1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tốt nghiệp Nghiên cứu mối tương quan giữa các yếu tố môi trường với hệ thực vật rừng tại VQG Hoàng Liên Sơn – Huyện Sa Pa – Tỉnh Lào Cai

85 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2. Mục đích của đề tài: Đánh giá hiện trạng hệ thực vật VQG Hoàng Liên. Đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội. Xác định được mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và thực vật tại VQG Hoàng Liên. Đề xuất các biện pháp bảo tồn thiên nhiên thích hợp cho VQG Hoàng Liên.

Trang 1

PHẦN 1

MỞ ĐẦU1.1 Đặt vấn đề:

Lào Cai là một tỉnh miền núi nằm ở phía Bắc Việt Nam, cách Hà Nội 296 kmtheo đường sắt và 375 km theo đường bộ Lào Cai có vị trí địa lý thuận lợi, nơi có haicon sông Hồng và sông Chảy, có cửa khẩu quốc tế Lào Cai và có nhiều tiềm năng khácthuận lợi cho việc phát triển kinh tế đối ngoại và du lịch

Lào Cai nổi tiếng với khu du lịch Sa Pa, là nơi có khí hậu, thời tiết mát mẻ vàomùa hè, hấp dẫn du khách nhiều nơi trên thế giới tới du lịch Sa Pa có khí hậu mang sắcthái ôn đới và cận nhiệt đới, không khí mát mẻ quanh năm Thời tiết ở thị trấn mộtngày có đủ bốn mùa: buổi sáng là tiết trời mùa xuân, buổi trưa tiết trời như vào hạ,thường có nắng nhẹ, khí hậu dịu mát, buổi chiều mây và sương rơi xuống tạo cảm giáclành lạnh như trời thu và ban đêm là cái rét của mùa đông Nhiệt độ không khí trungbình năm của Sa Pa là 15ºC Mùa hè, thị trấn không phải chịu cái nắng gay gắt nhưvùng đồng bằng ven biển, khoảng 13ºC – 15°C vào ban đêm và 20ºC – 25°C vào banngày Mùa đông thường có mây mù bao phủ và lạnh, nhiệt độ có khi xuống dưới 0°C,đôi khi có tuyết rơi Lượng mưa trung bình hàng năm ở đây khoảng từ 1.800 đến2.200mm, tập trung nhiều nhất vào khoảng thời gian từ tháng 5 tới tháng 8

Đến với sa pa nơi vô cùng độc đáo đối với những du khách thích khám phá thiênnhiên các bạn không thể không ghé thăm VQG Hoàng Liên, VQG Hoàng Liên tỉnhLào Cai là một trong những VQG của Việt Nam, được thành lập tháng 7 năm 2002 trên

cơ sở chuyển hạng khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Sa Pa Rang giới hành chínhcủa Vườn nằm trên địa bàn của 6 xã thuộc hai huyện Sa Pa và Than Uyên của tỉnh LàoCai và Lai Châu: Đây là một trong những VQG rất được chú ý ở Việt Nam vì nó nằmtrên dãy núi Hoàng Liên Dãy núi này là phần kéo dài của cao nguyên Vân Quí và núiAilao Shan từ Trung Quốc, phía đông của dãy núi Himalaya VQG Hoàng Liên nằm ởphía Đông của dãy núi Hoàng Liên và có nhiều đỉnh có độ cao trên 1000m, trong đó cóđỉnh Fansipan cao 3.143m so với mặt nước biển Fansipan là đỉnh núi cao nhất ViệtNam và cũng được gọi là nóc nhà của các nước Đông Dương Dãy Hoàng Liên còn là

Trang 2

nơi có những nét đặc biệt của miền khí hậu ôn đới và á nhiệt đới nên VQG Hoàng Liênđược coi là những trung tâm đa dạng sinh vật vào bậc nhất của Việt Nam với nhiều loàiđặc hữu và quí hiếm Vì thế bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật của vùng này khôngnhững có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn, góp phần thúc đẩychiến lược phát triển bền vững trên toàn thế giới mà chúng ta là một thành viên

VQG Hoàng Liên một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam

có tổng diện tích vùng lõi 29.845 ha và diện tích vùng đệm là 38.724 ha chủ yếu làrừng nguyên sinh với một thảm thực vật rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi cao vàmột hệ động vật rừng phong phú, đa dạng

Về hệ thực vật rừng, nơi đây có khoảng hơn 2.000 loài với các loại cây gỗ điểnhình như: tống quán sủ, bồ đề, đỗ quyên, pơ-mu, mận rừng , trong đó có khoảng 66loài ghi trong sách đỏ Việt Nam như: bách xanh, thiết sam, thông tre, thông đỏ, đinhtùng, dẻ tùng , 32 loài quý hiếm như: Loài bách xanh phân bố tại vùng núi đá vôi xãBản Hồ (Sa Pa), loài thông đỏ được tìm thấy tại xã Sa Pả (Sa Pa), loài Vân Sam HoàngLiên (Sam lạnh) phân bố trong vùng lõi VQG (ba loài cây này là những nguyên liệuchính dùng để chiết xuất ra nhiều loại thuốc chữa bệnh quý hiếm) và hàng trăm loàithảo dược như: quy, thục, đỗ trọng, hoàng liên chân chim, đỗ quyên, kim giao Ngoài

ra, tại đây người ta còn tìm thấy loài nấm cổ linh chi, nứa Sa Pa - phân bố chủ yếu ởvùng rừng núi cao của Trung Quốc và Việt Nam Vườn có kho tàng quỹ gen thực vậtquý hiếm chiếm 50% số loài thực vật quý hiếm của Việt Nam

Bên cạnh một hệ thực vật rừng phong phú, hệ động vật rừng cũng rất đa dạngvới 66 loài thú, phổ biến là: vượn đen tuyền, hồng hoàng, cheo cheo, voọc bạc má ,trong đó có 16 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam; 347 loài chim như đại bàng đốm to,trĩ mào đỏ, chim hét mỏ vàng ; 41 loài lưỡng cư và 61 loài bò sát, trong đó, có loàiếch gai rất hiếm ở Việt nam vừa mới được phát hiện Với hệ sinh thái rừng phong phúnhư vậy,VQG Hoàng Liên được đánh giá là một trong những trung tâm đa dạng sinhhọc bậc nhất nước ta

Trang 3

Đặc biệt, nơi đây còn bảo tồn, lưu giữ nhiều nét đẹp văn hóa truyền thống củacộng đồng các dân tộc sống trong vùng lõi và vùng đệm của VQG: đó là các hoạt động

ca múa nhạc của người Mông, Dao, Giáy với những nhạc cụ như: khèn, sáo, kèn, đànmô; các kiến trúc nhà ở của người dân tộc như: Người Mông ở trên cao, nền nhàthường thấp hơn và kín gió, nguyên liệu làm nhà chủ yếu bằng gỗ, nhà của người Tày ởvùng thấp nên thường là kiến trúc nhà sàn, mái lợp bằng cỏ tranh hay rơm rạ, ngày nay

đã được thay bằng ngói

Theo báo cáo đánh giá tác động của biến đổi khí hậu ở khu vực miền núi phíaBắc (mà dãy Hoàng Liên Sơn là đại diện), do Trung tâm Khoa học Công nghệ Khítượng Thủy văn mới tiến hành, cũng cho thấy do sự thay đổi môi trường sinh thái, đặcbiệt là sự dịch chuyển lên cao dần các vành đai nhiệt đới, dẫn đến sự thay đổi bước đầu

về hệ sinh thái núi cao Hoàng Liên Sơn, cũng như các vùng núi cao khác Tính đa dạngsinh học, đặc biệt là một số loài cây quý hiếm, nhất là cây dược liệu bản địa tại khu vựcHoàng Liên Sơn, đang có dấu hiệu suy giảm, đẩy nhiều loài vào nguy cơ tuyệt chủng

Nguy cơ suy giảm sinh thái thực sự là một thách thức lớn đối với VQG HoàngLiên, một kho dự trữ sinh quyển giá trị và là nơi đang lưu trữ nguồn gen hệ động thựcvật bậc nhất Việt Nam trong đó có 149 loài thuộc quý hiếm, nguy cấp, đang bị đe doạtuyệt chủng và được ghi vào trong Sách Đỏ Việt Nam và Sách Đỏ thế giới Điều nàyđồng nghĩa với việc khiến ngành du lịch sinh thái của VQG mới được hình thành cónguy cơ chết non, đẩy cuộc sống của hơn 10.000 cư dân địa phương, vốn chỉ sống nhờvào khai thác rừng và du lịch, đến chỗ kiệt quệ, họ sẽ tiếp tục phải triệt phá thiênnhiên… Và nếu mất tính đa dạng sinh học, thì VQG Hoàng Liên Sơn nơi đang bảo tồncác kiểu rừng á ôn đới và rừng nhiệt đới núi cao, sẽ không còn được công nhận là disản ASEAN nữa

Cho chúng ta thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa các yếu tố môi trường và sựphân bố của thực vật ảnh hưởng qua lại với nhau gây ra tác động hai chiều ảnh hưởngđến tự nhiên, và đời sống con người Và rất rõ ở VQG Hoàng Liên Sơn nơi có khí hậurất thấp cộng với sự đa dạng và phong phú các loài thực vật

Trang 4

Nhận thấy các nghiên cứu ở VQG Hoàng Liên Sơn chủ yếu tập trung vào việcliệt kê động, thực vật và giới thiệu những nét đặc trưng chung về môi trường Do vậyviệc nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và hệ thực vật tại VQG HoàngLiên là rất cần thiết nhằm tìm ra các biện pháp hữu hiệu trong việc bảo tồn thiên nhiên.

Xuất phát từ điều kiện thực tiễn trên được sự đồng ý của ban giám hiệu nhàtrường, Ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên – Môi trường Trường Đại Học Nông LâmThái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Tiến sỹ Hoàng Văn Hùng, em đã tiến

hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu mối tương quan giữa các yếu tố môi trường với

hệ thực vật rừng tại VQG Hoàng Liên Sơn – Huyện Sa Pa – Tỉnh Lào Cai”.

1.2 Mục đích của đề tài:

- Đánh giá hiện trạng hệ thực vật VQG Hoàng Liên

- Đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội

- Xác định được mối quan hệ giữa các yếu tố môi trường và thực vật tại VQG HoàngLiên

- Đề xuất các biện pháp bảo tồn thiên nhiên thích hợp cho VQG Hoàng Liên

1.3 Ý nghĩa đề tài:

- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Giúp cho em có cơ hội tiếp cận vớicách thức thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học, giúp em vận dụng được nhữngkiến thức đã học vào thực tế

- Ý nghĩa trong thực tiễn: Đề tài trang bị cho em những kiến thức cơ bản về môi trường

và hệ sinh thái rừng, cho em hiểu thêm về đa dạng sinh học của nước ta cũng như củađịa phương mình Từ đó giúp cho địa phương định hướng được biện pháp bảo tồn vàduy trì các loài cây quí hiếm trong thời gian tới

1.4 Yêu cầu đề tài:

- Nghiên cứu được mối tương quan giữa các yếu tố môi trường với hệ thực vật rừng tạiVQG Hoàng Liên - Sapa - Lào Cai

- Số liệu thu thập được phản ánh trung thực, khách quan

- Kết quả phân tích đạt được mục đích đề ra

- Những kiến nghị đưa ra phải có tính khả thi với điều kiện địa phương

Trang 5

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU2.1 Cơ sở của đề tài

2.1.1 Cơ sở lý luận

2.1.1.1 Khái niệm về môi trường, hệ sinh thái, đa dạng sinh học

1 Khái niệm môi trường:

Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam năm 2005 môi trườngđược định nghĩa như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhântạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển củacon người và sinh vật”

2 Khái niệm hệ sinh thái:

"Hệ sinh thái là hệ thống các quần thể sinh vật sống chung và phát triển trongmột môi trường nhất định, quan hệ tương tác với nhau và với môi trường đó"

Theo độ lớn, hệ sinh thái có thể chia thành hệ sinh thái nhỏ (bể nuôi cá), hệ sinhthái vừa (một thảm rừng, một hồ chứa nước), hệ sinh thái lớn (đại dương) Tập hợp tất

cả các hệ sinh thái trên bề mặt trái đất thành một hệ sinh thái khổng lồ sinh thái quyển(sinh quyển) Hệ sinh thái bao gồm hai thành phần: Vô sinh (nước, không khí, ) vàsinh vật Giữa hai thành phần trên luôn luôn có sự trao đổi chất, năng lượng và thôngtin

Sinh vật trong hệ sinh thái được chia làm ba loại:

← - Sinh vật sản xuất thông thường là tảo hoặc thực vật, có chức năng tổng hợpchất hữu cơ từ vật chất vô sinh dưới tác động của ánh sáng mặt trời

← - Sinh vật tiêu thụ gồm các loại động vật ở nhiều bậc khác nhau Bậc 1 là độngvật ăn thực vật Bậc 2 là động vật ăn thịt,

← - Sinh vật phân huỷ gồm các vi khuẩn, nấm phân bố ở khắp mọi nơi, có chứcnăng chính là phân huỷ xác chết sinh vật, chuyển chúng thành các thành phần dinhdưỡng cho thực vật

Trang 6

Trong hệ sinh thái liên tục xảy ra quá trình tổng hợp và phân huỷ vật chất hữu cơ vànăng lượng Vòng tuần hoàn vật chất trong hệ sinh thái là vòng kín, còn vòng tuầnhoàn năng lượng là vòng hở Như vậy, năng lượng mặt trời được sinh vật sản xuất tiếpnhận sẽ di chuyển tới sinh vật tiêu thụ các bậc cao hơn Trong quá trình đó, năng lượng

bị phát tán và thu nhỏ về kích thước Trái lại, các nguyên tố hoá học tham gia vào quátrình tổng hợp chất hữu cơ sau một chu trình tuần hoàn sẽ trở lại trạng thái ban đầutrong môi trường

Hệ sinh thái rừng (Forest ecosystem) là một hệ sinh thái mà thành phần nghiêncứu chủ yếu là sinh vật rừng (các loài cây gỗ, cây bụi, thảm tươi, hệ động vật và vi sinhvật rừng và môi trường vật lý của chúng (khí hậu, đất) Nội dung nghiên cứu hệ sinhthái rừng bao gồm cả cá thể, quần thể, quần xã và hệ sinh thái, về mối quan hệ ảnhhưởng lẫn nhau giữa các cây rừng và giữa chúng với các sinh vật khác trong quần xã

đó, cũng như mối quan hệ lẫn nhau giữa những sinh vật này với hoàn cảnh xung quanhtại nơi mọc của chúng (E.P Odum 1986, G Stephan 1980)

3 Khái niệm đa dạng sinh học

Đa dạng sinh học là sự phong phú và đa dạng của sự sống, có vai trò sống cònđối với Trái đất Đa dạng sinh học có nhiều giá trị to lớn, tập trung vào 3 nhóm: giá trịkinh tế, giá trị nhân văn và giá trị sinh thái

Giá trị kinh tế là cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm duy nhất cho conngười Theo tính toán của các nhà khoa học trên thế giới, hàng năm đa dạng sinh họccung cấp cho con người một lượng sản phẩm trị giá khoảng 33.000 tỷ USD

Giá trị nhân văn của đa dạng sinh học là tính phong phú, vẻ đẹp muôn màu củathiên nhiên, cung cấp giá trị thẩm mỹ

Giá trị sinh thái là vai trò duy trì cân bằng sinh học, bảo vệ các nguồn tàinguyên, điều hoà khí hậu và phân huỷ các chất thải

Trang 7

2.1.1.2 Các công ước quốc tế:

1 Về công ước quốc tế, Việt Nam đã tham gia nhiều chương trình như chươngtrình con người và sinh quyển (MAB – Man and Biosphere Programme) của UNESCO

2 Công ước CITES (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vậthoang dã nguy cấp) vào năm 1994

3 Công ước về biến đổi khí hậu (Climate change): thỏa thuận này đòi hỏi cácnước công nghiệp phải giảm đến mức tới hạn các chất gây ô nhiễm như Dioxit cacbon

và các khí nhà kính khác do họ ngây ra và phải thường xuyên làm báo cáo về kết quảcủa tiến trình này Công ước nêu rõ các khí nhà kính phải được duy trì ổn định ở mứckhông làm ảnh hưởng đến khí hậu trên trái đất

4 Công ước về đa dạng sinh học (Convention on Biological Diversity): Côngước đa dạng sinh học được UNEP khởi thảo từ năm 1988, trải qua nhiều lần gặp gỡ vàbàn bạc giữa các quốc gia đến ngày 5/6/1992 tại hội nghị quốc tế về môi trường vàphát triển Rio, 168 nước đã ký vào bản công ước và được thực thi vào ngày28/11/1994 Công ước về đa dạng sinh học gồm có phần mở đầu, 42 điều, 2 bản phụlục Việt Nam đã ký công ước đa dạng sinh học vào tháng 10/1994 và đã trở thànhthành viên thứ 99 của công ước này Tất cả nội dung của công ước đưa ra 3 mục tiêuchính:

+ Bảo vệ đa dạng sinh học

+ Sử dụng bền vững đa dạng sinh học

+ Phân phối lợi nhuận của các sản phẩm mới lấy từ các loài hoang dại và cácloài thuần dưỡng

2.1.2 Cở sở pháp lý:

1 Luật bảo vệ môi trường 29/11/2005

2 Nghị định 80/2003/NĐ – CP ngày 09/08/2006 của chính phủ về việc quy định chitiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trường

3 Nghị định 81/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của chính phủ về việc xử phạt vi phạmhành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

4 Luật bảo vệ và phát triển rừng (có hiệu lực từ 1-4-2005)

Trang 8

5 Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của chính phủ về quản lý thực vật

rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm

6 Nghị định 48/2002/NĐ-CP ngày 22/4/2002 sửa đổi bổ sung dang mục thực vật, độngvật hoang dã quý hiếm

7 Nghị định 18/HĐBT ngày 17/01/1992 của hội đồng bộ trưởng quy định danh mụcthực vật rừng, động vật rừng quí, hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ

2.2 Nghiên cứu đa dạng sinh học trên thế giới:

Cuộc khủng hoảng các loài động, thực vật hoang dã còn tồi tệ hơn cuộc khủnghoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay Ðó là cảnh báo của Phó Giámđốc chương trình về các loài vật của Nhóm bảo tồn đa dạng sinh học thuộc Liên đoànquốc tế bảo tồn thiên nhiên (IUCN) G.Cri-xtốp-phơ Vi khi ông ví von đây là thời điểm

để thừa nhận rằng thiên nhiên là "công ty" lớn nhất thế giới đang đem lại lợi nhuận100% cho con người Vậy mà thiên nhiên đang bị tàn phá nặng nề, để lại những hậuquả nghiêm trọng cho môi trường Ông kêu gọi các chính phủ nỗ lực, nếu không nói lànhiều hơn nữa, trong việc cứu lấy thiên nhiên như họ đã làm đối với các lĩnh vực kinh

tế và tài chính

Các loài thực vật và động vật tạo nên sự kỳ diệu trong thế giới hoang dã đều cóvai trò cụ thể, đóng góp thiết yếu cho cuộc sống con người như cung cấp lương thực,thuốc men, ô-xy, nước và cân bằng hệ sinh thái Khí hậu thay đổi dẫn tới môi trườngsống thay đổi và các loài động, thực vật cũng phải thay đổi chu kỳ sinh trưởng và cácđặc điểm cơ thể hoặc thay đổi đường di cư để thích nghi với môi trường mới, làm mất

đi sự đa dạng sinh học Theo một nghiên cứu mới đây về đa dạng sinh học quốc tế, cácnhà khoa học cảnh báo, hơn một phần ba loài động vật trên thế giới có nguy cơ tuyệtchủng Ngoài 47.677 loài nằm trong danh sách Ðỏ, một đánh giá có thẩm quyền nhấtcủa các nước về các loài vật trên Trái đất có nguy cơ tuyệt chủng và được đưa ra dựatrên nghiên cứu của hàng nghìn nhà khoa học, hiện nay 17.291 loài đang bị đe dọa,trong đó 21% là động vật có vú, 30% động vật lưỡng cư, 70% thực vật và 35% loàikhông xương sống Các loài động vật lưỡng cư là nhóm sinh vật bị ảnh hưởng nghiêmtrọng nhất trên Trái đất với 1.895 trong số 6.285 loài nằm trong danh sách bị đe dọa.Trong số này, 39 loài tuyệt chủng, 484 loài có nguy cơ tuyệt chủng cao, 754 loài bị đe

Trang 9

dọa và 657 loài không được bảo vệ Các nhà khoa học cảnh báo, thế giới không những

lo ngại số loài vật có nguy cơ tuyệt chủng cao mà còn bị đe dọa phá vỡ hoàn toàn hệsinh thái Những con số trên báo động nguy cơ các loài sinh vật biến mất vĩnh viễnmặc dù các nhà lãnh đạo trên thế giới đều cam kết sẽ hành động để đảo ngược xuhướng đó

Công ước về đa dạng sinh học (CBD) có hiệu lực năm 1993 đã đưa ra ba mụctiêu: bảo tồn đa dạng sinh học; sử dụng sự đa dạng sinh học một cách bền vững; chia sẻlợi ích của đa dạng sinh học một cách công bằng Hiện nay, 168 quốc gia đã ký côngước trên, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2010 giảm đáng kể tỷ lệ mất đa dạng sinh học

ở các cấp độ toàn cầu, khu vực và quốc gia Tuy nhiên, theo các nhà bảo tồn, loàingười chưa tiến hành đủ các biện pháp để ngăn chặn những mối đe dọa chính Ô nhiễmmôi trường, khí hậu thay đổi dẫn tới sự mất dần môi trường sống của các loài động,thực vật, một trong những nguyên nhân dẫn tới sự mất đa dạng sinh học Mất đi môitrường sống ảnh hưởng đến 40% động vật có vú Giám đốc IUCN, bà G.Xmát cảnhbáo, hiện có những bằng chứng khoa học về một cuộc khủng hoảng tuyệt chủngnghiêm trọng Sự mất đa dạng sinh học xảy ra nghiêm trọng nhất ở khu vực Trung vàNam Mỹ; Ðông, Tây và Trung Phi, nhất là ở Ma-đa-ga-xca; Nam và Ðông-Nam Á.Mất đa dạng sinh học là một trong những cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất thế giớikhi số các loài sinh vật giảm xuống mức thấp Các nước châu Phi cảnh báo rằng, hệsinh thái của châu lục này dễ tổn thương nhất thế giới trước những biến động của thờitiết Nạn đói, khan hiếm nước, tình trạng sa mạc hóa, năng suất nông nghiệp giảmkhiến chất lượng cuộc sống con người ở châu Phi xuống thấp Châu Phi chiếm khoảngmột phần của hàng nghìn nhà khoa học, hiện nay 17.291 loài đang bị năm các loài cây,động vật có vú và chim trên thế giới, chiếm một phần sáu loài lưỡng cư và bò sát.Khoảng một phần năm số loài chim ở miền nam châu Phi đã di cư theo mùa ở châu Phi

và một phần mười di cư giữa châu Phi và các châu lục khác trên thế giới

Theo các nhà phân tích, thế giới sẽ không đạt được mục tiêu giảm sự mất đadạng sinh học vào năm 2010 Vì vậy đã đến lúc chính phủ các nước phải hành động đểcứu các loài động, thực vật và phải đưa vấn đề này trở thành trọng tâm của các chươngtrình nghị sự năm tới khi không còn nhiều thời gian Các tổ chức quốc tế và nhiều nước

Trang 10

kêu gọi đưa vấn đề hậu quả nhân đạo vào nội dung các cuộc thương lượng chống biếnđổi khí hậu Mới đây, một nhóm khoảng 70 nhà khoa học trên thế giới đã đề xuất thànhlập một "vườn bách thú gien", coi đây là kho dữ liệu về gien của 10.000 loài động vật

có vú, chim, bò sát, động vật lưỡng cư và cá trên toàn thế giới Ra đời từ tháng 4-2009với sự tham gia của các nhà khoa học làm việc tại các vườn thú, bảo tàng động vật,trung tâm nghiên cứu và các trường đại học lớn trên thế giới, mục tiêu của dự án trị giá

50 triệu USD này là tập hợp và giải mã toàn bộ gien của khoảng 10.000 loài động vật

có xương sống trên Trái đất Theo GS Ð.Hau-xlơ, Ðại học Ca-li-fo-ni-a (Mỹ), nhữngkiến thức và sự hiểu biết về quá trình tiến hóa của các loài động vật có xương sống làmột trong những khám phá vĩ đại nhất của khoa học Với việc thành lập "vườn báchthú gien", giới khoa học sẽ có một cái nhìn xác thực hơn về quá trình tiến hóa cũng nhưbiến đổi về gien của các loài động vật qua thời gian để chúng thích hợp với môi trường

và điều kiện sống Kho dữ liệu này cũng sẽ góp phần vào công tác bảo tồn như so sánh

sự đa dạng hóa về gien, giúp các nhà khoa học dự báo chính xác hơn về phản ứng củacác loài động vật đối với những thay đổi về môi trường như ô nhiễm, biến đổi khí hậu,biến đổi về sinh học

Vấn đề đa dạng sinh vật và bảo tồn đã trở thành một vấn đề chiến lược trên toànthế giới Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánhgiá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật trên toàn phạm vi thế giới Đó là (IUCN),(UNEP), (WWF), (IPGRI)… Loài người muốn tồn tại lâu đời trên hành tinh này thìphải có một dạng phát triển mới và phải có cách sống mới Nhu cầu cơ bản và sự sốngcòn của con người phụ thuộc vào tài nguyên của trái đất, nếu những tài nguyên đó bịgiảm thì cuộc sống của chúng ta và con cháu của chúng ta sẽ bị đe dọa Chúng ta đãquá lạm dụng tài nguyên của trái đất mà không nghĩ đến tương lai, nên ngày nay loàingười đang đứng trước hiểm họa Để tránh sự hủy hoại tài nguyên của chúng ta phảitôn trọng trái đất và sống một cách bền vững, dù muộn còn hơn không chú ý, vì thếhiệp hội thượng đỉnh bàn về vấn đề môi trường và đa dạng sinh vật đã được tổ chức tạiRio de Janeiro (Brazil) tháng 6 năm 1992, 150 nước đã kí vào Công ước về đa dạngsinh vật và bảo vệ chúng Từ đó nhiều hội thảo được tổ chức để thảo luận và nhiềucuốn sách mang tính chất chỉ dẫn ra đời Năm 1990 WWF đã cho xuất bản cuốn sách

Trang 11

nói về tầm quan trọng đa dạng sinh vật (The importance of biological diversity) hayIUCN, UNEP và WWF đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới (World conservationstrategy) Wri, IUCN, và WWF đưa ra chiến lược sinh vật toàn cầu (Global biologicalstrategy) Năm 1991Wri, Wcu, WB, WWF xuất bản cuốn bảo tồn đa dạng sinh vật thếgiới (Conserving the world’s biological diversity) hoặc IUCN, UNEP, WWF xuất bảncuốn “hãy quan tâm đến thế giới” (Caring for the earth) Cùng năm, Wri, IUCN, vàUNEP xuất bản cuốn chiến lược đa dạng sinh vật và chương trình hành động Tất cảcác cuốn sách đó nhằm hướng dẫn và đề ra các phương pháp để bảo tồn đa dạng sinhhọc, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tương lai.

Năm 1992 – 1995 WCMC công bố một cuốn sách tổng hợp (Đánh giá đa dạngsinh vật toàn cầu) các tư liệu về đa dạng sinh vật của các nhóm sinh vật ở các vùngkhác trên toàn thế giới (Global biodiversity assessment) làm cơ sở cho việc bảo tồnchúng có hiệu quả

Bên cạnh đó, hàng ngàn tác phẩm, những công trình khoa học khác nhau ra đời

và hàng ngàn tác phẩm khác nhau được tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm vềphương pháp luận và thông báo kết qủa đã đạt được ở khắp mọi nơi trên toàn thế giới.Nhiều tổ chức quốc tế hay khu vực được nhóm họp tạo thành mạng lưới phục vụ choviệc đánh giá bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học

2.3 Nghiên cứu đa dạng sinh vật ở Việt Nam

Việt nam có diện tích phần lục địa rộng 35 triệu ha, một phần gắn liền với lụcđịa là một phần thông với đại dương, kéo dài từ bắc xuống nam hơn 1.650 km Phân bố

từ vĩ độ 8o30’ đến 23o2’ bắc và từ kinh độ 102o10’ đến 109o24’ đông Lãnh thổ ViệtNam chịu sự chi phối về hoạt động địa chất của hai địa khối Indonesia (từ Mường TèĐiện Biên Phủ ở cực tây bắc đến trung bộ và nam bộ) và Hoa Nam (Vùng bắc bộ) Địahình đa dạng và phức tạp với hai vùng đồng bằng lớn là châu thổ sông hồng ở phía bắc

và sông cửu long ở phía nam, có hai dãy núi lớn là Hoàng Liên Sơn và Trường Sơn có

độ cao hơn 2.000m và các cao nguyên mỏ như Đồng Văn, Mộc Châu, Sơn La, Gia Kon Tum, Đắc Lắc, Di Linh vv Việt Nam nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới ẩm giómùa với tổng lượng bức xạ đạt 110-120 calo/cm2/năm Nhiệt độ trung bình hàng nămkhác nhau giữa miền bắc và miền nam Lượng mưa trung bình hàng năm nói chung

Trang 12

Lai-vượt 1.500mm nhưng phân bố không đều trong năm lượng mưa thường lớn hơn 2 lầnlượng nước bốc hơi Khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh ở miền bắc (Từ vĩtuyến 18 Bắc trở ra) và khí hậu nhiệt đới gió mùa ở phía nam.

Các yếu tố địa chất địa hình đa dạng như vậy dấn đến Việt Nam có thảm thựcvật phong phú, từ rừng rậm nhiệt đới ẩm thường xanh, rừng rậm nhiệt đới mưa mùanửa rụng lá đến rừng á nhiệt đới ẩm thường xanh, á nhiệt đới hơi khô, sa van nhiệt đớikhô, truông nhiệt đới khô, rừng ngập mặn, rừng lá kim, rừng lùn núi cao vv

Với điều kiện tự nhiên và xã hội như vậy, Việt Nam là một trong những quốcgia có tính đa dạng sinh vật cao với khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao, cũng như sựphong phú về tri thức sử dụng cây cỏ Trong số đó có khoảng 6.000 loài cây có íchđược sử dụng làm thuốc, rau ăn, lấy gỗ, nhuộm vv Khoảng 3.200 loài cây cỏ và nấm

đã được ghi nhận là có giá trị hay có tiềm năng làm thuốc Nguồn tài nguyên cây cỏ tậptrung chủ yếu ở 6 trung tâm đa dạng sinh vật trong cả nước là Đông bắc, Hoàng LiênSơn, Cúc Phương, Bạch Mã, Tây Nguyên, Cao nguyên Đà Lạt

Việt Nam được coi là một trong những nước thuộc vùng Đông nam Á giàu về

đa dạng sinh học Ở Việt Nam do sự khác biệt lớn về khí hậu từ vùng gần Xích đạotới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên sự đa dạng vềthiên nhiên và cũng do đó mà Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao Một dải rộngcác thảm thực vật bao gồm nhiều kiểu rừng phong phú đã được hình thành ở các độcao khác nhau như các rừng thông chiếm ưu thế ở vùng ôn đới và cận nhiệt đới, rừnghỗn loại lá kim và lá rộng, rừng khô cây họ Dầu ở các tỉnh vùng cao, rừng họ Dầu địahình thấp rừng ngập mặn cây Đước chiếm ưu thế ở ven biển châu thô sông Cửu Long

và sông Hồng rừng Tràm ở đồng bằng Nam bộ và rừng hỗn loại tre nứa ở nhiều nơi Mặc dù có những tổn thất quan trọng về diện tích rừng trong một thời kỳ kéo dàinhiều thế kỷ, hệ thực vật rừng Việt Nam vẫn còn phong phú về chủng loại Cho đếnnay đã thống kê được 10.484 loài thực vật bậc cao có mạch khoảng 800 loài rêu và

600 loài nấm

Theo dự đoán của các nhà thực vật học số loài thực vật bậc cao có mạch ít nhất

sẽ lên đến 12.000 loài, trong đó có khoảng 2.300 loài đã được nhân dân dùng làmnguồn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức ăn cho gia súc, lấy gỗ, tinh dầu

Trang 13

và nhiều nguyên vật liệu khác Chắc chắn rằng hệ thực vật Việt Nam còn nhiều loài

mà chúng ta chưa biệt công dụng của chúng Cũng có thể có rất nhiều loài có tiềmnăng như một nguồn cung cấp dược liệu hết sức quan trọng

Hệ thực vật Việt Nam có mức độ đặc hữu cao Tuy rằng hệ thực vật Việt Namkhông có các họ đặc hữu và chỉ có khoảng 3% số chi là đặc hữu (như các chi

Ducampopinus, Colobogyne) nhưng số loài đặc hữu chiếm khoảng 33% số loài thực

vật ở miền Bắc Việt Nam và hơn 40% tổng số loài thực vật toàn quốc (Thái VănTrừng, 1970) Phần lớn số loài đặc hữu này tập trung ở bốn khu vực chính: khu vựcnúi cao Hoàng Liên Sơn ở phía Bắc, khu vực núi cao Ngọc Linh ở miền Trung, caonguyên Lâm Viên ở phía Nam và khu vực rừng mưa ở phần Bắc Trung Bộ Nhiềuloài là đặc hữu địa phương chỉ gặp trong một vùng rất hẹp với số cá thể rất thấp Cácloài này thường rất hiếm vì các khu rừng ở đây thường bị chia cắt thành những mảnhnhỏ hay bị khai thác một các mạnh mẽ

Bên cạnh đó, do đặc điểm cấu trúc, các kiểu rừng nhiệt đới ẩm thường không cóloài chiếm ưu thế rõ rệt nên số lượng cá thể của từng loài thường hạn chế và một khi đã

bị khai thác, nhất là khai thác không hợp lý thì chúng chóng bị kiệt quệ Đó là tình

trạng hiện nay của một số loài cây gỗ quý như Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa) Gụ mật (Sindora siamensis) nhiều loài cây làm thuốc như Hoàng liên chân gà (Coptis chinensis), Ba kích (Morinda officinalis) thậm chí có nhiều loài đã trở nên hiếm hay

có nguy cơ bị tiêu diệt như Thông nước (Glyptostrobus pensilis), Hoàng đàn (Cupressus torulosa), Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Cẩm lai Bà Rịa (Dalbergia bariaensis), Pơmu (Fokiena hodginsii) v.v.

Chính phủ Việt Nam đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệthiên nhiên bằng việc ban hành nhiều luật lệ và chính sách nhằm bảo vệ thiên nhiên vàmôi trường Trong bối cảnh môi trường và nguồn tài nguyên sinh vật đang bị đe dọatrên khắp thế giới cần thiết phải xây dựng chiến lược và xây dựng hành động ở mứctoàn cầu

Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường có chức năng nghiên cứuchính sách kinh tế - xã hội liên quan đến tài nguyên và môi trường nhằm đề xuất, xây

Trang 14

dựng chiến lược, chính sách về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của BộTài nguyên và Môi trường Vì vậy, những năm qua, việc nghiên cứu hỗ trợ công tácbảo tồn đa dạng sinh học là một trong những hoạt động ưu tiên nhằm phục vụ việc banhành Luật Đa dạng sinh học và xây dựng dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướngdẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh học Một số nghiên cứu chính:

1 Điều tra, nghiên cứu quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và hành lang đadạng sinh học Nghiên cứu đã cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn về quy hoạch bảo tồn

đa dạng sinh học và thành lập, quản lý các hành lang bảo tồn đa dạng sinh học phục vụban hành Luật Đa dạng sinh học

2 Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất cơ chế quản lý hoạt động tiếpcận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở Việt Nam Mục tiêu của đề tài nhằmcung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đề xuất xây dựng cơ chế, chính sách tiếpcận nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn gen ở Việt Nam

3 Điều tra, nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc ban hànhchính sách về chi trả dịch vụ môi trường Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu cơ sở lýluận về cơ chế chi trả dịch vụ môi trường (PES), kinh nghiệm thực tiễn của các nướctrên thế giới trong việc thực hiện cơ chế PES, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm

để áp dụng ở Việt Nam, nhằm đề xuất khung chính sách về PES phù hợp với nước ta

Ngoài công tác nghiên cứu, trong khuôn khổ hỗ trợ của Chương trình môitrường trọng điểm và Sáng kiến hành lang bảo tồn đa dạng sinh học Tiểu vùng MêCông mở rộng (GMS-CEP-BCI), Viện đã tổ chức một số lớp tập huấn về khung Luật

Đa dạng sinh học, hệ thống pháp luật về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinhhọc, chi trả dịch vụ môi trường, v.v… tại các tỉnh Trung Trường Sơn và một số vườnquốc gia

Hiện nay, Viện đang chủ trì, phối hợp với Vụ Hợp tác quốc tế và các đơn vị liênquan phối hợp với ADB để hoàn thiện thủ tục Hỗ trợ kỹ thuật chuẩn bị dự án (PPTA)cho BCI pha 2 (2011-2015) với vốn vay 30 triệu đô la Mỹ nhằm tăng cường và hoànthiện cơ chế quản lý và phát triển bền vững các hành lang bảo tồn đa dạng sinh học để

Trang 15

xoá đói, giảm nghèo ở vùng Trung Trường Sơn; tăng cường hiệu quả bền vững về môitrường và đánh giá tác động của những đầu tư vào ngành sản xuất ở khu vực hành langkinh tế GMS.

Liên Hiệp quốc lấy năm 2010 là Năm quốc tế về Đa dạng sinh học nhằm cảnhbáo về sự biến mất của nhiều loài sinh vật trên thế giới và tăng cường công tác bảo tồnthiên nhiên và đa dạng sinh học, bảo vệ các loài động, thực vật nguy cấp, quý, hiếmđang có nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên

Chủ đề của Ngày quốc tế về Đa dạng sinh học (IDB) năm 2010 là Đa dạng sinh

học, phát triển và giảm nghèo Năm nay, IDB là một phần của Năm Quốc tế về Đa

dạng sinh học Thông điệp của IDB 2010 nhằm nâng cao nhận thức về đa dạng sinhhọc và tăng cường hợp tác để hành động hỗ trợ bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môitrường cho các Bên tham gia Công ước Đa dạng sinh học và các cộng đồng phát triển

Trong Năm quốc tế về Đa dạng sinh học, chúng ta hãy suy nghĩ nghiêm túc vềnguyên nhân gốc rễ của sự suy giảm đa dạng sinh học và cần có hành động để ngănchặn sự suy giảm này Chúng ta cần nhận thức rằng đa dạng sinh học là sự sống – đa

dạng sinh học là cuộc sống của chúng ta Chúng ta hãy hành động ngay để bảo vệ

nguồn tài nguyên đa dạng sinh học trước khi quá muộn

Năm 1997, bộ khoa học công nghệ và môi trường đã ban hành “quy chế quản lý

và bảo tồn nguồn gen động vật, thực vật và vi sinh vật”, trong đó nội dung công tácquản lý bảo tồn, lưu trữ nguồn gen bao gồm: điều tra, khảo sát và thu thập các nguồngen Bảo tồn lâu dài và an toàn các nguồn gen đã thu thập được, đánh giá các nguồngen theo các chỉ tiêu sinh học cụ thể, tư liệu hóa nguồn gen (sau khi đã được đánh giá),trao đổi thông tin tư liệu và nguồn gen, đồng thời định hướng “đối tượng đưa vào bảotồn” bao gồm ưu tiên các nguồn gen quí, hiếm, đặc thù của Việt Nam và đang có nguy

cơ bị mất, các nguồn gen đã được đánh giá chỉ tiêu sinh học, các nguồn gen cần chocông tác nghiên cứu, lai tạo giống và phục vụ đào tạo, các nguồn gen được nhập từnước ngoài đã được ổn định và thuần hóa ở Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong sảnxuất

Trang 16

Đã có 136 loài thuộc 60 họ, 3 ngành thực vật bậc cao đã được xác định thuộcdiện quí hiếm và đang bị đe dọa tuyệt chủng ở mức độ khác nhau (dựa vào bộ phânhạng cũ của IUCN), trong đó có 23 loài thuộc điện nguy cấp, 21 loài thuộc diện sắpnguy cấp, 53 loài thuộc diện hiếm, 36 loài thuộc diện bị đe dọa và 5 loài chưa được biếtđầy đủ

Về đa dạng thực vật, ngoài những tác phẩm cổ điển của Loureiro (1970) củaPierre (1879 – 1907), từ những năm đầu thế kỷ đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, lànền tảng cho việc đánh giá tính đa dạng thực vật ở Việt Nam, đó là bộ “thực vật chíđông dương” do H Lecomte chủ biên (1907 – 1952) và các công trình khác của: PhạmHoàng Hộ, Nguyễn văn Dưỡng “cây cỏ miền nam Việt Nam” (1960); Trần NgũPhương “Bước đầu nghiên cứu rừng miền bắc Việt Nam” (1070); Thái Văn Trừng

“Thảm thực vật rừng Việt Nam” (1970); Lê Khả Kế và tập thể “Cây cỏ thường thấy ởViệt Nam” (1069 – 1976); Phạm Hoàng Hộ “Cây cỏ Việt Nam” (1991 – 1993) và táibản 1999 -2000); Võ Văn Chi “1900 cây có ích ở Việt Nam” (1997); Trần Đình Lý vàtập thể “Từ điển cây thuốc Việt Nam” (1993); và các công trình của tập thể: Cây gỗrừng Việt Nam, Sách đỏ Việt Nam, Danh lục các loài thực vật Việt Nam, Thực vật chíViệt Nam (các họ Lamiaceae, Myrsinaceae …)

Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về thực vật (Đa dạng và phân loại) ở cácvùng khác nhau ở Việt Nam như: Phạm Hoàng Hộ Danh “Nghiên cứu hệ thực vật phúquốc (1985); Lê Trần Chấn, Phan Kế Lộc, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nông Văn Tiếp

“Nghiên cứu hệ thực vật Lâm Sơn, Lương Sơn (Hòa Bình, 1990); Nguyễn Nghĩa Thìn,Nguyễn Thị Thời “Nghiên cứu hệ thực vật rừng núi cao Sa Pa – Phan Si Păng (1998).Nguyễn nghĩa Thìn “hệ thực vật cúc phương vùng núi đá vôi hòa bình, núi đá vôi Sơn

La, khu bảo tồn Na Hang của tỉnh tuyên Quang, vùng núi cao Sa Pa – Phan Si Păng,vùng ven biển nam trung bộ, VQG Ba Bể, Cát Bà, Bến Én, Hoàng Liên, Phong Nha,Cát Tiên, Yok Đôn, Bạch Mã, Pù Mát, Bà Nà (1995 – 2003)

Bên cạnh những công trình nghiên cứu theo hướng kiểm kê thành phần loài trênphạm vi không gian rộng lớn (cả nước hoặc miền bắc và miền nam) còn xuất hiện một

số công trình trên phạm vi không gian tương đối nhỏ, có thể xem như các hệ thực vật

cụ thể, tức là: “Hệ thực vật của một vùng hạn chế trên bề mặt trái đất, hoàn toàn đồng

Trang 17

nhất về mặt địa lý, chỉ phân hóa về các điều kiện sinh thái” (A.I.Tônmachôp, 1974).Trước hết phải kể đến: “ Danh mục thực vật Cúc Phương” của tập thể cán bộ phân việnnghiên cứu lâm nghiệp – tổng cục nông nghiệp (1970) Trong công trình này, tập thểtác giả đã thống kê được 1674 loài thực vật bậc cao có mạch trên diện tích khoảng 250

km2, nằm trọn vẹn trong cảnh địa lý “Đồi Casto xâm thực Cúc Phương” Tiếp đến làcông trình “Danh lục thực vật đảo Phú Quốc” của Phạm Hoàng Hộ (1985) đã thống kêđược 793 loài thực vật bậc cao có mạch phân bố trên diện tích 562 km2 Chắc chắn sốlượng loài đã biết còn chưa đầy đủ so với con số sự thật Năm 1984, Nguyễn Tiến Bâncùng tập thể tác giả đã công bố kết quả nghiên cứu hệ thực vật Tây Nguyên trong côngtrình: “Danh lục thực vật Tây Nguyên” với số loài đã kiểm kê được là 3201 loài, chiếmgần ½ số loài đã biết của toàn Đông Dương Gần đây có công trình “Góp phần nghiêncứu một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Lâm Sơn” (Lê Trần Chấn, 1990), khôngchỉ thống kê tương đối đầy đủ số loài hiện có (trên diện tích 15 km2 đã thu được 1260loài) mà còn tiến hành phân tích cấu trúc hệ thống, phổ dạng sống và phổ các yếu tốđịa lý của hệ thực vật này Có thể xem đây là một trong những công trình mở đầu chohướng nghiên cứu địa lý thực vật theo đúng nghĩa của nó

Mặc dù từ đầu thế kỷ này, việc nghiên cứu thực vật Việt Nam đã đạt đượcnhững kết quả đáng chân trọng Tuy nhiên, phần lớn các công trình chỉ mới chú trọngđến việc kiểm kê thành phần loài, trừ một số công trình của T.Pocs, Phan Kế Lộc và LêTrần Chấn, đã đi sâu phân tích các đặc trưng cơ bản của hệ thực vật bao gồm: cấu trúc

hệ thống, phổ dạng sống và phổ các yếu tố địa lý Đây chính là những nội dung chủyếu của nhiệm vụ nghiên cứu địa lý thực vật

Theo A.I Tômachôp, cấu trúc hệ thống là sự phân phối số loài (chi, họ…) theocác taxon bậc cao riêng cho mỗi hệ thực vật nó bao gồm nhiều chỉ tiêu, trong đó, cácchỉ tiêu dưới đây thường được sử dụng để đặc trưng cho mỗi hệ thực vật và so sánh vớicác hệ thực vật khác:

1 Số lượng loài, chi, họ và các taxon bậc cao hơn

2 Hệ số chi (số loài trung bình của một chi)

3 Hệ số họ (số chi trung bình của một họ)

4 Số loài trung bình của một họ

Trang 18

5 Tỷ lệ phần trăm số loài của các ngành: Quyết lá thông, thông đất, cỏ tháp bút,dương xỉ, tuế, dây ngắm, và ngọc lan trong hệ thực vật.

6 Tỷ lệ phần trăm số loài thuộc lớp Hành so với lớp Ngọc lan của ngành Ngọclan

7 Tỷ lệ phần trăm số loài thuộc các dưới lớp của ngành Ngọc lan

8 Tỷ lệ phần trăm số loài của 10 họ giầu loài nhất của hệ thực vật

Trong các số chỉ tiêu đã nêu thì 4 chỉ tiêu đầu tiên của các hệ thực vật ở bán cầubắc thể hiện rất rõ quy luật tăng dần theo hướng di chuyển từ vùng bắc cực đến xíchđạo ngược lại, theo nhận xét của De Candolle thì tỷ lệ của các loài thuộc lớp Hành sovới lớp Ngọc lan lại giảm dần

Tuy nhiên 4 chỉ tiêu đàu tiên không chỉ phụ thuộc vào yếu tố địa lý, độ phongphú về thành phần loài, mà còn phụ thuộc vào diện tích của hệ thực vật nghiên cứu Do

dó, việc sử dụng các chỉ tiêu này để so sánh các hệ thực vật với nhau có những hạn chếnhất định Duy có tỷ lệ (%) của 10 họ giầu loài nhất được xem là bộ mặt của mỗi hệthực vật và là chỉ tiêu đáng tin cậy vì nó không phụ thuộc vào diện tích nghiên cứucũng như mức độ giầu loài của hệ thực vật

Một nội dung quan trọng khác là phân tích các yếu tố địa lý của hệ thực vật.Mỗi hệ thực vật bao gồm các loài giống nhau và khác nhau về nguồn gốc phân bố địa

lý do hệ phụ thuộc do sự phụ thuộc vào điều kiện môi trường và lịch sử phát sinh Ýnghĩa chủ yếu của việc phân tích nguồn gốc phát sinh là để phân biệt 2 nhóm: bản địa

Trang 19

Trong các yếu tố địa lý thì yếu tố đặc hữu được đánh giá là quan trọng nhất vì nó thểhiện được nét độc đáo, riêng biệt của mỗi hệ thực vật khi phân vùng địa lý thực vật,tiêu chuẩn hàng đầu để phân định ranh giới giữa các vùng, miền, khu… chính là cáctaxon đặc hữu.

Từ những dẫn liệu trên, cho phép rút ra nhận xét: hệ thực vật Việt Nam khôngchỉ thể hiện tính độc đáo do có yếu tố đặc hữu chiếm tới ¼ số lượng loài, mà còn liên

hệ chặt chẽ với các hệ thực vật vùng lân cận

2.4 Những nghiên cứu ở VQG Hoàng Liên

2.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của VQG Hoàng Liên

+ Điều kiện tự nhiên

Sả Hồ, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ, Mường Khoa, Thân Thuộc thuộc 2 huyện Sa Pa vàThan Uyên, ranh giới tiếp giáp với 5 huyện: Văn Bàn, Than Uyên, Sa Pa, thị xã LàoCai, tỉnh Lào Cai và huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu

Trụ sở của ban quản VQG Hoàng Liên nằm tại thị trấn Sa Pa

* Địa hình

Hoàng Liên Sơn là một hệ thống các đỉnh núi cao trên 2000m chạy dọc theohướng tây bắc – đông nam Đặc biệt, ở VQG có đỉnh núi Fansipan cao 3.143m so vớimặt nước biển, đây có thể coi là đỉnh nui cao nhất của Việt Nam nói riêng và ĐôngDương nói chung Các hệ chính của dãy núi thoải dần theo hướng đông bắc và tây namtạo thành 2 sườn chính của dãy Hoàng Liên Sơn trong đó sườn đông bắc thuộc huyện

Sa PA và sườn tây nam thuộc huyện Than Uyên Phần lớn các đỉnh núi có độ cao trung

Trang 20

bình từ 2000 đến 2500m còn độ cao có bình độ thấp nhất phía Sa Pa là 380m (xã BảnHồ) Càng về phía nam các thung lũng càng bằng phẳng, rộng hơn và đa số được đồngbào dân tộc sử dụng làm ruộng bậc thang Các dạng địa hình chủ yếu của VQG HoàngLiên gồm núi cao, thung lũng, sườn núi đồi Mức độ chia cắt theo chiều ngang và chiếuthẳng đứng rất mạnh tạo sự phức tạp của địa hình và độ dốc lớn Độ dốc trung bình phổbiến từ 20 đến 30o, cớ nơi 40o và dốc đứng Hiện tượng sạt lở đất, lở núi xảy ra ở nhiềunơi trên các sườn núi cao, hiện tượng Karst cũng phổ biến và có suối ngầm

* Khí hậu – Thủy văn

- Khí hậu

VQG Hoàng Liên khác thường với Việt Nam là thay đổi theo mùa, á nhiệt đớivào mùa hè và ôn đới vào mùa đông Do vị trí địa lý và đặc điểm địa hình núi cao,hường núi của dãy núi Hoàng Liên theo hướng tây bắc – đông nam quyết định khí hậucủa vùng Sườn đông đón gió đông và đông bắc nên thường xuyên ẩm ướt và lạnh.Sườn tây chịu ảnh hưởng của gió mùa tây nam nên ấm hơn Tuy nhiên, do điều kiệnđịa hình chi phối nên chế độ khí hậu vẫn thuộc kiểu khí hậu lạnh – mát, độ ẩm cao vàkhông có thời kỳ khô hạn Chế độ sinh khí hậu ở Sa Pa (trên độ cao 1500m trở lên)theo sự phân chia của giáo sư Lâm Công Đinh (1992) là: mùa hè ẩm ướt từ tháng 5 đếntháng 9, mùa đông từ tháng 10 dến tháng 4 năm sau Ở Sa Pa khí hậu lạnh và luôn cómây mù (160 mây, mù trong 1 năm)

Đặc điểm các yếu tố khí hậu: khí hậu của dãy Hoàng Liên vẫn mang các đặcđiểm chung của khí hậu phần phía bắc Việt Nam, đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa, cómùa hè nóng ẩm, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa Tuy nhiên, ở đây khí hậu cònmang những sắc thái riêng của miền núi cao và được thể hiện qua các chỉ số của cácyếu tố hình thành khí hậu sau đây:

* Bức xạ

- Tổng bức xạ mặt trời có chỉ số phổ biến từ 100 – 135 kcal/cm2/năm, ngoài giớihạn này có ở Sa Pa (86,0), Mù Cang Chải (137,8) Biến trình năm của tổng xạ có dạng

Trang 21

một đỉnh, lớn vào các tháng mùa hè, lớn nhất vào tháng 5 và tháng 7, nhỏ nhất vào cáctháng mùa đông tháng 12 và tháng 1 (3,5 – 8,5 kcal/cm2/tháng).

- Cân bằng bức xạ của mặt đệm có chỉ số trung bình nằm phổ biến từ 56 – 76kcal/cm2 Ngoài giới hạn này còn thấy ở Sa Pa (44,7) ở Mù Cang Chải (78,9) Khoảng56% năng lượng tích lũy này có mặt đệm dùng để bốc hơi nước và 44% dùng chochuyển động loại lưu Biến trình năm của các cân bằng bức xạ của mặt đệm cũng cómột dạng đỉnh lớn vào các tháng mùa hè, lớn nhất vào tháng 5 và tháng 7 (7 -8kcal/cm2/tháng) nhỏ vào các tháng mùa đông, nhỏ nhất vào tháng 1 vá tháng 12 (1 –4,5 kcal/cm2/tháng)

* Nhiệt độ

- Nhiệt độ không khí trung bình năm có chỉ số phổ biến từ 13 - 21o, lớn ở sườnTây, nhỏ ở sườn Đông Biến trình năm của nhiệt độ có dạng một đỉnh vào các thángmùa hè, cao nhất vào tháng 6 – 7 có chỉ số 16 – 25o, có khi lên tới 19,4o Nhiệt độ thấpnhất vào các tháng 12 và tháng 1, nhiều năm xuống tới 5oC, ngày lạnh nhất xuống 0oC.Vào mùa đông năm nào cũng có băng giá và tuyết rơi đôi khi có thể xuống dưới -3oC.Vào ban đêm nhiệt độ trung bình thấp nhất 1oC Vì chưa có những số liệu khí tượng ởnhững nơi có nhiệt độ cao lớn hơn Sa Pa, nên có thể nói rằng càng lên cao khí hậu càng

có chiều hướng giảm nhiệt Ở độ cao trên 3000m, theo những số liệu đo được của cácđoàn thám hiểm thì nhiệt độ trung bình chỉ còn lại 12oC hoặc thấp hơn nữa vào giữamùa hè (tháng 6) nhiệt độ không khí trên đỉnh giao động trong khoảng 8 – 12oC Tạiđây, quy luật đai cao phát huy tác dụng mạnh nhất Đai Á nhiệt đới trên núi phát triểntrọn vẹn 600 – 2000m, vì tại trạm khí tượng Hoàng Liên ở độ cao 2600m vẫn còn tổngnhiệt độ trên 4500oC của đai á nhiệt đới Trên các đường đỉnh vượt 2600m đã xuất hiệnđai ôn đới trên núi, với tổng nhiệt độ xuống dưới 4500oC

- Nhiệt độ mặt đất trung bình năm có chỉ số phổ biến từ 14 – 24oC lớn hơn nhiệt

độ không khí ở các trạm tương ứng từ 2 -3oC đã tạo cho lớp không khí gần mặt đất(2m) có Gradien nhiệt độ thẳng đứng dương và tương đối lớn Tháng 7 có chỉ số 85 –

160oC/100m và tháng 1 từ 65 – 125oC/100m, chính vì vậy nên lãnh thổ nghiên cứu có

Trang 22

đối lưu nhiệt tương đối mạnh quanh năm, mùa hè mạnh hơn mùa đông, sườn tây mạnhhơn sườn đông

* Gió

Hướng gió chủ yếu là Tây bắc, tốc độ gió trung bình 2,7m/s

Gió hại: hàng năm có gió tây suất hiện vào tháng 3, tháng 4 nhất là phía ThanUyên Gió này mang hơi nóng và khô nên ảnh hưởng đến sinh trưởng của các loài sinhvật

Mây được hình thành dưới chân dốc của khối núi Phanxipang và che phủ hầuhết các ngày trong năm ở các khu vực cao và có độ ảm rất lớn mây cũng có thể xuyênxuống các thung lũng, các khu vực này có độ ẩm không bằng các sườn dốc Khu vực

xa nhất của VQG Hoàng Liên, vùng xung quanh Bản Hồ, nhiệt độ trung bình cao hơnđáng keerbowir vì độ cao ở đây thấp hơn rất nhiều

Nhìn chung, khí hậu VQG Hoàng Liên có đặc điểm khác biệt so với VQG khác,

có tuyết rơi vào mùa đông và đây là một trong những đặc điểm đặc trưng của vườn Vìthế, trong VQG này có sự phân bố đa dạng của hệ động vật, thực vật, sự đa dạng củađịa hình, các kiểu rừng cũng mang tính đặc trưng của tiểu vùng khí hậu

Cùng với khí hậu mát mẻ vào mùa hề, sự phong phú của các loài động, thực vật,

sự đa dạng của địa hình và sự độc đáo của văn hóa dân tộc vùng cao đã taaoj nên mộtkhu du lịch nghỉ mát Sa Pa nổi tiếng

Trang 23

Do nhiệt độ về mùa đông thấp, có sương muối và băng giá đã tạo nên những khókhăn nhất định trong việc gieo ươm, gây trồng các loại cây nông lâm nghiệp, ảnhhưởng đến tốc độ sinh trưởng của các loài cây trồng cũng như cây trồng tự nhiên.

- Thủy văn

Đặc biệt rừng ở trên khu vực cao luôn được bao phủ bởi các đám mây Nướcđược ngưng tụ lại trên các đám thực vật và khi chay xuống là lượng mua “huyền bí”(Hamiton, L.S in Ives & Pitt et al, 1998) Lượng mưa này sẽ đóng góp lượng mưa chủyeeuscho dòng chay của suối vào mùa khô khi lượng nước tự nhiên rất thấp(Brujjnzeel, 1998)

Trên địa bàn VQG tồn tại hai thượng nguồn của các con sông và suối: Ở phí bắc

có sông Mường Hoa Hồ chảy về sông Nậm Phó và đổ vào sông hồng, ở phía nam cóhai suối Nậm Pao và Nạm Cang Chải chảy vào sông Đà Bởi vậy rừng VQG sẽ có vaitrò cốt yếu trong việc bảo vệ nguồn nước mặc dù không có sông lớn chay qua, nhưng

do đặc điểm địa hình của khu vực, VQG Hoàng Liên được tạo thành từ 2 sườn chính.Sườn đông bắc dốc thẳng về phía sông hồng và sườn tây nam dốc thẳng về phía sông

Đà

* Địa chất và thổ nhưỡng

Theo Kemp et al (1995) thì địa chất của VQG Hoàng Liên gồm trầm tích biếnhóa và sự xâm nhập của đá Granit, nền địa chất của khu vực có nguồn gốc kiến tạothuộc kỷ Trias, chịu ảnh hưởng rất lớn của hoạt động tạo sơn Indexin

Dải dá trầm tích biến hóa chạy từ đông bắc sang tây nam dọc theo thung lũngMường Hoa Phía đông bắc của thung lũng là dải có nhiều đá cẩm thạch và đá cacbontrầm tích có những nét trạm khảm trên đó và chúng đang bị khai thác lam đường giaothông Phần đáy của thung lũng bao gồm đá diệp thạch và phạm vi hẹp hơn đá Granit

Các loại đá chính thuộc hai nhóm đá mắc-ma axit và đá biến chất gồm Granit,Gbai, Amphibolit, Filit, Đá vôi trong đó đá Granit là phổ biến nhất

Các loại khoáng sản gồm có: Fes2, AU,Ag…

Trang 24

Địa chất và địa hình, kết hợp với khí hậu lam nên thổ nhưỡng quy luật phân bố các loàiđất đai ở VQG Hoàng Liên theo độ cao được thể hiện rất rõ Kết quả điều tra phân loạiđát đá xá định trong khu vực có 2 nhóm, 5 nhóm phụ, 8 loại và 29 loại phụ 8 loại đấtchính như sau:

1 Đất mùn thô than bùn màu xám trên núi cao phân bố từ 1700 – 2800m

2 Đất mùn alit màu vàng nhạt trên núi cao phân bố từ 1700 – 2800m

3 Đất Feralit màu vàng đỏ núi cao phát triển trên đá axit từ 700 – 1700m

4 Đất Feralit mùn vàng đỏ núi cao phát triển trên đá biến chất từ 700 – 1700m

5 Đất Feralit vàng đỏ vùng núi phát triển trên đá axit từ 300 – 700m

6 Đất Feralit vàng đỏ núi cao phát triển trên đá biến chất từ 300 – 700m

7 Đất Feralit biến đổi do trồng lúa

8 Đất dốc tụ trồng lúa

* Về kinh tế

1 Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm 17%.

Trong đó: - Du lịch - Dịch vụ - Thương mại tăng 20%

- Nông nghiệp tăng 9,1%

- Công nghiệp - TTCN - Xây dựng tăng 25%

2 GDP bình quân đầu người: đến năm 2010 mức thu nhập bình quân đầu

người đạt 10,2 triệu/năm, tăng 2 lần so với năm 2005

3 Cơ cấu các ngành trong GDP: Cơ cấu các ngành kinh tế theo hướng

Du lịch, dịch vụ, thương mại - nông, lâm nghiệp - công nghiệp, xây dựng

Trong đó:

- Du lịch – Dịch vụ – Thương mại chiếm 65%

- Nông lâm nghiệp chiếm 22%

Trang 25

- Công nghiệp – TTCN - Xây dựng chiếm 13%.

4 Du lịch dịch vụ

- Tốc độ tăng trưởng về khách du lịch bình quân hàng năm: 20%, đến 2010đón 450.000 lượt khách

- Nâng cao chất lượng các dịch vụ và hiệu quả kinh doanh du lịch

5 Sản xuất nông lâm nghiệp:

- Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp tăng bình quân hàng năm: 17,14%

- Tỷ lệ che phủ của rừng đến năm 2010 phấn đấu đạt 60%

- Hệ số sử dụng đất: 1,3 – 1,4 lần Giá trị trên 1 ha/nghìn tấn

6 Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp:

- Giá trị sản xuất công nghiệp – TTCN – Xây dựng tăng bình quân 30%/năm

- Phấn đấu 100% số xã có đường nhựa đến trung tâm xã

- Tỷ lệ xã có điện lưới quốc gia đến trung tâm xã: 100%; 80% số hộ gia đìnhđược sử dụng điện

7 Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn:

- Tỷ lệ tăng thu thường xuyên của ngân sách trên địa bàn bình quân hàng năm20%, đến năm 2010 thu thường xuyên ngân sách trên địa bàn đạt 31 tỷ đồng (chưa tínhthu từ tiền sử dụng đất)

* Về xã hội:

1 Giáo dục & Đào tạo:

- Tỷ lệ độ tuổi trẻ em đến trường 98% trở lên

- Duy trì phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi 18 xã, thị trấn

- Phổ cập giáo dục trung học cơ sở 18 xã, thị trấn

- Số trường học đạt chuẩn quốc gia đến 2010: 10-12 trường

Trang 26

2 Giải quyết việc làm:

- Chuyển dịch mạnh cơ cấu lao động trong khu vực nông nghiệp nông thôn

- Tỷ lệ người lao động được bồi dưỡng đào tạo nghề trung bình hàngnăm 9%

3 Xoá đói giảm nghèo:

- Số hộ đói thường niên: không

- Tỷ lệ hộ nghèo giảm 5%/năm theo tiêu chí mới

4 Công tác Y tế:

- Tốc độ tăng dân số tự nhiên 1,7%

- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng: 20%

- Tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng đầy đủ: 96%

6 Văn hoá:

- Tỷ lệ xã, phường có nhà văn hoá và trung tâm học tập cộng đồng: 100%

- Tỷ lệ làng bản, tổ dân phố văn hoá: 45%

- Tỷ lệ gia đình văn hoá: 75%

7 An ninh quốc phòng:

- Tỷ lệ đơn vị dân quân, tự vệ đạt vững mạnh 75%

Nhờ những yếu tố địa lý, địa hình, địa chất, khí hậu, đất đai, các thác gềnh cùngvới sự tồn tại và phát triển của cộng đồng các dân tộc trên núi Hoàng Liên đã tạo chothế giới tự nhiên, các hệ sinh thái của Hòang Liên thật đa dạng phong phú và quyễn rũ

Trong những thập kỷ 80 trở lại đây Sa Pa nói riêng và dãy núi cao Hòang Liên

là nơi của nhiều nhà khoa học quốc tế (FFI, Bridlife International) và trong nước trong

đó có các tác giả và đồng nghiệp với mục đích tìm hiểu bí ẩn của thế giới sinh vật trong

đó có nguồn tài nguyên thú rừng – một thành phần quan trọng trong đa dạng sinh vật,

Trang 27

một nguồn tài nguyên đã từng gắn bó với cuộc sống của các cộng đồng sống trên dãyHoàng Liên và các vùng phụ cận.

Với chức năng sinh thái, vai trò của các loài thú trong vùng sinh thái núi caoHoàng Liên và vùng phụ cận vô cùng quan trọng trong sự nghiệp bảo tồn và phát triểnbền vững đa dạng sinh vật không những đối với tỉnh Lào Cai mà còn không kém phầnquan trọng đối với vùng tây bắc và các tỉnh vùng đồng bằng sông hồng cũng như đốivới khu vực xuyên biên giới nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa và cộng hòa nhân dânLào anh em

Việc nghiên cứu đánh giá về các giá trị thực tiễn và giá trị tiềm ẩn của nguồn tàinguyên thú hoang dã trong khu vực sẽ góp phần đáng kể trong công tác quy hoặch sửdụng hợp lý môi trường trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Lào Cai, là tỉnh

có đường biên giới chung giữa Việt Nam và Trung Quốc

2.4.2 Nghiên cứu về thực vật:

Những nghiên cứu về thực vật ở núi Hoàng Liên phải kể đến là:

- Võ Văn Chi, 1970: Thảm thực vật và hệ thực vật Sa Pa và Phan Si Păng

- Kem, N.L.M Chan anh M Dilger, 1994: Chương trình nghiên cứu rừng ViệtNam: Mô tả và đánh giá bảo tồn “khu bảo tồn Hoàng Liên”

- Nguyễn Nghĩa Thìn, Daniel Harder, 1996: Đa dạng thực vật Phan Si Păng –núi cao nhất của Việt nam

- Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Thời, 1998: Đa dạng thực vật có mạchvùng núi cao Sa Pa - Phan Si Păng

- Andrrew T., Steven Sw., Mark G.and Hanna S.,1999: Hoang Lien Naturereserve Biodiversity survey and conservation evaluation

Năm 1998 Nguyễn Nghĩa Thìn cùng tập thể đã lần lượt nghiên cứu tại nhiềuđiểm thuộc VQG Hoàng Liên, kết quả của công trình đó là tác phẩm: Đa dạngthực vật có mạch vùng núi cao Sa Pa – Phan Si Păng (Nhà xuất bản đại họcquốc gia Hà Nội, 1997)

2.4.3 Nghiên cứu động vật:

Về khu hệ thú, một số nhà khoa học nứơc ngoài đã đến đây sưu tầm nghiên cứunhư: Pi Lat (1907 – 1954), Thomas (1928), Bourret (1942 -1944), Osgood (1932),

Trang 28

Delacour (1950)… Cùng các nhà khoa học Việt Nam như: Đào Văn Tiến (1965), ĐặngHuy Huỳnh, Cao Văn Sung (1976)…

Nghiên cứu khu hệ chim: đầu tiên là công trình của Kuroda phân tích một bộsưu tập chim do S Txikia sưu tầm vào năm 1911 – 1912 ở tỉnh Yên Bái – Lào Cai ghinhận được 130 loài và phân loài (N.Kuroda, 1917); J Delacour và P Jabouio, J.Grinnay (từ 10/1929 – 5/1930); Delacour và Jabouille (1929); Biorkegren từ tháng12/1938 – 2/1939) Các công trình trong nước: Trương Văn Lã và tập thể (thuộc đoànkhảo sát của hungari) nghiên cứu tại xã San Sả Hồ, chân núi Phan – Si – Păng và xã TảPhìn (1987); kemp và tập thể (tổ chức Frontier, 1995); Lê Đình Thủy (viện sinh thái vàtài nguyên sinh vật,1995); Korzun và Kalyakin (Trung tâm nhiệt đới việt - Nga, 1996 –1997)

2.5 Tài nguyên cây quí hiếm

Tổng số 113 loài thực vật quí hiếm của VQG Hoàng Liên được thống kê trongbảng 2.2 dưới đây:

Bảng 2.1 Danh mục các loài thực vật quý hiếm ở khu vực VQG Hoàng Liên

Tiêu chuẩn

NĐ48

NĐ18

SĐVN

IUCN

1 Abies delavayi Var

nukiangensis (W.C Cheng et

L.K.Fu) Farjon et Silba

Vân samHoàng liên

Trang 29

6 Altingia chinennsis (Benth)

9 Amesiodendron chinensis

(Merr) Hu

10 Anamocarya sinensis (Dode)

15 Ardisia mamillata Hance Lá khôi,

Lưỡi cọp đỏ

18 Asarum caudigerum Hance Thổ tế tân Aristolochiaceae V

19 Asarum maximum Hemsl Trầu tiên

Hoa tiên

20 Berberis junlianae Schneid Hoàng liên gai Berberidaceae 48 18 E

21 Berberis wallichiana DC. Hoàng liên

Trang 30

23 Buddleja macrostachya

Benth

Búp lệ Chùm nho

24 Calocedrus macrolepis Kurz Bách xanh Cupressaceae 48b 18 E TG

37 Dendrobium nobile Linndl Hoàng thảo,

39 Deutzianthus tonkienensis

Gagn

Trang 31

40 Dipsacus japonicus Miq Tục đoạn Dipsaceae V

41 Disporopis longifolia craib Hoàng tinh Convallariaceae 48b 18 V

42 Elaeocarpus apiculatus

Gagnep

Côm láBàng

46 Fallopia multiflora (Thunb)

52 Goniothalamus yunnanensis

Wang

Giác đếVân Nam

53 Helicia grandifolia Lecomte

L

Mạ xưa láTo

Trang 32

60 Ixonanthes chinensis Champ Hà nu Linnaceae TG

63 Liparis petelotii Gagnep Nhãn điệp

68 Manglietia fordiana (Hemls)

Oliv

72 Nageia wallichianus (Presl)

Kuntz

73 Panax bipinnatifidus Seem Tam thất hoang Araliaceae 48 18 E

75 Paphiopedilum henryanum

Braem

76 Parashorea chinensis Wan

Hsie

77 Petrosavia sinii (K.Krause) Võ điệp liên Melanthiaceae T

Trang 33

80 Podocarpus neriifolius

D.Don

81 Podocarpus pilgeri Foxw Thông tre lá

86 Primula chapaensis Gagnep Anh thảo sa pa Primulaceae R

87 Psilotum nudum (L) Griseb Khuyết là thông Psilotaceae K

88 Rauwolfia verticillata (Lour)

Baill

89 Rehderodendron

macrocarpum Hu.

90 Reineckea carnea (Andr)

93 Rhodoleia championii Hook Hồng quang Rhodoleiaceae V

94 Rhoiptelea chiliantha Diels

et Hand Mazz

Trang 34

100 Smilax glabra Wall et Roxb Thổ phục linh Smilacceae V

101 Smilax elegantissima

Gagnep

Cẩm cang nhiềután

106 Stephania rotunda Lour Củ bình vôi Menispermaceae 48b 18

107 Taxus wallichianus Zucc Sam hạt đỏ lá

dài

109 Thalictrum foliolosum DC. Thổ hoàng liên Ranunculaceae V

110 Torricellia angulata Oliv

Trang 35

(nguồn: Đa dạng sinh học VQG Hoàng Liên)

Từ bảng trên cho thấy: Trong 113 loài thực vật quí hiếm ở VQG Hoàng Liên có:

 94 loài thực vật bậc cao có tên trong sách đỏ Việt Nam(1996)

 32 loài có tên trong danh lục các loài thực vật bị de dọa trên mức độ toàn cầu(IUCN 2000)

 26 loài có tên trong nghị định 48 (48/2002 NĐ-CP ngày 22/4/2002) củachính phủ Việt Nam

 23 loài có tên trong nghị định 18 (18/HĐBT ngày 17/2/1992) của chính phủViệt Nam

 Trong tổng số 94 loài thực vật quí hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam: 6loài thuộc nhóm khuyết thực vật, 10 loài thuộc nhóm thực vật hạt trần, 78loài thuộc ngành thực vật hạt kín (61 loài lớp hai lá mầm, 17 loài lớp 1 lámầm)

 Về mức độ bị đe dọa được chia làm: 14 loài rất nguy cấp(cấp E), 18 loàinguy cấp(cấp V), 18 loài bị đe dọa (cấp T), 35 loài hiếm (cấp R) Và 3 loàichưa biết rõ (cấp K)

 Nếu đối chiếu với sách đỏ Việt Nam, số loài quí hiếm được thông kê ở khuvườn quốc gia Hoàng Liên chiếm hơn 25% tổng số loài thực vật quí hiếmtrong toàn quốc

 Nếu đối chiếu với hệ thực vật của VQG Hoàng Liên số loài thực vật quíhiếm chiếm khoảng 5% tổng số loài thực vật đã được thống kê

* Phân bố các loài thực vật quí hiếm trong khu vực:

Các loài thực vật quí hiếm có phân bố theo độ cao khác nhau khá rõ:

 Các loài táu mặt quỷ, Lát hoa, Chò chỉ, Vù hương, Sến mật, Thổ phục linh,Hoàng nàn, Chân chim, Trầm hương, Đau xương, Lông cu ly, Bình vôi,Chân chim núi, Củ dòm, Đẳng sâm, Hoàng Đằng, Lan một lá… là nhữngloài khá phổ biến và phân bố tương đối rộng ở khu vực sườn núi trong khuvực từ độ cao 700 – 1700m

Trang 36

 Các loài Thông nàng, Pơ mu, Thông tre, Hoàng tinh, Hoàng liên, Lan hài,Lan gấm, Thạch hộc, Tam thất hoang, Hoàng Liên ô rô… Phân bố chủ yếutrên sườn núi cao nơi đất có nhiều đá lẫn, tầng mùn rất dày, từ độ cao 1400 –2600m.

 Các loài Thiết sam, Du sam, Lan hài gấm… gặp rất ít và phân bố rất rải ráctheo dám nhỏ trên sườn và các đỉnh núi cao lạnh gần đỉnh Phan Si Păng từ

độ cao 1700m trở lên

 Loài Vân sam Hoàng Liên phân bố hẹp thành đám, chỉ gặp ở sườn bắc củanúi Phan Si Păng, trên độ cao từ 2700m – 2800m Chúng chiếm tầng trội củatán rừng với nhiều cây có đường kính trên 80cm

2.6 Tài nguyên động vật quý hiếm

Các loài quý hiếm gồm các loài động vật có nhiều ý nghĩa các mặt khoa học làcác loài có nguồn ‘Gen’ quý luôn luôn cần được bảo vệ của hệ động vật rừng nước tanói chung và của VQG Hoàng Liên (Thuộc dãy Phan Si Păng và các khu vực xungquanh) nói riêng Bên cạnh đó chúng không chỉ có ý nghĩa về mặt thực phẩm, y dượchọc, kỹ nghệ da lông, thương mại mà còn là mắt xích quan trọng trong hệ sinh thái tựnhiên

Song những loài động vật quý hiếm này đa số chúng thường có kích thước cơthể lớn, ở chim thì có hình dáng đẹp, bộ lông nhiều mầu sắc sặc sỡ Đối với bò sátkhông chỉ có thịt ngon và bổ mà nhiều loại có giá trị làm vị thuốc bổ và quý Các loàiếch nhái lại là những món ăn đặc sản hẫm dẫn Do đó từ lâu chúng đã trở thành đốitượng săn bắt của nhiều thế hệ ở địa phương trong nước ta, cộng thêm vào đó là nạnkhai thác gỗ, chặt phá rừng làm nương rẫy và vô số kế hoặch đã làm thu hẹp diện tíchrừng, mất đi môi trường sống tự nhiên hoặc đã gây ra thiếu nguồn thức ăn dự trữ, nơikiếm ăn và nơi trú ngụ Điều đó đã làm cho nhiều loài đã bị giảm nhanh số lượng tớimức báo động và nhiều loài trở thành hiếm

Các thang phân loại mức độ nguy cấp và quý hiếm :

Theo nghị định 48/2002/NĐ-CP của chính phủ :

 Nhóm IB : gồm những loài thực vật (IA) và những loài thực vật (IB) đặchữu, có giá trị đặc biệt về khoa học và kinh tế có số lượng và trữ lượng rất ít

Trang 37

hoặc đang có nguy cơ bị tuyệt chủng, nhóm mà nhà nước nghiêm cấm khaithác và sử dụng.

 Nhóm IIB : những loài thực vật (IIA) và những loài động vật (IIB) có giá trịkinh tế cao đang bị khai thác quá mức dẫn đến cạn kiện đang có nguy cơ bịtuyệt chủng, nhóm mà nhà nước hạn chế khai và sử dụng

Theo Sách Đỏ Việt Nam (2000)

hệ sinh thái tự nhiên Đồng thời khu hệ thứ còn là ngân hàng gen tự nhiên mang tính đadạng di truyền vô cùng quý giá đối với việc duy trì, phát triển bền vững nguồn tàinguyên thú hoang dã trên địa bàn

Về mặt du lịch sinh thái, sự đa dạng và giầu có về khu hệ thú sẽ là yếu tố hẫmdẫn du khách, là một tiêu chí quan trọng đối với việc kinh doanh ngành công nghiệpkhông khói đặc biệt đối với Lào Cai thì đây là một tiềm năng lớn thực sự nếu chúng tabiết sử dụng một cách không ngoan

Hinh ảnh một số loài thú đã trở thành các biểu tưởng độc đáo được ngưỡng mộ,tôn thờ trong các đền chùa, miếu mạo, gia đình các dân tộc trên dãy núi Hoàng LiênSơn Điều đó đã nói lên sự gắn bó gần gũi giữa thiên nhiên và con người đã được hìnhthành từ thủa xa xưa cho đến ngày nay Chúng ta cần lợi dụng tâm lý đó của cộng đồngđịa phương và khách du lịch khi đến với Hoàng Liên để đạt được hiệu quả bảo tồn caonhất

Trang 38

Các sản phẩm từ khai thác thú là rất độc đáo trong công nghệ chế biến tạo dựngcác mặt hàng mỹ nghệ trang trí có giá trị sử dụng mang tính lưu thông thương mại cao.

Về mặt này, cần phải hạn chế kịp thời bởi trong giai đoạn hiện nay, số lượng thú khôngchỉ Hoàng Liên mà trên cả nước, trong khu vực và trên thế giới đang suy giảm mộtcách nhanh chóng, do vậy cần phải hạn chế sự tiêu thụ các hàng hóa loại này nhằmtránh tác động xấu nhất có thể xảy ra cho khu hệ thú của Hoàng Liên

Động vật hoang dã nói chung và thú hoang dã nói riêng cũng có vai trò khôngnhỏ góp phần làm nền tảng trong giáo dục bảo vệ lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hươngđối với các lứa tuổi khác nhau trong cộng đồng Phần mà được đánh giá thực tế kháchquan là thú hoang dã là nguồn protein có hàm lượng đạm cao hẫm dẫn đối với cộngđồng không những ở địa phương miền núi, mà còn đối với miền xuôi, nhất là trongđiều kiện kinh tế thị trường hiện nay

2.6.2 Các loài chim:

Trong số 253 loài chim thống kê được ở VQG Hoàng Liên có 22 loài quý hiếm(chiếm 8,69%), trong đó 17 loài đã được đưa vào nghị định 48/2002/NĐ-CP của chínhphủ, 6 loài đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam (2000), 2 loài được đưa vào danh lục đỏIUCN (2000) Đặc biệt có một loài vừa bị đe dọa ở Việt Nam và sẽ nguy cấp toàn cầu

là loài treo cây lưng đen (Sitta Formosa), 1 loài gần bị đe dọa toàn cầu là Nuốc đuôihồng (Harpactes wardi) Ngoài ra còn có 4 loài bị đe dọa, 2 loài hiếm ở Việt Nam đó làHạc cổ trắng (Ciconia episcopus) và gà lôi tía (Tragopan temminckii) Vì vậy VQGHoàng Liên là một điểm quan trọng trong công tác bảo tồn nguồn gen quý hiếm và đadạng các loài chim ở nước ta

Bảng 2.2 Các loài chim quý hiếm ở VQG Hoàng Liên

TT Tên phổ thông Tên khoa học NĐ 48/NĐ

CP 2002

SĐVN2000

IUCN2000

3 Cắt lưng hung F tinnunculus IIB

5 Cats trung quốc F subbuieo IIB

Trang 39

6 Cát bụng hung F severus IIB

7 Gà lôi trắng Lophura nycthemera

13 Khướu đầu trắng G leucolophus IIB

14 Khướu khoang

cổ

16 Khướu mặt đen G arulax affnis IIB

17 Khướu đầu hung G erythrocephalus IIB

19 Khướu mỏ vệt

Đuôi ngắn

Paradoxornisdavisdianus

T

20 Treo cây lưng

đen

21 Iểng, nhồng Gracula religiozo IIB

(nguồn: Đa dạng sinh học VQG Hoàng Liên)Bảng 2.2 cho thấy 22 loài quý hiếm và đã được xếp bậc như sau:

- Nghị Định 48/2002/NĐ0-CP của chính phủ có 17 loài (chiếm 6,71%) tổng sốloài thống kê được ở VQG Hoàng Liên Nhóm IB có 1 loài, nhóm IIB có 16 loài

- Sách đỏ Việt Nam (2000) có 6 loài ghi trong sách đỏ Việt Nam cần phải bảo

vệ, phục hồi và phát triến (chiếm 2,37%) tổng số loài thống kê được ở VQG HoàngLiên Trong đó bậc 2 loài ở bậc hiếm -R, có 4 loài bị đe dọa - T

Trang 40

- Danh lục đỏ IUCN (2000) có 2 loài (chiếm 0,79%) tổng số loài thống kê được

ở VQG Hoàng Liên Trong đó gồm bậc VU có 1 loài, bậc LR/nt có 1 loài Cụ thể chitiết (Bảng 2.3)

Bảng 2.3 Số loài động vật xếp vào các bậc quý hiếm ở Hoàng Liên

(nguồn: Đa dạng sinh học VQG Hoàng Liên)

2.6.3 Các loài bò sát và lưỡng cư

Khu hệ động vật có xương sống ở cạn là bò sát và lưỡng cư ở VQG Hoàng Liên

có 9 loài là quí hiếm theo danh sách của nghị định 48 CP và 21 loài có tên trong sách

đỏ Việt Nam:

* 1 loài có nguy cấp (cấp độ E):

- Rắn hổ chúa- Ophiophagus Hannah

* 3 loài sẽ nguy cấp (cấp độ V):

- Rồng đất- Physignathus cocincinus

- Rắn ráo trâu- Ptyas mucosus

- Rùa núi viền- manouria impressa

* 10 loài bị đe dọa (cấp độ T):

- Chàng an đéc-sơn- Rana endersonii

- Hoặm- Rhacoaphorus feae

- Tắc kè- Gekko gecko

- Ô rô vẩy- Acanthosaura lepidogaster

- Rắn sọc đốm đỏ-Elapha porphyracea

- Rắn sọc xanh- Elaphe prasina

- Rắn ráo thường- ptyas koros

- Rắn ráo răng chó- Boiga cynodon

- Rắn cạp nong- Bungaus fáciatus

Ngày đăng: 11/12/2021, 00:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tiến Bân (1997), Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật"hạt kín ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1997
2. Lê Trần Chấn (1999), Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam, Nxb Khoa học Kỹ Thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam
Tác giả: Lê Trần Chấn
Nhà XB: Nxb Khoa học Kỹ Thuật
Năm: 1999
3. Võ Văn Chi (1996), Từ điển cây thuốc Việt Nam, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1996
4. Võ Văn Chi, Trần Hợp (1999-2001), Cây cỏ có ích ở Việt Nam (2tập), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ có ích ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Vũ Văn Chuyên, Phan Nguyên Hồng, Trần Hợp (1969-1976), Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam (tập 1-6), NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ"thường thấy ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
6. Phạm Hoàng Hộ (1999-2000), Cây cỏ Việt Nam (tập 1-3), NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam
Nhà XB: NXB Trẻ
7. Phan Kế Lộc (1985), Thử vận dụng khung phân loại của UNESCO để xây dựng khung phân loại Việt Nam, Tạp chí sinh học, Tr 1-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử vận dụng khung phân loại của UNESCO để xây"dựng khung phân loại Việt Nam
Tác giả: Phan Kế Lộc
Năm: 1985
8. Phùng Thị Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Bá Thụ (1997), Tính đa dạng thực vật ở Cúc Phương, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính đa"dạng thực vật ở Cúc Phương
Tác giả: Phùng Thị Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Bá Thụ
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1997
10.Trần Ngũ Phương (1970), Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam, NXB khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu rừng miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Trần Ngũ Phương
Nhà XB: NXB khoa học kỹ thuật
Năm: 1970
11.Tạp chí sinh học (1994-1995), Chuyên đề thực vật, (số 4), tr16-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề thực vật
12.Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật, NXB"Nông Nghiệp
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: NXB"Nông Nghiệp"
Năm: 1997
13.Nguyễn Nghĩa Thìn (1998), Những loài thực vật có ích thuộc họ thầu dầu ở Việt Nam, Tạp chí lâm nghiệp, (số 8), Tr 29-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những loài thực vật có ích thuộc họ thầu dầu"ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Năm: 1998
14.Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (1995), Tính đa dạng các quần xã thực vật ở Cúc Phương, Tạp chí lâm nghiệp, (số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính đa dạng các quần xã thực"vật ở Cúc Phương
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự
Năm: 1995
15.Nguyễn Nghĩa Thìn, Mai Văn Phô (2003), Đa dạng sinh học hệ nấm và thực vật Vườn Quốc Gia Bạch Mã, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: dạng sinh học hệ nấm và"thực vật Vườn Quốc Gia Bạch Mã
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn, Mai Văn Phô
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2003
16.Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thu Hiền, Đỗ Thị Thu Hà (1998), Tính đa dạng cây thuốc cổ truyền của đồng bào Dao thuộc Ba Vì Tỉnh Hà Tây, Tạp chí Lâm Nghiệp, (số 9), Tr 59-61.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính đa"dạng cây thuốc cổ truyền của đồng bào Dao thuộc Ba Vì Tỉnh Hà Tây
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thu Hiền, Đỗ Thị Thu Hà
Năm: 1998
17.Anutschin N.P (1961), Forest mensuration, Moscow, USSR Sách, tạp chí
Tiêu đề: Forest mensuration
Tác giả: Anutschin N.P
Năm: 1961
18.Aubresville A et al (1960-1996), Flore du cambodge, du laos et du vietnam, 1-28 fascicules Museum National d’Histoire Naturelle, Paris Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flore du cambodge, du laos et du"vietnam, 1-28 fascicules Museum National d’Histoire Naturelle
19.Aubreville A, M.L. Tardieu-Blot, J.E. Vidal et Ph. Mora (Reds) (1960- 1996), Flore du cambodge, du laos et du VietNam, Fasc, 1-29, Paris Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flore du cambodge
20.Brummitt R.K (1992), vascular plant families and Genera, Royal botanic gardens, Kew Sách, tạp chí
Tiêu đề: vascular plant families and Genera
Tác giả: Brummitt R.K
Năm: 1992
21.Brummitt R.K, C.E.Powell (1992), Authors of plant names, Royal Botanic Gardens, Kew Sách, tạp chí
Tiêu đề: Authors of plant names
Tác giả: Brummitt R.K, C.E.Powell
Năm: 1992

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w