1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHẠM HUY hà NGHIÊN cứu bào CHẾ IN SITU GEL MOXIFLOXACIN DÙNG CHO KHOANG MIỆNG KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP dược sĩ

69 16 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sơ đồ biểu diễn cơ chế tạo gel của poloxamer 407 trong nước Nhiệt độ tạo gel của poloxamer 407 phụ thuộc tỷ lệ polyme và các thành phần khác trong dung dịch do tác động đến quá trình hì

Trang 1

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

PHẠM HUY HÀ

NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ

IN SITU GEL MOXIFLOXACIN

DÙNG CHO KHOANG MIỆNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

PHẠM HUY HÀ

MÃ SINH VIÊN: 1601193

NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ

IN SITU GEL MOXIFLOXACIN

DÙNG CHO KHOANG MIỆNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

Trang 3

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến GVCC PGS TS Vũ Đặng Hoàng đã tạo điều kiện và

hướng dẫn tôi thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, các bạn cùng thực nghiệm

đã đồng hành, giúp đỡ tôi cả về vật chất và tinh thần để tôi hoàn thành khoá luận này Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 06 tháng 06 năm 2021

Người viết

Phạm Huy Hà

Trang 4

MỤC LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 2

1.1 Tổng quan về moxifloxacin hydroclorid 2

1.1.1 Công thức 2

1.1.2 Tính chất lý hóa học 2

1.1.3 Cơ chế kháng khuẩn, phổ tác dụng 3

1.1.4 Tác dụng, tác dụng không mong muốn, thận trọng 3

1.2 In situ gel dùng cho khoang miệng 4

1.2.1 Bệnh tại khoang miệng 4

1.2.2 In situ gel dùng cho khoang miệng 6

1.2.3 Ưu, nhược điểm của in situ gel dùng cho khoang miệng 6

1.2.4 Một số tá dược tạo in situ gel 6

1.2.5 Một số nghiên cứu về in situ gel dùng cho khoang miệng 8

1.3 Lưu biến học và ứng dụng của lưu biến học trong nghiên cứu in situ gel 9

1.3.1 Ứng dụng chế độ trượt liên tục 9

1.3.2 Ứng dụng chế độ đo dao động 11

1.3.3 Các hệ thống đo lưu biến 14

CHƯƠNG 2 NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Nguyên vật liệu, thiết bị 16

2.1.1 Nguyên liệu 16

2.1.2 Thiết bị 16

2.2 Nội dung nghiên cứu 17

2.3 Phương pháp nghiên cứu 17

Trang 5

2.3.1 Khảo sát phương pháp định lượng moxifloxacin hydroclorid 17

2.3.2 Phương pháp bào chế in situ gel 17

2.3.3 Đánh giá một số tính chất của in situ gel 20

2.4 Xử lý số liệu 25

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 26

3.1 Khảo sát phương pháp định lượng MOX 26

3.1.1 Xác định quang phổ hấp thụ UV-Vis của MOX 26

3.1.2 Xây dựng đường chuẩn 26

3.2 Bào chế in situ gel trắng 27

3.2.1 Xác định vùng đàn hồi - nhớt tuyến tính 27

3.2.2 Lựa chọn tỷ lệ tá dược tạo gel poloxamer 29

3.2.3 Khảo sát polyme phối hợp 30

3.3 Bào chế in situ gel moxifloxacin 33

3.3.1 Ảnh hưởng của polyme đến nhiệt độ tạo gel 33

3.3.2 Ảnh hưởng của polyme đến độ nhớt đo ở chế độ trượt liên tục 36

3.3.3 Ảnh hưởng của polyme đến tính lưu biến, xúc biến 37

3.3.4 Ảnh hưởng của polyme đến khả năng giải phóng dược chất in vitro 38

3.3.5 Ảnh hưởng của polyme đến khả năng kết dính sinh học 39

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

MOX Moxifloxacin hydroclorid

Na CMC Natri carboxy methyl cellulose

UV–Vis Phổ tử ngoại – Khả kiến

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Độ tan của moxifloxacin hydroclorid ở 20°C và 30°C 3

Bảng 2.1 Nguyên liệu và hóa chất sử dụng trong quá trình thực nghiệm 16

Bảng 2.2 Thành phần các in situ gel trắng 18

Bảng 2.3 Thành phần các in situ gel chứa moxifloxacin hydroclorid 19

Bảng 3.1 Mối tương quan giữa độ hấp thụ và nồng độ MOX 27

Bảng 3.2 Kết quả đánh giá một số đặc tính lưu biến của in situ gel trắng 29

Bảng 3.3 Kết quả đánh giá một số đặc tính lưu biến của in situ gel trắng có phối hợp polyme kết dính sinh học 31

Bảng 3.4 Thành phần MIG 33

Bảng 3.5 Kết quả đánh giá một số đặc tính lưu biến của các mẫu MIG 33

Bảng 3.6 Sự phục hồi độ nhớt phức hợp theo thời gian của MIG 37

Bảng 3.7 Kết quả thử khả năng giải phóng dược chất in vitro 38

Bảng 3.8 Kết quả đo chỉ số kết dính sinh học của MIG 40

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Công thức cấu tạo moxifloxacin hydroclorid 2

Hình 1.2 Răng bình thường (trái) và răng bị viêm nha chu (phải) 5

Hình 1.3 Sơ đồ biểu diễn cơ chế tạo gel của poloxamer 407 trong nước 7

Hình 1.4 Chế độ trượt liên tục (trái) và chế độ đo dao động (phải) 9

Hình 1.5 Mô hình hai đĩa ở chế độ trượt liên tục 10

Hình 1.6 Đường cong chảy (trái) và đường cong độ nhớt (phải) 10

Hình 1.7 Giá trị mức độ biến dạng và ứng suất trượt theo thời gian 12

Hình 1.8 Giản đồ vector mô-đun đàn hồi và mô-đun nhớt 12

Hình 1.9 Mức độ biến dạng theo 3 giai đoạn 13

Hình 1.10 Mô-đun G’ và G” theo 3 giai đoạn 14

Hình 1.11 Các hệ thống đo lưu biến 14

Hình 2.1 Sơ đồ quy trình bào chế in situ gel 20

Hình 2.2 Thiết bị Texture analyzer CT3 1500 24

Hình 3.1 Phổ hấp thụ UV-Vis của MOX (a) và mẫu in situ gel trắng (b) 26

Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn mối tương quan giữa độ hấp thụ và nồng độ MOX 27

Hình 3.3 Kết quả phép đo dao động quét tần số các mẫu in situ gel trắng T4 28

Hình 3.4 Kết quả phép đo dao động quét biên độ các mẫu in situ gel trắng T4 28

Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn sự thay đổi G’ và G” theo nhiệt độ của mẫu T3 29

Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn sự thay đổi G’ và G” theo nhiệt độ của mẫu G6 31

Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn sự thay đổi G’ và G” theo nhiệt độ của mẫu F7 34

Hình 3.8 Đồ thị biểu diễn đường cong độ nhớt của mẫu F7 ở 10˚C và 37˚C 36

Hình 3.9 Đồ thị xác định khả năng phục hồi độ nhớt với mức độ biến dạng trượt lớn của mẫu F5 37

Hình 3.10 Đồ thị giải phóng dược chất của các MIG 39

Trang 9

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Moxifloxacin là kháng sinh thuộc nhóm fluoroquinolon thế hệ thứ 4, có tác dụng trên nhóm vi khuẩn Gram âm và kỵ khí Dược chất này có phổ tác dụng rộng, sử dụng đường dùng toàn thân hoặc tại chỗ ở mắt để điều trị các nhiễm trùng do vi khuẩn nhạy cảm gây ra do có khả năng ức chế những enzym cần thiết cho sự sao chép, phiên mã và sửa chữa ADN của vi khuẩn Moxifloxacin đã được chứng minh tác dụng trên nhóm vi khuẩn khu trú ở khoang miệng gây ra bệnh nha chu

Để điều trị một số bệnh tại khoang miệng, các dạng bào chế thường được sử dụng

là dung dịch súc miệng, gel, miếng dán Những dạng bào chế này có nhược điểm khó lấp đầy túi nha chu, gây khó chịu cho người sử dụng, khả năng lưu giữ kém, sinh khả

dụng không cao In situ gel là dạng bào chế dùng cho khoang miệng có thể chất lỏng ở

điều kiện bảo quản, chuyển thể thành gel khi đưa vào túi nha chu dưới tác động của các điều kiện sinh lý tại chỗ Dạng bào chế này được hướng đến với tiềm năng ứng dụng cao giúp khắc phục các nhược điểm trên nhờ khả năng dễ dàng được đưa vào và lấp đầy túi nha chu, cảm giác dễ chịu cho người dùng và khả năng lưu giữ tốt

Xuất phát từ những vấn đề trên, với mục đích tạo ra chế phẩm moxifloxacin điều

trị bệnh hiệu quả, đề tài “Nghiên cứu bào chế in situ gel moxifloxacin dùng cho

khoang miệng” được thực hiện với hai mục tiêu:

1 Xây dựng được công thức in situ gel moxifloxacin dùng cho khoang miệng

2 Đánh giá được một số đặc tính của in situ gel đã bào chế

Trang 10

2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về moxifloxacin hydroclorid

1.1.1 Công thức

- Công thức cấu tạo:

Hình 1.1 Công thức cấu tạo moxifloxacin hydroclorid

- Công thức phân tử: C21H24FN3O4.HCl

- Khối lượng phân tử: 437,9 g/mol [21]

- Tên khoa học: pyrrolo[3,4-b]pyridin-6-yl]-4-oxo-1,4-dihydroquinoline-3-carboxylic acid

• Hấp thụ tia UV, cực đại hấp thụ trong dung môi nước tại bước sóng 288 nm [11] Phổ UV thay đổi chút ít trong các dung môi khác nhau [2] Tính chất này ứng dụng trong định lượng [21]

- Tính chất hóa học:

• Phản ứng tạo tủa: do có tính base nên moxifloxacin cho phản ứng tạo tủa với các thuốc thử chung của alcaloid

Trang 11

3

• Phản ứng tạo phức: moxifloxacin có khả năng tạo phức chelat với các kim loại hóa trị cao như Fe2+, Cu2+

• Phản ứng este hóa: este hóa chức carboxylic tạo este làm tiền thuốc

• Moxifloxacin bền với nhiệt và ánh sáng và ít bị thủy phân trong dung dịch

Bảng 1.1 Độ tan của moxifloxacin hydroclorid ở 20°C và 30°C

Dung môi Độ tan moxifloxacin hydroclorid (mg/mL)

- Cơ chế kháng khuẩn: ức chế topoisomerase II và/hoặc topoisomerase IV Topoisomerase là những enzym cần thiết cho sự sao chép, phiên mã và sửa chữa ADN vi khuẩn [1]

- Phổ tác dụng: moxifloxacin có tác dụng diệt khuẩn với cả vi khuẩn Gram dương, Gram âm và vi khuẩn kỵ khí [1], [19]

1.1.4 Tác dụng, tác dụng không mong muốn, thận trọng

Trang 12

4

- Viêm phổi mắc phải tại cộng đồng nhẹ và vừa do Streptococcus pneumoniae, H influenzae, Chlamydia pneumoniae, Mycoplasma pneumoniae hoặc Moraxella catarrhalis

- Nhiễm khuẩn da và tổ chức dưới da do Staphylococcus aureus và Streptococcus pyogenes

Moxifloxacin cũng được dùng tại chỗ dưới dạng thuốc nhỏ mắt 0,5% để điều trị viêm kết mạc nhiễm khuẩn hay dùng tại chỗ điều trị bệnh nha chu Nghiên cứu lâm sàng

do Thomas F Flemmig và các cộng sự thực hiện cho thấy gel moxifloxacin 0,4% sử dụng kết hợp với phương pháp cạo cao răng - xử lý mặt gốc răng có tác dụng làm giảm

độ sâu thăm dò tốt hơn so với cạo cao răng - xử lý mặt gốc răng đơn thuần ở bệnh nhân viêm nha chu mạn tính với độ sâu thăm dò túi nha chu từ 5,4 mm trở lên do nồng độ moxifloxacin tại túi nha có thể gấp 100 lần so với đường dùng toàn thân [1], [8], [16]

 Tác dụng không mong muốn

Một số tác dụng không mong muốn thường gặp [1]:

- Tiêu hoá: Nôn, ỉa chảy, giảm amylase

- Thần kinh: Chóng mặt

- Gan: Giảm/tăng bilirubin

- Thận: Tăng albumin huyết thanh

- Không sử dụng moxifloxacin khi đang mang thai và cho con bú Trong những trường hợp cần thiết, thì cần ngừng cho con bú trong thời gian dùng thuốc [1]

1.2 In situ gel dùng cho khoang miệng

1.2.1 Bệnh tại khoang miệng

Khoang miệng là nơi cư trú của khoảng từ vài chục đến vài trăm loại vi sinh vật khác nhau Hệ vi sinh vật nay không thể bị loại bỏ hoàn toàn và là nguyên nhân của

Trang 13

ra mảng bám trên các mô nha chu, phát triển trên đó và gây ra hiện tượng viêm nướu, phá hủy các mô nha chu, hình thành túi nha chu [23] Đặc trưng của bệnh là sự mất bám dính của biểu mô, xương ổ răng bị tiêu hủy và hình thành túi nha chu [23]

Hình 1.2 Răng bình thường (trái) và răng bị viêm nha chu (phải)

(A) Xương ổ răng; (B) Dây chằng nha chu; (C) Xê-măng; (D) Men răng; (E) Khe

răng-nướu; (F) Túi nha chu

Tiêu chuẩn vàng trong điều trị viêm nha chu là phá vỡ cơ học các túi nha chu bằng cách cạo cao răng - xử lý mặt gốc răng [12] Tuy nhiên, phương pháp này có những hạn chế như không thể tiếp cận các túi sâu hay không thể loại bỏ các mầm bệnh Để khắc phục những hạn chế này, việc sử dụng các kháng sinh toàn thân hoặc tại chỗ được đề xuất và đã được chứng minh là có hiệu quả, trong đó thuốc được đưa trực tiếp vào túi nha chu cung cấp nồng độ thuốc tại chỗ cao [10], [16]

Trang 14

6

1.2.2 In situ gel dùng cho khoang miệng

In situ gel là công thức polyme ở dạng sol trước khi đưa vào cơ thể, chuyển thành

thể gel dưới tác động của điều kiện sinh lý nhờ các tác nhân như thay đổi pH, nhiệt độ, ion hay tia UV [14]

In situ gel dùng cho khoang miệng là dạng bảo chế thể lỏng ở điều kiện bảo quản,

chuyển thể thành gel khi đưa vào túi nha chu dưới tác động của các điều kiện sinh lý tại chỗ [23]

1.2.3 Ưu, nhược điểm của in situ gel dùng cho khoang miệng

In situ gel có các ưu, nhược điểm sau:

• Tăng nồng độ thuốc tại túi nha chu

• Sử dụng liều thấp, giảm tác dụng toàn thân

• Giảm tần suất sử dụng thuốc

• Dễ sử dụng hơn, cảm giác thoải mái hơn các dạng sợi, film, miếng dán, vi cầu

- Nhược điểm [23]:

• Gel hình thành phụ thuộc đặc điểm sinh lý cá thể

• Điều kiện bảo quản khó khăn hơn (ví dụ bảo quản lạnh, tránh ánh sáng)

• Dễ gặp vấn đề về độ ổn định

1.2.4 Một số tá dược tạo in situ gel

Trong phân loại in situ gel theo tác nhân hình thành, in situ gel nhạy cảm nhiệt

được nghiên cứu nhiều nhất [23] Độ tan của các polyme trong hệ thay đổi theo nhiệt độ

được coi là cơ chế chính giúp chuyển thể sol - gel Các in situ gel kết dính trên niêm mạc thường có nhiệt độ tạo gel từ 25-37°C [23] Một số polyme thường dùng trong in

situ gel nhạy cảm nhiệt độ:

Trang 15

7

Poloxamer được giới thiệu từ cuối những năm 1950 và được ứng dụng nhiều trong

bào chế [6], [17] Nhóm polyme này là các chất diện hoạt không ion hóa, tan trong nước Cấu trúc ba chuỗi gồm hai chuỗi poly ethylenoxid (EO) thân nước ở hai đầu phân tử, và một chuỗi poly propylenoxid (PO) kỵ nước ở giữa tạo thành công thức dạng EOx-POy-

EOz [6] Tùy thuộc vào tỷ lệ và sự phân bố của chuỗi thân thân nước và chuỗi kỵ nước, các poloxamer với phân tử khối khác nhau có các đặc tính tạo gel khác nhau [18] Do khả năng kết dính sinh học yếu, poloxamer thường được phối hợp với chất kết dính sinh học [18]

Poloxamer 407 được sử dụng phổ biến nhất trong bào chế, tan ở nhiệt độ thấp, không độc, phân hủy sinh học Ở nhiệt độ thấp, các phân tử poloxamer 407 tồn tại độc lập trong dung dịch ở dạng các chuỗi polyme thẳng Khi tăng nhiệt độ, các phân tử tập hợp lại với nhau tạo thành micell Hiện tượng này được lý giải là do chuỗi PO kỵ nước

bị mất nước, tăng liên kết với nhau và quay vào phía trong micell, hai đầu thân nước hướng ra ngoài Sự hình thành micell này phụ thuộc tỷ lệ poloxamer trong mẫu Khi đạt tới nhiệt độ xác định, mật độ micell đủ nhiều khiến chúng liên kết với nhau và hình thành gel [6]

Hình 1.3 Sơ đồ biểu diễn cơ chế tạo gel của poloxamer 407 trong nước

Nhiệt độ tạo gel của poloxamer 407 phụ thuộc tỷ lệ polyme và các thành phần khác trong dung dịch do tác động đến quá trình hình thành micell [5], [7] Tỷ lệ càng cao nhiệt chuyển sol - gel càng thấp Ethanol, propylen glycol làm tăng nhiệt độ tạo gel và giảm kết dính sinh học, trong khi muối HPO42-, H2PO4- và natri alginat lại làm giảm nhiệt độ tạo gel [6] Một nghiên cứu được thực hiện bởi Amir Fakhari và các cộng sự đã cho thấy Pluronic® F-127 đã tinh chế cũng cho tính chất tương tự [7]

Trang 16

8

Dẫn xuất cellulose có đặc tính tạo in situ gel ở nồng độ thấp (1 - 10%) như MC

và HPMC Nhiệt độ chuyển thể sol - gel của MC là 40-50˚C, trong khi của HPMC là 75- 90˚C Nhiệt độ chuyển thể này có thể thay đổi dưới tác động của các tác nhân vật lý

và hóa học: như natri clorid làm giảm nhiệt độ tạo gel của MC xuống còn 32 - 34˚C hay giảm số lượng nhóm thế của HPMC khiến nhiệt độ tạo gel còn khoảng 40˚C

Xyloglucan là một polysaccharid có nguồn gốc từ hạt me và được cấu tạo bởi chuỗi

(1-4) glucan, có nhánh (1-6) -α-D-xylose được thay thế một phần bởi (1-2) galactoxylose Khi xyloglucan bị thủy phân một phần bởi β-galactosidase, sản phẩm thu được có khả năng tạo gel thuận nghịch về mặt nhiệt bằng cách xếp chồng bên của thanh như chuỗi Nhiệt độ chuyển thể sol - gel thay đổi theo mức độ thủy phân galactose [4]

-β-D-Gôm Gellan là một polysaccharid ngoại bào được deacetyl hóa Nó có xu hướng

tạo gel phụ thuộc vào nhiệt độ hoặc các cation [4]

Ngoài các polyme trên, để tăng khả năng kết dính sinh học và kéo dài thời gian lưu, một số polyme như HPMC, carbopol, chitosan, HEC, Na CMC được thêm vào

thành phần của in situ gel

1.2.5 Một số nghiên cứu về in situ gel dùng cho khoang miệng

Silva J B và các cộng sự đã nghiên cứu bào chế in situ gel nhạy cảm với nhiệt hai

thành phần gồm poloxamer 407 (15 – 20% kl/kl), HPMC K100 (2 – 4% kl/kl) hoặc Na CMC (0,5 – 1,5% kl/kl) Các tác giả đã khảo sát khả năng tạo gel và các thông số lưu

biến học của in situ gel bào chế được ở 5˚C, 25˚C và 37˚C Kết quả nghiên cứu cho thấy

đa số các mẫu in situ gel đều có nhiệt độ tạo gel từ 25˚C lên 37˚C, thể hiện ở giá trị

mô-đun đàn hồi G’ thấp hơn mô-mô-đun nhớt G” ở 5˚C và 25˚C nhưng tăng nhiều lần và G’ > G” khi tăng nhiệt độ lên 37˚C Tổng hợp các kết quả về nhiệt độ tạo gel và các tính chất

lưu biến khác như khả năng kết dính, độ cứng gel, các công thức phù hợp cho in situ gel

nhạy cảm nhiệt bao gồm 17,5%/3; 17,5%/4%; 20%/3%; 20%/4% với công thức chứa HPMC và 17,5%/1%; 17,5%/1,5%; 20%/1%; 20%/1,5% với công thức chứa Na CMC, đặc biệt là các công thức 17.5%/3% HPMC và 17.5%/1% Na CMC [5]

Jones D S và các cộng sự nghiên cứu bào chế công thức in situ gel nhạy cảm nhiệt

độ hai thành phần gồm poloxamer 407 (10 - 20% kl/kl) và carbopol 934P (0,10 - 0,25% kl/kl) dùng cho khoang miệng dựa vào nhiệt độ tạo gel, đặc tính đàn hồi - nhớt, khả năng bám dính sinh học của các mẫu ở hai nhiệt độ là 5˚C và 37˚C Các công thức có 10%

Trang 17

9

poloxamer 407 kết hợp carbopol 934P không thể hiện được khả năng kết dính sinh học, không tạo gel ở nhiệt độ khảo sát với mô-đun nhớt G” lớn hơn mô-đun đàn hồi G’ Trong khi đó các công thức chứa 15% và 20% poloxamer 407 lại có nhiệt độ tạo gel từ

22˚C đến 35˚C thích hợp cho bào chế in situ gel, có độ nhớt và độ đàn hồi gel tốt Kết

quả nghiên cứu cũng cho thấy xu hướng tăng tỷ lệ poloxamer 407 làm giảm nhiệt độ tạo gel [13]

Garala K và các cộng sự thực hiện một nghiên cứu năm 2013 nhằm tối ưu hóa in

situ gel Clohexidin 0.1% điều trị bệnh nha chu với hai tá dược tạo gel là Poloxamer 407

(15 - 19% kl/tt) và Carbopol 934P (0,20 - 0,40% kl/tt) dựa vào nhiệt độ tạo gel, khả năng

lan rộng và khả năng giải phóng in vitro của gel Kết quả đánh giá cho thấy nhiệt độ tạo

gel giảm làm tăng thời gian giải phóng 50% dược chất Tất cả các công thức đều cho thấy khả năng giải phóng duy trì trong 6 giờ Công thức tối ưu là poloxamer 407 19% kết hợp với Carbopol 934P 0,2% với nhiệt độ tạo gel là 31 ± 1˚C [9]

1.3 Lưu biến học và ứng dụng của lưu biến học trong nghiên cứu in situ gel

Lưu biến học là môn khoa học về sự biến dạng và sự chảy Hai chế độ thường dùng

là chế độ trượt liên tục (rotational test) và chế độ đo dao động (oscillatory test) [15]

Hình 1.4 Chế độ trượt liên tục (trái) và chế độ đo dao động (phải)

1.3.1 Ứng dụng chế độ trượt liên tục

Mô hình hai đĩa được sử dụng để định nghĩa các tham số lưu biến học về đặc tính trượt Mô hình gồm hai đĩa có diện tích bằng nhau Đĩa dưới được quy dược không di chuyển Đĩa phía trên có thể di chuyển song song với đĩa dưới với vận tốc v nhờ lực tác dụng F Ký hiệu như sau:

A là diện tích đĩa (m2) v là tốc độ di chuyển của đĩa phía trên (m2/s)

F là lực tác dụng (N) h là khoảng cách hai đĩa (m)

s là độ lệch 2 đĩa (m)

Trang 18

10

Hình 1.5 Mô hình hai đĩa ở chế độ trượt liên tục

Ứng suất trượt = (N/m2) phản ánh tác động của ngoại lực lên khối vật liệu Mức độ biến dạng trượt = (không có thứ nguyên)

Tốc độ trượt ̇ = (s-1) phản ánh tốc độ biến dạng của vật liệu dưới tác động của ngoại lực

Ba đại lượng trên chỉ được đo chính xác trên giả định các lớp chất vật liệu trượt song song trên nhau Thực tế giá trị độ nhớt không phải hằng số mà phụ thuộc nhiều điều kiện Tính chất chảy của vật liệu thể hiện qua đường cong chảy (ứng suất trượt - tốc độ trượt) và đường cong độ nhớt (tốc độ trượt - độ nhớt trượt)

Hình 1.6 Đường cong chảy (trái) và đường cong độ nhớt (phải)

Trang 19

11

Chế độ trượt liên tục cho phép xây dựng đường cong chảy và đương cong độ nhớt của vật liệu, từ đó xác định được đặc tính chảy của vật liệu tương ứng với một trong ba loại:

• Chất lỏng Newton có giá trị độ nhớt trượt không đổi khi thay đổi tốc độ trượt

• Vật liệu biến dạng chảy lỏng (shear-thinning) có giá trị độ nhớt trượt giảm dần khi tăng tốc độ trượt hoặc ứng suất trượt

• Vật liệu biến dạng đông đặc (shear-thickening) có giá trị độ nhớt trượt tăng dần khi tăng tốc độ trượt hoặc ứng suất trượt

Tính biến dạng chảy lỏng giúp in situ gel linh hoạt trong túi nha chu khi chịu tác

động bên ngoại, không gây cảm giác khó chịu cho người sử dụng

1.3.2 Ứng dụng chế độ đo dao động

Các hệ bán rắn thưởng có tính nhớt – đàn hồi Phần đàn hồi đặc trưng cho khả năng tích trữ năng lượng biến dạng và phục hồi lại mẫu sau khi loại bỏ lực tác động Phần nhớt đặc trưng cho khả năng tiêu thụ năng lượng biến dạng do ma sát giữa các thành phần trong mẫu

Mô-đun đàn hồi G’ (Pa) đại diện cho phần đàn hồi trong tính nhớt – đàn hồi, mô

tả trạng thái rắn của mẫu

Mô-đun nhớt G'' (Pa) đại diện cho phần nhớt trong tính nhớt – đàn hồi, mô tả trạng thái lỏng của mẫu

Mô-đun trượt phức hợp G* là tổng hợp của hai mô-đun G’ và G”, đại diện cho toàn bộ tính nhớt – đàn hồi của mẫu: ∗ = √ ′ + "

Khi tiến hành chế độ đo dao động, vật liệu chịu tác động bởi các dao động có tần

số và biên độ nhất định gây ra ứng suất Mức độ biến dạng (γ) và ứng suất trượt (τ) dao động thay đổi theo hàm sin, với biên độ lần lượt là γA và τA, cùng một tốc độ góc ω nhưng lệch nhau một góc δ Khi đó ∗ =

Trang 20

12

Hình 1.7 Giá trị mức độ biến dạng và ứng suất trượt theo thời gian

tanδ là tỉ số giữa mô-đun nhớt G” và mô-đun đàn hồi G’, cho biết độ mạnh yếu giữa các thành phần trong cấu trúc bên trong vật liệu Công thức tính như sau:

= " (0 ≤ tanδ ≤ ∞ do 0o ≤ δ ≤ 90o) Chất rắn đàn hồi lý tưởng có δ = 0o, tanδ = 0 do G’ lớn hơn rất nhiều so với G” Chất lỏng lý tưởng có δ = 90o, tanδ = ∞ do G” lớn hơn rất nhiều so với G’

Hình 1.8 Giản đồ vector mô-đun đàn hồi và mô-đun nhớt

vì nó cho thấy xu hướng đầu tiên rời khỏi phạm vi vùng LVR

Trang 21

13

Chế độ đo dao động được sử dụng để xác định nhiệt độ tạo gel Tg của mẫu vì so với chế độ trượt liên tục, chế độ đo dao động có ưu điểm là không phá hủy cấu trúc mẫu khi tiến hành thí nghiệm trong vùng LVR Trên lý thuyết, khi G’ > G” thì mẫu có tính gel ưu thế hơn tính sol và nhiệt độ mà G’ = G” là nhiệt độ chuyển thể sol - gel

Hệ xúc biến (thixotropy) có độ nhớt giảm khi tác dụng một lực không đổi và sau khi giảm lực, độ nhớt phục hồi sau một khoảng thời gian

Hệ lưu biến (rheopexy) có độ nhớt tăng khi tác dụng một lực không đổi và sau khi giảm lực, độ nhớt phục hồi sau một khoảng thời gian., ngược lại so với hệ xúc biến

Việc xác định tính xúc biến của in situ gel cho phép đánh giá sơ bộ tốc độ và mức

độ phục hồi cấu trúc cũng như khả năng duy trì được độ nhớt cao của hệ này khi chịu tác động ở miệng Để xác định tính xúc biến hay lưu biến, áp dụng phép đo gồm 3 giai đoạn:

• Giai đoạn 1 (t0 – t1): Mẫu được ổn định ở một ứng suất trượt nhỏ (nằm trong vùng LVR) và xác định giá trị G” và G’ hằng định

• Giai đoạn 2 (t1 – t2 ): Mẫu chịu tác động của ứng suất trượt lớn (nằm ngoài vùng LVR) để phá vỡ cấu trúc bên trong, xác định giá trị G’ và G” so với giai đoạn 1

• Giai đoạn 3 (t2 – t3): Mẫu quay về ổn định ở điều kiện như giai đoạn 1 và xác định thời gian để mẫu phục hồi giá trị G” và G’ như đã được xác định ở giai đoạn 1 Thí nghiệm được mô tả ở hình 1.9 và hình 1.10

Hình 1.9 Mức độ biến dạng theo 3 giai đoạn

Trang 22

14

Hình 1.10 Mô-đun G’ và G” theo 3 giai đoạn

1.3.3 Các hệ thống đo lưu biến

Có nhiều hệ thống được sử dụng để đo lưu biến các chất lỏng Phổ biến nhất là 3

mô hình: kiểu côn - đĩa, kiểu đĩa song song và kiểu xylanh đồng tâm Chất lỏng có độ nhớt thấp thường sử dụng hệ thống kiểu xylanh đồng tâm và kiểu côn - đĩa diện tích lớn Chất lỏng độ nhớt trung bình và cao thích hợp với hệ thống kiểu côn - đĩa diện tích đĩa nhỏ và kiểu đĩa song song [15]

Hình 1.11 Các hệ thống đo lưu biến (A) Kiểu côn - đĩa; (B) Kiểu đĩa song song; (C) Kiểu xylanh đồng tâm

- Làm sạch nhanh chóng và dễ sàng sau khi thử nghiệm

- Hầu hết bọt khí sẽ bị loại bỏ trong quá trình hạ côn - đĩa tới khoảng cách cài cài đặt

Tuy nhiên hệ thống côn – đĩa cũng có một số nhược điểm:

- Khi hạ côn – đĩa xuống vị trí cài đặt với các mẫu có độ nhớt và đàn hồi cao thì cần một thời gian nghỉ dài cho đến khi đạt được trạng thái cân bằng

- Có thể xảy ra các hiện tượng sau làm ảnh hưởng kết quả đo: dòng chảy không đồng nhất, hiệu ứng quán tính do lực ly tâm khiến mẫu di chuyển ra khỏi khe hở

Trang 23

15

- Sự bay hơi dung môi (khắc phục bằng nắp đậy và bẫy dung môi)

- Nhiệt độ phân bố không đều trong mẫu do góc của đĩa nếu nhiệt độ chỉ được điều khiển trực tiếp bởi tấm phía dưới (khắc phục bằng khe hở khoảng 1 mm)

Nghiên cứu tiến hành khảo sát lựa chọn tá dược tạo in situ gel trên cơ sở đánh giá ảnh hưởng của các tá dược tới các đặc tính của in situ gel bao gồm: nhiệt độ tạo gel, mô-

đun đàn hồi, độ nhớt phức hợp, độ nhớt trượt, tính chất biến dạng chảy lỏng, khả năng phục hồi độ nhớt sau khi chịu tác động với mức độ biến dạng trượt lớn, từ đó đưa ra

công thức bào chế in situ gel thích hợp

Trang 24

16

CHƯƠNG 2 NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Nguyên vật liệu, thiết bị

2.1.1 Nguyên liệu

Nguyên liệu sử dụng trong nghiên cứu được trình bày ở bảng 2.1

Bảng 2.1 Nguyên liệu và hóa chất sử dụng trong quá trình thực nghiệm

3 Hydroxypropyl methylcellulose K4M Trung Quốc EP 6.3

2.1.2 Thiết bị

- Máy đo lưu biến Discovery Hybrid Rheometer HR-1 (Mỹ)

- Hệ thống đánh giá giải phóng thuốc qua màng Hanson Research (Mỹ)

- Máy quang phổ UV-Vis HITACHI U-5100 (Nhật)

- Máy đo độ bền gel Texture Analyzer CT3 1500 (Mỹ)

- Máy đo pH Mettler Toledo (Nhật)

- Máy khuấy từ Wisd MSH – 20A (Hàn)

- Máy cất nước 2 lần SAMBO – Model IWD-2000D (Hàn)

- Bể siêu âm Ultrasonic Sartorius (Đức)

- Màng lọc cellulose acetat kích thước lỗ xốp 0,45 μm (Đức)

- Tủ lạnh, tủ sấy, cân kỹ thuật, cân phân tích, các dụng cụ thủy tinh khác

Trang 25

17

2.2 Nội dung nghiên cứu

Khảo sát phương pháp định lượng moxifloxacin hydroclorid

Khảo sát lựa chọn tá dược để xây dựng công thức in situ gel moxifloxacin

hydroclorid dùng cho khoang miệng

Đánh giá một số đặc tính của in situ gel moxifloxacin hydroclorid đã bào chế: hình

thức, pH, khả năng giải phóng, tính chất lưu biến, khả năng kết dính sinh học

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Khảo sát phương pháp định lượng moxifloxacin hydroclorid

 Xác định cực đại hấp thụ UV-Vis của moxifloxacin hydroclorid (MOX)

- Cân 1 lượng khoảng 40 mg MOX, hòa tan và pha loãng bằng đệm phosphat pH 6,8 trong bình định mức 100 mL, thu được dung dịch chuẩn gốc có nồng độ 40 µg/mL

- Từ dung dịch chuẩn gốc pha loãng bằng đệm phosphat pH 6,8 thành dung dịch chuẩn nồng độ 4,0 µg/mL

- Quét phổ hấp thụ UV-Vis của MOX trong khoảng bước sóng 200 – 500 nm, mẫu trắng là dung dịch đệm phosphat pH 6,8 thu được cực đại hấp thu

 Xây dựng đường chuẩn

Mẫu chuẩn: Từ dung dịch chuẩn gốc pha loãng bằng đệm phosphat pH 6,8 thành các dung dịch chuẩn có nồng độ 1,6; 2,4; 4,0; 6,0; 8,0 µg/mL

Mẫu trắng: dung dịch đệm phosphat pH 6,8

Đo độ hấp thụ của các mẫu tại bước sóng cực đại của MOX Xây dựng đường chuẩn và phương trình biểu diễn mối quan hệ giữa độ hấp thụ quang và nồng độ dược chất

2.3.2 Phương pháp bào chế in situ gel

 Bào chế in situ gel trắng

Các mẫu in situ gel trắng (20 g) không chứa dược chất được với công thức trong

bảng 2.2, được bào chế theo quy trình được thể hiện ở sơ đồ hình 2.1

Trang 26

3 Hydroxyethyl cellulose (nếu có) Khảo sát

Các bước tiến hành cụ thể như sau:

Bước 1: Hòa tan chất bảo quản

- Đong khoảng 16 mL nước tinh khiết, đun nóng đến khoảng 70˚C

- Hòa tan hoàn toàn methyl paraben, propyl paraben (nếu có) và 1 g poloxamer 407 (P407) bằng cách khuấy từ liên tục 15 phút, tốc độ khoảng 100 vòng/phút

Bước 2: Ngâm trương nở polyme

- Ngừng gia nhiệt, cân chính xác theo tỷ lệ và thêm từ từ polyme kết dính sinh học HPMC K4M, HEC (nếu có) vào nước tinh khiết trên, khuấy từ cho polyme phân tán đều

- Khi công thức đã giảm nhiệt độ về bằng nhiệt độ phòng, bổ sung nước tinh khiết

đủ khối lượng, khuấy từ liên tục 1 giờ, tốc độ 100 vòng/phút

- Bọc kín và bảo quản qua đêm trong tủ lạnh 2 - 8˚C cho polyme trương nở hoàn toàn

- Phân tán lượng P407 còn lại vào dung dịch polyme kết dính sinh học, ngâm trương

nở qua đêm trong tủ lạnh 2 - 8˚C để polyme trương nở hoàn toàn tạo dung dịch

- Lấy mẫu đã trương nở hoàn toàn ra khỏi tủ lạnh, khuấy từ tốc độ 100 vòng/phút đến khi đồng nhất

- Bảo quản mẫu trong tủ lạnh ở 2 - 8˚C

 Bào chế in situ gel chứa dược chất moxifloxacin hydroclorid (MIG)

Các mẫu MIG (20 g) với công thức trong bảng 2.3, được bào chế theo quy trình được thể hiện ở sơ đồ hình 2.1

Trang 27

3 Hydroxy propyl methyl cellulose K4M Khảo sát

Các bước tiến hành cụ thể như sau:

Bước 1: Hòa tan chất bảo quản

- Đong khoảng 16 mL nước tinh khiết, đun nóng đến khoảng 70˚C

- Hòa tan hoàn toàn methyl paraben, propyl paraben và 1 g P407 bằng cách khuấy

từ liên tục 15 phút, tốc độ khoảng 100 vòng/phút

Bước 2: Ngâm trương nở polyme

- Ngừng gia nhiệt, cân chính xác theo tỷ lệ và thêm từ từ polyme kết dính sinh học (HPMC K4M, HEC) vào nước tinh khiết trên, khuấy từ cho polyme phân tán đều

- Khi công thức đã giảm nhiệt độ về bằng nhiệt độ phòng, bổ sung nước tinh khiết

đủ khối lượng, khuấy từ liên tục 1 giờ, tốc độ 100 vòng/phút Bọc kín và bảo quản qua đêm trong tủ lạnh 2 - 8˚C cho polyme trương nở hoàn toàn

- Phân tán lượng P407 còn lại vào dung dịch polyme kết dính sinh học, ngâm trương

nở qua đêm trong tủ lạnh 2 - 8˚C để polyme trương nở hoàn toàn tạo dung dịch

- Lấy mẫu đã trương nở hoàn toàn ra khỏi tủ lạnh, khuấy từ tốc độ 100 vòng/phút đến khi đồng nhất

Bước 3: Phối hợp dược chất

- Hòa tan MOX vào dung dịch polyme lạnh, khuấy từ tốc độ 100 vòng/phút đến khi

thu được in situ gel đồng nhất

Trang 28

20

Hình 2.1 Sơ đồ quy trình bào chế in situ gel

2.3.3 Đánh giá một số tính chất của in situ gel

Nước tinh khiết 70˚C

Methyl paraben/Propyl paraben

(nếu có) Poloxamer 407

Trang 29

21

độ mẫu đồng đều Lượng mẫu cần dùng cho mỗi phép đo lưu biến với mô hình côn - đĩa

là khoảng 1,2 mL Sau mỗi lần đo, vệ sinh dụng cụ và thay mẫu mới lên đĩa

Tần số dao động và mức độ biến dạng trượt cần nằm trong vùng đàn hồi - nhớt tuyến tính (LVR) để đảm bảo cấu trúc mẫu không bị phá hủy và phản ánh đúng tính chất của hệ trong quá trình đo sử dụng chế độ đo dao động

Tần số dao động phù hợp được lựa chọn nhờ theo dõi sự biến thiên của mô-đun đàn hồi G’ thông qua phép đo dao động quét tần số (oscillation frequency) ở 37˚C trong khoảng 0,1 - 20 Hz với mức độ biến dạng trượt nằm trong vùng LVR

Mức độ biến dạng trượt nằm trong vùng LVR được xác định nhờ theo dõi sự biến thiên của mô-đun G’ hoặc độ nhớt phức hợp η* bằng phép đo dao động quét biên độ (oscillation amplitude) ở 37˚C trong khoảng 0,01 - 100% với tần số dao động mà cấu trúc mẫu không bị phá hủy [5]

 Xác định nhiệt độ tạo gel

Để xác định nhiệt độ tạo gel Tg, mẫu được đo ở chế độ đo dao động quét nhiệt

độ (oscillation temperature sweep) trong khoảng 15 - 40˚C với mức độ biến dạng trượt và tần số dao động đã lựa chọn Theo dõi sự thay đổi của giá trị mô-đun đàn hồi G’ và mô-đun nhớt G” theo nhiệt độ, nhiệt độ tạo gel của mẫu được xác định là nhiệt độ mẫu đã chuyển hoàn toàn sang thể gel với G’ > G” và G’ ổn định ở nhiệt

 Đánh giá tính lưu biến, xúc biến

Tính lưu biến, xúc biến của các mẫu được xác định bằng cách thực hiện phép đo dao động theo thời gian (oscillation time) ở 37˚C với 3 giai đoạn liên tiếp [15]:

+ Giai đoạn 1 (60 giây): mức độ biến dạng trượt γ = 0,1%; f = 1 Hz; đo được độ nhớt phức hợp trung bình η1

Trang 30

Hệ thống đánh giá giải phóng thuốc qua màng Hanson Research được sử dụng:

ngăn chứa mẫu đựng in situ gel, ngăn nhận chứa môi trường khuếch tán, màng giải

phóng được đặt giữa hai ngăn

- Màng giải phóng: màng lọc cellulose acetat kích thước lỗ xốp 0,45 µm

- Môi trường khuếch tán: dung dịch đệm phosphat pH 6,8 duy trì ở 37 ± 1˚C

- Thể tích môi trường khuếch tán: V = 7 mL

- Diện tích bề mặt khuếch tán: 0,875 cm2

- Tốc độ khuấy từ: 100 vòng/phút

- Khối lượng mẫu: 0,4 g MIG

Thí nghiệm được tiến hành trong 6 giờ Mẫu được lấy ở các thời điểm 1, 2, 3, 4, 5,

6 giờ, mỗi lần lấy 1 mL dung dịch trong ngăn nhận đồng thời bổ sung 1 mL môi trường khuếch tán mới có nhiệt độ 37 ± 1˚C

Mẫu lấy ra từ môi trường khuếch tán được pha loãng trong bình định mức 25 mL bằng dung dịch đệm phosphat pH 6,8 và định lượng bằng phương pháp quang phổ UV-Vis với mẫu trắng là đệm phosphat pH 6,8, bước sóng 289 nm [9], [18], [20]

Nồng độ dung dịch được xác định theo phương trình đường chuẩn thu được từ phương pháp ở mục 2.3.1

Tổng lượng dược chất đã giải phóng từ MIG tại lần lấy mẫu thứ n:

= + .Trong đó:

Trang 31

23

Qn: tổng lượng dược chất đã giải phóng ở lần lấy mẫu thứ n (µg)

V: thể tích môi trường khuếch tán (V = 7 mL)

v: thể tích mỗi lần lấy mẫu (v = 1 mL)

Cn: nồng độ dược chất trong môi trường khuếch tán lần lấy mẫu thứ n (µg/mL)

Ci: nồng độ dược chất trong môi trường khuếch tán tại thời điểm i (µg/mL) Phần trăm dược chất đã giải phóng từ MIG tại lần lấy mẫu thứ n:

= 100%

Trong đó:

Xn: phần trăm dược chất giải phóng tại lần lấy mẫu thứ n (%)

Qn: lượng dược chất đã giải phóng ở lần lấy mẫu thứ n (µg)

M: khối lượng dược chất có trong mẫu MIG (µg)

- Mẫu trắng: dung dịch đệm phosphat pH 6,8

Nồng độ mẫu thử được tính toán theo đường chuẩn thu được theo phương pháp ở mục 2.3.1 Khối lượng dược chất trong công mẫu MIG được tính toán theo công thức:

= Trong đó:

M: khối lượng dược chất có trong mẫu MIG (µg)

Cn: nồng độ dược chất trong dung dịch thử (µg/mL) D: hệ số pha loãng của mẫu thử

Trang 32

24

 Đánh giá khả năng kết dính sinh học

Để xác định chỉ số kết dính sinh học của các mẫu MIG với niêm mạc miệng lợn, nghiên cứu sử dụng thiết bị đo độ bền gel Texture analyzer CT3 1500

Hình 2.2 Thiết bị Texture analyzer CT3 1500

Hàm dưới của lợn được tách ra trong quá trình giết thịt lợn sao cho niêm mạc miệng còn nguyên vẹn Niêm mạc được tách ra từ hàm dưới của lợn bằng dao mổ trong vòng 5 giờ kể từ khi lợn chết và được bảo quản ở -3˚C Trước khi tiến hành thí nghiệm, niêm mạc được rã đông ở nhiệt độ thường, sau đó ngâm trong nước muối sinh lý trong

30 phút và được cố định ở khối trụ phía trên

In situ gel được điều nhiệt tới 37˚C và dàn mỏng thành một lớp bề dày 4 mm trên

đĩa petri cố định phía dưới

Sử dụng chế độ đo Tension với giá trị mồi (trigger) là 0 g, khoảng cách biến dạng (deformation) không đổi là 40 mm, tốc độ (speed) là 3 mm/s Niêm mạc miệng lợn được

hạ xuống từ từ, tiếp xúc và nhấc ra khỏi in situ gel Kết quả thu được lực lớn nhất P (peak load) là lực dùng để tách giác mạc ra khỏi in situ gel sau khi tiếp xúc [13]

Thay mới niêm mạc sau mỗi lần đo Mỗi mẫu MIG được tiến hành đo 2 lần và lấy kết quả trung bình Công thức tính chỉ số kết dính sinh học là:

Trang 33

25

=

Trong đó:

F là chỉ số kết dính sinh học (N/cm2)

P là lực lớn nhất trong quá trình đo (N)

S là diện tích bề mặt của khối trụ (S = 1,23 cm2)

2.4 Xử lý số liệu

Các số liệu thống kê được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2016 Mỗi thí nghiệm được thực hiện 3 lần, lấy kết quả trung bình

Trang 34

26

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM, KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1 Khảo sát phương pháp định lượng MOX

Để có cơ sở tiến hành các đánh giá trong nghiên cứu bào chế, nghiên cứu đã khảo sát bước sóng hấp thụ cực đại và khoảng tuyến tính của phương pháp định lượng MOX bằng phương pháp quang phổ hấp thụ UV-Vis

3.1.1 Xác định quang phổ hấp thụ UV-Vis của MOX

Dung dịch chuẩn moxifloxacin hydroclorid được chuẩn bị theo phương pháp nêu

ở mục 2.3.1 Đồng thời, chuẩn bị mẫu dung dịch in situ gel trắng (thành phần gồm 3,0

g P407, 0,2 g HPMC K4M, 0,2 g HEC, 36 mg methyl paraben, 4 mg propyl paraben và nước tinh khiết vừa đủ 20 g) theo phương pháp nêu ở mục 2.3.2, pha loãng 100 lần trong môi trường đệm phosphat pH 6,8 Kết quả quét phổ dung dịch chuẩn và dung dịch tá dược được trình bày trong hình 3.1

Hình 3.1 Phổ hấp thụ UV-Vis của MOX (a) và mẫu in situ gel trắng (b)

Kết quả cho thấy: trong môi trường đệm phosphat pH 6,8 và bước sóng từ 200 –

500 nm, dung dịch MOX chuẩn có một cực đại hấp thu tại bước sóng 289 nm Các tá dược không hấp thụ ở bước sóng 289 nm, do đó có thể định lượng MOX trong các mẫu MIG bằng phương pháp quang phổ hấp thụ UV-Vis ở cực đại 289 nm

3.1.2 Xây dựng đường chuẩn

Để xác định hàm lượng MOX, nghiên cứu tiến hành xây dựng đường chuẩn giữa biểu diễn mối tương quan giữa độ hấp thụ quang và nồng độ MOX theo phương pháp nêu ở mục 2.3.1 ở bước sóng 289 nm Kết quả được thể hiện trong các bảng 3.1 và hình 3.2

Ngày đăng: 10/12/2021, 21:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Răng bình thường (trái) và răng bị viêm nha chu (phải) - PHẠM HUY hà NGHIÊN cứu bào CHẾ IN SITU GEL MOXIFLOXACIN DÙNG CHO KHOANG MIỆNG KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP dược sĩ
Hình 1.2. Răng bình thường (trái) và răng bị viêm nha chu (phải) (Trang 13)
Hình 2.1. Sơ đồ quy trình bào chế in situ gel - PHẠM HUY hà NGHIÊN cứu bào CHẾ IN SITU GEL MOXIFLOXACIN DÙNG CHO KHOANG MIỆNG KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP dược sĩ
Hình 2.1. Sơ đồ quy trình bào chế in situ gel (Trang 28)
Hình 2.2. Thiết bị Texture analyzer CT3 1500 - PHẠM HUY hà NGHIÊN cứu bào CHẾ IN SITU GEL MOXIFLOXACIN DÙNG CHO KHOANG MIỆNG KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP dược sĩ
Hình 2.2. Thiết bị Texture analyzer CT3 1500 (Trang 32)
Hình 3.1. Phổ hấp thụ UV-Vis của MOX (a) và mẫu in situ gel trắng (b) - PHẠM HUY hà NGHIÊN cứu bào CHẾ IN SITU GEL MOXIFLOXACIN DÙNG CHO KHOANG MIỆNG KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP dược sĩ
Hình 3.1. Phổ hấp thụ UV-Vis của MOX (a) và mẫu in situ gel trắng (b) (Trang 34)
Bảng 3.1. Mối tương quan giữa độ hấp thụ và nồng độ MOX - PHẠM HUY hà NGHIÊN cứu bào CHẾ IN SITU GEL MOXIFLOXACIN DÙNG CHO KHOANG MIỆNG KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP dược sĩ
Bảng 3.1. Mối tương quan giữa độ hấp thụ và nồng độ MOX (Trang 35)
Hình 3.3. Kết quả phép đo dao động quét tần số các mẫu in situ gel trắng T4 - PHẠM HUY hà NGHIÊN cứu bào CHẾ IN SITU GEL MOXIFLOXACIN DÙNG CHO KHOANG MIỆNG KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP dược sĩ
Hình 3.3. Kết quả phép đo dao động quét tần số các mẫu in situ gel trắng T4 (Trang 36)
Hình 3.7. Đồ thị biểu diễn sự thay đổi G’ và G” theo nhiệt độ của mẫu F7 - PHẠM HUY hà NGHIÊN cứu bào CHẾ IN SITU GEL MOXIFLOXACIN DÙNG CHO KHOANG MIỆNG KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP dược sĩ
Hình 3.7. Đồ thị biểu diễn sự thay đổi G’ và G” theo nhiệt độ của mẫu F7 (Trang 42)
Hình 3.8. Đồ thị biểu diễn đường cong độ nhớt của mẫu F7 ở 10˚C và 37˚C - PHẠM HUY hà NGHIÊN cứu bào CHẾ IN SITU GEL MOXIFLOXACIN DÙNG CHO KHOANG MIỆNG KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP dược sĩ
Hình 3.8. Đồ thị biểu diễn đường cong độ nhớt của mẫu F7 ở 10˚C và 37˚C (Trang 44)
Hình 3.10. Đồ thị giải phóng dược chất của các MIG - PHẠM HUY hà NGHIÊN cứu bào CHẾ IN SITU GEL MOXIFLOXACIN DÙNG CHO KHOANG MIỆNG KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP dược sĩ
Hình 3.10. Đồ thị giải phóng dược chất của các MIG (Trang 47)
Phụ lục 3.1. Đồ thị biểu diễn sự thay đổi G’ và G” theo nhiệt độ của mẫu T1 (14% - PHẠM HUY hà NGHIÊN cứu bào CHẾ IN SITU GEL MOXIFLOXACIN DÙNG CHO KHOANG MIỆNG KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP dược sĩ
h ụ lục 3.1. Đồ thị biểu diễn sự thay đổi G’ và G” theo nhiệt độ của mẫu T1 (14% (Trang 57)
Phụ lục 3.2. Đồ thị biểu diễn sự thay đổi G’ và G” theo nhiệt độ của mẫu T2 (16% - PHẠM HUY hà NGHIÊN cứu bào CHẾ IN SITU GEL MOXIFLOXACIN DÙNG CHO KHOANG MIỆNG KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP dược sĩ
h ụ lục 3.2. Đồ thị biểu diễn sự thay đổi G’ và G” theo nhiệt độ của mẫu T2 (16% (Trang 57)
Phụ lục 3.3. Đồ thị biểu diễn sự thay đổi G’ và G” theo nhiệt độ của mẫu T4 (20% - PHẠM HUY hà NGHIÊN cứu bào CHẾ IN SITU GEL MOXIFLOXACIN DÙNG CHO KHOANG MIỆNG KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP dược sĩ
h ụ lục 3.3. Đồ thị biểu diễn sự thay đổi G’ và G” theo nhiệt độ của mẫu T4 (20% (Trang 58)
Phụ lục 3.4. Đồ thị biểu diễn sự thay đổi G’ và G” theo nhiệt độ của mẫu G1 (16% - PHẠM HUY hà NGHIÊN cứu bào CHẾ IN SITU GEL MOXIFLOXACIN DÙNG CHO KHOANG MIỆNG KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP dược sĩ
h ụ lục 3.4. Đồ thị biểu diễn sự thay đổi G’ và G” theo nhiệt độ của mẫu G1 (16% (Trang 58)
Phụ lục 3.5. Đồ thị biểu diễn sự thay đổi G’ và G” theo nhiệt độ của mẫu G2 (16% - PHẠM HUY hà NGHIÊN cứu bào CHẾ IN SITU GEL MOXIFLOXACIN DÙNG CHO KHOANG MIỆNG KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP dược sĩ
h ụ lục 3.5. Đồ thị biểu diễn sự thay đổi G’ và G” theo nhiệt độ của mẫu G2 (16% (Trang 59)
Phụ lục 3.6. Đồ thị biểu diễn sự thay đổi G’ và G” theo nhiệt độ của mẫu G3 (16% - PHẠM HUY hà NGHIÊN cứu bào CHẾ IN SITU GEL MOXIFLOXACIN DÙNG CHO KHOANG MIỆNG KHÓA LUẬN tốt NGHIỆP dược sĩ
h ụ lục 3.6. Đồ thị biểu diễn sự thay đổi G’ và G” theo nhiệt độ của mẫu G3 (16% (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm