Luận văn tập trung vào việc tập hợp tư liệu đã điều tra, khai quật khảo cổ học ở ba vòng thành: Thành và hào thành Trung, Thành Ngoại, Ụ hỏa hồi và Thành Nội từ năm 2007 đến năm 2014. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_
ĐÀO THỊ MAI HUYÊN
BA VÒNG THÀNH CỔ LOA QUA TƯ LIỆU KHAI QUẬT KHẢO CỔ HỌC
TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_
ĐÀO THỊ MAI HUYÊN
BA VÒNG THÀNH CỔ LOA QUA TƯ LIỆU KHAI QUẬT KHẢO CỔ HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu không ngừng của bản thân, sự động viên giúp đỡ của quý thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Trịnh Hoàng Hiệp, người đã hướng dẫn và tạo điều kiện cho tôi về mọi mặt trong quá trình làm luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô trong bộ môn Khảo cổ học, khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, đồng nghiệp Ban Quản lý Khu di tích Cổ Loa - Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và làm việc
Tuy đã cố gắng nhưng luận văn vẫn còn nhiều hạn chế, thiếu sót, vì vậy tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung của các nhà nghiên cứu, các thầy cô và những người quan tâm tới đề tài luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Đào Thị Mai Huyên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình tổng hợp và nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, khách quan, khoa học và được trích nguồn rõ ràng Nếu không đúng sự thật, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Đào Thị Mai Huyên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU VỀ DI TÍCH CỔ LOA 6
1.1 Vị trí địa lý, địa hình và môi trường cảnh quan 6
1.1.1 Vị trí địa lý 6
1.1.2 Địa hình và môi trường cảnh quan 8
1.2 Tổng quan nguồn tư liệu nghiên cứu về Cổ Loa và ba vòng Thành Cổ Loa 10
1.2.1 Thư tịch cổ Việt Nam 10
1.2.2 Thư tịch cổ Trung Quốc 12
1.2.3 Tư liệu dân gian 13
1.2.4 Tư liệu khảo cổ học 16
CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỚI VỀ KHẢO CỔ HỌC BA VÒNG THÀNH CỔ LOA TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2014 24
2.1 Một số khái niệm 24
2.2 Cấu tạo địa tầng và các giai đoạn đắp thành, đặc trưng di tích 25
2.2.1 Thành Trung (2007 - 2008) 25
2.2.2 Thành Ngoại (2012) 29
2.2.3 Ụ Hỏa Hồi và Thành Nội (2014) 33
2.3 Di vật 38
2.3.1 Đồ đá 38
2.3.2 Đồ gốm văn hóa Đông Sơn 40
2.3.3 Ngói Cổ Loa 40
2.3.4 Gốm tráng men 44
2.3.5 Đồ sành 49
2.4 Kỹ thuật sản xuất 54
Trang 6CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, VĂN HÓA, QUÂN SỰ CỦA
THÀNH CỔ LOA 61
3.1 Tính chất Thành Cổ Loa 61
3.2 Niên đại và kỹ thuật đắp Thành Cổ Loa 69
3.2.1 Niên đại 69
3.2.2 Kỹ thuật đắp Thành Cổ Loa 72
3.3 So sánh Thành Cổ Loa với các công trình phòng ngự ở Việt Nam 74
3.3.1 Thành Cổ Loa với di tích đất đắp tròn Bình Phước 74
3.3.2 Thành Cổ Loa với thành Luy Lâu (Bắc Ninh) 79
3.4 Bảo tồn và phát huy giá trị di tích Thành Cổ Loa 82
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 7Bản vẽ Bản dập
ĐHKHXH&NV : Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Trang 8DANH MỤC CÁC QUYẾT ĐỊNH BẢO TỒN
VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH, BẢNG THỐNG KÊ,
SƠ ĐỒ, BẢN VẼ, BẢN DẬP, BẢN ẢNH
CÁC QUYẾT ĐỊNH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH
I Các văn bản pháp quy của Trung ương
II Các văn bản của UBND Thành phố Hà Nội
III Các văn bản của Quốc tế
Bảng 2.3 Các giai đoạn đắp Thành Trung năm 2007 - 2008
Bảng 2.4 Thống kê gốm Đông Sơn phát hiện được ở hố khai quật H1 Thành Trung 2007 - 2008
Bảng 2.5 Đồ gốm men ở hào Thành Trung (Hố H2) năm 2007 - 2008
Bảng 2.6 Hiện vật đá ở hố H1 Thành Trung năm 2007 - 2008
Bảng 2.7 Hiện vật đá ở hào Thành Trung (Hố H2) năm 2007 - 2008
Bảng 2.8 Thống kê ngói âm ở hố khai quật H1 và H2 địa điểm Thành Trung năm 2007 – 2008
Bảng 2.9 Bảng thống kê phân loại miệng sành mịn tại Thành Trung năm
2007 - 2008
Trang 9Bảng 2.11 Đồ gốm tráng men ở địa điểm Thành Ngoại năm 2012
Bảng 2.12 Đồ sành địa điểm Thành Ngoại năm 2012
Bảng 2.13 Các loại hình hoa văn ngói địa điểm Ụ hỏa hồi năm 2014
Bảng 2.14 Các loại hình hoa văn ngói địa điểm Thành Nội năm 2014
Bảng 2.15 Tổng loại hình hoa văn ngói địa điểm Ụ hoả hồi và Thành Nội năm 2014
Bảng 3.1 Niên đại C14 của mẫu than trong ngói Cổ Loa tại Thành Trung Bảng 3.2 Bảng 02 Vị trí các mẫu than và niên đại C14 tại Thành Trung
Bảng 3.3 Bảng 04 Niên đại C14 các mẫu than phát hiện cùng với gốm Đông Sơn tại Thành Trung
Bảng 3.4 Niên đại AMSmẫu than khu vực lẫn gốm Đông Sơn trong ụ phòng
vệ và hào lần đắp thứ nhất (giai đoạn 1) địa điểm Thành Trung năm 2007 -
Sơ đồ 02 Toàn cảnh Khu di tích Thành Cổ Loa và vùng phụ cận
Sơ đồ 03 Khu di tích Cổ Loa năm 1904
Sơ đồ 04 Khảo cổ học khu vực Thành Cổ Loa
Sơ đồ 05 Các di tích khảo cổ học tiền – sơ sử ở Cổ Loa và vùng phụ cận
Sơ đồ 06 Vị trí các hố khai quật ba vòng Thành Cổ Loa
Sơ đồ 07 Vị trí hố khai quật Thành Trung năm 2007 – 2008
Sơ đồ 08 Vị trí hố khai quật H1, H2 và H3 địa điểm Ụ hỏa hồi phía Đông Bắc Thành Nội năm 2014
Trang 10Sơ đồ 09 Vị trí hố khai quật H4 địa điểm Thành Nội sau đền Thượng năm
2014
Sơ đồ 10 Bình đồ thành Luy Lâu (Thuận Thành – Bắc Ninh)
Sơ đồ 11 Phối cảnh tổng thể quy hoạch di tích Thành Cổ Loa
Sơ đồ 12 Mặt bằng quy hoạch khu vực lõi và khu vực trung tâm
Sơ đồ 13 Các điểm khảo sát bằng phương pháp địa vật lý năm 2016 – 2017
Trang 11Bản vẽ 17 Mặt bằng lớp 17
Bản vẽ 18 Mặt bằng lớp 18
Bản vẽ 19 Mặt bằng lớp 19 - 20
Bản vẽ 20 Mặt bằng lớp 25 - 27
Bản vẽ 21 Mặt cắt lớp đất vách Đông Thành Ngoại (H1) năm 2012
Bản vẽ 22 Mặt cắt lớp đất vách Tây Thành Ngoại (H1) năm 2012
Từ Bản vẽ 23 - 40: Tại địa điểm Thành Nội và Ụ hoả hồi năm 2014
Bản vẽ 23 Mặt bằng lớp 1 hố H1 - Ụ hỏa hồi phía Đông Bắc Thành Nội (14.TNO.H1.L1)
Bản vẽ 24 Mặt bằng lớp 2 hố H1 - Ụ hỏa hồi phía Đông Bắc Thành Nội (14.TNO.H1.L2)
Bản vẽ 25 Mặt bằng lớp 4 hố H1 - Ụ hỏa hồi phía Đông Bắc Thành Nội (14.TNO.H1.L4)
Bản vẽ 26 Mặt bằng lớp 5 hố H1 - Ụ hỏa hồi phía Đông Bắc Thành Nội (14.TNO.H1.L5)
Bản vẽ 27 Mặt bằng lớp 6 hố H1 - Ụ hỏa hồi phía Đông Bắc Thành Nội (14.TNO.H1.L6)
Bản vẽ 28 Mặt bằng lớp 11 hố H1 - Ụ hỏa hồi phía Đông Bắc Thành Nội (14.TNO.H1.L11)
Bản vẽ 29 Mặt bằng lớp 19 hố H1 - Ụ hỏa hồi phía Đông Bắc Thành Nội (14.TNO.H1.L19)
Bản vẽ 30 Mặt bằng lớp 23 hố H1 - Ụ hỏa hồi phía Đông Bắc Thành Nội (14.TNO.H1.L23)
Bản vẽ 31 Mặt bằng lớp 26 hố H1 - Ụ hỏa hồi phía Đông Bắc Thành Nội (14.TNO.H1.L26)
Bản vẽ 32 Mặt bằng lớp 27 - 28 hố H1 - Ụ hỏa hồi phía Đông Bắc Thành Nội (14.TNO.H1.L27-28)
Trang 12Bản vẽ 33 Mặt cắt địa tầng vách Bắc hố H1 địa điểm Ụ hỏa hồi phía Đông Bắc Thành Nội (14.TNO.H1) Tỷ lệ: 1/20
Bản vẽ 34 Mặt cắt địa tầng vách Đông hố H1 địa điểm Ụ hỏa hồi phía Đông Bắc Thành Nội (14.TNO.H1) Tỷ lệ: 1/20
Bản vẽ 35 Mặt cắt địa tầng vách Bắc hố H2 địa điểm Ụ hỏa hồi phía Đông Bắc Thành Nội (14.TNO.H2) Tỷ lệ: 1/20
Bản vẽ 36 Mặt cắt địa tầng vách Tây hố H2 địa điểm Ụ hỏa hồi phía Đông Bắc Thành Nội (14.TNO.H2) Tỷ lệ: 1/20
Bản vẽ 37 Mặt cắt địa tầng vách Bắc hố H3 địa điểm Ụ hỏa hồi phía Đông Bắc Thành Nội (14.TNO.H3) Tỷ lệ: 1/20
Bản vẽ 38 Mặt cắt địa tầng vách Tây hố H3 địa điểm Ụ hỏa hồi phía Đông Bắc Thành Nội (14.TNO.H3) Tỷ lệ: 1/20
Bản vẽ 39 Mặt cắt địa tầng vách Bắc hố H4 địa điểm Thành Nội (14.TNO.H4) Tỷ lệ: 1/20
Bản vẽ 40 Mặt cắt địa tầng vách Tây hố H4 địa điểm Thành Nội (14.TNO.H4) Tỷ lệ: 1/20
Bản vẽ 41 Đế bát thời Lê Trung Hưng thế kỷ XVII – XVIII
Bản vẽ 42 Đế bát sứ và sành thời Lê Trung Hưng thế kỷ XVII – XVIII
Bản vẽ 43 Miệng vò sành thời Lê Trung Hưng thế kỷ XVII – XVIII
Bản vẽ 44 Đáy nậm rượu, thân vò sành thời Lê Trung Hưng thế kỷ XVII – XVIII
BẢN DẬP
Bản dập 1 - 4 Hoa văn trên ngói âm dương Thành Ngoại năm 2012
Bản dập 5 Hoa văn trên ngói âm dương loại 1 - địa điểm Thành Nội và Ụ hỏa hồi phía Đông Bắc năm 2014
Bản dập 6 - 9 Hoa văn trên ngói âm dương loại 2 - địa điểm Thành Nội và Ụ hỏa hồi phía Đông Bắc năm 2014
Trang 13Bản dập 10 Hoa văn trên ngói âm dương loại 2, loại 3 - địa điểm Thành Nội và
Ụ hỏa hồi phía Đông Bắc năm 2014
BẢN ẢNH
Bản ảnh 01 Một đoạn thành hào Cổ Loa (góc Tây Nam đền Thượng)
Bản ảnh 02 Toàn cảnh hố khai quật Thành Trung và hào năm 2007 - 2008
Bản ảnh 03 Di tích luỹ phòng thủ (vọng gác) Thành Trung năm 2007 - 2008 Bản ảnh 04 Mặt cắt vách Tây - Thành Trung năm 2007 - 2008
Bản ảnh 05 Lớp đá lẫn ngói Cổ Loa ở chân thành phía Nam (đắp thêm lần thứ nhất) Thành Ngoại năm 2012
Bản ảnh 06 Mặt cắt vách Đông Thành Ngoại năm 2012
Bản ảnh 07 Mặt cắt và mặt bằng hố khai quật Ụ hỏa hồi Thành Nội 2014
Bản ảnh 08 Toàn cảnh hố khai quật thành Nội và Ụ hỏa hồi năm 2014
Bản ảnh 09 Khu lò đúc mũi tên đồng đền Thượng
Bản ảnh 10 Khai quật ụ hỏa hồi Thành Nội năm 2014
Bản ảnh 11 Vách Tây Thành Ngoại năm 2012
Bản ảnh 12 Cụm đá và ngói Cổ Loa phía Nam hố khai quật Thành Ngoại năm 2012
Bản ảnh 13 Thành lũy giai đoạn Đông Sơn (muộn) nằm dưới Thành Trung hiện nay và các lớp đắp Thành Trung khai quật năm 2007 - 2008
Bản ảnh 14 Hiện tượng dư chấn/động đất? trên bề mặt nền đất của Thành Ngoại năm 2012
Bản ảnh 15 Lớp đắp thành 2 đắp mở rộng sang hai bên và đắp trùm lên lớp 3 Thành Trung năm 2007 - 2008
Bản ảnh 16 Hào Thành Trung năm 2007 - 2008
Bản ảnh 17 Địa tầng hào Thành Trung năm 2007 - 2008
Bản ảnh 18 Di tích luỹ phòng thủ (vọng gác) Thành Trung năm 2007 - 2008
Trang 14Bản ảnh 19 Di tích bếp lửa trong nền vọng gác Thành Trung năm 2007 -
Bản ảnh 27 Gốm Đông Sơn ở hố khai quật H1 Thành Trung năm 2007 -
Bản ảnh 35 Mang khuôn đúc mũi tên đồng Cổ Loa (thế kỷ III - II TCN)
Bản ảnh 36 Khuôn đúc mũi lao cánh én (thế kỷ III - II TCN)
Bản ảnh 37 Đầu ngói ống Cổ Loa (thế kỷ III - II TCN)
Bản ảnh 38 Lẫy nỏ và mũi tên đồng Cổ Loa (thế kỷ III - II TCN)
Bản ảnh 39 Lưỡi cày đồng Cổ Loa (thế kỷ III - II TCN)
Bản ảnh 40 Lưỡi cày đồng Cổ Loa (thế kỷ III - II TCN)
Bản ảnh 41 Trống đồng Cổ Loa (thế kỷ III - II TCN)
Bản ảnh 42 Đá xuất hiện cùng ngói gốm Cổ Loa tại Thành Trung năm 2007 -
2008
Trang 15Bản ảnh 43 Mũi tên đá (phác vật?)
Bản ảnh 44 Miệng sành L1K1 – thế kỷ XIX - XX
Bản ảnh 45 Miệng sành L1K2 – thế kỷ XV - XVI
Bản ảnh 46 Miệng sành L1K3 - thế kỷ XVIII - XIX
Bản ảnh 47 Miệng sành L1K4 – thế kỷ XIII - XIV
Bản ảnh 48 Miệng sành L1K5 – thế kỷ XV - XVI
Bản ảnh 49, 50 Miệng sành L1K6 – thế kỷ XIX - XX
Bản ảnh 51 Miệng sành L1K8 – thế kỷ XV - XVI
Bản ảnh 52 Miệng sành L1K9 – thế kỷ XIX - XX
Bản ảnh 53 Miệng sành L2K1 – thế kỷ XVII - XVIII
Bản ảnh 54 Miệng sành L2K2 – thế kỷ XVII - XVIII
Bản ảnh 55, 56 Miệng sành L3K1 – thế kỷ XV - XVI
Bản ảnh 57 Miệng sành L3K2 – thế kỷ XV - XVI
Bản ảnh 58 Miệng sành L3K3 – thế kỷ XV - XVI
Bản ảnh 59 Miệng sành L3K4 – thế kỷ XVII - XVIII
Bản ảnh 60 Miệng sành L3K5- thế kỷ XVII - XVIII
Bản ảnh 61 Ngói âm loại 1 tại Thành Trung năm 2007 - 2008 Bản ảnh 62 Ngói âm loại 2 tại Thành Trung năm 2007 - 2008 Bản ảnh 63 Ngói âm loại 4 tại Thành Trung năm 2007 - 2008 Bản ảnh 64, 65 Ngói dương tại Thành Trung năm 2007 - 2008
Trang 16MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thành Cổ Loa là thành tố quan trọng gắn liền với di tích Quốc gia đặc biệt - di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và khảo cổ học Cổ Loa (xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội) Nghiên cứu lịch sử Cổ Loa không thể không nghiên cứu Thành Cổ Loa và ngược lại, nghiên cứu Thành Cổ Loa không thể không dựa vào kết quả nghiên cứu lịch sử khu di tích Cổ Loa Phạm vi của khu di tích Cổ Loa được hiểu gồm những nơi có lũy hào Cổ Loa Trên thực tế, bao gồm chủ yếu diện tích xã Cổ Loa và phía Đông Bắc tới xã Dục Tú, Việt Hùng, phía Tây, Tây Bắc đến xã Uy Nỗ và phía Nam đến xã Đông Hội
Thành Cổ Loa đã được nhiều bộ sử cổ Trung Quốc và Việt Nam ghi chép Về cơ bản, các tài liệu trên đều cho rằng vào thế kỷ III - II TCN, sau cuộc kháng chiến chống Tần thắng lợi vào năm 208 TCN An Dương Vương
đã thay thế Hùng Vương và chuyển từ Việt Trì về Cổ Loa lập nước Âu Lạc, sau đó định đô, đắp thành kiên cố phòng vệ và xây dựng đất nước Nước Âu Lạc tồn tại trong vòng 30 năm, từ 208 TCN đến năm Cao Hậu mất (179 TCN), Triệu Đà nhân cơ hội phát quân đánh chiếm Âu Lạc Từ đó, Âu Lạc bị nhà Triệu thống trị Tuy nhiên, trong các bộ cổ sử đó nhiều sự kiện không thống nhất về địa điểm, nội dung, thời gian mở đầu và kết thúc, nên rất khó tra cứu, đối sánh để tìm ra cái chung thống nhất
Thành Cổ Loa là kinh đô của nhà nước Âu Lạc gắn liền với truyền thuyết An Dương Vương, Thần Kim Quy, Mỵ Châu - Trọng Thủy Thành được các nhà khoa học đánh giá là thành cổ nhất với cấu trúc thành ốc bao gồm ba vòng thành có làng mạc, thôn xóm, dân cư sinh sống bên trong Bên cạnh đó, Cổ Loa còn là một trong bốn địa điểm được Nhà nước xếp hạng A1,
là nhóm di tích có tầm quan trọng hàng đầu của lịch sử, văn hóa Việt Nam
Trang 17Năm 938, sau khi đánh tan quân xâm lược Nam Hán và lên ngôi vua, Ngô Quyền một lần nữa chọn Cổ Loa làm Kinh đô để biểu lộ ý chí kế thừa truyền thống độc lập, tự cường của nước Âu Lạc trước kia
Thành Cổ Loa được An Dương Vương xây dựng với quy mô lớn, là minh chứng về trình độ kỹ thuật quân sự cao của nền văn hóa Việt cổ, với
sự phát triển của nông nghiệp lúa nước và sự hình thành các vùng dân cư sống tập trung ở đồng bằng Đó cũng là nơi hội tụ nhiều ngành nghề thủ công, bên cạnh thành đã có thị Việc xây Thành Cổ Loa không những gắn với xu thế phát triển của đất nước mà còn gắn với yêu cầu giữ nước, một yêu cầu luôn liên quan chặt chẽ với việc dựng nước, đó là sự kết hợp của quân thành với thị thành và kinh thành Nằm sâu trong lòng đất Cổ Loa, là khối lượng khổng lồ các hiện vật, bằng chứng của một quá trình phát triển liên tục của dân tộc ta thủa sơ khai, qua các thời kỳ đồ đá, đồ đồng và đồ sắt mà đỉnh cao là văn hóa Đông Sơn - nền văn minh sông Hồng thời tiền
sử của dân tộc Việt Nam
Với những giá trị về văn hóa, lịch sử tiêu biểu đó, năm 1962, Thành Cổ Loa đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia Ngày 27/9/2012 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 1419/QĐ-TTg xếp hạng Khu di tích Thành Cổ Loa là di tích Quốc gia đặc biệt
Nghiên cứu kỹ thuật và các giai đoạn đắp ba vòng Thành Cổ Loa sẽ cho chúng ta một cái nhìn toàn diện về chủ nhân, niên đại của tòa thành, làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa của dân tộc Bên cạnh đó, việc nghiên cứu kỹ thuật đắp Thành Cổ Loa cũng như các giai đoạn đắp thành còn cung cấp tư liệu để phục vụ cho việc phục dựng, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị thành Cổ Loa, phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước theo Quyết định số 1004/QĐ-TTg ngày 03/7/2015 về việc Phê duyệt tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích thành Cổ Loa (tỷ lệ 1/2000)
Trang 18Với những giá trị trên của Thành Cổ Loa, đồng thời cùng với sự giúp
đỡ của TS Trịnh Hoàng Hiệp, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Ba vòng Thành Cổ
Loa qua tư liệu khai quật khảo cổ học từ năm 2007 đến năm 2014” làm
luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Khảo cổ học của mình
Luận văn tập trung vào việc tập hợp tư liệu đã điều tra, khai quật khảo cổ học ở ba vòng thành: Thành và hào thành Trung, Thành Ngoại, Ụ hỏa hồi và Thành Nội từ năm 2007 đến năm 2014 Những nội dung chính sẽ được luận văn đi sâu giải quyết đó là:
- Kỹ thuật đắp thành: Kỹ thuật đắp thành Ngoại, thành Trung, thành Nội, Ụ hỏa hồi Xác định các lớp đất đắp thành thời An Dương Vương - cách đắp thành: Đào hào lấy đất đắp thành - kỹ thuật gia cố lũy thành: Đầm nện, gia cố vật liệu như cuội, sỏi, đá, ngói vỡ
- Về niên đại: Xác định niên đại các lớp đắp thành, gia cố thành ở các thời kỳ khác nhau trong lịch sử
Từ những nội dung trên luận văn sẽ tạo thêm một nguồn tư liệu phong phú, chân xác cho việc nghiên cứu sâu hơn diện mạo và đặc trưng của di tích Thành Cổ Loa Góp phần huy giá trị lịch sử - văn hóa di tích Thành Cổ Loa trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Trang 193 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Kỹ thuật, giai đoạn đắp cùng các di tích, di vật
khảo cổ học ở di tích Thành Cổ Loa được phát hiện từ năm 2007 đến năm 2014
- Phạm vi: Về không gian, tập trung tìm hiểu di tích Thành Cổ Loa thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội Về thời gian khoảng thế kỷ III -
II trước Công nguyên đến khoảng thế kỷ XVIII - XIX
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khảo cổ học: Thống kê, phân loại hình học, mô tả, đo vẽ, chụp ảnh di tích, di vật điển hình, phân tích
so sánh di tích, di vật khảo cổ học, phương pháp phân tích địa tầng
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu đa ngành, liên ngành như: Sử học, dân tộc học, địa lý học, cổ sinh học, phương pháp định niên đại C14, AMS, nhiệt huỳnh quang, quang phổ…
4.2 Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu được sử dụng trong luận văn được tập hợp từ nhiều nguồn khác nhau Quan trọng nhất là báo cáo khai quật ba vòng Thành Cổ Loa trong giới hạn thời gian của đề tài Bên cạnh đó, luận văn kết hợp sử dụng những tư liệu khác như văn bia, thư tịch cổ và kết quả của các nhà nghiên cứu đi trước công bố trên các sách và tạp chí chuyên ngành
Một nguồn tài liệu tham khảo quan trọng khác đó là tài liệu nước ngoài nghiên cứu về lịch sử, khảo cổ học khu vực Cổ Loa
5 Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu, phân tích kỹ thuật đắp, giai đoạn đắp các vòng Thành Cổ Loa qua kết quả khai quật từ năm 2007 đến năm 2014 cho thấy được đặc trưng, tính chất, niên đại và diện mạo của Thành Cổ Loa, cung cấp thêm những tư liệu mới để khẳng định Thành Cổ Loa là minh chứng cho công sức lao động to lớn
Trang 20và tài năng sáng tạo của người Việt cổ thời An Dương Vương - Thành Cổ Loa
là một công trình phòng vệ quân sự đã phát huy tác dụng tốt trong đấu tranh chống ngoại xâm - Thành Cổ Loa là kinh đô, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Âu Lạc, minh chứng bước phát triển mới của nhà nước Âu Lạc, quyền lực xã hội và phân hóa xã hội trong tiến trình lịch sử Việt Nam…
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ cung cấp và góp thêm tư liệu khẳng định Thành Cổ Loa là một di tích lịch sử quan trọng, độc đáo chứng minh cho tính xác thực của việc thành lập nhà nước Âu Lạc đứng đầu là An Dương Vương Tòa thành vừa là một công trình quân sự kiên cố, vừa là một kinh đô được xây dựng công phu, với quy mô đồ sộ phản ánh tài năng lao động sáng tạo của người Việt cổ Trong suốt thời gian trị vì của An Dương Vương, Thành Cổ Loa đã phát huy tốt vai trò trung tâm của cả nước và đã phòng vệ thành công trước các đợt tấn công của quân xâm lược phương Bắc
Từ những kết quả nghiên cứu đó, luận văn có một vài kiến nghị về bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử - văn hóa phục vụ cho nghiên cứu và phát triển du lịch trong tương lai
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1 Tổng quan tư liệu về di tích Cổ Loa (20 trang)
Chương 2 Kết quả nghiên cứu mới về khảo cổ học ba vòng Thành Cổ
Loa từ năm 2007 đến năm 2014 (40 trang)
Chương 3 Giá trị lịch sử, văn hóa, quân sự của Thành Cổ Loa (22 trang)
Ngoài ra, trong luận văn còn các mục: Tài liệu tham khảo (118 tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt, 2 tài liệu Tiếng Anh) và Phụ lục (95 trang phụ lục bao gồm: Quyết định bảo tồn và phát huy giá trị di tích Thành Cổ Loa, Bảng thống kê, Sơ đồ, Bản vẽ, Bản dập, Bản ảnh) Phần đầu của luận văn có Lời cam đoan, Mục lục, Danh mục các chữ viết tắt và Danh mục phụ lục
Trang 21CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU VỀ DI TÍCH CỔ LOA
1.1 Vị trí địa lý, địa hình và môi trường cảnh quan
1.1.1 Vị trí địa lý
Thành Cổ Loa nằm trong quần thể Khu di tích Quốc gia đặc biệt Cổ Loa (xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội), một phần thuộc các xã Việt Hùng, Dục Tú, Uy Nỗ; tọa độ 21006'47" vĩ Bắc, 1050 52'24" kinh Đông, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 17km về phía Đông Bắc, được giới hạn:
- Phía Đông giáp 2 xã Dục Tú và Việt Hùng;
- Phía Tây giáp 2 xã Vĩnh Ngọc và Xuân Canh;
- Phía Nam giáp 2 xã Đông Hội và Mai Lâm;
- Phía Bắc giáp xã Uy Nỗ
Cổ Loa nằm trong vùng đất cổ thuộc cái nôi của nền văn minh Việt cổ
có quá trình hình thành từ rất sớm, vào cuối thời đại đá cũ, cách ngày nay khoảng từ trên 20.000 năm đến 11.000 năm đã có dấu tích con người sinh sống, các nhà khảo cổ học đã phát hiện tại gò Thư Cưu thuộc xóm Cưu một
số viên đá cuội có dấu vết ghè đẽo gia công thuộc văn hóa Sơn Vi, từ khoảng một vạn năm đến khoảng 4.000 năm cách ngày nay Cổ Loa hoàn toàn vắng bóng người, đến hậu kỳ đá mới và giai đoạn kim khí tương đương với các giai đoạn văn hoá Phùng nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn, Cổ Loa khi ấy
là bãi bồi của sông Hồng với những gò đất cao là đầm lầy, cây cối chằng chịt, chim thú nhiều Dấu tích về những người đầu tiên khai phá khu vực Cổ Loa vào nửa đầu thiên niên kỷ II TCN là di chỉ Đồng Vông, Xuân Kiều, Tiên Hội, Bãi Mèn, Đình Tràng, Dục Tú, Đường Mây Trải qua nhiều lần thay đổi tên gọi và địa bàn hành chính, xã Cổ Loa hiện nay đã tồn tại như một làng xóm định cư bên dòng sông Hoàng Giang từ mấy ngàn năm trước, Cổ Loa xưa
Trang 22mang tên “làng Chạ” “Kẻ Chủ”, “Chạ Chủ” hay “Khả Lũ” Thời Hùng Vương
“Chạ Chủ” thuộc bộ Việt Thường - một trong 15 bộ của nước Văn Lang Thời
An Dương Vương là kinh đô, trung tâm kinh tế, chính trị của nhà nước Âu Lạc (208 TCN) Đến thời kỳ An Dương Vương (năm 208 TCN đến năm 179 TCN, tương đương với thời kỳ văn hoá Đông Sơn) Cổ Loa là vùng đất cao của đồng bằng châu thổ sông Hồng, được bao bọc bởi Hoàng Giang là dòng chảy thông với sông Hồng và sông Cầu Nằm ở vùng đồng bằng trù phú và đông đúc dân cư, giao thông thuỷ bộ đều thuận lợi, lại có địa hình phù hợp cho việc xây thành, đắp lũy, phòng nguy cơ xâm lược của Triệu Đà
Năm 938, sau khi đánh tan quân xâm lược Nam Hán và lên ngôi vua, Ngô Quyền một lần nữa chọn Cổ Loa làm kinh đô để biểu lộ ý chí kế thừa truyền thống độc lập, tự cường của nước Âu Lạc trước kia Triều đại nhà Ngô duy trì được 29 năm (938 - 967)
Đến thời Lý rồi thời Lê, Cổ Loa có tên là trại Phong Khê, trại Kim Lũ, sau lại đổi là trại Cổ Loa
Đến đầu thế kỷ XIX, các làng xã Cổ Loa thuộc về 2 tổng: Tổng Cổ Loa, tổng Xuân Canh, gồm có Cổ Loa, Cầu Cả, Mạch Tràng, Sằn Giã, Đài Bi, Thư Cưu, Văn Thượng, Vạn Lộc
Cổ Loa hiện nay là một trong 24 xã, thị trấn thuộc huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Là địa danh một xã, nhưng Cổ Loa cũng là một địa danh
lịch sử nổi tiếng: Khu di tích Cổ Loa Làng Cổ Loa ngày nay là hợp nhất của
15 thôn (xóm), làng cổ, có tên gọi như sau: Thư Cưu,Cầu Cả, Sằn Giã, Mạch Tràng, Thượng – Cưu – Bãi (Ngõ Thượng), thôn Chùa (Hậu Miếu), Nhồi trên (Viên Lôi Thượng), Nhồi dưới (Viên Lôi Hạ), thôn Chợ (Ngõ Thị), thôn Vang (Đa Bang), thôn Gà (Quán Kê), thôn Hương (Hương Giai), thôn Dõng trên (Dõng Thượng), thôn Dõng dưới (Dõng Hạ), thôn Mít (Cự Nê), Lan Trì
Trang 231.1.2 Địa hình và môi trường cảnh quan
Cổ Loa nằm phần “Thượng đỉnh”, trên trục chính của tam giác châu sông Hồng (cách đỉnh Việt Trì khoảng 35km theo đường chim bay, cách biển 65km) Đây là vùng chuyển tiếp từ trung du xuống đồng bằng, là khu vực đầu tiên được bồi đắp khi sông Hồng tiếp nhận các phụ lưu lớn của nó là sông Lô, sông Đà Theo các nhà địa lý, tam giác châu sông Hồng chia làm ba vùng: Vùng cao, vùng giữa và vùng thấp Cổ Loa nằm trong vùng đất cao phía Tây Bắc của tam giác này Cốt đất của Cổ Loa là 13m (trong khi của nội thành Hà Nội là 9m) Tại tất cả các làng trong xã đều có những “gờ” hay doi đất cao từ
13 – 15m (ở Tó) chạy dài, bên cạnh những dải đất thấp, chiều cao là 5m (ở Lộc Hà), nước thường tụ lại giữa các giải đất cao - thấp này, nên tạo thành các đầm hồ tương đối rộng Những vùng trũng hình móng ngựa là kết quả của những lần đổi dòng của Hoàng Giang
Mặc dù nằm giữa vùng đất cao của tam giác châu sông Hồng, nhưng Cổ Loa rất thuận lợi về đường thủy tự nhiên Xã nằm giữa sông Cà Lồ (về phía Bắc)
và sông Đuống Phía Đông và phía Bắc của xã được ngăn chặn bởi một vùng đầm lầy vực sâu tự nhiên, xa xưa là những dải rừng hoang) Phía Nam có sông Thiếp hay còn gọi là sông Hoàng Giang bao bọc, thuở xa xưa là một nhánh lớn của sông Hồng, chảy qua năm huyện của vùng trung du và châu thổ (Yên Lãng, Yên Phong,Đông Ngàn, Tiên Du và Vũ Giang) nên còn gọi là Ngũ Huyện Khê đổ nước vào sông Cầu ở vùng Quả Cảm - Thổ Hà (giáp ranh giữa huyện Yên Phong của tỉnh Bắc Ninh và huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang) Như vậy, sông Ngũ Huyện Khê nối Cổ Loa với vùng trung du và đồng bằng lân cận [9, tr.21-22]
Tại Cổ Loa có hệ thống các “thủy môn” chính là các đường nước tự nhiên hay còn gọi là “địa hình âm” bao gồm: Hệ thống Vực Dê - Đầm Chủ - Đầm Cả - Vực Tó - Đầm Vân Trì; hệ thống trong thành và đương hào thiên nhiên là dòng Hoàng Giang
Trang 24- Vực Tó ngày nay là đầm nước rộng khoảng 10ha; thuộc địa phận thôn
Tó, xã Uy Nỗ Vực Dê là nơi nhận 2 nguồn nước từ Vực Tó vào Đầm Vân Trì rồi đổ vào dòng sông Thiếp chảy vòng tới khu vực Mạch Tràng - đền Thượng là các “mộc” rắn đã phân thành nhiều nhánh, chảy vòng vo đến phía Đông Cổ Loa, còn 2 nhánh, một nhánh đổ vào Gò Vua (phía Bắc Thành Cổ Loa) để thông với Thành Ngoại, nhánh thứ hai nối với Ao Tó ngoài chảy men theo dãy gò Dục Nội, qua thôn Gia Lộc, đổ vào trũng Quậy, sau đó hợp nhất chảy về phía sông Cầu [83; tr.20]
- Hệ thống trong thành bao gồm mạng lưới nước từ cửa Cống Song vào Thành Trung như dọc Thuỳ (dọc sau xóm Thượng nối với xóm Bãi), dọc Trôi, dọc Hậu, dọc Giữa (nối Ao Ván, chia đôi xóm Nhồi Trên và Nhồi Dưới), dọc Ngã Ba, dọc Vườn Thuyền, Ao Mắm
- Đường hào thiên nhiên là dòng Hoàng Giang (còn có tên là Ngũ Huyện Khê), được bắt nguồn từ sông Hồng Hoàng Giang ngày nay chỉ còn là con lạch nhỏ và đã tồn tại từ lâu như một con sông tự nhiên, có vai trò quan trọng đối với vùng Cổ Loa
Trong quá trình thành tạo châu thổ sông Hồng, trong đó có vùng Cổ Loa, tác động của con người không kém phần tích cực so với tự nhiên Tuy biển đã rút, nhưng bề mặt châu thổ còn mấp mô, nhiều đầm lầy hoang vu, nước mặn ngấm sâu vào đất, mưa theo mùa, đồng bằng có độ dốc lớn, nạn ngập lụt thường xảy ra Trải qua thời gian, biển rút xa, thủy triều không ảnh hưởng tới nguồn nước ngọt, mưa lũ rửa trôi độ mặn trong đất, cây cối dần phát triển thành rừng Những tên gọi dân gian ở vùng Cổ Loa phản ánh phần nào lịch sử cảnh quan ở đây như: Thư Cưu, Mai Lâm, Gia Lâm, gò Dơi, Du Lâm…[83; tr.22]
Những người Việt cổ đầu tiên xuống khai phá vùng Hoàng Giang Để canh tác, họ phải khơi sông, khơi ngòi, đào ao, lấp trũng, đắp đê sông, đê biển,
bờ vùng, bờ thửa nên đã chặn đứng quá trình hình thành tự nhiên của vùng
Trang 25đồng bằng châu thổ và để lại nhiều vùng trũng mà nhân dân Cổ Loa gọi là
“dộc”, khu đất thấp nhất ở ba làng Quậy (phía Đông Bắc Cổ Loa) [83; tr.22]
Quá trình chiếm lĩnh đồng bằng của cư dân Việt cổ trên vùng đất Cổ Loa còn để lại đến hôm nay là hệ thống các di chỉ khảo cổ học từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn ở khu vực này Những cư dân đầu tiên đến khai phá vùng đất Cổ Loa đã định cư trên các bãi cao ven Hoàng Giang ở Đồng Vông, Bãi Mèn, Tiên Hội, Xuân Kiều Đến giai đoạn văn hóa Đông Sơn, địa bàn cư trú mở rộng cả ở nội và ngoại Thành Cổ Loa Trong Thành Nội Cổ Loa phát hiện địa điểm Mả Tre với chiếc trống đồng Cổ Loa loại I, Heger, bên trong chứa hàng trăm hiện vật đồng Đông Sơn Địa điểm xóm Nhồi, xóm Hương, đền Thượng với việc xuất lộ lớp văn hóa Cổ Loa (lớp văn hóa Đông Sơn muộn) Trong lớp văn hóa này, ngoài phát hiện ra gốm Cổ Loa còn phát hiện
ra dấu tích lò đúc mũi tên đồng ba cạnh, các mang khuôn Đây là di tích đầu tiên gắn trực tiếp đến việc An Dương Vương lập nước Âu Lạc, định đô và đắp thành ở Cổ Loa Ở ngoại thành phát hiện được các di tích Đường Mây, Cầu Vực, Đình Tràng là các làng cổ Đông Sơn Các cư dân này đã cùng với các cư dân trong thành nội giúp An Dương Vương đào hào, đắp thành (SĐ 04, 05)
1.2 Tổng quan nguồn tư liệu nghiên cứu về Cổ Loa và ba vòng Thành Cổ Loa
1.2.1 Thư tịch cổ Việt Nam
Trong Đại Việt sử ký toàn thư có một phần riêng – Kỷ nhà Thục trong quyển I, ngoại kỷ để chép chuyện An dương Vương và nước Âu Lạc: “[An
Dương Vương] họ Thục, tên húy là Phán người Ba Thục, ở ngôi 50 năm, đóng đô ở Phong Khê (nay là thành Cổ Loa)”
“Giáp Thìn, năm thứ nhất (257 TCN), (Chu Noãn Vương năm thứ 58) Bấy giờ Thục Vương đắp thành ở Việt Thường, rộng nghìn trượng, cuốn tròn như hình con ốc, cho nên gọi là Loa Thành, lại có tên là thành Tư Long
Trang 26(người nhà Đường gọi là thành Côn Lôn vì thành rất cao) Thành này cứ đắp xong lại sụp, vua lấy làm lo, mới trai giới khấn trời đất và thần kỳ núi sông rồi khởi công đắp lại”
Ngoài ra Đại Việt sử ký toàn thư có ghi chép lại truyền thuyết Mỵ Châu
– Trọng Thủy, truyền thuyết Rùa Vàng giết Kê Tinh, chuyện Ngô Quyền sau khi thắng giặc Nam Hán trên sông Bạch Đằng đã xưng vương và chọn Cổ Loa làm kinh đô
Những ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư đã cung cấp những thông tin
đầu tiên về Thành Cổ Loa như cấu trúc, niên đại, chủ nhân, các tên gọi khác nhau của Thành Cổ Loa, quá trình đắp thành phải trải qua nhiều lần mới xong
Bộ quốc sử thứ hai là Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép
về Cổ Loa tương tự như Đại Việt sử ký toàn thư Tuy nhiên, trong bộ quốc sử
này, các sử gia đã tỏ ra nghi ngờ về nguồn gốc Ba Thục của An Dương Vương, để lại những lời phê về Thục Vương của các sử thần triều Nguyễn, khảo cứu thêm các địa danh có liên quan đến thời kỳ lịch sử này như núi Tiên
Du, núi Vũ Ninh, sông Bình Giang, đền Thục Vương ở Mộ Dạ (Nghệ An)
Ngoài hai bộ quốc sử còn có các công trình của các cá nhân, ghi chép về
thời kỳ An Dương Vương – nước Âu Lạc như Việt sử lược và Đại Việt sử ký
tiền biên cũng ghi chép tương tự như Đại Việt Sử ký toàn thư Trong cuốn Việt
sử tiêu án, sử gia Ngô Thì Sĩ đã cho biết thêm một tên gọi khác của Loa thành:
“Theo cựu sử, vương đắp thành ở đất Phong Khê rộng nghìn trượng, quanh co hình như ruột con ốc, gọi là Loa thành, lại có tên là Trung Quy thành”
Qua các tác phẩm biên niên sử ta có thể thấy được rằng, Thành Cổ Loa cấu trúc như hình con ốc, rộng hơn nghìn trượng, vừa đóng vai trò là quân thành, vừa là kinh thành và vừa là thị thành Đồng thời chủ nhân của nó là An Dương Vương, vị vua sáng lập ra nước Âu Lạc trên đất Phong Khê hoặc Việt
Trang 27Thường Tòa thành này có nhiều tên khác nhau là Loa thành, Côn Lôn thành,
Tư Long thành, Trung Quy thành
Ngoài biên niên sử, một nguồn tài liệu thư tịch cổ khác là các bộ địa chí cũng cung cấp thêm nhiều thông tin khác nhau về Cổ Loa từ vị trí địa lý, sự thay đổi địa danh và dấu vết tòa thành đất tồn tại suốt nhiều thế kỷ sau thời
An Dương Vương Địa chí xuất hiện sớm nhất ở nước ta là tác phẩm An nam
chí lược của Lê Tắc và bộ Dư dịa chí của Nguyễn Trãi Song, Dư Địa chí của
Nguyễn Trãi mới được coi là bộ quốc chí đầu tiên của nước ta An Nam chí
lược được biên soạn bởi một nhà sử học đã đầu hàng giặc nên không tránh
khỏi những hạn chế về mặt quan điểm dẫn đến sự sai lệch về tính chất và nhận định ở nhiều vấn đề lịch sử Tuy vậy, đây vẫn là một nguồn tư liệu quý giá, giúp ta tìm hiểu lịch sử Thành Cổ Loa trong thời kỳ Bắc thuộc, các địa danh liên quan đến Cổ Loa như: Giếng cổ Giao Châu, Việt Vương thành, Lê Tắc nhắc đến Việt Vương thành và còn giải thích rõ tục gọi thành này là thành Khả Lũ, có một ao cổ và Lý Phật Tử khi làm loạn đã từng dùng thành này làm căn cứ Theo ghi chép của Lê Tắc thì dấu vết của An Dương Vương đời sau vẫn thấy ở huyện Bình Địa, dấu tích cung điện và thành trì của An Dương Vương hãy còn
Các bộ địa chí ra đời muộn hơn sau này cũng ghi chép về Cổ Loa và cung cấp các thông tin về sự biến đổi địa danh, đơn vị hành chính
1.2.2 Thư tịch cổ Trung Quốc
Năm 179 TCN, nước Âu Lạc của vua An Dương Vương rơi vào tay của Triệu Đà Đất nước trải qua hơn một nghìn năm Bắc thuộc, đặt dước ách cai trị liên tiếp nhiều triều đại Trung Quốc từ Hán, Tấn, Tề Lương, Tùy, Đường Chính vì vậy, các thư tịch cổ Trung Quốc được biên soạn trong thời gian này hoặc có ghi chép về thời kỳ lịch sử này không thể không đề cập đến đất Giao Châu (Giao Chỉ) có một số thông tin quan trọng liên quan đến Thành Cổ Loa
Trang 28Các thư tịch cổ như Bùi thị Quảng Châu ký, Giao Châu ngoại vực ký,
Thủy kinh chú của Trung Quốc hầu hết khẳng định Giao Chỉ là nước Âu Lạc
của An Dương Vương và cho biết còn dấu tích của tòa thành đất do An Dương Vương đắp khi xưa
Những ghi chép về Thành Cổ Loa trong thư tịch cổ Trung Quốc luôn được chép gắn liền với cuộc tấn công Âu Lạc của Triệu Đà, chuyện Mỵ Châu -
Trọng Thủy, chuyện nỏ thần Giao châu ngoại vực ký, Thủy Kinh chú là những
thư tịch có niên đại sớm nhất (thế kỷ IV và VI) ghi chép rất chi tiết về những sự việc này Thông tin trong hai bộ sách này cho biết: Triệu Đà, vua nước Nam Việt đem quân đánh Âu Lạc, An Dương Vương có thần là Cao Thông xuống giúp, chế nỏ thần bắn mỗi phát giết 300 người, Triệu Đà không thắng nổi bèn sai con là Trọng Thủy sang làm bề tôi An Dương Vương, Mỵ Châu – con gái
An Dương Vương “phải lòng” Thủy, lấy nỏ thần cho Thủy xem, Thủy nhân đó
bẻ gẫy nỏ Sau Triệu Đà tấn công, nỏ gãy, An Dương Vương thua chạy ra biển
Các thông tin lịch sử về Thành Cổ Loa và nước Âu Lạc trong thư tịch
cổ Trung Quốc rất ít ỏi song lại là những thông tin có tính xác thực cao bởi nhiều thư tịch được viết chỉ sau thời kỳ tồn tại của nước Âu Lạc vài trăm năm
Như vậy có thể nói, thư tịch cổ là nguồn sử liệu quan trọng để nghiên cứu về Thành Cổ Loa Tuy nguồn thư tịch cổ mang nhiều màu sắc truyền thuyết, thần thoại, cần phải giải mã được sự thật lịch sử ấn dấu sau những câu chuyện Song không thể phủ nhận vai trò của nguồn tư liệu này
1.2.3 Tư liệu dân gian
1.2.3.1 Truyền thuyết và phong tục
Gắn với lịch sử khu di tích Cổ Loa là một kho tàng các câu chuyện dân gian, truyền thuyết còn lưu truyền đến ngày nay Đó là chuyện Thần Kim Quy giúp An Dương Vương diệt bạch Kê Tinh – con gà trắng trên núi Thất Diệu Sau đó Rùa Vàng tuốt móng rùa tặng vua làm nẫy nỏ diệt quân địch
Trang 29Các truyền thuyết còn lý giải tên gọi nhiều địa danh ở Cổ Loa như chuyện các nàng tiên gánh đất giúp vua xây thành, nơi các nàng tiên tụ họp là làng Tiên Hội (xã Đông Hội, Đông Anh – một xã nằm sát xã Cổ Loa) Những hòn đất các nàng đánh đổ khi vội vàng về trời vì nghe tiếng gáy của Bạch Kê Tinh do tưởng trời sáng đã hình thành nên gò Đống Chuông Và truyền thuyết cũng nói rằng Thành Cổ Loa có hình xoáy trôn ốc, mà miệng ốc là ở Loa Khẩu và phần kết thúc của nó chính là Giếng Ngọc Loa Khẩu là một giếng sâu nằm ở sát chân Thành Ngoại, sát con sông Hoàng Giang, trên con đường dẫn vào chợ Sa
Bên cạnh đó, còn có truyền thuyết về mối tình Mỵ Châu – Trọng Thủy, chuyện về những người dân gốc ở Cổ Loa (làng Quậy – Liên Hà ngày nay) nhường đất giúp vua xây thành, chuyện các công thần giúp vua An Dương Vương (như Cao Nỗ, Nồi Hầu ) hay khu đất đình Ngự Triều Di Quy bây giờ chính là được dựng trên nền điện thiết triều cũ của nhà vua Nhiều phong tục, kiêng kỵ có quan hệ chặt chẽ với truyền thuyết do vậy càng củng cố thêm mức độ đáng tin cậy của truyền thuyết như tục kiêng tên húy: Ở Cổ Loa, kiêng không gọi là Phán mà gọi là Phướn, tục đãi dâu không đãi rể, tục cúng bún trong ngày ăn sêu Bà Chúa Mỵ Châu, tục dâng bỏng Chủ lên vua (bỏng Chủ chính là lương khô cho quân lính luyện tập quân đội dưới thời vua An Dương Vương)
1.2.3.2 Hệ thống các địa danh
Tại Cổ Loa có rất nhiều hệ thống địa danh liên quan đến Thành Cổ
Loa và thời kỳ An Dương Vương Trong cuốn Khảo sát địa danh Cổ Loa và
vùng phụ cận (dẫn theo Trần Thị Minh An (2005), Thành Cổ Loa từ An Dương Vương đến Ngô Quyền, Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Lịch Sử
trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn) thì ở Cổ Loa có khoảng 90/397 địa danh
Trang 30Hệ thống địa danh liên quan đến sự tích An Dương Vương xây thành gồm có: Núi Thất Diệu, Quán Ngộ Không, Bến Đò Lo, Cầu Lợn Hạch, Tiên Hội, Ngã Ba Xà, Đống Chuông, Loa Khẩu,…
Hệ thống địa danh liên quan đến cấu trúc, hoạt động của thành Cổ Loa:
Ao Mắm – Vườn Thuyền, Đầm Cả, Dọc Giữa, Cửa Đông, Cửa Nam, đền Thượng, đình Ngự Triều Di Quy, Gò Ngự Xạ Đài, gò Đống Giáo, gò Đống Bắn, gò Cột Cờ…
Một số địa danh liên quan đến truyền thuyết Nỏ thần như: Ngự Xạ Đài, Kính Nỗ, Uy Nỗ, Hạ Nỗ, Đầm Rơi…
Như vậy, hệ thống địa danh cổ sẽ gợi mở những hướng để người nghiên cứu có thể tìm hiểu nhiều vấn đề về Thành Cổ Loa như cấu trúc, chức năng của thành… Đa phần các địa danh này đều gắn chặt với thời kì lịch sử
An Dương Vương và nhà nước Âu Lạc song vẫn có một số địa danh cho thấy lịch sử của cổ Loa sau An Dương Vương như tên cầu Chuôm Đỏ (cầu Thường Đỏ), Xuân Kiều… có liên quan đến thời kỳ Hai Bà Trưng hay địa danh Dục Tú liên quan đến việc Ngô Quyền về đây đóng đô [1; tr.20]
1.2.3.3 Thần tích, thần sắc
Thần tích ở Cổ Loa và vùng phụ cận sẽ góp phần tiết lộ nhiều nét về các nhân vật có liên quan đến Thành Cổ Loa Hiện nay các nhà nghiên cứu đã sưu tầm được một số bản thần tích về An Dương Vương ở khu vực này: bản
Thục An Dương Vương tiên triều ngọc phả được Nguyên Bính soạn, được
chép lại trong cuốn Lịch sử thành Cổ Loa của Sằn Dã Thôn năm Thành Thái thứ 17, bản Thục An Dương Vương sự tích trên bia đá đền Thượng soạn năm Thành Thái thứ 14, bản Thần tích xã Cổ Loa… Nhìn chung, thông tin từ các
bản thần tích này tương đương đối tương đồng, trong đó đều chép chuyện Sơn Thánh khuyên Hùng Vương nhường ngôi cho Thục Phán, chuyện Rùa Vàng giúp An Dương Vương xây thành, chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy kèm theo
Trang 31sắc phong của một số đời vua gia phong tước hiệu cho An Dương Vương Các bản thần tích này hầu hết đều giống nhau và giống truyền thuyết được lưu truyền tại địa phương do đều sao chép theo bản được Nguyễn Bính, Nguyễn Hiền soạn trên cơ sở văn hóa truyền thuyết tại địa phương Nguồn tư liệu dân gian tuy có mặt hạn chế là vì trí tưởng tượng của nhân dân thêm bớt, hư cấu thêm nhưng đây vẫn là nguồn tư liệu cơ bản trong nghiên cứu thành Cổ Loa
Giáo sư Trần Quốc Vượng đã nói: “Một khi truyền thuyết phong phú gắn
chặt với từng địa danh, từng di tích lịch sử, từng phong tục tập quán thành một khối thống nhất gợi lại một thời kỳ lịch sử xem ra như vừa đầy đủ, vừa chặt chẽ, vừa hợp lý thì khó có ai tỏ nổi một nỗi hoài nghi” [103; tr.363]
1.2.4 Tư liệu khảo cổ học
Các nguồn thư tịch cổ, tư liệu dân gian, văn bia, địa bạ, hương ước đều chỉ là những nguồn tư liệu gián tiếp trong nghiên cứu Thành Cổ Loa, đòi hỏi phải có sự so sánh nghiêm túc và thái độ cẩn trọng của những nhà nghiên cứu khi sử dụng nguồn tư liệu này Do vậy những thông tin mà nó cung cấp bị hạn chế về tính xác thực và chỉ giúp cho những hình dung trừu tượng về Thành
Cổ Loa Tư liệu khảo cổ học là nguồn tư liệu quan trọng nhất, là nguồn tư liệu trực tiếp và là căn cứ xác thực trong những giả thiết khoa học khi nghiên cứu Thành Cổ Loa Dựa vào những phát hiện khảo cổ học quan trọng và nổi tiếng
ở Cổ Loa có thể chia tình hình phát hiện và nghiên cứu khảo cổ học Cổ Loa thành ba giai đoạn:
- Giai đoạn trước năm 1959
- Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1982
- Giai đoạn từ 1982 đến nay
1.2.4.1 Giai đoạn trước năm 1959
Hai học giả Pháp là Dumoutier G và Des-pierres R là hai người đầu tiên
có những hoạt động điều tra nghiên cứu về khảo cổ ở Cổ Loa Dumoutier G và
Trang 32Des-pierres R Đã nghiên cứu địa hình ở Cổ Loa, mô tả các vòng thành, tham dự các lễ hội, mô tả lại lễ hội nơi đây Bên cạnh đó, hai ông đã dựa vào ghi chép của
sử cũ, văn bia nói về An Dương Vương và bản đồ địa chính Cổ Loa để lý giải cuộc đấu tranh, sau đó là sự thắng lợi của An Dương Vương – Thục Phán
Như vậy cho đến trước năm 1959, những ghi chép của sử cũ (chủ yếu bằng chữ Hán) đã đề cập đến vị trí của Cổ Loa ở Phong Khê, nay là Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội; Thành Cổ Loa là “thành của vua Việt” được xây dựng theo hình xoáy trôn ốc Từ cuối những năm 50, với những phát hiện vang dội của khảo cổ học, những cuộc điều tra, khai quật, nghiên cứu toàn diện về Cổ Loa đã chứng minh những tư liệu trên đây là đáng tin cậy [83; tr.11]
1.2.4.2 Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1982
Giai đoạn nghiên cứu về khảo cổ học Cổ Loa giai đoạn này được đặt trong bối cảnh chung của công cuộc nghiên cứu sâu rộng về thời đại dựng nước và giữ nước của dân tộc - thời đại các vua Hùng
Năm 1959, với việc phát hiện ngẫu nhiên kho mũi tên đồng lớn ở Cầu Vực đã mở đầu công cuộc nghiên cứu khảo cổ học sâu rộng, quy mô ở Cổ Loa và khu vực phụ cận Một loạt các di tích được thám sát, khai quật Trong
đó có những di tích được khai quật nhiều lần như di tích Bãi Mèn, Đường Mây… Ngoài ra còn nhiều phát hiện lẻ tẻ ở khu vực xóm Nhồi, xóm Hương, xóm Thượng Mũi tên đồng phát hiện ở Cầu Vực có mặt cắt hình tam giác, chuôi tròn, dài để lắp vào thân đã trở thành một trong những loại hình di vật đặc trưng riêng ở Cổ Loa: “Mũi tên đồng Cổ Loa”
Nghiên cứu Thành Cổ Loa về khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học, văn hóa dân gian ở giai đoạn này phải kể đến các cuộc điều tra sưu tầm của Đội Khảo cổ thuộc Bộ Văn hóa, tổ Cổ sử - trường Đại học Tổng hợp Hà Nội vào các năm 1959, 1964, 1966 và 1967 tại khu vực Mả Cơ, Cầu Cả, Đống Chuông – Đống Dáo,… Đầu năm 1970, Viện Khảo cổ học đã khai quật Thành Ngoại
Trang 33Cổ Loa tại phía Nam Gò Cụ (xóm Mít) Trong cuộc khai quật này, mặt cắt Thành Ngoại được chia thành bốn lớp, ba lớp trên là đất đắp thành, lớp dưới (lớp A) là đất gốc của đồi gò dạng cong khum Dựa vào cấu tạo các lớp đất, hiện vật khảo cổ và thành phần bào tử phấn hoa chứa trong các lớp đất, các nhà khảo cổ và địa chất đã thành lập được sơ đồ phân chia các lớp đất đắp Thành
Cổ Loa (Bảng 1.1) Thành phần bào tử phấn hoa cho thấy vùng mở hố khai quật trước đây là một vùng đồi, cây thân mộc chiếm chủ yếu [101; tr 34]
Qua nghiên cứu về tòa thành và các di tích ở vùng Cổ Loa, các nhà khoa học đã nhận diện được phần nào tính chất, cấu trúc, chức năng của tòa thành cổ này và khẳng định một sự thật lịch sử: Cổ Loa là kinh đô dưới thời nhà nước
Âu Lạc, Thành Cổ Loa được An Dương Vương xây dựng ở Phong Khê (nay là
Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội), nơi mà trước đó đã có cư dân sinh sống đông đúc
Tư liệu đã công bố ở thời kỳ này gồm: 4 tập Hùng Vương dựng nước do Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành vào các năm 1970, 1972, 1973 và 1974 Liên quan trực tiếp đến lịch sử, khảo cổ học Cổ Loa là các công trình công bố
của cố GS Trần Quốc Vượng: Cổ Loa những kết quả nghiên cứu vừa qua và
những triển vọng tới (1969), Trên mảnh đất Cổ Loa lịch sử (1970)…và những
bài nghiên cứu về nhà nước sơ khai Âu Lạc, xã hội Âu Lạc, đời sống vật chất – tinh thần của cư dân Âu Lạc, nguồn gốc An Dương Vương, An Dương Vương với việc xây thành Cổ Loa, vị trí của Cổ Loa với vai trò là Quốc đô, những phát hiện mới về khảo cổ học có liên quan đến Cổ Loa ở các xã, các vùng xung quanh như Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh, Gia Lâm, Hà Tây cũ (nay là Hà Nội),
Phú Thọ… được đăng tải trên Tạp chí Khảo cổ học, Nghiên cứu lịch sử, Dân
tộc học, Văn học, Những phát hiện mới về khảo cổ học…
Vào các năm 1972 – 1973, khi đào huyệt mộ tại Đầm Cả (Đường Cấm Xứ), phía Đông Thành Cổ Loa, nhân dân địa phương tình cờ làm bật lên một
số viên cuội có vết ghè đẽo, gia công của con người Vào tháng 3/1983, trong
Trang 34chương trình điều tra khảo cổ học khu vực Cổ Loa và khai quật di chỉ Đường Mây lần thứ tư, khoa Lịch sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã phát hiện hơn chục viên cuội được gia công tại khu vực Đầm Cả, Đường Bụt, Đường Rìu Theo GS Trần Quốc Vượng và PGS.TS Hoàng Văn Khoán, đó là những viên cuội được ghè đẽo ở rìa cạnh, trên hai mặt của viên cuội còn giữ lại vỏ cuội tự nhiên Phần lớn những hiện vật này là công cụ chặt, nạo hay cắt với kỹ
thuật ghè thô sơ, loại hình chưa ổn định
Trên cơ sở những thành tựu lớn ở giai đoạn này mà Bản đồ Khảo cổ
học khu vực Cổ Loa đã được xây dựng (1966) và tiếp tục được điền thêm do
những phát hiện mới ở giai đoạn này [83; tr.12]
1.2.4.3 Giai đoạn từ 1982 đến nay
Năm 1982 với việc phát hiện ra trống đồng Cổ Loa I với bộ di vật đồ sộ
ở địa điểm Mả Tre đã mở đầu giai đoạn này của khảo cổ học khi nghiên cứu
về Cổ Loa PGS TS Chử Văn Tần đã nói về phát hiện này trong cuốn Phát
hiện Cổ Loa năm 1982 như sau: “Phát hiện này được xem như là một trong những phát hiện khảo cổ học vang dội nhất đến nay về thời đại kim khí ở Cổ Loa nói riêng và Việt Nam nói chung” [73; tr 55-75] Trống đồng Cổ Loa
được các nhà nghiên cứu xếp vào nhóm với 4 trống được coi là sớm nhất, đẹp nhất của trống đồng loại I Heger đã phát hiện ở nước ta cho đến nay Trong lòng trống phát hiện khoảng 200 hiện vật đồng các loại bao gồm: nhạc khí, giáo, dao găm, rìu, cuốc, xẻng, lưỡi cày, dao gặt, đục, tiền đồng… Phát hiện này có ý nghĩa lớn đối với việc nghiên cứu nền văn minh sông Hồng
Sau phát hiện trống đồng Cổ Loa ở Mả Tre, các di tích ở khu vực Cổ Loa và vùng phụ cận được khai quật, nghiên cứu Di chỉ Đình Tràng (Dục Tú) trong giai đoạn này đã được khai quật qua các năm: 1969, 1970,1971, 1985,
1997, 1999, 2002, 2010 Di chỉ này được xem là tiêu biểu trong thời đại kim
Trang 35khí ở Việt Nam, với bốn tầng văn hóa rõ rệt từ Phùng Nguyên – Đồng Đậu –
Gò Mun – Đông Sơn
Năm 1997, các nhà khảo cổ học đào thám sát tại 4 di chỉ: Đồng Vông, Tiên Hội, Bãi Mèn và Đình Tràng Cư dân cổ Đình Tràng, Bãi Mèn, Đồng Vông, Tiên Hội, Xuân Kiều chính là những người đầu tiên đến khai phá và làm chủ nơi này, họ cùng sinh sống dưới một thời, có quan hệ trao đổi mật thiết với nhau Đồng Vông (nằm ở phía Nam và gần vòng Thành Ngoại Cổ Loa) là một
di chỉ cư trú của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước có hoạt động chế tác và sửa chữa đồ đá thuộc văn hoá Phùng Nguyên Liền sau Đồng Vông là nhóm cư dân cổ Xuân Kiều và Tiên Hội Di chỉ Xuân Kiều bị vòng Thành Ngoại Cổ Loa đắp đè lên trên, là di tích chuyển tiếp từ giai đoạn Phùng Nguyên lên giai đoạn Đồng Đậu; di chỉ Tiên Hội cùng tính chất, niên đại với Xuân Kiều, có sự tương đồng với Đình Tràng trong giai đoạn văn hoá Đồng Đậu [42; tr.41]
Năm 2002 – 2003, khai quật Bãi Mèn - một di chỉ nằm liền kề Đồng Vông và Cầu Vực đã chỉ ra rằng đây là nơi chế tác và sửa chữa công cụ đồ trang sức bằng đá Bãi Mèn thuộc nhóm di tích khảo cổ học thuộc thời đại đồng thau, giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên muộn, đầu Đồng Đậu sớm, niên đại cách ngày nay khoảng 3500 - 3000 năm [42; tr.42]
Cuối năm 2004 đến đầu năm 2005, trước khi trùng tu, tôn tạo các kiến trúc thờ tự tại di tích đền Thượng (đền An Dương Vương), Ban Quản lý di tích
và Danh thắng Hà Nội đã phối hợp với Viện Khảo cổ học tiến hành khai quật thăm dò tại đền Thượng – góc Tây Nam Thành Nội Sáu hố khai quật đều được
mở ở khu đất phía Đông đền, với tổng diện tích 134m2 Lần đầu tiên phát hiện
những di tích và di vật là vật liệu xây dựng, trang trí kiến trúc, đồ dùng hàng ngày của cư dân thời Trần và phát hiện lớp văn hóa giai đọan văn hóa Đông Sơn muộn ở đền Thượng, trong lớp văn hóa này có một phát hiện quan trọng khi tìm thấy di tích đúc mũi tên đồng ba cạnh, được các nhà nghiên cứu gọi là
Trang 36mũi tên đồng Cổ Loa Tại hố cắt Thành Nội năm 2005 ở đền Thượng, mặt cắt được chia thành 6 lớp Hai lớp dưới cùng (lớp 5 và lớp 6) là đất gốc, 4 lớp còn lại là đất đắp thành Trong đó lớp trên cùng (lớp 1) được đắp vào giai đoạn muộn, tương đương với thời gian trùng tu đền Thượng vào thế kỷ XVIII - XIX Tiếp theo, trong năm 2006 và 2007, Trung tâm Bảo tồn khu di tích Cổ Loa - Thành cổ Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học khai quật đền Thượng lần thứ
ba, đã phát hiện một hệ thống lò đúc mũi tên đồng Cổ Loa với quy mô lớn và nhiều di tích thuộc các giai đoạn Trần, Lê - Nguyễn [101; tr 56, 57]
Di chỉ lò đúc đồng đền Thượng là phát hiện nổi tiếng và quan trọng thứ
ba của khảo cổ học tại Cổ Loa sau phát hiện kho mũi tên đồng ở Cầu Vực và trống đồng ở Mả Tre
Chặng đường nghiên cứu về Cổ Loa là một chặng đường dài, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, tác phẩm về khảo cổ học, lịch sử, văn hóa… về
Cổ Loa được công bố: Cuốn Hà Nội thời đại đồng và sắt sớm của Trịnh Cao Tưởng và Trịnh Sinh, Phát hiện Cổ Loa 1982 xuất bản năm 1983, Cổ Loa
truyền thống và cách mạng do Đảng ủy xã Cổ Loa xuất bản năm 1988 hay Cổ Loa – Trung tâm hội tụ văn minh sông Hồng (xuất bản năm 2002) của
PGS.TS Hoàng Văn Khoán viết; các luận văn tốt nghiệp của sinh viên chuyên ngành Khảo cổ học – Khoa Lịch sử trường Đại học Tổng hợp nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, luận án tiến sĩ của PGS TS Lại Văn Tới có
tên Các di tích đồng thau và sắt sớm khu vực Cổ Loa trong bối cảnh thời đại
kim khí đồng bằng Bắc Bộ (năm 2000) là những công trình nghiên cứu sâu về
Cổ Loa Từ năm 2007 đến nay, PGS.TS Nam C Kim (Đại học Wisconsin – Madison, Hoa Kỳ) đã phối hợp với Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long -
Hà Nội và Viện Khảo cổ học tiến hành nghiên cứu Thành Cổ Loa Kết quả
này đã giúp xuất bản nên cuốn sách “The Origins of Ancient Vietnam” năm
2015 và cuốn “Kết quả nghiên cứu Thành Cổ Loa” năm 2018
Trang 37Bên cạnh các di chỉ khảo cổ học thì di tích Thành Cổ Loa là yếu tố quan trọng nhất trong quần thể khu di tích Cổ Loa hiện nay Từ hơn nửa thế kỷ nay, trong quá trình nghiên cứu về Thành Cổ Loa đã có nhiều ý kiến khác nhau về niên đại của toà thành cổ này:
Ý kiến thứ nhất của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, sau đó là Ngô
Tất Tố, Phạm Văn Kỉnh cho rằng, Thành Ngoại và Thành Trung do An
Dương Vương xây dựng, vòng Thành Nội được xây dựng sau thời An Dương Vương Vào những năm 50, GS Đào Duy Anh cho rằng tên Loa
Thành mới chỉ được người Trung Quốc đặt ra từ thời Tống Toà thành hiện nay có thể là Kiển Thành do Mã Viện xây dựng cùng với thành cũ của An Dương Vương [2; tr 140]
Ý kiến thứ hai của GS Đỗ Văn Ninh khi so sánh và đoán định niên đại cho những đầu ngói ống, ngói bản…tìm thấy trong những lớp tường thành trong cùng, đã không công nhận những dấu tích vật chất này thuộc về thời đại
An Dương Vương mà là của thời Đông Hán Đồng thời cho rằng hai vòng
thành ngoài trông có vẻ sớm hơn thời An Dương Vương [52; tr 390 – 394],
[104; tr 381 – 382]
Ý kiến thứ ba của GS Trần Quốc Vượng, sau đó là Nguyễn Duy
Chiếm, Trương Hoàng Châu được khá nhiều người ủng hộ, cho rằng cả ba
vòng thành đều do An Dương Vương xây dựng theo cách thức đắp nối các gò đất tự nhiên Sau đó các vòng thành luôn được tái sử dụng, sửa chữa đắp thêm Riêng vòng Thành Nội được sửa chữa theo quy cách đương thời - vuông vức, cân đối, có nhiều vọng gác rất giống kiểu dáng những thành Trung quốc xuất hiện từ thời Hán về sau [6, tr 386], [7; tr 388], [104, tr.381]
Trang 38Tiểu kết Chương 1
Cổ Loa là khu di tích quan trọng trong lịch sử và văn hóa dân tộc Thành Cổ Loa, kinh đô nước Âu Lạc dưới triều đại An Dương Vương là địa bàn duy nhất trên nước ta hiện còn lưu giữ được khá đầy đủ dấu tích của một tòa thành là sáng tạo độc đáo của người Việt cổ trong công cuộc giữ nước chống ngoại xâm Đây còn là địa bàn cư trú của người Việt cổ (các thời kỳ đồ
đá, đồ đồng, đồ sắt) đã phát lộ và còn tiềm ẩn nhiều dấu tích quan trọng của các giai đoạn văn minh tiền Hán và giai đoạn giao thoa Hán Việt Thành Cổ Loa có vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử và văn hiến của dân tộc
Từ việc tập hợp các nguồn tư liệu về Thành Cổ Loa, chúng tôi có một vài nhận xét sau: Hệ thống tư liệu nghiên cứu về Cổ Loa rất đa dạng với nhiều loại hình khác nhau từ thư tịch cổ, tư liệu dân gian, văn bia, địa bạ, hương ước… Sự phong phú của các nguồn tư liệu sẽ cung cấp thông tin về Thành Cổ Loa cũng rất đa dạng, nhiều chiều Do vậy sẽ cung cấp cho nhà nghiên cứu có được cái nhìn nhiều mặt hơn, đầy đủ hơn về Thành Cổ Loa trong tiến trình lịch sử dân tộc Tuy nhiên, các nguồn sử liệu này lại gây khó khăn trong quá trình tổng hợp thông tin bởi các yếu tố mang tính truyền thuyết, huyền thoại, truyền miệng nên
ít mang tính xác thực Nguồn tư liệu có tính giá trị cao nhất trong nghiên cứu Thành Cổ Loa là tư liệu khảo cổ học bởi vì đây là nguồn tư liệu gốc, trực tiếp Các hiện vật khảo cổ còn gắn chặt với đời sống của cư dân Cổ Loa thời cổ và quá trình đắp thành lũy Nhiều di tích khảo cổ học còn là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời trong cấu trúc tòa thành này Vì vậy, trên tất cả, nguồn tư liệu khảo cổ học là nguồn thông tin quan trọng nhất khi nghiên cứu đề tài này Trước đây, việc định niên đại cho các di tích khảo cổ học vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau và các vấn đề khác của Thành Cổ Loa như vấn đề chủ nhân, niên đại,
kỹ thuật đắp thành Tuy nhiên, những nghiên cứu và khai quật khảo cổ học từ năm 2007 đến năm 2014 đã dần làm sáng tỏ các vấn đề còn nhiều tranh luận đó
Trang 39CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỚI VỀ KHẢO CỔ HỌC
BA VÒNG THÀNH CỔ LOA TỪ NĂM 2007 ĐẾN NĂM 2014
Cho đến nay, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đều chỉ ra rằng Thành Cổ Loa là một công trình quân sự nhằm để chống lại các thế lực bành trướng từ phương Bắc xuống Sử cũ đã chép và một số nhà khoa học cũng cho rằng hai vòng thành ngoài (Thành Trung, Thành Ngoại) do An Dương Vương đắp, vòng thành trong (Thành Nội) do Mã Viện và sau đó là Ngô Quyền đắp Có nhiều tài liệu thành văn, đặc biệt là tư liệu khảo cổ học về việc phát hiện ngôi mộ gạch thời Đông Hán chôn trong Thành Ngoại tại xóm Vang đã loại bỏ ý kiến cho rằng Thành Nội Cổ Loa do Mã Viện đắp Sử cũ chỉ ghi Ngô Quyền đóng đô ở Cổ Loa chứ không nói đến việc ông đắp Thành Cổ Loa Mặt khác, Ngô Quyền chỉ ở ngôi được 6 năm (939 – 944), trong điều kiện tình hình đất nước phức tạp, chắc không đủ thời gian, nhân lực, vật lực để đắp những vòng thành kiên cố, quy mô lớn như Thành Cổ Loa Vậy vấn đề đặt ra là tại sao hai vòng thành ngoài lại có hình dáng và đường cong tự nhiên khép kín, mà vòng Thành Nội lại có hình dạng vuông vức với các hỏa hồi cân xứng ở các tường thành giống thành Hán Kết quả những lần khai quật từ năm 2007 đến năm 2014 dưới đây sẽ góp phần làm sáng tỏ điều này (SĐ 06)
2.1 Một số khái niệm
- Thành là một loại hình kiến trúc phòng vệ của một cộng đồng người
này để chống lại sự xâm nhập của cộng đồng người khác Thành thường có một hoặc nhiều vòng tường cao, dày bao quanh một khu đất rộng, mở một hoặc nhiều cửa ra vào Bên cạnh tường cao thường có hào sâu và những đoạn luỹ hoặc những pháo đài để làm tăng thêm sự kiên cố cho toà thành Đôi khi người ta cũng gọi những đoạn tường luỹ to và dài là thành
Trang 40Phần lớn các thành có nhiều chức năng: là trung tâm kinh tế và văn hoá, trung tâm chính trị, trung tâm quân sự của một quốc gia hay một đơn vị hành chính địa phương Các toà thành giữ chức năng là thủ đô của một nước
được gọi là “kinh thành” hay “đô thành”, “kinh đô” Còn các toà thành chỉ giữ
vai trò là lỵ sở của một đơn vị hành chính địa phương thì gọi theo sự phân cấp
của địa phương đó như “châu thành”, “quận thành”, “tỉnh thành”, “huyện
thành” [36; tr 245]
- Hoả hồi là các ụ đất phòng vệ được đắp cao hơn mặt thành và nhô ra
phía ngoài khoảng 10 - 50m Tại Thành Nội Cổ Loa có 12 - 18 ụ hoả hồi Đó
là các trạm gác tốt, giúp mở rộng quan sát của người lính gác [57; tr 178]
- Đất gốc là đất do thành tạo tự nhiên mà có, có thể hiểu chính là sinh
thổ hay lớp đất cái
2.2 Cấu tạo địa tầng và các giai đoạn đắp thành, đặc trưng di tích
2.2.1 Thành Trung (2007 - 2008)
Thành Trung được khai quật vào năm 2007 và năm 2008 do Viện Khảo
cổ học phối hợp với Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội, đại học Wisconsin – Madison, Mỹ Hai hố khai quật được mở gần cửa Bắc Thành Trung, thuộc địa phận xóm Thượng và xóm Bãi, xã Cổ Loa, huyện Đông Anh
- Hà Nội Hố H1 cắt Thành Trung, cách cửa Bắc 36m, hố H2 cắt hào Thành Trung, cách cửa Bắc 20,4m về phía Đông Hai hố khai quật có tọa độ 210
07’415’’ vĩ độ Bắc; 105052’291’’ độ kinh Đông Mặt thành, nơi mở hố khai quật H1 cao hơn mực nước biển 38,4m Mặt hào, nơi mở hố khai quật H2 cao hơn mực nước biển 34,6m (SĐ 07)
Hố H1 có diện tích 12,5m2 (chiều dài Bắc – Nam 26,5m x chiều rộng Đông – Tây 5m), đào sâu từ 4,00 - 4,80m
Hố H2 có diện tích 150m2 (chiều dài Bắc – Nam 30m; chiều rộng Đông – Tây 5m, đào sâu 4,8m