Biện pháp thi GVG môn KHTN 6 mới nhất:Trải qua áp dụng biện pháp với môn Vật lý ở năm học trước và môn Khoa học tự nhiên trong năm học này tôi nhận thấy kết quả đã có sự chuyển biến rõ rệt.Trước khi áp dụng biện pháp tôi nhận sự tập trung, chú ý, hứng thú với môn học không cao. Sau khi áp dụng biện pháp tôi thấy tỉ lệ học sinh hứng thú, tích cực với môn học, với các tiết học cao hơn hẳn, các em rất hứng khởi với câc nhiệm vụ học tập mà giáo viên tổ chức.
Trang 1HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI, GVCN GIỎI CẤP HUYỆN
Tên biện pháp:
BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH THỰC HIỆN CÁC PHÉP ĐO
PHÂN MÔN VẬT LÍ (KHTN 6)
Năm học 2021 - 2022
Trang 2PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN ………
HỘI THI GIÁO VIÊN DẠY GIỎI, GVCN GIỎI CẤP HUYỆN NĂM HỌC
2021 - 2022
Tên biện pháp:
BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH THỰC HIỆN CÁC PHÉP ĐO
PHÂN MÔN VẬT LÍ (KHTN 6)
Họ và tên giáo viên dự thi:
Môn: Khoa học tự nhiên
Trường THCS:
, ngày 16 tháng 11 năm 2021
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
VỀ HIỆU QUẢ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CỦA GIÁO VIÊN
(Ký tên, đóng dấu)
Trang 31 Lí do chọn biện pháp
Với mục tiêu góp phần thực hiện Nghị quyết số 29/NQ- TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, ngày 28 tháng 11 năm 2014, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, trong đó có quy định mục tiêu đổi mới là: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; góp phần chuyển về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh.’’ Thực hiện các nghị quyết của đảng, Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng chính phủ, Chương trình giáo dục phổ thông mới đã xây dựng và ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Thực hành, thí nghiệm trong phòng thực hành, ở địa thực và các cơ sở sản xuất có vai trò, ý nghĩa quan trọng và là một hình thức dạy học đặc trưng trong môn KHTN nói chung và phân môn Vật lí nói riêng Thông qua việc tổ chức các hoạt động thực hành, thí nghiệm, môn KHTN giúp học sinh khám phá thế giới
tự nhiên, phát triển nhận thức, tư duy logic và khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng trong thực tiễn, kĩ năng nền tảng để học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động
Qua nhiều năm giảng dạy tôi thấy trong quá trình học tập ngoài việc học trên lí thuyết mà học sinh được thực hành rất gây hứng thú cho học sinh trong học tập, hơn thế nữa còn giúp học sinh nắm chắc được lí thuyết và áp dụng được kến thức vào thực tế Trong môn KHTN phân môn Vật lí với chủ đề “Các phép đo” với bốn phép đo cơ bản nhất là đo độ dài, đo khối lượng, đo thời gian và đo nhiệt độ sẽ giúp học sinh đi từ trải nghiệm về sự cảm nhận của giác quan mang tính chủ quan đến tính khách quan của các phép đo Thông qua chủ đề này học sinh sẽ trả lời được vấn đề: Có phải con người luôn cảm nhận đúng các hiện tượng không? Từ đó các em sẽ thấy được việc sử dụng các dụng cụ đo là rất quan trọng
Trang 4Vậy làm thế nào để các em có thể tự mình thực hiện được các phép đo đây? Đó là vấn đề mà giáo viên luôn trăn trở hiện nay và bản thân tôi nữa Vì vậy trong năm học vừa qua, được phân công giảng dạy môn KHTN 6 phân môn
Vật lí, tôi đã nghiên cứu và xây dựng biện pháp “ Biện pháp giúp học sinh thực hiện các phép đo phân môn Vật lí (KHTN 6) ” và đã áp dụng thực tế vào
quá trình giảng dạy của mình
2 Mô tả biện pháp.
Vấn đề học sinh của mình sử thành thạo được các dụng cụ đo độ dài, đo khối lượng, đo thời gian và đo nhiệt độ là vấn đề khó Vì thế người giáo viên cần bài có biện pháp hợp lí, khoa học và mang lại hiệu quả Trong năm học vừa qua,
tôi đã áp dụng biện pháp “Biện pháp giúp học sinh thực hiện các phép đo phân môn Vật lí (KHTN 6)” mà tôi đã xây dựng trực tiếp vào lớp 6A- lớp tôi
được phân công giảng dạy và đã mang lại hiệu quả Sau đây tôi trình bày nội dung của biện pháp, cụ thể như sau:
2.1 Đo độ dài.
2.1.1 Đơn vị đo.
Trang 5Tôi thấy mặc dù đơn vị đo chiều dài học sinh đã được biết ở cấp Tiểu học nhưng khi lên cấp Trung học cơ sở có nhiều học sinh đã quên và chưa thành thạo trong đổi đơn vị Trong đó để học sinh thực hiện tốt được phép đo chiều dài thì học sinh cần nắm rõ đơn vị đo chiều dài Vậy việc đầu tiên các em cần phải làm
là tìm hiểu đơn vị đo và cách đổi đơn vị:
Trong Hệ đơn vị đo lường hợp pháp của nước ta đơn vị đo chiều dài dài là
mét (metre), kí hiệu là m.(Căn cứ Nghị định số 134/2007/NĐ-CP ngày 15 tháng
8 năm 2007 của Chính phủ)
Một số đơn vị khác thường gặp:
kilômét (kilometre)
mét (metre)
decimét (decimetre)
centimét (centimetre)
milimét (milimetre)
micrômét (micrometre)
nanômét (nanometre)
Km m dm cm mm
µm nm
1 000 m
1 m 0,1 m 0,01 m 0,001 m 0,000 001 m 0,000 000 001 m
Ở nước Anh và một số nước trên thế giới, người ta thường dùng đơn vị
đo chiều dài là in (inch) và dặm (mile) :
1 in = 2,54 cm
1 dặm = 1 609,344 m
Để đo khoảng cách lớn hơn trong vũ trụ như đo khoảng cách thiên văn, biểu diễn khoảng cách giữa các vì sao hay đến khoảng cách lớn hơn trong phạm
vi thiên hà người ta dùng đơn vị là năm ánh sáng (một năm ánh sáng là quãng đường ánh sáng đi được trong một giây)
1 năm ánh sáng = 9.460.528.400.000 (xấp xỉ bằng 9 461 tỉ km)
Mặt trời cách Trái đất khoảng 0,00001581 năm ánh sáng, tức là khoảng
149 600 000 km Sao hoả cách Trái đất khoảng 0,372719 năm ánh sáng, tức là
55 758 006 km
2.1.2 Dụng cụ đo chiều dài.
Học sinh cần nắm được để đo chiều dài người ta dùng thước Có nhiều loại thước đo chiều dài khác nhau như thước thẳng, thước dây, thước cuộn, thước kẹp…
Tôi chuẩn bị các dụng cụ đo để học sinh được quan sát nhận biết :
Trang 6Trước khi đo, ta cần lưu ý đến giới hạn đo(GHĐ) và độ chia nhỏ nhất (ĐCNN) của thước để chọn thước thù hợp với kích thước hình dạng của vật cần
đo Vậy phần này tôi hướng dẫn học sinh cụ thể và yêu cầu từng học sinh ít nhất
có thể xác định được GHĐ và ĐCNN của thước kẻ mà các em đang sử dụng :
GHĐ của thước là độ dài lớn nhất ghi trên trước nên bằng quan sát trên thước các em có thể dễ dàng nhận được giá trị GHĐ
ĐCNN của thước là độ dài giữa hai vạch chia liên tiếp nên việc đầu tiên tôi hướng dẫn học sinh là thấy được trên thước có rất nhiều vạch chia sau đó cần học sinh chỉ ra các vạch chia vạch bên nhau (đó là các vạch chia liên tiếp) Vậy
độ dài giữa hai vạch chia liên tiếp là ĐCNN Đến đây học sinh mới chỉ có thể hiểu về ĐCNN còn việc xác định giá trị thì tôi sẽ tiếp tục hướng dẫn thêm một bước nữa Các em sẽ tìm hai giá trị bất kì được ghi liên tiếp trên thước để trừ cho nhau ta được chiều dài giữa hai vạch chia ghi hai giá trị đó, sau đó đếm số khoảng mà các vạch chia vạch ra trong hai giá trị trên Lấy chiều dài giữa hai vạch chia vừa tìm được mang chia cho số khoảng được giá trị của ĐCNN
Ví dụ : Xác định GHĐ và ĐCNN của thước sau:
Hình a : GHĐ là 10 cm, ĐCNN là 0,5 cm
Hình b : GHĐ là 10 cm, ĐCNN là 0,1 cm
2.1.3 Cách đo chiều dài
Để thu được kết quả đo chính xác, tôi hướng dẫn học sinh thực hiện các bước cụ thể sau :
Bước 1 : Ước lượng chiều dài cần đo để chọn thước thích hợp với kích thước và hình dạng của vật đo
Bước 2 : Đặt thước dọc theo chiều dài cần đo, sao cho vạch số 0 của thước ngang bằng với một đầu của vật
Học sinh biết được cách đặt vật đúng trong hình vẽ:
Trang 7Bước 3 : Đặt mắt nhìn theo hướng vuông góc với cạnh thước ở đầu kia của vật
Bước 4 : Đọc kết quả theo vạch chia gần nhất với đầu kia của vật
Bước 5 : Ghi lại kết quả theo ĐCNN của thước
2.1.4 Thực hành
Phần thực hành tôi tổ chức cho học sinh hoạt động cá nhân thực hành đo trực tiếp chiều dài cuốn sách giáo khoa KHTN lớp 6 và đo chiều dài gang tay của mình bằng thước kẻ cá nhân và ghi kết quả đo vào mẫu báo cáo Trong quá trình thực hành, học sinh có thể giúp đỡ và hỗ trợ bạn ngồi bên cạnh khi minh
đã đo chính xác và giáo viên quan sát, giúp đỡ, sửa sai cho các em còn lúng túng khi đo
Mẫu báo cáo cá nhân:
Vật đo Ước
lượng
Tên thước
Lần 1 Lần 2 TB
Bề dày
cuốn
SGK
KHTN 6
Chiều
dài gang
tay
Sau khi tổ chức cho HS hoạt động cá nhân, tôi tổ chức tiếp cho HS hoạt động nhóm để thực hành đo chiều cao của mỗi bạn trong nhóm và gho kết quả vào mẫu báo cáo Qua phần thực hành tôi thấy, học sinh rất hứng thú, tích cực hoạt động vì các em vừa được vận dụng kiến thức lí thuyết vào thực tế, vưa được liên hệ với chính bản thân mình
Kết quả đo chiều cao mỗi bạn được thống kê theo bảng sau:
Họ
và
tên
Ước
lượng
Tên thước
Lần 1 Lần 2 TB
Trang 8` Sau khi các em thực hành xong tôi đưa ra Bảng chiều cao chuẩn của HS THCS để các đối chiếu với chiều cao của mình Dựa vào
đó, các em dễ dàngxác định được chiều cao của mình đang thừa hay thiếu so với các bạn bè đồng trang lứa Từ đó các em có
phương pháp điều chỉnh dinh dưỡng, thể dục thể thao và nghỉ ngơi phù hợp.
Tuổi Chiều cao Tuổi Chiều cao
12 149,8 cm 12 149,1 cm
13 156,7 cm 13 156,2 cm
14 158,7 cm 14 163,8 cm
3 Cách thức và quá trình áp dụng
3.1 Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 6 - trường Trung học cơ sở
3.2 Thời gian áp dụng: Học kì I, Năm học 2021 - 2022
3.3 Cách thức áp dụng:
Tôi đã áp dụng biện pháp trên trong học kì I năm học 2021 - 2022 sau khi dạy các tiết dạy của chủ đề “Các phép đo’’ một cách linh hoạt, sáng tạo trên cơ
sở bám sát vào nội dung chương trình môn học; đảm bảo mục tiêu kiến thức, định hướng năng lực, phẩm chất trong chủ đề và vừa sức với đối tượng học sinh
Từ đó giúp nhiều học sinh không còn tâm lí ngại học phần thực hành hay cảm thấy khó khi học môn KHTN phân môn Vật lí nữa Đồng thời cũng giúp cho các
em hiểu rằng môn học còn liên quan mật thiết với các môn khoa học khác và
Trang 9thực tiễn cuộc sống Đó là những tiềm năng trí tuệ mà chỉ những người ham học mới thực sự hiểu được
4 Tính mới và hiệu quả áp dụng
4.1 Tính mới của biện pháp
Biện pháp đã giúp cho giáo viên giảng dạy môn KHTN 6 phân môn Vật lí hiểu và nắm được thực trạng thực tế của học sinh lớp 6 trong các tiết thực hành
đo, những khó khăn trong quá trình giảng dạy tiết thực hành đã được tháo gỡ
Từ đó giúp cho học sinh có niềm sau mê, yêu thích môn học, chất lượng bộ môn nâng cao hơn và các em có sự liên hệ sâu sắc với bản thân,với thực tiễn cuộc sống
4.2 Hiệu quả áp dụng
Qua thực tế giảng dạy lớp 6A năm học 2021 – 2022 trong các tiết dạy chủ đề: “Các phép đo’’, tôi đã vận dụng biện pháp trên và đã có hiệu quả thiết thực
Cụ thể: HS không chỉ nắm chắc kiến thức lí thuyết mà còn có kĩ năng tốt về đo đạc Kết quả đó được thể hiện qua bảng sau :
Tổng số
học sinh
lớp 6A:
35 học
sinh
Thời điểm đánh giá
Mức độ học sinh thực hành đo Thành thạo Chưa thànhthạo Chưa biết đo
5 Khả năng áp dụng rộng rãi và đề xuất, kiến nghị
5.1 Khả năng áp dụng rộng rãi
Biện pháp không chỉ áp dụng cho việc giảng dạy môn môn KHTN 6 phân môn Vật lí trong chủ đề “Các phép đo’’ mà còn áp dụng cho các chủ đề đo đạc khác ở các khối 7, 8, 9
5.2 Đề xuất, kiến nghị
Trang 10Để phát huy được hiệu quả của biện pháp tôi mong muốn được đồng nghiệp cùng trao đổi, đóng góp ý kiến cho nội dung cũng như cách thức thực hiện biện pháp trên được hoàn thiện, hiệu quả hơn và áp dụng rộng rãi trong dạy học các môn học ở trường Trung học cơ sở
Trang 12Mục đích của việc điều tra, khảo sát để giúp giáo viên hiểu rõ tâm sinh lí của học sinh, lực học của học sinh Từ đó giáo viên phân loại học sinh theo đối tượng để ra bài tập cho thật phù hợp
Cụ thể: Năm học 2019 - 2020, tôi được phân công giảng dạy lớp 6C với tổng số 30 học sinh Ngay từ đầu năm, tôi điều tra kết quả học tập môn Toán của các em trong lớp qua hồ sơ học bạ học sinh; đồng thời sau khi dạy được 1 tuần, tôi đã cho học sinh làm bài kiểm tra 15 phút và kết quả tôi thu được như sau:
2.2 Lựa chọn bài tập cần ra.
Để ra bài tập về nhà cho học sinh một cách phù hợp không chỉ đảm bảo
về số lượng và mang lại hiệu quả tôi phải căn cứ vào nội dung chương trình; mục tiêu kiến thức, kĩ năng, định hướng năng lực cần phát triển ở từng chương, từng bài, từng phần, từng đơn vị kiến thức Và kết hợp với kết quả của điều tra, khảo sát và phân loại đối tượng học sinh, giúp tôi lựa chọn việc ra bài tập như thế nào cho phù hợp với từng đối tượng học sinh
Mặt khác để ra bài tập phù hợp, giáo viên cần xác định bài tập về nhà cần
ra là ở sau tiết học lí thuyết; tiết luyện tập; tiết học ôn tập chương; tiết ôn tập giữa kì, cuối kì hay tiết dạy thêm buổi chiều Trong phần bài tập về nhà của học sinh có kĩ năng giải toán tốt hơn tôi cũng vẫn chọn một số bài của học sinh có kĩ năng giải toán kém hơn, mục đích là để các em giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong học tập
Trang 13Mặc dù có nhiều cơ sở để chúng ta bám sát vào đó mà ra các bài tập hợp lí nhưng việc ra bài tập về nhà phải giúp cho học sinh:
- Nắm vững kiến thức lí thuyết đã học;
- Vận dụng kiến thức làm các bài tập cơ bản;
- Phát triển khả năng tư duy;
- Biết tìm tòi, sáng tạo;
- Liên hệ với thực tiễn, liên hệ với môn học khác
Vì vậy đòi hỏi người giáo viên cần có sự linh hoạt, sáng tạo trong quá trình giảng dạy và trong việc ra bài tập về nhà cho học sinh
Ví dụ: Khi dạy xong bài: “Dấu hiệu chia hết cho 2, cho 5” (Tiết 20 - Tiết
lí thuyết) tôi ra bài tập về nhà cho học sinh theo từng đối tượng như sau:
* Bài tập dành cho học sinh yếu, kém
1
Bài 91 (trang 38 sgk Toán 6 Tập 1):
Trong các số sau, số nào chia hết cho 2, số nào
chia hết cho 5?
652; 850; 1546; 785; 6321
- Nắm vững kiến thức lí thuyết đã học
- Vận dụng kiến thức làm tốt các bài tập cơ bản
2
Bài 92 (trang 38 sgk Toán 6 Tập 1):
Cho các số 2141; 1345; 4620; 234 Trong các
số đó:
a) Số nào chia hết cho 2 mà không chia hết cho
5?
b) Số nào chia hết cho 5 mà không chia hết cho
2?
c) Số nào chia hết cho cả 2 và 5
* Bài tập dành cho học sinh trung bình
1 Bài 92 (trang 38 sgk Toán 6 Tập 1):
Cho các số 2141; 1345; 4620; 234 Trong các số đó:
a) Số nào chia hết cho 2 mà không chia hết cho 5?
b) Số nào chia hết cho 5 mà không chia hết cho 2?
c) Số nào chia hết cho cả 2 và 5?
- Nắm vững kiến thức lí thuyết đã học
- Vận dụng
Trang 14kiến thức làm tốt các bài tập
cơ bản
- Có khả năng phát triển tư duy
2
Bài 93 (trang 38 sgk Toán 6 Tập 1):
Tổng (hiệu) sau có chia hết cho 2 không, có chia
hết cho 5 không?
a) 136 + 420 ; b) 625 – 450
3
Bài 95 (trang 38 sgk Toán 6 Tập 1):
Điền chữ số vào dấu * để được số thỏa mãn
điều kiện:
a) Chia hết cho 2 ;
b) Chia hết cho 5
* Bài tập dành cho học sinh khá, giỏi
1
Bài 93 (trang 38 sgk Toán 6 Tập 1):
Tổng (hiệu) sau có chia hết cho 2 không, có chia hết
cho 5 không?
a) 136 + 420 ; b) 625 - 450
c) 1.2.3.4.5.6 + 42 ; d) 1.2.3.4.5.6 – 35
- Nắm vững kiến thức lí thuyết đã học
- Vận dụng kiến thức làm tốt các bài tập
cơ bản
- Phát triển khả năng tư duy
- Biết tìm tòi, sáng tạo, liên
hệ môn học
2
Bài 94 (trang 38 sgk Toán 6 Tập 1):
Không thực hiện phép chia, hãy tìm số dư khi chia
mỗi số sau đây cho 2 cho 5:
813; 264; 736; 6547
3
Bài 95 (trang 38 sgk Toán 6 Tập 1):
Điền chữ số vào dấu * để được số thỏa mãn
điều kiện:
a) Chia hết cho 2 ; b) Chia hết cho 5
4
Bài 100 (trang 39 sgk Toán 6 Tập 1):
Ô tô đầu tiên ra đời năm nào?
Ô tô đầu tiên ra đời năm trong đó
n ⋮ 5 và a, b, c ∈ {1, 5, 8} (a, b, c khác nhau)
2.3 Giao bài tập cho học sinh
Trang 15Việc ra bài tập về nhà của giáo viên cho học sinh gắn liền với việc giao bài tập về nhà cho học sinh làm Để việc giao bài tập về nhà có hiệu quả, tôi đã làm như sau:
- Giao cho đúng đối tượng học sinh mà mình phân loại
- Thông báo rõ thời gian nộp bài để chấm điểm, thời gian giáo viên sẽ kiểm tra bài làm ở nhà Chẳng hạn: Tiết học bài mới liền kề sẽ nộp bài tập về nhà để giáo viên kiểm tra kết quả của học sinh khi áp dụng kiến thức lí thuyết vào làm một bài tập cụ thể
- Thông báo rõ hình thức nộp bài: nộp vở bài tập; hay nộp bài làm ra giấy,
có hay nộp bài bằng cách gửi ảnh qua Zalo,…
Ví dụ: Phần hướng dẫn về nhà của bài “Dấu hiệu chia hết cho 2, cho 5”
(Tiết 20) tôi giao bài tập cho học sinh như sau:
Học sinh yếu, kém: Làm bài 91, 92 (trang 38 sgk Toán 6 - Tập 1)
Học sinh trung bình: Làm bài 92, 93, 95 (trang 38 sgk Toán 6 - Tập 1) Học sinh khá, giỏi: Làm bài 93, 94, 95, 100 (trang 38, 39 sgk Toán 6 - Tập 1)
- Các em hoàn thành bài vào vở bài tập, tiết sau học bài Luyện tập (Tiết
21) các em nộp vở bài tập
2.4 Thu bài, kiểm tra và đánh giá việc làm bài về nhà của học sinh
Đúng thời gian quy định học sinh phải nộp bài, giáo viên thu bài của học sinh kiểm tra đánh giá theo nhiều cách khác nhau:
- Thu vở bài tập cả lớp - Giáo viên nhận xét, đánh giá hoặc cho điểm
- Thu bài của một số học sinh; học sinh còn lại giáo viên giao cho cán sự lớp kiểm tra và thông báo kết quả
- Đầu giờ có thể kiểm tra xác suất một số bài của học sinh có thể là Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu Nếu học sinh yếu mà có sự tiến bộ khi làm bài GV có thể đánh giá bằng điểm để động viên học sinh
Ví dụ: Trong phần kiểm tra bài cũ của tiết 21 - Luyện tập: kết hợp với
kiểm tra miệng 2 học sinh tôi thu vở bài tập của 2 học sinh khác (1HS yếu, 1HS khá) để kiểm tra, đánh giá Trong quá trình kiểm tra tôi thấy em học sinh yếu đó
có sự tiến bộ, tôi đã khen em và động viên em tiếp tục cố gắng trong học tập;