu và giáo dục” bao gồm nhiều bài viết của nhiều tác giả đề cập đến vấn đề VH và BSVHDT; “Bản sắc văn hóa dân tộc” của tác giả Hồ Bá Thâm; sách “Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa văn hóa Việt Nam, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn” tác giả Thành Duy…

Tất cả các bài viết, các công trình khoa học đã phân tích khá sâu sắc và toàn diện về bản chất, nội dung, vai trò, vị trí của BSVH, những vấn đề phải đối mặt của BSVH trong bối cảnh toàn cầu hóa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Qua đó, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định và tổ chức triển khai các nội dung trong quan điểm, đường lối, chính sách phát triển VH của Đảng và Nhà nước ta

* Tình hình nghiên cứu về BSVH các DTTS

Tiêu biểu là các công trình sau: “Thai, kadai và indonesiens” của P.K.Benedct;

“Mấy nhận xét về lý luận và thực tiễn một chuyến đi thăm các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc và Việt Bắc” của A.G.Haudricourt; “Socio-economic Overview of the Northern Mountain Region and the Project and poverty reduction in the Northern Mountain Region of Vietnam” của Neil Jamieson; “Rethinking Approaches to Ethenic Minority Develoment, the case of Vietnam”của Neil Jamieson; “Một số vấn đề về phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số” của tập thể các tác giả; “Tìm hiểu văn hóa vùng các dân tộc thiểu số” của tác giả Lò Giàng Páo; “Sắc thái văn hóa địa phương và tộc người trong chiến lược phát triển đất nước ” của nhà xuất bản Khoa học xã hội; “Xu hướng biến đổi cấu trúc văn hóa vùng ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam” của tác giả Lại Phi Hùng

Các công trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về VH các DTTS, đặc trưng

Trang 6

VH vùng các DTTS thông qua các sắc thái biểu hiện của nó như ngôn ngữ, tín ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán, VH nghệ thuật, tri thức bản địa đến việc ăn, mặc, ở, đi lại Dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì các sắc thái VH này đang có xu hướng biến đổi theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực Do đó, không chỉ riêng các nhà khoa học mà cả các nhà quản lý

xã hội từ trung ương đến địa phương cũng quan tâm để tìm ra các giải pháp hữu hiệu nhằm khắc phục những biểu hiện tiêu cực, phát huy mặt tích cực trong VH các DTTS

Các sách, bài viết, luận án, luận văn đã đi sâu nghiên cứu, phân tích, đánh giá BSVH các DTTS vùng Đông Bắc từ rất nhiều góc tiếp cận khác nhau làm cho kho tàng VH của các DTTS vùng Đông Bắc trở nên ngày càng phong phú, có giá trị hơn Bên cạnh những cuốn sách có tính chất sưu tầm, biên soạn, ghi chép lại một cách hệ thống các giá trị VH của các DTTS ở mức độ khái quát ở phạm vi rộng hơn như VH vùng, miền thì còn có những cuốn sách, luận án nghiên cứu chuyên sâu, phân tích những giá trị VH đậm đà bản sắc của một DTTS thuộc phạm vi một tỉnh Đặc biệt, có những công trình nghiên cứu đã đề cập đến sự biến đổi của BSVH các DTTS dưới tác động của quá trình hội nhập Từ đó, cung cấp cơ sở khoa học cho việc khẳng định tầm quan trọng và sự cần thiết phải đề ra những giải pháp giữ gìn, phát huy BSVH các DTTS trong quá trình phát triển hiện nay

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc

Giữ gìn và phát huy BSVH các DTTS vùng Đông Bắc cũng được các nhà khoa học đề cập đến ở những mức độ khác nhau Có công trình nghiên cứu nhằm bảo tồn, giữ gìn và phát huy một sắc thái biểu hiện nào đó của BSVHDT, có công trình thì nghiên cứu nhằm giữ gìn và phát huy BSVH của một DTTS cụ thể ở một tỉnh thuộc

vùng Ðông Bắc Tiêu biểu là công trình “Nghiên cứu, bảo tồn và phát triển ngôn ngữ văn hóa một số dân tộc thiểu số ở Việt Bắc” do Nguyễn Văn Lộc (chủ biên); Cuốn sách “Phát triển bền vững văn hóa tộc người trong quá trình hội nhập ở vùng Ðông Bắc” do Vương Xuân Tình - Trần Hồng Hạnh (chủ biên); “Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tộc người Tày ở Thái Nguyên hiện nay”, luận án tiến sĩ Triết học của Nguyễn Thị Nội; “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay”, luận án tiến

sĩ Triết học của Lê Thị Kim Hưng…

Các sách, bài viết, luận án, luận văn đã đi sâu nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng giữ gìn và phát huy BSVHDT ở các góc độ khác nhau như: DT học, triết học,VH học Từ đó, cung cấp cơ sở khoa học cho việc khẳng định tầm quan trọng và

sự cần thiết phải đề ra những giải pháp giữ gìn, phát huy BSVH các DTTS trong quá trình phát triển hiện nay

Trang 7

Đối với vùng Đông Bắc, các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu thực trạng giữ gìn và phát huy BSVHDT thông qua một sắc thái cụ thể nào đó hoặc nghiên cứu thực trạng giữ gìn và phát huy BSVH của một tộc người ở một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc như Tày, Mông, Dao Đồng thời các tác giả cũng đã đưa ra những giải pháp cho việc giữ gìn và phát huy BSVH của các DT này trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay

1.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra đối với luận án

- Đánh giá tình hình nghiên cứu

Giữ gìn và phát huy BSVH các DTTS nói chung và BSVH các DTTS vùng Đông Bắc nói riêng cũng đã được đề cập đến trong nhiều công trình khoa học, những luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ Tuy nhiên, có công trình thì nghiên cứu việc giữ gìn và phát huy BSVHDT trong mối quan hệ với phát triển kinh tế, các công trình khác thì nghiên cứu việc giữ gìn và phát huy BSVH trong một phạm vi hẹp đó là của một tộc người cụ thể hoặc một sắc thái nào đó trong BSVH của các DTTS ở vùng Đông Bắc nước ta Các công trình nghiên cứu trên đã phân tích thực trạng cũng như xu hướng biến đổi của BSVH các DTTS mà chưa đi vào vấn đề cụ thể là giữ gìn và phát huy cái

gì, giữ gìn và phát huy như thế nào BSVH đó Việc nghiên cứu giữ gìn và phát huy BSVH các DTTS ở vùng Đông Bắc nước ta chưa có công trình nào đề cập một cách trực tiếp, hệ thống, chuyên sâu, nhất là nghiên cứu từ chuyên ngành Triết học

- Những vấn đề đặt ra đối với luận án

Tình hình nghiên cứu trên đã đặt ra cho luận án một số vấn đề cần tiếp tục và giải quyết sau:

Thứ nhất, nghiên cứu lý luận về VH, BSVH, BSVH các DTTS trên cơ sở thực tiễn mới Cụ thể, luận án sẽ phải làm sáng tỏ quan niệm về BSVHDT nói chung, BSVH các DTTS nói riêng; quan niệm về giữ gìn, phát huy BSVH các DTTS nhằm làm cơ sở lý luận cho việc giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Thứ hai, tác giả nghiên cứu những đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội truyền thống góp phần tạo nên BSVH của đồng bào các DTTS vùng Đông Bắc, nghiên cứu sự đa dạng trong BSVH của đồng bào các DTTS thông qua các giá trị VH vật thể và các giá trị VH phi vật thể Từ đó chỉ ra những đặc trưng cơ bản trong BSVH các DTTS vùng Đông Bắc Tác giả cũng nghiên cứu, làm rõ quan niệm về giữ gìn, phát huy và sự thống nhất giữa giữ gìn, phát huy BSVH các DTTS trên cả ba phương diện: chủ thể, nội dung, cách thức giữ gìn và phát huy

Thứ ba, phân tích thực trạng giữ gìn, phát huy BSVH các DTTS vùng Đông Bắc nước ta hiện nay theo hai hướng thành tựu và hạn chế Đánh giá thành tựu và hạn chế tập trung chủ yếu vào các giá trị VH vật thể và các giá trị VH phi vật thể Từ đó,

Trang 8

tác giả chỉ ra nguyên nhân của thực trạng và những vẫn đề đặt ra đối với việc giữ gìn

và phát huy BSVH các DTTS vùng Đông Bắc nước ta

Thứ tư, luận án đưa ra một số quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc giữ gìn và phát huy BSVH các DTTS ở vùng này trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập khu vực và quốc tế

LÝ LUẬN VỀ GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA

CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÙNG ĐÔNG BẮC VIỆT NAM

2.1 Bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số

2.1.1 Văn hóa và bản sắc văn hóa

Qua rất nhiều định nghĩa về VH, khái quát lại khái niệm “văn hóa” được quy về hai cách hiểu chính: theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử thông qua quá trình hoạt động thực tiễn nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định của con người

Theo nghĩa hẹp, VH chỉ một mặt, một lĩnh vực của đời sống xã hội, đó là đời sống tinh thần của xã hội, phân biệt đời sống VH với đời sống vật chất như kinh tế

Mỗi định nghĩa VH đều có tính hợp lý bởi đó là phạm trù rộng lớn mà nhà khoa học khai thác nó trong các góc độ khác nhau nhưng nó giúp người ta hình dung được thế nào là VH, VH gồm những gì Sự khác biệt là do cách tiếp cận, mục tiêu nghiên cứu Nhưng tất cả đều thống nhất trên những vấn đề chung nhất, căn bản nhất được thể hiện ở các đặc trưng sau:

Thứ nhất, VH là đặc trưng riêng có của con người, là sản phẩm do con người sáng

tạo ra trong quá trình lịch sử lâu dài của mình, do đó, VH mang đậm “tính người”

Thứ hai, VH là những gì có giá trị

Trang 9

Thứ ba, VH vừa có tính ổn định bền vững vừa có tính biến đổi, phát triển vì

VH luôn được giữ gìn, kế thừa và sáng tạo

Thứ tư, VH có tính giai cấp, có tính DT và nhân loại

VH như phân tích ở trên là phạm trù rộng lớn, phức tạp, có nhiều cách định nghĩa khác nhau Mỗi định nghĩa đều có lý của nó Trong luận án này, để thuận lợi cho việc nghiên cứu, giải quyết các nhiệm vụ, thực hiện mục đích luận án đề ra, Nghiên cứu sinh lựa chọn cách hiểu VH theo cách chia VH vật thể và VH phi vật thể

VH vật thể là dạng VH biểu hiện dưới dạng vật thể hữu hình mà ta có thể nhận biết được bằng xúc giác Bao gồm các sản phẩm vật chất do con người làm ra nhằm phục vụ nhu cầu vật chất của con người

Theo nghĩa đó, VH vật thể bao gồm: Nhà ở; trang phục; ẩm thực; công cụ lao động, sản xuất, sinh hoạt

VH phi vật thể là dạng VH biểu hiện dưới dạng phi vật thể, vô hình Bao gồm các sản phẩm do con người làm ra thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người

Theo nghĩa này, VH phi vật thể bao gồm: Ngôn ngữ; tôn giáo; phong tục tập quán; lễ hội; nghệ thuật (âm nhạc, hội họa, vũ điệu, văn chương, sân khấu…); tri thức dân gian; lối tư duy, suy nghĩ, hành vi (ứng xử)

Về bản sắc văn hóa

Theo Từ điển Tiếng Việt do viện Ngôn ngữ thuộc Viện khoa học xã hội Việt Nam ấn hành thì bản sắc chỉ “màu sắc, tính chất riêng tạo thành đặc điểm chính” Như vậy, với cách hiểu đó, bản sắc chính là dấu hiệu để phân biệt sự vật này với sự vật khác Thuật ngữ bản sắc thường được gắn với VH

BSVH là hệ thống các giá trị đặc trưng, bản chất của một nền VH được hình thành, tồn tại, phát triển trong lịch sử và được biểu hiện thông qua nhiều sắc thái

VH, là những nét đặc thù, độc đáo, dấu hiệu để nhận biết một nền VH và phân biệt với nền VH khác

Cấu trúc của BSVH gồm các giá trị bản chất, đặc trưng tồn tại ở tầng diện trong cùng, tầng diện sâu nhất của BSVH Sự tồn tại của nó được biểu hiện thông qua thế giới quan và nhân sinh quan Tầng diện bên ngoài đó là các sắc thái VH Tầng diện này thể hiện sự phong phú, đa dạng, sự biến đổi của BSVH trong đời sống xã hội Các sắc thái VH này được thể hiện thông qua các giá trị VH vật thể (nhà ở, trang phục, ẩm thực, tư liệu sinh hoạt, lao động) và VH phi vật thể (ngôn ngữ, phong tục tập quán, lễ hội, tín ngưỡng tôn giáo, nghệ thuật…)

Yếu tố cốt lõi tạo nên BSVH đó là hệ thống các giá trị, mà cụ thể đó là các giá trị VH truyền thống Các giá trị này vừa mang tính đặc trưng, bản chất cho một nền

VH vừa mang tính độc đáo, riêng biệt, đặc thù để phân biệt một nền VH này với một nền VH khác

Trang 10

Tóm lại, trong bất cứ một nền VH nào đều có những giá trị đặc trưng, cốt lõi (gọi là BSVH) được hình thành trong quá trình lịch sử, trải qua thời gian, những giá trị đó vừa thể hiện sự đậm đà bản sắc vừa thể hiện sự tiên tiến, vừa mang đậm tính cách của chủ thể sáng tạo ra nó vừa chứa đựng những giá trị chung của nhân loại BSVH khi gắn với chủ thể của nó (BSVHDT) thường được biểu hiện qua những giá trị VH vật thể (nhà ở; trang phục; ẩm thực; công cụ lao động, sản xuất, sinh hoạt) và

VH phi vật thể (ngôn ngữ; tín ngưỡng, tôn giáo; phong tục tập quán; lễ hội; nghệ thuật (âm nhạc, hội họa, vũ điệu, văn chương, sân khấu…); tri thức dân gian; lối tư duy, suy nghĩ, hành vi (ứng xử))

2.1.2 Những vấn đề cơ bản của bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số

“Dân tộc” ở đây được hiểu theo hai nghĩa chính là DT quốc gia (nation) và tộc người (ethnic) Từ hai cấp độ của khái niệm DT, có thể hiểu VHDT theo hai cấp độ khác nhau Cấp độ thứ nhất, VHDT là VH của DT - quốc gia Cấp độ thứ hai, VHDT

là VH của DT - tộc người

Dưới góc độ nghiên cứu của đề tài, luận án chủ yếu xem xét khái niệm DT, VHDT ở phạm vi tộc người (ethnic) và VH tộc người nhưng luôn được đặt trong mối quan hệ với DT - quốc gia (nation) vì giữa chúng có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ

BSVH các DTTS là hệ thống các giá trị đặc trưng, bản chất, cô đọng nhất, bền vững nhất, tinh túy nhất của DT - tộc người thiểu số cụ thể, được DT sáng tạo ra trong lịch sử, là những nét độc đáo, riêng biệt của mỗi DT, làm cho DT này không thể lẫn với DT khác và góp phần làm phong phú, đa dạng nền VH của cả cộng đồng DT (quốc gia)

2.2 Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc

2.2.1 Bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc

2.2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, dân cư vùng Đông Bắc tạo nên bản sắc văn hóa

* Đặc điểm dân cư, tộc người

Các DTTS ở Đông bắc phân bố xen kẽ lẫn nhau, tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có nơi

có sự phân bố tập trung theo làng, bản Có xã chủ yếu là người Tày, hoặc người Nùng, người H’Mông, người Dao

Một đặc điểm rất rõ nét đó là do hoàn cảnh lịch sử và hoàn cảnh sống nên ở vùng Đông Bắc xuất hiện sự phân bố dân cư theo vùng Cụ thể, vùng thung lũng là địa vực cư trú chủ yếu của người Tày, người Nùng Vùng rẻo giữa và rẻo cao là địa vực cư trú chủ yếu của người H’Mông, người Dao Còn các DT khác thì xen kẽ nhau

Trang 11

cả ở hai vùng Chính đặc điểm này đã tạo nên vùng Đông Bắc với hai vùng VH tiêu biểu đó là VH Tày - Nùng đặc trưng cho VH vùng thung lũng, VH H’Mông - Dao đặc trưng cho VH vùng cao

2.2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội truyền thống

Kinh tế truyền thống của đồng bào các DTTS vùng Đông Bắc là nền kinh tế tự cấp,

tự túc, nguồn sống chính là trồng trọt Vùng thấp trồng lúa nước, vùng cao trồng lúa nương

và ngô Chăn nuôi và nghề thủ công tương đối phát triển nhưng chưa tách thành nghề riêng Với môi trường tự nhiên là rừng núi nên kinh tế hái lượm và săn bắn vẫn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống của đồng bào

Hệ thống công cụ lao động, sản xuất của đồng bào chủ yếu là công cụ thủ công, thô

sơ, giản đơn như công cụ chặt phá gồm có dao, rìu, búa, … chủ yếu để khai phá đất hoang thành ruộng và phát rừng làm nương; công cụ làm đất như cày, bừa, cuốc, mai, gậy chọc lỗ; công cụ thu hoạch như hái (ruộng), hép (nương); công cụ vận chuyển có gùi, đôi sọt cùng với chiếc đòn

Chính môi trường tự nhiên cũng như đặc điểm kinh tế - xã hội trên là cơ sở để nảy sinh, tồn tại và phát triển một nền VH đa dạng giàu bản sắc của đồng bào các DTTS vùng Đông Bắc

2.2.1.3 Những biểu hiện chủ yếu của bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc

* Những biểu hiện của BSVH trong VH vật thể

Các giá trị VH vật thể của đồng bào các DTTS vùng Đông Bắc được sáng tạo bắt nguồn từ cơ sở tồn tại xã hội, đó chính là điều kiện địa lý, môi trường tự nhiên vùng Đông Bắc có những yếu tố đan xen, vừa có núi cao, sông dài, vừa có những thung lũng với những cánh đồng màu mỡ… Tất cả các giá trị VH vật thể được tạo nên

từ đó có sự kết hợp giữa các nguyên vật liệu có sẵn trong thiên nhiên với sự chăm chỉ, cần cù, khéo léo của đôi bàn tay và sự sáng tạo, giàu trí tưởng tượng của khối óc để tạo nên những ngôi nhà với những nét kiến trúc độc đáo, những bộ trang phục với kiểu dáng và những họa tiết hoa văn đặc sắc, những món ăn với cách chế biến tinh xảo và đặc biệt là hệ thống công cụ lao động, sản xuất độc đáo phù hợp với từng điều kiện địa hình khác nhau, thể hiện khả năng ứng phó với môi trường tự nhiên một cách linh hoạt

* Những biểu hiện của BSVH trong VH phi vật thể

VH phi vật thể của các DTTS vùng Đông Bắc được thể hiện thông qua ngôn ngữ, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, lễ hội, tri thức bản địa và nghệ thuật dân gian

Những giá trị sáng tạo đó thể hiện mối quan hệ của các DTTS vùng Đông Bắc với xã hội thông qua các phong tục tập quán, lễ hội; với nhân sinh quan thông qua các nghi lễ vòng đời người; với vũ trụ và thế giới tự nhiên đã được siêu nhiên hóa thông

Trang 12

qua các loại hình tín ngưỡng tôn giáo; với lý tưởng thẩm mỹ thông qua các sáng tạo VH nghệ thuật

2.2.1.4 Những đặc trưng cơ bản của bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc

Thứ nhất, VH các DTTS vùng Đông Bắc thể hiện thế giới quan thần bí, sơ khai, tín ngưỡng vạn vật hữu linh ăn sâu, bám rễ vào mọi khía cạnh của đời sống

Thứ hai, VH các DTTS vùng Đông Bắc luôn đề cao đời sống tinh thần, sống đoàn kết, hài hòa, tình nghĩa

Thứ ba, VH các DTTS vùng Đông Bắc đề cao đức tính cần cù, thông minh, sáng tạo và khả năng thích ứng với môi trường tự nhiên khắc nghiệt

Thứ tư, VH các DTTS vùng Đông Bắc thể hiện cách tư duy tự nhiên, chân thật, phản ánh một lối sống giản dị, mộc mạc

2.2.2 Thực chất của việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc

2.2.2.1 Lý luận về giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc

Theo Từ điển Tiếng Việt thì giữ gìn là “giữ cho được nguyên vẹn, không bị mất

mát, tổn hại” Song song với giữ gìn là phải chống lại sự tác động có hại từ các yếu tố bên ngoài Tuy nhiên, đứng trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì giữ gìn được thực hiện cả ở hai trạng thái, đó là giữ gìn nguyên gốc và giữ gìn có chọn lọc, bổ sung và phát triển

Phát huy đúng nghĩa của nó là làm cho những cái vốn có trong một sự vật, hiện

tượng được sống dậy, được vận động, được phong phú thêm, mạnh thêm; các yếu tố vốn có trong sự vật, hiện tượng, quá trình tác động lẫn nhau và lan tỏa sang sự vật, hiện tượng, quá trình khác, làm cho chúng sống động, mạnh mẽ hơn Theo nghĩa tích cực thì, phát huy là “làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” Thực chất của phát huy là thúc đẩy cái hay, cái tốt cho nảy nở nhiều hơn trở thành nền tảng, động lực của quá trình phát triển

Như vậy, giữ gìn và phát huy BSVH các DTTS là hai mặt thống nhất của quá trình vận động Giữ gìn luôn là tiền đề, điều kiện để phát huy Phát huy là hình thức tốt nhất để giữ gìn và nâng chất lượng của giữ gìn từ giữ cho nguyên vẹn thành giữ cho nảy nở, phát triển

Giữ gìn và phát huy BSVH các DTTS là một quá trình thống nhất và biện chứng Không thể giữ gìn để phát huy, mà giữ gìn và phát huy là công việc song song, đồng thời Trong luận án, việc giữ gìn và phát huy BSVH các DTTS vùng Đông Bắc được tiến hành song song, đồng thời, đó là khơi dậy, huy động tất cả các

Ngày đăng: 11/12/2021, 09:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm