1.1 Khái niệm kinh tế: Về phương diện hoạt động, kinh tế là toàn bộ quan hệ giữa người và người trong sản xuất, phân phối, tiêu dùng những sản phẩm do lao động làm ra tập trung ở ba quan hệ cơ bản của quan hệ sản xuất là sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm. Về phương diện vật chất, kinh tế là toàn bộ những sản phẩm lao động của con người, nhằm trao đổi và tiêu dùng để thỏa mãn nhu cầu của con người, là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. 1.2 Khái niệm chính trị: chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, giữa các quốc gia có liên quan tới vấn đề ngành, giữ và sử dụng chính quyền Nhà nước. Hoặc cũng có thể được hiểu, chính trị là hoạt động chính trị thực tiễn của các giai cấp, đảng phái, nhà nước để hiện thực hóa lợi ích cơ bản của mình trong mối tương quan với các chủ thể chính trị khác. Chính trị, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, có những điểm chủ yếu như sau: (1) chính trị là quan hệ giai cấp, là đấu tranh giai cấp, là quan hệ lợi ích trước hết là lợi ích giai cấp; (2) yếu tố quan trọng nhất của chính trị là việc tổ chức chính quyền nhà nước, thực hiện nhiệm vụ của nhà nước; (3) chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, là việc xây dựng nhà nước về kinh tế; (4) chính trị là lĩnh vực phức tạp nhất, nhạy cảm nhất, liên quan đến lợi ích nhiều người.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 2
Chương I Cơ sở lý luận giữa kinh tế và chính trị 2
1 Khái niệm kinh tế và chính trị 2
1.1 Khái niệm kinh tế 2
1.2 Khái niệm chính trị 2
2 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin về kinh tế và chính trị 2
2.1 Vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị 3
2.2 Tính độc lập tương đối của chính trị so với kinh tế 5
Chương II Sự vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị ở Việt Nam thời kỳ đổi mới, thực trạng tại địa phương 7
1 Sự vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị ở việt nam thời kỳ đổi mới 7
1.1 Đổi mới kinh tế ở Việt Nam 7
1.2 Đổi mới chính trị ở Việt Nam 7
1.3 Mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam 9
2 Thực trạng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh hiện nay 10
Chương III Giải pháp, kiến nghị 12
PHẦN KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 2Trong sự phát triển của xã hội, chính trị với kinh tế là mối quan hệ cơ bản nhất, quyết định nhất tới sự vận động và phát triển của mọi xã hội Điều
đó, đặt ra sự cần thiết phải nhận thức đầy đủ cả về lý luận và những kinh nghiệm lịch sử về sự tác động của chính trị vào phát triển kinh tế nhằm rút ra những giải pháp thiết thực cho công cuộc đổi mới toàn diện theo định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế; chính trị không thể không chiếm vị trí ưu tiên so với kinh tế Trong sự phát triển của xã hội, kinh tế giữ vai trò quyết định nhưng kinh tế không phải là yếu tố duy nhất
Trong quá trình đổi mới, Đảng ta đã nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế, giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị Để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta cần giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh
tế thị trường, tiếp tục đẩy mạnh đổi mới hệ thống chính trị, thực hiện dân chủ hoá xã hội, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đồng thời, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
Sau hơn 30 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, cách mạng Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Điều đó đã chứng minh sự vận dụng, phát triển phép biện chứng duy vật một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước trong những năm vừa qua, góp phần to lớn vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam nhằm mục đích bảo vệ và phát triển chủ nghĩa xã hội cả về lý luận nhận thức và hoạt động thực tiễn Những thành tựu đó tạo tiền đề quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử
Vì vậy, cá nhân quyết định chọn nội dung “vấn đề đổi mới đồng bộ giữa kinh tế và chính trị, sự vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị ở Việt Nam thời kỳ đổi mới và thực trạng trên địa bàn tỉnh Tây ninh hiện nay” làm bài thu hoạch kết thúc môn học “Triết học Mác- Lênin” Trong
khuôn khổ đề tài đặt ra không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong nhận được sự hướng dẫn và góp ý từ quý thầy cô để hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ
1 Khái niệm kinh tế và chính trị
1.1 Khái niệm kinh tế: Về phương diện hoạt động, kinh tế là toàn bộ
quan hệ giữa người và người trong sản xuất, phân phối, tiêu dùng những sản phẩm do lao động làm ra tập trung ở ba quan hệ cơ bản của quan hệ sản xuất
là sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối sản phẩm
Về phương diện vật chất, kinh tế là toàn bộ những sản phẩm lao động của con người, nhằm trao đổi và tiêu dùng để thỏa mãn nhu cầu của con người, là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của xã hội
1.2 Khái niệm chính trị: chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa
các dân tộc, giữa các quốc gia có liên quan tới vấn đề ngành, giữ và sử dụng
chính quyền Nhà nước Hoặc cũng có thể được hiểu, chính trị là hoạt động
chính trị thực tiễn của các giai cấp, đảng phái, nhà nước để hiện thực hóa lợi ích cơ bản của mình trong mối tương quan với các chủ thể chính trị khác.
Chính trị, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, có những điểm chủ yếu như sau: (1) chính trị là quan hệ giai cấp, là đấu tranh giai cấp, là quan hệ lợi ích trước hết là lợi ích giai cấp; (2) yếu tố quan trọng nhất của chính trị là việc tổ chức chính quyền nhà nước, thực hiện nhiệm vụ của nhà nước; (3) chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, là việc xây dựng nhà nước về kinh tế; (4) chính trị là lĩnh vực phức tạp nhất, nhạy cảm nhất, liên quan đến lợi ích nhiều người
Chính trị có thể được tiêp cận dưới những góc độ khác nhau như sau:
Một là, chính trị với tính cách là chế độ chính trị Thuật ngữ chế độ chính trị được hiểu là nội dung phương thức tổ chức và hoạt động của tổ chức chính trị quốc gia mà trung tâm là Nhà nước
Hai là, chính trị với tư cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng hay còn gọi là kiến trúc thượng tầng chính trị
Ba là, chính trị với trị cách là một hệ thống hợp pháp trong một chế độ
xã hội nhất định được gọi là hệ thống chính trị
2 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin về quan hệ giữa kinh tế
và chính trị
2.1 Vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị.
Trong lý luận hình thái kinh tế - xã hội, Mác và Ăngghen đã nghiên cứu một cách sâu sắc mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Các ông cho rằng, cơ sở hạ tầng bao giờ cũng là nhân tố cơ bản quyết định
Trang 4kiến trúc thượng tầng, nhân tố quyết định trong lịch sử, xét đến cùng, là sự sản xuất và sự tái sản xuất ra đời sống hiện thực, và khi "cơ sở kinh tế thay đổi thì tất cả cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều, nhanh chóng"
Thực chất mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là quan hệ giữa kinh tế và chính trị Kinh tế, nếu hiểu theo nghĩa là toàn bộ các quan hệ sản xuất hợp thành kết cấu kinh tế - xã hội của một giai đoạn lịch sử thì nó là một hệ thống Nó tác động đến chính trị với tư cách là một hệ thống chứ không phải tác động với tư cách là từng nhân tố rời rạc Trong hệ thống này, lực lượng kinh tế nào giữ vai trò thống trị sẽ quyết định kiến trúc thượng
tầng kể cả tư tưởng lẫn thiết chế tương ứng Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác
và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: "Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị" và “Những tư tưởng thống trị không phải là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện tinh thần của những quan hệ vật chất thống trị, chúng là những quan hệ vật chất thống trị được biểu hiện dưới hình thức tư tưởng”; do đó, là sự biểu hiện của chính ngay những quan hệ làm cho một giai cấp trở thành giai cấp thống trị; đó là những tư tưởng của sự thống trị của giai cấp ấy
Điều đó có nghĩa là quan hệ sản xuất thống trị là cơ cở để tạo ra giai cấp thống trị và tư tưởng chính trị Khi nói kinh tế quyết định chính trị, chủ nghĩa Mác không bao giờ xem kinh tế là yếu tố duy nhất Xã hội, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, là sản phẩm tổng hợp các mối quan hệ giữa người
và người Trong xã hội, ngoài các yếu tố vật chất còn các yếu tố tinh thần Tất
cả các yếu tố này đều nằm trong một chỉnh thể và thường xuyên tác động qua lại với nhau tạo nên sự vận động và biến đổi của xã hội
Ăngghen viết: “theo quan điểm duy vật lịch sử; nhân tố quyết định trong lịch sử, xét đến cùng, là sự sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực Cả Mác lẫn tôi chưa bao giờ khẳng định gì hơn thế Do đó, nếu có ai xuyên tạc câu đó khiến cho nó có nghĩa là nhân tố kinh tế là nhân tố quyết định duy nhất thì như vậy là họ đã biến câu đó thành một câu trống rỗng, trừu tượng, vô nghĩa” (1).
Trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà
nước, Ăngghen đã nêu rõ sự hình thành của ba nhà nước khác nhau: nhà nước
Aten, nhà nước La Mã và nhà nước Giécmanh
Xét về cơ sở kinh tế, cả ba nhà nước đều hình thành khi chế độ tư hữu đầu tiên đã xuất hiện trong lịch sử loài người Những điều kiện cụ thể để hình
Trang 5thành nhà nước khác nhau nên các hình thức tổ chức của các nhà nước cũng khác nhau Và như vậy, những mâu thuẫn xã hội đã trực tiếp quyết định hình thức tổ chức của bộ máy nhà nước, làm thay đổi cả nội dung hoạt động cơ bản của nó
Vậy, nếu chỉ nhìn thuần túy vào yếu tố kinh tế không thể giải thích được các hiện tượng phức tạp trên Ngoài những tiền đề, điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội, thể chế chính trị và đặc biệt là hệ thống chính trị còn chịu ảnh hưởng đáng kể của các yếu tố truyền thống của dân tộc
Khi nói về nhà nước vô sản, Lênin khẳng định: “Tất cả các dân tộc đều
sẽ đi đến chủ nghĩa xã hội, đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác nhau của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội (2).
Như vậy, để xem xét một thể chế chính trị phải xem xét một cách toàn diện Nếu tuyệt đối hóa một mặt nào đó đều là phiến diện, một chiều sẽ không tránh khỏi sai lầm Từ việc nghiên cứu sâu sắc quan hệ biện chứng giữa kinh
tế và chính trị đã từng diễn ra trong lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin nêu lên hai luận điểm nền tảng:
Một là, chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế;
Hai là, chính trị không thể không chiếm vị trí ưu tiên so với kinh tế.
Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế - điều đó có nghĩa là, so với kinh tế, chính trị là sự phản ánh, là "tính thứ hai"; không có quan hệ chính trị
và quy luật chính trị độc lập tuyệt đối với các quan hệ và quy luật kinh tế Tuy nhiên, từ luận điểm trên cũng cần lưu ý rằng chính trị không phải là cái gương soi đối với đời sống kinh tế, mà là sự biểu hiện tập trung của kinh tế Nó phản ánh mang tầm khái quát, làm bộc lộ cái bản chất nhất của đời sống kinh tế, cái
cơ bản nhất, cái mang tính chi phối đời sống kinh tế Cho nên, không phải kinh tế có kết cấu đa dạng như thế nào thì chính trị cũng có sự đa dạng tương ứng như thế
Khi nói đến kinh tế quyết định chính trị, chủ nghĩa Mác không bao giờ xem kinh tế là yếu tố duy nhất Bởi vì trong một xã hội cụ thể nhất định, ngoài các yếu tố trong lĩnh vực vật chất còn có các yếu tố trong lĩnh vực tinh thần Tất cả các yếu tố này đều nằm trong một chỉnh thể và thường xuyên tác
Trang 6động qua lại với nhau tạo nên sự vận động và biến đổi của xã hội, và xét đến cùng chịu sự tác động quyết định của lực lượng sản xuất
2.2 Tính độc lập tương đối của chính trị so với kinh tế
Hoàn toàn không phải kinh tế là nguyên nhân duy nhất chủ động còn mọi thứ khác chỉ có tác dụng thụ động Trái lại, các nhân tố khác có tác động qua lại trên cơ sở tính tất yếu kinh tế Xét toàn bộ, sự vận động kinh tế tiến triển theo con đường của nó, nhưng nó cũng phải chịu những tác động ngược lại của sự vận động chính trị được bản thân nó đặt ra và ban cho một tính độc lập tương đối
* Chính trị có quy luật vận động “riêng” “Chính trị có lôgic khách
quan của nó, không phụ thuộc vào những dự tính của cá nhân này hay cá nhân khác, của đảng này hay đảng khác”(3). Mặt khác, chính trị là nguồn động lực đối với phát triển kinh tế “Bạo lực - nghĩa là quyền lực nhà nước - cũng là một tiềm lực kinh tế (4).
* Chính trị tác động trở lại kinh tế Chính trị là nhân tố lãnh đạo kinh
tế, vạch hướng đi cho kinh tế, tạo những điều kiện chính trị, xã hội cho kinh tế phát triển Do đó, “Chính trị không thể không giữ địa vị hàng đầu so với kinh tế”, không thể không ưu tiên hơn, so với kinh tế, không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó không thể nào giữ được thống trị của mình, và do đó, cũng không thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất
"Chính trị không thể không chiếm vị trí ưu tiên so với kinh tế" là luận
điểm nói lên vai trò năng động, tính độc lập tương đối, sự tác động trở lại của
chính trị đối với kinh tế Quan điểm đó có tiền đề phương pháp luận xuất phát của mình từ tính năng động của ý thức đối với vật chất, của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội (khi xét chính trị từ phương diện "ý thức chính trị", bao gồm
cả quan điểm chính trị, đường lối chính trị, tâm lý và tình cảm chính trị, chủ trương, chính sách ) của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng (khi xét chính trị là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng)
Lịch sử chứng minh, không có nền kinh tế nào trong xã hội có giai cấp
mà lại không chịu sự chi phối điều tiết của chính trị, không trực tiếp thì cũng gián tiếp, không biểu hiện bên ngoài thì cũng ẩn dấu ở bên trong Điều khác nhau chỉ là nền chính trị nào? nhà nước thuộc về ai? Khi nói kinh tế có trước chính trị, quyết định chính trị có nghĩa là phải tìm nguồn gốc nguyên nhân của chính trị trong kinh tế Và khi nói chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế,
(3) V.I.Lênin: Toàn tâp, T14.TB.M, 1901, tr.246; t16, tr.68
Trang 7chính trị ưu tiên so với kinh tế, chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu là nói đến tác động tích cực của chính trị khi giải quyết nhiệm vụ kinh tế Bởi vì, một giai cấp muốn giải quyết vấn đề kinh tế của mình phải nâng lên quy mô giai cấp mà giải quyết chứ không phải là ở từng cá nhân và tất yếu phải nắm quyền lực nhà nước để giải quyết lợi ích của giai cấp mình Đây là điều kiện, là tiền đề để giải quyết các vấn đề kinh tế Ở đây chính trị đã được
"thiết chế hoá" thành hệ thống của các bộ máy mà biểu hiện tập trung là nhà nước Nó tác động trở lại kinh tế như là sức mạnh kinh tế Trong thực tiễn, sự tác động này có thể theo các hướng:
Một là, cùng chiều với sự phát triển kinh tế, khi đó, chính trị có vai trò
tích cực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Hai là, ngược chiều với sự phát triển kinh tế, khi đó, chính trị là một
vật cản, kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội
Ba là, chính trị có khả năng hạn chế phần nào phạm vi tác động những
khuynh hướng phát triển này, hoặc có thể đẩy mạnh tác dụng của những khuynh hướng phát triển khác trong một chế độ kinh tế nhất định
Ngày nay, chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường nhằm giải phóng và phát huy các năng lực sản xuất, tăng nhanh năng suất lao động, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội Cho nên sự tác động có tính định hướng của Nhà nước, của chính trị cần thiết phải chú ý đúng mức đến vai trò của chính trị đối với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
Trong những giai đoạn lịch sử nhất định, chính trị là nhân tố quyết định sự phát triển của các giai đoạn Đó là những thời kỳ đặc biệt, thời kỳ
chiến tranh, cách mạng Trọng tâm của giai đoạn này là vấn đề chính trị: vấn
đề giành, giữ chính quyền là hàng đầu Kinh tế lúc này chỉ là nhân tố phục vụ mục tiêu chính trị Luận điểm quan trọng này đặt ra vấn đề khi chuyển đổi giai đoạn từ chiến tranh sang thời kỳ hòa bình xây dựng, phải thay đổi nội dung giữa chính trị và kinh tế Ngày nay chúng ta xây dựng nền kinh tế thị trường, ngay từ buổi đầu đã có sự tác động định hướng của Nhà nước, của chính trị Bởi vì:
Một là, “Nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở nước ta… vừa vận
dụng theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội”
Hai là, Chính trị hướng kinh tế góp phần duy trì và củng cố quyền lực
chính trị và kinh tế của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng
Trang 8Ba là, Mối liên hệ giữa nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và sự
định hướng xã hội chủ nghĩa mang tính nội tại khách quan tất yếu của quá trình phát triển đất nước ta hiện nay
CHƯƠNG 2: SỰ VẬN DỤNG QUAN HỆ GIỮA KINH TẾ VÀ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI, THỰC TRẠNG TẠI
ĐỊA PHƯƠNG HIỆN NAY
1 Sự vận dụng quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở Việt Nam thời kỳ đổi mới
1.1 Đổi mới kinh tế ở Việt Nam
Đổi mới kinh tế được hiểu là quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế
tập trung bao cấp, căn bản dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và tập thể sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là bước chuyển từ nền kinh tế cơ bản là khép kín sang nền kinh tế "mở" đối với khu vực và thế giới, kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và từng bước đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Đại hội VI của Đảng ta đã xác định, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu chuyển sang vận hành theo cơ chế mới từ năm 1986
Đến Đại hội IX (4-2001) đã khẳng định, mô hình kinh tế tổng quát là:
“nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”1
Đại hội XIII của Đảng bổ sung nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội2
Đổi mới kinh tế còn là nhằm hội nhập kinh tế thế giới, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đa phương hóa, đâ dạng hóa các quan hệ quốc tế Mở cửa nền kinh tế với khu vực và thế giới để giải phóng sức sản xuất xã hội Tại Đại hội lần thứ VII (năm 1991), Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra phương châm “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng
2001, tr 86.
Hà Nội, 2021, tr 128-129.
Trang 9quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”, đánh dấu cột mốc quan trọng khởi đầu của Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ mới
Đến nay, với sự đan xen lợi ích rộng lớn chưa từng có với 27 đối tác chiến lược và toàn diện (trong đó có tất cả các nước P5 như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Pháp, Anh) cùng 59 đối tác FTA và trên 70 nước công nhận Việt Nam
là nền kinh tế thị trường đã góp phần không ngừng được vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới
1.2 Đổi mới chính trị ở Việt Nam
Đảng ta xác định: đổi mới chính trị không phải thay đổi định hướng xã hội chủ nghĩa; mà thực chất đổi mới chính trị là trở lại nhận thức và hành động đúng quy luật vận động của chính trị một cách tổng thể, trước hết và trực tiếp trong việc giải quyết vấn đề trung tâm là lợi ích và chung quanh lợi ích một cách tổng hòa, cụ thể từng cá nhân, giai cấp, tầng lớp, v.v tới quốc gia, dân tộc và với các nước trên tầm quốc tế mang tính thống nhất, chỉnh thể
và đa dạng
Từ Đại hội VII, Đảng ta chủ trương tiến hành đổi mới chính trị mà thực chất là tập trung vào đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị
Công việc đầu tiên trong đổi mới hệ thống chính trị là xác định rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức và mối liên hệ lẫn nhau của các tổ chức
đó trong một thiết chế chung thống nhất, khắc phục tình trạng trùng lắp, lấn sân hoặc đùn đẩy lẫn nhau, không thực hiện đủ và đúng trách nhiệm của mình
Trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị trong những năm đầu đổi mới
là tập trung đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các bộ phận cấu thành hệ thống Khắc phục tình trạng bộ máy cồng kềnh, chồng chéo, nhiều tầng nấc trung gian không cần thiết gây trở ngại cho sản xuất và quản lý xã hội
Nhiệm vụ hiện nay của đổi mới chính trị là tập trung giải quyết những vấn đề: cải cách hành chính; thực hiện quy chế dân chủ cơ sở; đổi mới công tác cán bộ; làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên…
Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định: “Kiên trì và quyết liệt thực hiện đổi mới Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp
Trang 10quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương để thúc đẩy đổi mới toàn diện và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc vì mục tiêu xây dựng nước Việt nam xã hội chủ nghĩa dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Văn kiện Đại hội XIII tiếp tục chủ trương đó đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đồng bộ với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội, con người…, đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa”
1.3 Mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam
Thời kỳ trước đổi mới (1986), Việt Nam thực hiện mô hình kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp, chính trị can thiệp quá sâu vào kinh tế bằng những mệnh lệnh hành chính chủ quan Điều này dẫn đến việc vi phạm các quy luật kinh tế khách quan, cản trở kinh tế phát triển; kinh tế rơi vào trì trệ, khủng hoảng
Từ khi đổi mới (từ 1986) đến nay, Đảng chủ trương đổi mới toàn diện và triệt để trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt, đổi mới cả kinh tế lẫn đổi mới chính trị Đảng chủ trương kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị Thời kỳ đầu lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, từng bước đổi mới chính trị
Tại Đại hội XI, XII, nội dung đổi mới đồng bộ giữa kinh tế và chính trị
là một trong các mối quan hệ cơ bản cần phải giải quyết Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, bảo đảm hài hoà giữa kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, văn hóa, xã hội”3
Từ thực tiễn đổi mới kinh tế và chính trị chúng ta cần tuân thủ một số nguyên tắc sau:
Một là, cần nhận thức đúng vấn đề có tính quy luật là kinh tế xét đến cùng quyết định chính trị, mọi sự biến đổi của chính trị đều là sự phản ánh
của biến đổi kinh tế, do kinh tế quyết định Vì vậy, phải từ đổi mới kinh tế mà đổi mới chính trị và từ thực tiễn xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa để xem xét đổi mới chính trị cho phù hợp Đồng thời, chính trị có vai trò định hướng, dẫn dắt đối với kinh tế nên phải đổi mới chính trị
thật, Hà Nội, 2021, tr 97.