Thời Lý-Trần một thời kỳ với những chính sách quy lệ của nhà nước về ruộng đất, không chỉ vậy ruộng đấtcòn được phong cấp cho các công thần có công với đất nước hay bổng lộc cho quan lại
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM LỊCH SỬ
BÁO CÁO GIỮA KÌ
CHẾ ĐỘ PHONG CẤP RUỘNG ĐẤT THỜI LÝ-TRẦN:
NỘI DUNG VÀ HỆ QUẢ
NHÓM SINH VIÊN THỰC HIỆN:
KHOA SƯ PHẠM
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài i
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài ii
3 Mục đích nghiên cứu iv
4 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu iv
4.1 Đối tượng nghiên cứu iv
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu iv
5 Phạm vi nghiên cứu iv
5.1 Phạm vi thời gian iv
5.2 Phạm vi không gian iv
6 Phương pháp nghiên cứu iv
6.1 Phương pháp lịch sử iv
6.2 Phương pháp logic v
6.3 Phương pháp tổng hợp tài liệu v
6.4 Phương pháp đánh giá tổng hợp v
7 Đóng góp của đề tài v
7.1 Đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo v
7.2 Đối với phát triển kinh tế xã hội v
7.3 Đối với tổ chức chủ trì và các cơ sở ứng dụng kết quả nghiên cứu vi
8 Bố cục của đề tài vi
Trang 3
B NỘI DUNG
Chương 1
TỔNG QUAN ĐẠI VIỆT THỜI LÝ-TRẦN
1.1 Tình hình chính trị 1
1.1.1 Tình hình chính trị dưới thời Lý 1
1.1.2 Tình hình chính trị dưới thời Trần 4
1.2 Tình hình kinh tế 7
1.2.1 Tình hình kinh tế dưới thời Lý 7
1.2.2 Tình hình kinh tế dưới thời Trần 11
1.3 Tình hình xã hội 14
1.3.1 Tình hình xã hội dưới thời Lý 15
1.3.2 Tình hình xã hội dưới thời Trần 15
Tiểu kết chương 1 16
Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH PHONG CẤP RUỘNG ĐẤT THỜI LÝ-TRẦN 2.1 Chế độ phong cấp ruộng đất dưới thời Lý 17
2.1.1 Chế độ phong cấp thực ấp 17
2.1.2 Chế độ phong cấp thực ấp kèm thực phong 18
2.1.3 Chế độ phong cấp thác đao điền 20
2.1.4 Chế độ phong cấp ấp thang mộc 21
2.1.5 Chế độ phong cấp ruộng chùa 21
2.2 Chế độ phong cấp ruộng đất dưới thời Trần 21
2.2.1 Chế độ phong cấp thái ấp 22
2.2.2 Chế độ phong cấp điền trang 25
2.2.3 Chế độ phong cấp ấp thang mộc 27
2.2.4 Chế độ phong cấp ruộng chùa 28
Tiểu kết chương 2 29
Trang 4Chương 3 NHẬN XÉT CHUNG
3.1 Đặc điểm
3.1.1 Ruộng đất dưới thời Lý-Trần đều là ruộng đất công
3.1.2 Hình thức phong cấp thực ấp, thực ấp kèm thật phong phát triển mạnh mẽ ở nhà Lý
3.1.3 Sự xuất hiện của hình thức phong cấp thái ấp, điền trang ở nhà Trần
3.2 Hệ quả
3.2.1 Tích cực
3.2.1.1 Khen thưởng những người có công lao
3.2.1.2 Xây dựng củng cố bộ máy nhà nước
3.2.1.3 Đoàn kết nhân dân và vảo vệ đất nước
3.2.2 Hạn chế
3.2.2.1 Hạn chế quyền lực
3.2.2.2 Tài chính của đất nước bị suy giảm
3.2.2.3 Xâm phạm đến đất của nhân dân
3.3 Bài học lịch sử
3.3.1 Trọng dụng nhân tài cho đất nước 3.3.2 Sự quản lý của nhà nước đối với đất đai 3.3.3 Nhà nước giữ những vùng đất trọng yếu Tiểu kết chương 3
Kết luận về vấn đề nghiên cứu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Con người chúng ta khi sinh ra chúng ta sống ở đâu? Chúng ta trồng lương thực ởđâu? Chúng ta buôn bán và đi lại ở đâu? Và còn rất nhiều câu hỏi như thế nữa Nhưngchung quy các câu hỏi đó chỉ có một câu trả lời duy nhất đó là “đất” Và đất là mộtnguồn tài nguyên vô cùng quý giá gắn liền với quá trình phát triển của xã hội loàingười, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất và văn minh tinhthần đều được xây dựng trên nền tảng của việc sử dụng đất đai-là nguồn tài nguyênquý giá của thiên nhiên mang lại cho con người Các triều đại đi trước luôn cố gắng đểgiữ gìn bờ cõi, từng tấc đất vì vốn dĩ “tấc đất tấc vàng”, từ Ngô, Đinh, Tiền Lê rồi đếnthời Lý-Trần,…ruộng đất được quản lí từ trung ương đến địa phương Bên cạnh đóhầu hết các cuộc chiến tranh xâm lược, tranh giành với nhau đều có xuất phát điểm làchiếm lấy phần lãnh thổ, đất đai của nước khác để mở rộng và phát triển đất nước củamình Do vậy, dù là thời kì nào thì đất đai vẫn là một bộ phận thiết yếu đóng vai tròquan trọng không thể thiếu của một đất nước Nước ta vốn dĩ đi lên từ nền nôngnghiệp lúa nước, do đó nếu muốn phát triển nông nghiệp cần phải đẩy mạnh việc bảo
vệ lãnh thổ và quản lý đất đai Đồng thời, cũng cần phải phát triển sản xuất góp phầnthúc đẩy tích cực nền nông nghiệp Tuy nhiên, để đạt được những thành tựu nêu trênthì việc sử dụng đất đai, phong cấp ruộng đất như thế nào là hiệu quả và hợp lí, cũngchính là một cơ sở vô cùng quan trọng cho quá trình phát triển của đất nước Vì thế,việc nghiên cứu chế độ phong cấp ruộng đất ở hai thời này sẽ mang lại nhiều bài học
bổ ích và có giá trị cho sự phát triển kinh tế-xã hội ngày nay
Nước ta vào thời Lý-Trần đã có những đóng góp tích cực cho sự phát triển của đấtnước và để lại dấu ấn sâu đậm trong xã hội trên mọi phương diện Đây cũng chính làthời kỳ hưng thịnh bậc nhất của chế độ phong kiến của nước ta Thời Lý-Trần một thời
kỳ với những chính sách quy lệ của nhà nước về ruộng đất, không chỉ vậy ruộng đấtcòn được phong cấp cho các công thần có công với đất nước hay bổng lộc cho quan lạitương đương với tiền bạc Ruộng đất thời xưa là tư liệu chủ yếu của dân ta vì nước ta
Trang 6là nước nông nghiệp lâu đời, là một thứ rất thiêng liêng và quý báu không chỉ từ xưa
mà đến nay cũng vậy Vì thế, nhận thấy tầm quan trọng của ruộng đất nên việc nghiêncứu chế độ phong cấp ruộng đất ở thời kỳ này cho thấy được tình hình kinh tế lúc bấygiờ, về chính trị trong nước ra sao để hiểu rõ hơn đất nước đã làm những gì để đạtđược nhiều thành tựu như thế
Ngoài ra, chế độ phong cấp ruộng đất luôn luôn gắn chặt với vấn đề nông nghiệp,
vì vậy tự bản thân nó đã mang tính khoa học và tính xã hội Cùng với đó, quá trình tưhữu hóa ruộng đất đã diễn ra, nhiều cuộc đấu tranh nhằm tranh giành quyền điều hành,kiểm soát làm thao túng nội bộ Vì vậy, việc nghiên cứu chế độ phong cấp ruộng đấytrở nên cấp thiết và có tính thời sự
Đó là những lí do để đề tài “Chế độ phong cấp ruộng đất thời Lý-Trần” được
chúng tôi chọn thực hiện nhằm nghiên cứu sâu hơn về phong cấp ruộng đất và sự tácđộng của chế độ này đối với kinh tế nông nghiệp thời Lý-Trần Từ đó, có thể hiểu biếtthêm phần nào về các chính sách được nhà nước đưa ra nhằm tái hiện một phần củađất nước ta thời Lý-Trần Thông qua đó, góp phần nâng cao sự hiểu biết về chính sáchruộng đất và có những hướng đi đúng đắn, phù hợp cho sự phát triển của đất nướctrong giai đoạn hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Vấn đề chính sách ruộng đất thời Lý - Trần là một trong những vấn đề đang đượccác nhà nghiên cứu quan tâm Đề tài này đã được các tác giả nghiên cứu trước đó như
Vũ Huy Phúc, Nguyễn Minh Cảnh, Trần Trọng Kim đã dày công nghiên cứu Trong
đó, có lẽ tiêu biểu nhất là tác giả Trương Hữu Quýnh, ông là một trong những ngườitiên phong đi đầu về tìm hiểu chế độ ruộng đất từ các thế kỷ Để nghiên cứu, tìm hiểu
đề tài này không thể không kể đến tác phẩm Chế độ ruộng đất Việt Nam thế kỷ XI –
XVIII (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004) của tác giả Trương Hữu Quýnh Tác
phẩm nghiên cứu này đã phác họa được các chính sách ruộng đất của mỗi triều đại,đặc biệt là triều đại Lý - Trần qua chính sách phong cấp ruộng đất Nghiên cứu về đề
này tác giả đã đưa ra những quan điểm về các hình thức phong cấp “bằng nhiều hình
thức khác nhau từ phong hộ đến phong đất, nhà nước quân chủ trung ương tập quyền
Trang 7đã từng bước tăng cường quyền lực thực sự của mình đối với ruộng đất công làng xã”
[10, tr.120] Tác phẩm này là một nguồn tư liệu để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu và
mở rộng thêm những hiểu biết về chính sách ruộng đất thời Lý - Trần
Nghiên cứu về chính sách phong cấp ruộng đất thời Lý - Trần, chúng tôi muốn đề
cập đến công trình Đại Việt sử kí toàn thư (Nxb Văn Hóa – Văn Nghệ, Thành Phố Hồ
Chí Minh, 1697) của tác giả Ngô Sĩ Liên Đây được xem là một công trình nghiên cứuxuất sắc của nền sử học Việt Nam Bằng các phương pháp nghiên cứu đa dạng như:phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp tổng hợp và phân tích…công trìnhnghiên cứu đã mang đến cho người đọc những giá trị bổ ích và nhiều bài học kinhnghiệm sâu sắc Đồng thời, từ công trình tác giả đã cung cấp cho chúng ta nguồn tưliệu đáng quý, đưa ra những lập luận để lí giải và đưa ra nhiều ý gợi mở Thông quanội dung của công trình, tác giả đã nêu sơ lược về chính sách ruộng đất trong đó cóchính sách phong cấp ruộng đất thời Lý - Trần Từ đó góp phần đánh dấu một bướcphát triển trên con đường phong kiến hóa của chế độ tư hữu nhà nước về chính sách
ruộng đất điều đó được khẳng định “Chẳng những thái ấp của ta bị tước mà bổng lộc
của các ngươi cũng về tay kẻ khác” [6, tr.83].
Ngoài ra không thể không nói đến công trình Đại Cương Lịch Sử Việt Nam tập 1
của các tác giả: Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Minh Cảnh, Phan Đại Doãn (Nxb Giáodục Hà Nội, 2003) Bằng những phương pháp nghiên cứu chuyên sâu và sự lập luậnchắc chắn, các tác giả đã đưa ra nhiều nguồn tư liệu quan trọng trong việc nghiên cứu
về các đề tài như: thời đại nguyên thủy trên đất nước Việt Nam, thời kì dựng nước vàgiữ nước qua các triều đại, những chuyển biến về kinh tế - xã hội bao gồm các chínhsách ruộng đất Bên cạnh đó, công trình đã phác họa lên đặc điểm riêng của chính sáchphong cấp ruộng đất qua một khía cạnh của hình thức ban cấp ruộng đất dưới thời
Trần “Điều lệ điền trang năm 1266 đã đẩy nhanh sự phát triển sở hữu lớn của các
quý tộc Trần, tạo một bước chuyển biến mạnh mẽ mở rộng hình thái kinh tế phong kiến” [12, tr.200] Đây là một công trình nghiên cứu bổ ích và có giá trị sâu sắc, đồng
thời công trình còn cung cấp cho chúng ta những nguồn tư liệu tham khảo nhằm gợi
mở những giải pháp cho vấn đề ruộng đất hiện nay
Trang 8Để nghiên cứu lịch sử tồn tại của triều đại qua các giai đoạn phát triển trên các lĩnhvực đời sống, chính trị, xã hội, các chính sách dưới triều Lý, thì có lẽ chúng tôi phải kểđến tác giả Nguyễn Quang Ngọc Ông đã thành công trong việc đóng góp nhiều công
trình nghiên cứu, tiêu biểu là tác phẩm Vương Triều Lý (Nxb, Hà Nội, 2010) Bên cạnh
việc nghiên cứu về các nội dung: thiết lập bộ máy trung ương, xây dựng và phát triểnkinh tế thời Lý Thông qua đó, tác giả cũng nêu sơ lược về các chính sách phong cấp
ruộng đất thời Lý“có thể thấy chế độ ban cấp thời Lý tồn tại trên cơ sở hai chế độ
thực ấp và thực phong Phần thực ấp (số lượng hộ được ăn) theo nhiều nhà sử học là chỉ có danh mà không có thật Người được ban cấp trên danh nghĩa là được nhận một
số lượng hộ thực ấp (như trên) mới phù hợp và xứng đáng với quan chức và đóng góp của người đó” [7, tr.413].
Tác giả Lê Thành Khôi đã đóng góp nghiên cứu Lịch Sử Việt Nam từ nguồn gốc đến
giữa thế kỷ XX (Nxb Thế giới, 2014) Bằng phương pháp nghiên cứu, tác giả đã tái
hiện lại một cách khái quát sự hình thành của nhà Lý và sự nối tiếp của nhà Trần, cùng
với đó tác giả còn cho thấy đặc điểm của chế độ phong cấp ruộng đất thời Trần “Thực
vậy, trong khi ở các thái ấp, công nhân là những người nông dân tự do, thì ở điền trang, nhân dân chủ yếu lại là nô tì, vào thời kỳ có nạn đói hay khủng hoảng, các điền trang sẽ là nơi thu hút người xiêu tán sẵn sàng đem lại các điều kiện làm người tự do của họ đổi lấy thân phân nô tì nhưng được đảm bảo miếng cơm, không phải nộp thuế
và thi hành nghĩa vụ quân sự” [4, tr.206].
Và để nghiên cứu về kinh tế - xã hội, các chính sách ruộng đất dưới thời Trần, cũngnhư các thời kỳ khác trong lịch sử dân tộc, là một trong những trọng tâm của các đề tàinghiên cứu ở Việt Nam Để làm sáng tỏ về tình hình kinh tế - xã hội bao gồm cácchính sách ruộng đất thời Trần không thể không chú ý đến, tìm hiểu về quá trình hìnhthành và phát triển của Thái Ấp - Điền Trang, đây là một trong những chính sáchphong cấp ruộng đất tồn tại dưới thời Trần Vì vậy, để góp phần nghiên cứu kỹ hơn về
chính sách ruộng đất có thể kể đến công trình nghiên cứu Thái ấp - điền trang thời
Trần (Thế kỷ XIII -XIV) (Nxb, Khoa học xã hội, Hà Nội, 2019) của tác giả Nguyễn Thị
Phương Chi Đây được xem là công trình nghiên cứu tiêu biểu, thông qua đó tác giả đã
Trang 9phác họa rõ nét về tình hình của xã hội Đại Việt dưới thời Trần trên các cục diện kinh
tế, chính trị, quân sự, xã hội Đây thực sự là một đề tài nghiên cứu hay, với nội dungnghiên cứu mới mẻ tác giả đã đưa ra những đánh giá, nhận xét về Thái ấp - điền trang,đồng thời nêu lên ý nghĩa tích cực của loại hình phong cấp này đối với việc kết hợpnhiệm vụ vừa xây dựng vừa bảo vệ đất nước dưới thời Trần
Tác phẩm có giá trị khoa học nêu trên chính là kim chỉ nam để tác giả kế thừa vị trímột cách có chọn lọc nội dung phù hợp góp phần hoàn thiện phần nghiên cứu củamình
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu hướng đến 3 mục tiêu cụ thể như sau:
- Nghiên cứu tổng quan về chế độ phong cấp ruộng đất thời Lý-Trần từ thế kỷ XIV
- Sự ảnh hưởng của chính sách phong cấp ruộng đất từ thế kỷ XI-XIV đối với xã hộiđương thời
- Rút ra bài học kinh nghiệm từ chính sách trên cơ sở nghiên cứu lịch sử thời Lý-Trầnnhằm giải quyết các vấn đề ruộng đất
4 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính đề tài là: Chế độ phong cấp ruộng đất thời Lý-Trần
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu về các chính sách phong cấp ruộng đất cho quan lại, người có công với
đất nước,… của Đại Việt thời Lý-Trần từ thế kỷ XI-XIV, tác động đến kinh tế cũngnhư đời sống xã hội thời bấy giờ
5 Phạm vi nghiên cứu
5.1 Phạm vi thời gian
Đề tài nghiên cứu được xác định trong khoảng thời gian từ thế kỷ XI-XIV, tức là từkhi nhà Tiền Lê sụp đổ, Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế đã thiết lập chính sách ruộngđất của nhà Lý, trong đó có chính sách phong cấp ruộng đất Cho đến khi nhà Lý sụp
đổ, nhà Trần lên nắm quyền kế thừa và phát triển chính sách ruộng đất từ nhà Lý bắtđầu năm 1226-1400
Trang 105.2 Phạm vi không gian
Giới hạn không gian nghiên cứu của đề tài đó là: chế độ phong cấp ruộng đất thời Lý-Trần: nội dung và hệ quả
6 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này tiếp cận lịch sử theo hướng lý thuyết từ đó đưa ra những phương phápnghiên cứu sau:
6.1 Phương pháp lịch sử
Phương pháp lịch sử là phương pháp nghiên cứu đặc trưng của đề tài nghiên cứu lịch
sử Phương pháp lịch sử được vận dụng nhằm tái hiện chân thực hoàn cảnh lịch sử mộtcách khái quát nhất, làm cho người đọc có thể hình dung ra bức tranh lịch sử và bốicảnh lịch sử của nước ta ở thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XIV Cụ thể ở đây là chính sáchphong cấp ruộng đất thời Lý-Trần Thông qua nguồn sử liệu nhóm tôi đã vận dụngphương pháp lịch sử để nghiên cứu nhằm mô tả một cách chính xác nhất về chế độphong cấp ruộng đất thời Lý-Trần một cách khách quan và đúng nhất với hiện thựclịch sử
6.2 Phương pháp logic
Phương pháp logic được vận dụng trong việc hệ thống hóa các sự kiện lịch sử, hìnhthành ý kiến nhận xét, đánh giá khoa học về vấn đề được nghiên cứu, nhằm tìm ra bảnchất, quy luật vận động và phát triển của vấn đề nghiên cứu Về đề tài này nhóm tácgiả đã vận dụng phương pháp logic vào trong toàn bộ nội dung nghiên cứu chính sáchphong cấp ruộng đất thời Lý-Trần Trên cơ sở đó nhóm tác giả đã đưa ra các nhận xét,đánh giá khoa học về những đặc điểm của chế độ phong cấp ruộng đất thời Lý-Trần
6.3 Phương pháp tổng hợp tài liệu
Thông tin và tài liệu nghiên cứu được thu thập chủ yếu từ các nguồn như sách báo,các trang thông tin trên internet, và các nguồn sử liệu quan trọng, nhằm đảm bảo độ tincậy và khoa học về chuyên môn lịch sử Thông qua phương pháp tổng hợp tài liệunhóm tác giả đã nghiên cứu tổng quan về việc nghiên cứu chính sách ruộng đất thờiLý-Trần, và hình thành cơ sở quan trọng về lí luận và thực tiễn cho đề tài nhằm đảmbảo tính khoa học, khách quan và sáng tạo
6.4 Phương pháp đánh giá tổng hợp
Trang 11Đây là phương pháp được tiến hành thông qua việc sử dụng tổng hợp các kết quả củaviệc xử lí các số liệu thống kê, tổng hợp các nguồn tài liệu Từ đó, tiến hành nhận xétđánh giá tổng thể một cách khách quan về chế độ phong cấp ruộng đất thời Lý-Trần.
7 Đóng góp của đề tài
7.1 Đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Cung cấp nguồn tư liệu quan trọng trong học tập và là cơ sở để sinh viên nghiên cứu,
đi sâu vào các lĩnh vực, khối ngành như: lịch sử, luật đất đai, quản lý đất đai…
Cung cấp nguồn tư liệu hữu ích về lịch sử ruộng đất thời Lý-Trần cùng với đó là nộidung chuyên sâu về vấn đề phong cấp ruộng đất ở thời Lý-Trần từ thế kỷ XI-XIV Thông qua đề tài có thể giúp sinh viên lĩnh hội được nhiều kinh nghiệm và kĩ năng:
kĩ năng tìm kiếm thông tin, đọc và chọn lọc nguồn tư liệu, tự phát triển tư duy tích cực,
tự nghiên cứu, tìm tòi và học hỏi Qua đó, kết quả nghiên cứu còn để lại những bài họckinh nghiệm có giá trị hữu ích về giáo dục từ đó góp phần mang lại niềm say mê họctập, nghiên cứu và nâng cao tay nghề chuyên sâu cho sinh viên ngành lịch sử
7.2 Đối với phát triển kinh tế-xã hội
Kết quả nghiên cứu đã đúc kết một số bài học kinh nghiệm từ lịch sử nhằm chochúng ta hiểu biết thêm về vấn đề phong cấp ruộng đất của 2 triều đại thịnh vượngnhất của chế độ phong kiến Việt Nam đó là nhà Lý và nhà Trần Qua đó, cho chúng tathấy sự đa dạng của chính sách phong cấp ruộng đất, từ đó chúng ta rút ra được nguồn
tư liệu quý báo phục vụ cho việc nghiên cứu Mặt khác cho chúng ta hiểu biết sâu sắchơn về chế độ phong cấp ruộng đất góp phần vào việc xây dựng và phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước cho mai sau
7.3 Đối với tổ chức chủ trì và các cơ sở ứng dụng kết quả nghiên cứu
Bổ sung thêm tư liệu lịch sử cho các đơn vị tham khảo
Gợi mở thêm các vấn đề về phong cấp ruộng đất thời đại Lý-Trần, qua đó nâng cao
sự nghiên cứu của sinh viên trường đại học
8 Bố cục của đề tài
Chương 1 Tổng quan Đại Việt thời Lý-Trần
Chương 2 Nội dung cơ bản của chính sách phong cấp ruộng đất thời Lý-Trần
Chương 3 Nhận xét chung
Trang 13B NỘI DUNG
Chương 1 TỔNG QUAN ĐẠI VIỆT THỜI LÝ-TRẦN 1.1 Tình hình chính trị
1.1.1 Tình hình chính trị dưới thời Lý
Sau khi lên ngôi vua, Lý Thái Tổ cho dời kinh đô từ Hoa Lư về Đại La vàonăm 1010 và đổi tên kinh đô mới là thành Thăng Long (nằm ở trung tâm Hà Nộingày nay) Sở dĩ nhà Lý cho dời kinh đô Thăng Long là do Hoa Lư là nơi núi nonhiểm trở thích hợp với tính chất phòng ngự trong điều kiện đất nước vừa mới ổnđịnh, chưa vững chắc Nhưng đến nhà Lý, tình hình nước ta trở nên ổn định hơn
và cần phát triển kinh tế đất nước nên việc dời đô về vùng đồng bằng, trung tâmđất nước, nơi giao thông thủy bộ thuận tiện là việc cần thiết, nơi đây có đủ điềukiện trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa,…của nước nhà làm cho đấtnước trở nên ngày càng hưng thịnh Đồng thời việc dời đô này chứng tỏ khả năng,lòng tự tin, tâm huyết và sức mạnh có thể bảo vệ đất nước của dân tộc ta, cũng ởđây nhà vua cho xây dựng nhiều thành lũy, đền chùa, công trình,…để bảo vệ nó và
từ đó nơi đây trở thành kinh đô của nhiều triều đại cho đến ngày nay Cùng vớitinh thần tự chủ đó, vào năm 1054 vua Lý Thánh Tông cho đổi tên nước là ĐạiViệt, đây là niềm tự hào của cả một dân tộc và Đại Việt trở thành quốc hiệu được
sử dụng lâu dài trong lịch sử chế độ phong kiến
Tổ chức chính quyền từ trung ương đến địa phương
Từ những yêu cầu khách quan và các nhân tố khác đã tạo điều kiện cho triều
Lý tiến tới xây dựng chính quyền nhà nước Và công cuộc xây dựng chính quyềnnhà nước được bắt đầu từ vua Lý Thái Tổ, gồm cấp trung ương và cấp địa phương
Tổ chức chính quyền cấp trung ương dưới thời Lý được thiết lập như sau:“Vua là
người đứng đầu nhà nước với danh xưng Hoàng đế, giữ quyền quyết định tối cao mọi việc của nhà nước Hoàng đế nhà Lý tự xưng là Thiên tử, cho lập các ngôi vị
Trang 14Hoàng hậu và Thái tử và theo nguyên tắc chung là cha truyền con nối, đồng thời tiến hành phong chức tước cho các quý tộc dòng dõi họ Lý Cơ quan văn phòng giúp việc cho vua là bao gồm các Sảnh và Hàn lâm viện Các cơ quan chuyên môn dưới triều Lý bao gồm nhiều cấp bậc khác nhau Tất cả gồm có bậc chánh và tòng cho các chức quan văn võ cao cấp của triều đình Đứng đầu hệ thống quan văn, quan võ là Tể tướng và Á tướng…Dưới Tể tướng và Á tướng là chức quan thừa hành cao cấp gọi là Hành khiển…Cơ quan cao cấp dưới triều Lý còn có Khu mật viện và Lục bộ…cơ quan chuyên môn quan trọng dưới triều Lý là Ngự sử đài
có nhiệm vụ can gián vua và giám sát quan lại…” [18, tr.86]
Về tổ chức chính quyền quản lý ở địa phương thì nhà Lý cho đổi 10 lộ thời Lêthành 24 lộ nhỏ hơn cho phù hợp với công tác quản lí đất nước, ở những vùng xakinh đô, miền núi triều Lý cho thiết lập đơn vị hành chính cấp châu tương đươngvới cấp huyện, phủ Một số tài liệu ghi lại rằng vào triều Lý có khoảng 52 châu vớidiện tích khác nhau, ở khu vực biên giới triều đình thành lập đơn vị trại-đây là nơitích trữ lương thực, phòng biên cương nên quy mô cũng không đồng đều Căn cứtheo đặc điểm dân cư cũng như địa lí mà triều đình đã ban hành những cách thứcquản lí phù hợp với nơi đó như: lộ, phủ, châu, trại Dưới các lộ, phủ, châu, trại làcác huyện hoặc hương dưới cấp nữa thì có giáp, đơn vị hành chính cấp cơ sở làthôn (khu vực đồng bằng), sách hoặc động (khu vực miền núi) còn ở kinh thànhThăng Long có giai hoặc phường (khoảng 61 phường)
Đứng đầu cấp lộ là chức Thông phán, cấp phủ là chức Tri phủ hoặc Phán phủ,cấp châu do Tri châu, các vùng biên giới là Quan mục, cấp Trại do các tù trường làngười dân tộc địa phương đứng đầu Cấp huyện do Huyện lệnh đứng đầu, cấp giáp
do các chức Quản giáp và Chủ đô cai quản Nhìn chung, tổ chức bộ máy nhà nướcdưới nhà Lý khá hoàn thiện và đáp ứng được tình hình đất nước bấy giờ
Tổ chức quân đội
Công cuộc xây dựng đất nước của nhà Lý được tiến hành vào lúc giặc ngoại xâmđang lâm le xâm chiếm nước ta Chính vì lẽ đó mà để củng cố thêm hệ thống chính trị vàsẵn sàng đương đầu với quân xâm lược nhà Lý đã chủ trương tăng cường tổ chức lực
Trang 15lượng quân đội và chia thành hai loại: quân cấm vệ và quân các lộ Quân cấm vệ là lựclượng thường trực của triều đình, có nhiệm vụ bảo vệ kinh thành được tuyển lựa kỹ càng,cẩn thận và tổ chức huấn luyện chu đáo Quân các lộ là lực lượng bảo vệ địa phương, làmnhiệm vụ canh phòng bảo vệ các lộ, phủ, châu Ngoài ra, các tù trưởng và vương hầu đều
có lực lượng vũ trang riêng và nằm trong tầm kiểm soát của triều đình Ngay triều Lý,nghĩa vụ binh dịch đã được đặt ra, với chế độ đăng kí hộ khẩu và tuyển binh chặt chẽ,mỗi dân đinh khi đến 18 -20 tuổi gọi là Hoàng nam, là lực lượng dự bị, còn từ 20-60 tuổigọi là Đại hoàng nam, là lực lượng thực hiện nghĩa vụ binh dịch khi cần thiết và phảiđăng kí vào sổ quân để triều đình thuận tiện điều động khi có chiến tranh, vào thời bìnhthì họ sẽ thay phiên nhau một phần quay trở về làm ruộng một phần thì ở lại quân ngũ đểcanh phòng Đó gọi là chính sách “ngụ binh ư nông” có từ thời Tiền Lê và đến thời Lýđược ban hành hoàn chỉnh, điều này vừa đảm bảo về yêu cầu quốc phòng mà lại đảm bảolực lượng lao động cần thiết cho sản xuất nông nghiệp mà nhà nước không phải chi quánhiều cho việc nuôi lính Quân đội nhà Lý đạt tới trình độ huấn luyện tinh thông và đượcchia thành các đơn vị quân, vệ và bao gồm các binh chủng là: bộ binh, thủy binh, kỵbinh, kèm theo đó là các vũ khí được trang bị như gươm, giáo, đao, cung, nỏ,…
Luật pháp
Cùng với sự phát triển của chế độ trung ương tập quyền, ở thời Lý hoạt động lập phápcũng được tăng cường Vào năm 1042, vua Lý Thái Tông cho ban hành bộ Hình thư bao
gồm 3 quyển được biên soạn, theo Đại Việt sử kí toàn thư có ghi lại rằng“Trước kia,
trong nước có việc kiện tụng phiền nhiễu, quan giữ việc hình câu nệ luật văn cốt làm khắc nghiệt, thậm chí bị oan uổng Vua lấy làm thương xót, sai Trung thư sửa định luật lệnh, châm chước cho thích dụng với thời bấy giờ, chia ra môn loại, biên ra điều khoản, làm sách Hình luật của một triều đại, để cho ngời xem dễ hiểu Sách làm xong, xuống chiếu ban hành dân ấy làm tiện” [8, tr.263] Đây là bộ luật được xem như là bộ luật đầu
tiên của lịch sử Việt Nam, điều này đã thể hiện một bước tiến quan trọng trong việc quản
lý đất nước, chứng tỏ tính chất của một nhà nước trung ương tập quyền cùng với những
lập pháp-thiết chế tương đối phù hợp với đương thời Bộ luật này đề ra“nhằm bảo vệ
quyền lợi của nhà nước trung ương tập quyền, của giai cấp thống trị, trước hết là của
Trang 16nhà vua Củng cố chế độ đẳng cấp, hạn chế sự bành trướng thế lực của bọn quan liêu quý tộc, bảo vệ nguồn bóc lột của nhà nước Đối với tội thập ác, đặc biệt tội chống đối lại nhà Lý thì bị hình phạt rất nặng, tàn khốc như bị xẻo thịt, róc xương ở chợ, bị tùng xẻo, chặt chân, tay Pháp chế thời Lý cũng có những mặt tích cực như coi trọng việc bảo
vệ và phát triển sức sản xuất của dân tộc, quan tâm đến đời sống của con người, thể hiện tinh thần nhân ái trong pháp trị”[13, tr.130-131], đặc biệt chế độ tư hữu về ruộng đất
cũng đã bắt đầu xuất hiện và được nhà nước thừa nhận Bên cạnh đó, pháp luật nhà Lýbảo vệ sự ổn định của gia đình theo trật tự Nho giáo với những quy tắc chặt chẽ nhưngười trong nhà không được tố cáo lẫn nhau, kể cả bố, mẹ, vợ chồng, tôi tớ,…Dù cónhiều điều khoảng nghiêm ngặt nhưng do chịu ảnh hưởng của Phật giáo nên bộ luật cũng
áp dụng một số chính sách nhân đạo và tiến bộ Đây được xem như nền tảng quan trọngcủa pháp lý Đại Việt cho các triều đại sau kế thừa và phát huy
Chính sách đối ngoại-đối nội
Thời Lý nhà nước vẫn thực hiện chính sách ngoại giao trên sự kế thừa từ thời Tiền Lê Triều Lý chủ trương giao hảo với các nước láng giềng, nhưng kiên quyết chốngtrả nếu họ xâm lược nước ta Triều đình thường cử các đoàn sứ giả sang Tống nộp cốngphẩm, đối với Chămpa và Chân Lạp nhà Lý giữ yên biên giới Còn về đối nội, triều Lýchưa có sức ảnh hưởng mạnh đến vùng núi để chi phối và quản lý Nên ở vùng núi biêncương sự cai quan nằm trong tay các tù trưởng người dân tộc thiểu số và để làm mối quan
Đinh-hệ đó trở nên tốt hơn nhà Lý đã dùng quan Đinh-hệ hôn nhân để ràng buộc và mua chuộc các
tù trưởng, từ đó các tù trưởng sẽ trở thành những người đắc lực hỗ trợ triều đình quản lýđất nước vùng núi cao biên cương Nhờ các chính sách đối ngoại-đối nội mềm dẻo màtriều đình đã có thể ngăn chặn được nạn phân tán, cát cứ ở vùng núi cao không chỉ vậy
mà còn nhiều lần dẹp tan ý định và những lần xâm chiếm của ngoại xâm, điều này đã gópphần giữ vững bờ cõi biên cương, ổn định tình hình trong nước
Trang 171.1.2 Tình hình chính trị dưới thời Trần
Đến đời vua Lý Anh Tông (1138-1175) chính sự dần dần suy yếu, đến đời vua
Lý Huệ Tông, do ông bị bệnh nên không thể tiếp tục quản lí đất nước dẫn đếnchính quyền trung ương sa sút, xã hội hỗn loạn, đời sống nhân dân trở nên khókhăn và khổ cực Nhiều cuộc đấu tranh, khởi nghĩa nổi dậy của nhân dân liên tiếp
nổ ra Đây chính là điều kiện thuận lợi để các thế lực phong kiến nổi dậy tranhgiành quyền lợi lẫn nhau Trong triều, quyền hành lúc này thực sự rơi vào tay Điệntiền chỉ huy sứ Trần Thủ Độ, ông là một người tài giỏi, thông minh và mưu lược.Lợi dụng cơ hội đó, họ Trần giả danh giúp họ Lý trở nên nổi lên từng bước thâutóm bộ máy nhà nước, làm lủng đoạn binh quyền Vào đời vua Lý Huệ Tôngkhông có con trai, chỉ có hai người con gái Người công chúa thứ nhất đã gả choTrần Liễu Người công chúa thứ là Lý Chiêu Hoàng được vua Huệ Tông chọn làmngười nhường ngôi kế vị
Năm 1226, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh tại điện Thiên An.Trần Cảnh lên ngôi hoàng đế, đại xá thiên hạ, lập nên triều đại nhà Trần, đây làthực chất là một cuộc hôn nhân chính trị mà Trần Thủ Độ đã âm mưu để chuyểngiao quyền lực từ nhà Lý sang nhà Trần Từ đây, nhà Lý suy vong nhà Trần tiếptục chế độ trị vì đất nước tương tự như nhà Lý Sự xác lập của nhà Trần đầu thế kỷXIII là sự đáp ứng yêu cầu lịch sử đặt ra cho dân tộc Đại Việt
Nhà Trần trải qua mười ba đời vua từ đời vua Thái Tông (1226-1258) đến đời vuaHiển Tông (1329-1341) đã xây dựng một đất nước với nền độc lập-tự chủ được giữ vữngđồng thời có một nền kinh tế phát triển hưng thịnh Vào thời Trần, nhà nước với nhân dâncùng nhau ba lần kháng chiến chống quân Mông-Nguyên giành thắng lợi và giữ vữngtoàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Qua đó, cho thấy khả năng lãnh đạo sáng suốt của vuaquan thời Trần, cùng với sự tin tưởng, ủng hộ tuyệt đối của nhân dân đối với triều đìnhkết hợp với tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm chống quân xâm lược, đây chính là nhữngđiều kiện quyết định làm nên thắng lợi cho cuộc kháng chiến
Tổ chức bộ máy nhà nước trung ương
Trang 18Tổ chức bộ máy chính quyền trung ương dưới triều Trần đã hoàn chỉnh hơn so vớitriều Lý Đứng đầu nhà nước vẫn là vị hoàng đế nhưng vẫn có sự khác biệt so với thời
Lý, các vua Trần đặt lệ nhường ngôi sớm cho con và tự mình xưng là Thái thượng hoàng,cùng con trông nom việc nước Đây chính là cách nhằm đảm bảo vị trí vững chắc và khảnăng quyền lực trong tay vua, tránh xảy ra những vụ việc tranh chấp ngôi vị giữa các vịhoàng tử Đồng thời giúp cho vua con làm quen dần với việc trị nước trong thời gian vuacha còn sống, và đến khi vua cha (Thái thượng hoàng) qua đời thì vua con (hoàng đế) đã
có đủ bản lĩnh, uy tín để cầm quyền, đủ khả năng để ngăn chặn và đẩy lùi các thế lựcngấp nghé ngôi vua
Năm 1242, nhà Trần đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ Dưới lộ, phủ có châu,huyện, xã Chế độ quan lại nhà Trần nói chung cũng giống ở nhà Lý nhưng có quy
củ và đầy đủ hơn Các chức vụ từ trung ương đến địa phương đều có sự cải biến.Nhà vua nắm quyền lực tối cao quyết định tất cả Khác ở thời Lý, tất cả các chức
vụ cao cấp trong triều đình đều nằm trong tay quý tộc, tôn thất, nhằm tập trungmọi quyền hành về dòng họ mình Và để bảo vệ địa vị cai trị độc tôn của dòng họmình, nhà Trần còn quy định những người trong hoàng tộc phải kết hôn với nhau.Ngoài ra, nhà Trần còn đặt thêm một số chức quan phụ trách các công việc chuyênmôn như Hà đê sứ lo về công tác đê điều, Khuyến nông sứ lo về việc khuyếnkhích sản xuất nông nghiệp, Đồn điền sứ lo về việc tổ chức khai hoang lập đồnđiền.Dưới triều Trần, việc thi cử được tổ chức có quy củ để tuyển chọn đội ngũquan lại cho triều đình Ngoài ra, những người không đỗ đạt nhưng có tài vẫn cóthể cân nhắc, trọng dụng Dưới thời Trần, quan lại được cấp lương và được hưởng
Trang 19tục truyền thống của các của các thời trước, nhằm bảo đảm số quân cần thiết khi có ngoạixâm Các tướng cao cấp trong quân đội phần lớn là người họ nhà vua Bên cạnh đó, cácvương hầu, quý tộc cũng được phép thành lập quân đội riêng, trong những lúc chiếntranh, nhà nước được quyền điều động để đánh giặc, nhằm bảo vệ đất nước Trong cuộcduyệt binh năm 1284 ở Vạn Kiếp chuẩn bị chống quân Nguyên, riêng quân địa phươngcủa các vương hầu đã lên tới 20 vạn.
Ngoài ra, về binh chủng gồm có bộ binh, thủy binh, kỵ binh và tượng binh.Bên cạnh lực lượng bộ binh hùng mạnh, lục lượng thủy binh của nhà Trần cũng rấtlợi hại gồm nhiều chiếc thuyền lớn nhỏ với lực lượng được huấn luyện chu đáo và
có những cấp chỉ huy tài năng Về trang bị vũ khí thời Trần gồm có gươm, giáo,cung tên và cả súng ống Đây chính là lực lượng hùng hậu 3 lần đều đánh bại quânMông-Nguyên để bảo vệ toàn vẹn nền độc lập cho dân tộc
Về luật pháp
Nhà Trần rất quan tâm đến công tác lập pháp Năm 1230, vua Trần cho khảo định lạiluật lệ các đời trước, soạn thành bộ Quốc triều thông chế gồm 20 quyển Đến năm 1341,vua Trần Dụ Tông giao cho Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn cùng soạn bộ Hìnhluật thư gồm 1 quyển Bộ hình luật nay không còn nữa do quân Minh cướp mất trong thờigian chúng xâm lược và đô hộ nước ta vào đầu thế kỷ XV Một số ghi chép còn lại về saucho biết: theo luật, tội phản lại triều đình thì bị xử nặng nhất, nói chung là phải giết hết
thân tộc Những người bị các tội nhẹ hơn thì đày làm “điền hoành” cày 3 mẫu ruộng
công, nộp tô mỗi năm 300 thăng (trường hợp các điền hoành ở Cảo xã) Chế độ sở hữu tưnhân về ruộng đất và tài sản được bảo vệ, con nợ không trả được nợ có thể bị chủ nợ bắtgiam cho đến khi trả hết nợ lãi và gốc Nhìn chung, so với thời Lý, hệ thống luật phápdưới thời Trần có phần nghiêm khác, hoàn chỉnh và quy củ hơn, việc xét xử cũng nghiêmtúc hơn
Về hoạt động ngoại giao
Từ sớm, nhà Trần đã giữ quan hệ hòa hảo với nhà Tống và theo lệ cũ sang triều cốngcho đến khi nhà Tống mất Năm 1258, nhà Trần cử sứ giả sang Mông Cổ và định lệ 3năm cống một lần Nhưng do mưu đổ muốn bành trướng của nhà Mông-Nguyên làm cho
Trang 20mối quan hệ giữa 2 nước trở nên căng thẳng và dẫn đến cuộc chiến tranh Sau khi khángchiến chống Mông-Nguyên thắng lợi, quan hệ giữa 2 nước Trần và Nguyên trở lại hòahảo Nhà Trần luôn luôn củng cố và giữ vững độc lập, kiên quyết chống trả các thế lựcngoại xâm để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đất nước
Với những chính sách về chính trị của hai triều đại Lý-Trần cho thấy rằng bộmáy nhà nước trung ương tập quyền ở hai thời kỳ này từng bước được hoàn thiện
và chặt chẽ Dẫn theo đó là sự phát triển về kinh tế, xã hội, văn hóa…thời bấy giờ
ra sức chăm lo phát triển nền kinh tế nông nghiệp để thúc đẩy sự phát triển của đất nước
Vì nước ta là một nước nông nghiệp từ ngàn xưa nên chính sách kinh tế nông nghiệp luôngắn liền với chính sách ruộng đất và gắn liền với người dân Nông nghiệp ở đây được coi
là gốc của nền kinh tế nên các vua nhà Lý đã kế tục nghi thức của nhà Tiền Lê đó là nghithức cày ruộng tịch điền, đây không đơn thuần chỉ là một nghi thức mà nó còn thể hiện ởchỗ nhà nước luôn ra sức quan tâm tới sản xuất nông nghiệp của người dân, nghi thứcnày còn đáng trân quý ở chỗ nhà vua đích thân cày ruộng để cầu cho mưa thuận gió hòamùa màng bội thu để người dân phát triển kinh tế, việc nhà vua đích thân cày ruộng cònthể hiện sự gắn bó mật thiết của vua và dân Nhà Lý còn giao đất của mình cho làng xãquản lý gọi là đất công làng xã, ngoài ra còn dùng đất của mình để ban thưởng cho quanlại, công thần, nhưng loại đất ban thưởng này hầu như chỉ hưởng một đời Đó cũng đượcxem như một hình thức quản lý đất của nhà vua Vì nhà vua không thể nào quản lý đượchết tất cả ruộng đất của mình, mặc dù giao đất cho người dân hay ban thưởng cho cácquan lại, công thần thì quyền quản lý tối cao cũng nằm trong tay vua Những hình thứcgiao đất cho người dân như vậy cũng góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tếnông nghiệp, vì khi giao đất cho người dân cày cấy khi đến mùa thu hoạch thì người dân
Trang 21phải nộp thuế lại cho triều đình Chính điều này đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế củanông nghiệp
Để có thêm nguồn lao động cho nông nghiệp nên ngay sau khi lên ngôi LýThái Tổ đã xuống chiếu truyền cho những người bỏ trốn khỏi đất nước phải trở về,việc làm này không chỉ giúp người dân trở về quê hương của mình mà còn giúpcho nông nghiệp có thêm nguồn lao động Để tăng cường nguồn lao động giúp chokinh tế nông nghiệp phát triển nhà Lý đã ban hàn chính sách “ngụ binh ư nông”,tức là cho quân lính ở thời bình thay nhau về làm ruộng, giúp cho sản xuất nôngnghiệp tăng lên, kinh tế ngày càng phát triển Nhà Lý còn ban hành nhiều biệnpháp giúp cho kinh tế nông nghiệp như chính sách bảo vệ sức kéo, coi con trâunhư là đầu cơ nghiệp vì Đại Việt lúc bấy giờ đã biết tận dụng sức kéo của động vậtthay cho con người điều này cho thấy sự tiến bộ của nước ta trong phát triển kinh
tế nông nghiệp, trong chính sách bảo vệ sức kéo còn quy định rõ rằng nếu ngườinào phạm tội giết trâu hay trộm trâu thì bị luật phát trừng trị rất nặng Năm Nhâm
Ngọ (1042) Lý Thái Tông xuống chiếu“Kẻ nào ăn trộm trâu của công phạt 100
trượng, 1 con phạt thành 2 con” [8, tr.271] Linh nhân thái hậu nói:“Gần đây ở kinh thành, hương ấp, có nhiều người trốn tránh, lấy việc ăn trộm trâu làm nghề nghiệp, trăm họ cùng quẫn, mấy nhà cày chung một con trâu Trước đây ta đã từng nói việc ấy Nhà nước đã có lệnh cấm Nay giết trâu lại nhiều hơn trước”.
Bấy giờ vua mới xuống chiếu“Kẻ nào mổ trộm trâu thì phạt 80 trượng, đồ làm
khao giáp (đày làm kẻ phục dịch trong quân), vợ xử 80 trượng, đồ làm tang thất phụ (làm việc nhà trong chăn tằm) và bồi thường trâu, láng giềng biết mà không
tố cáo phạt 80 trượng” [8, tr.302] Những việc làm trên của nhà vua cũng chỉ để
bảo vệ sức kéo cho nông nghiệp giúp cho năng xuất lao động tăng lên góp phầngiúp nền kinh tế phát triển hơn
Song với các chính sách bảo vệ sức kéo trên thì nhà nước còn đặt ra nhiều chính sáchchăm lo phát triển nông nghiệp cho người dân như việc khẩn hoang và xây dựng nhiềucông trình thủy lợi được nhà nước tiến hành với quy mô lớn, rất nhiều đoạn đê quan trọngdọc các con sông lớn mới được đắp để ngăn lũ, việc đắp đê ngăn lũ này có tầm quan
Trang 22trọng rất lớn trong nông nghiệp, nếu như không đắp đê điều mà lũ tới thì mùa màng củangười dân thiệt hại rất lớn ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế của nước nhà Các vua nhà
Lý đã nhận ra được tầm nhìn quan trọng của việc đắp đê trị thủy nên đã không ngừngxuống chiếu kêu gọi người dân đắp đê ngăn lũ nên rất nhiều con đê lớn được hình thành
như vào“mùa thu năm 1077 triều đình ra lệnh đắp đê ở sông Như Nguyệt dài 67.380 bộ” [22, tr.16b-19b], năm 1103“vua xuống chiếu cho trong, ngoài kinh thành đều đắp đê” [7,
tr.30] và vào năm 1108 vua Lý cho đắp đê Cơ Xá (đoạn đê sông Hồng, phường Cơ Xá,nay vẫn còn bãi Cơ Xá) Ngoài Thăng Long thì đê điều ở các vùng khác cũng được chútrọng Ngoài thiên tai do lũ lụt gây nên thì đất nước ta còn gặp nhiều trận hạn hán gây nêntình trạng thiếu nước ảnh hưởng đến việc trồng trọt của người dân, nhà Lý đã nhận thấymức độ quan trọng của việc thiếu nước nên đã cho đào nhiều kênh mương mới để giúpcho người dân giữ nước tưới tiêu, nhà nước còn cho làm hàng loạt các công trình đào vétsông để phục vụ cho sản xuất của người dân, như vào năm 1029 Lý Thái Tông cho đàosông Đản Nãi, năm 1051 nhà Lý cho đào Kênh Lẫm, sông Lãnh Kinh năm 1089, sông TôLịch năm 1192
Những thành tựu trong nông nghiệp của nhà Lý về trị thủy đã góp phần thúcđẩy nền kinh tế phát triển, các chính sách bảo vệ sức kéo giúp cho năng xuất laođộng tăng lên đáng kể, cuộc sống của người dân được ấm no Qua đó ta thấy ĐạiViệt ở thời Lý đã hết sức chăm lo cho nông nghiệp để giúp đất nước phát triển vềkinh tế và là nền tảng vững chắc cho những cuộc kháng chiến thắng lợi vì nếu nhưđất nước không ổn định, kinh tế không phát triển, người dân đói khổ thì đất nước
sẽ không đủ mạnh để chống lại ngoại xâm Đại Việt ta dưới thời Lý được biết đến
là triều đại có nhiều năm mùa màng của người dân bội thu như“năm 1016 triều Lý
Thái Tổ, năm 1030, 1044 triều Lý Thánh Tông, các năm 1079, 1092, 1111, 1120,
1123 triều Lý Thái Tông, năm 1131 triều Lý Nhân Tông, năm 1139, 1140 triều Lý Anh Tông… Có năm được mùa lớn nhà vua lại tiếp xuống chiếu tha thuế cho thiên hạ” [17, tr.143]
Thủ công nghiệp
Trang 23Đại Việt thời Lý lấy nông nghiệp làm nguồn phát triển kinh tế chính nhưngbên cạnh đó nhà Lý vẫn chú trọng đến sự phát triển của thủ công nghiệp Thủ côngnghiệp thời này được chia làm hai bộ phận, một của tư nhân, một của nhà nước.Lực lương lao động cho thủ công nghiệp nhà nước gọi là thợ bách tác, các thợbách tác xuất thân chủ yếu là các tù binh, nhiều nhất là tù binh người ChiêmThành, các tù nhân được trưng tập làm trong các quan xưởng Các sản phẩm họlàm ra dùng để phục vụ cho nhà vua và hoàng cung các sản phẩm ấy không đượcbán ra ngoài thị trường Họ làm các việc như đúc tiền, chế tạo binh khí, đóngthuyền chiến Ngoài các sản phẩm phục vụ cho quân đội ra thì còn có các sảnphẩm phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày như tơ lụa, các sản phẩm họ làm ra rất tinhxảo do các sản phẩm ấy dùng để phục vụ cho vua Ngoài ra các thợ bách tác còntạo nên nhiều công trình kiến trúc và điêu khắc đặc sắc Chính vì các tác phẩm tinh
xảo đến vậy nên vào năm 1145, nhà vua“cấm các thợ bách tác không được làm
đồ dùng theo kiểu của nhà nước tự tiện bán cho dân gian”[8, tr.316]
Đó là thủ công nghiệp của nhà nước còn với thủ công nghiệp của tư nhân tưthì chủ yếu xuất hiện ở các làng xã, các sản phẩm của họ làm ra phần lớn đượcđem trao đổi trên thị trường So với các triều đại trước như Ngô-Đinh-Tiền Lê thìthủ công nghiệp của nhà Lý có bước phát triển hơn Các nghề thủ công truyềnthống như: dệt, làm gốm, chạm khắc, mỹ nghệ, luyện kim đều có bước phát triển
và tiến bộ hơn
Nghề dệt thời Lý rất phát triển nhà nước đã lập ra Quyến khố ty vào năm 1044
để mua lụa trong dân gian Để ngày càng phát triển hơn thì nhà nước còn có cơ sởnuôi tằm, thu thuế bãi dâu,… Ở xung quanh kinh đô có nhiều làng dệt như làngTrích Sài, làng Nghĩa Đô đều là các làng nổi tiếng với nghề dệt Và tơ lụa đượcsản xuất nhiều ở thời Lý, được các vua nhà Lý dùng để ban thưởng cho các côngthần, những người có công khi cần thiết Như năm 1010 sau khi xa giá về châu Cổ
Pháp vua Lý Thái Tổ đã“ban tiền lụa cho các bô lão trong làng theo các thứ bậc
khác nhau”[8, tr.241].
Nghề gốm
Trang 24Nghề làm gốm ở nhà Lý đã có bước tiến vượt trội, đạt đến trình độ cao của kỹthuật sản xuất Những đồ dùng bằng gốm của thời kỳ này không chỉ được chế tạotinh xảo mà còn đa dạng về mẫu mã và màu sắc Ở thời Lý đã xuất hiện nhữngtrung tâm sản xuất đồ gốm của tư nhân và nhà nước Sản phẩm của sản xuất tưnhân dùng để phục vụ cho đời sống của nhân dân trong sinh hoạt hằng ngày như:nồi, niêu, chén, đĩa, chum…Còn nghề gốm ở triều đình thì sản xuất các đồ vậtphục vụ cho các công trình xây dựng có ích của nhà nước như: gạch, ngói…Ngoài ra còn có bộ phận sản xuất đồ gốm phục vụ cho các nhu cầu xa xỉ của triềuđình nhưng những bộ phận này hoạt động với quy mô nhỏ Ngoài ra để phục vụcho các công trình xây dựng như chùa chiền thì những cơ sở sản xuất phải làm raloại gạch ngói tốt để phục vụ cho các nhu cầu xây chùa Do chùa chiền được xâydựng khắp nơi trong nước nên các nghề thủ công phục vụ cho việc xây chùa cũngxuất hiện, tầng lớp thợ thủ công làm nghề điêu khắc trên đá và gỗ xuất hiện ngàycàng đông Không chỉ vậy, đúc kim loại ở thời kì này có bước tiến vượt bậc nhất
là kỹ thuật đúc chuông được phát triển mạnh mẽ, hàng loạt các chuông lớn nhỏ rađời Nhà nước cũng đặc biệt quan tâm đến việc đúc chuông như vào năm 1035,
vua Lý Thái Tông đã“xuống chiếu phát 6.000 cân đồng để đúc chuông đặt ở chùa
Trùng Quang”[8, tr.264], không dừng lại ở việc đúc chuông vào năm 1041 nhà
vua lại xuống chiếu“phát 7.500 cân đồng trong kho để đúc tượng Phật Di Lạc và
hai vị Bồ Tát Hải Thanh và Công Đức cùng chuông”[8, tr.270] Ở nhà Lý không
chỉ phát triển nghề đúc kim loại mà nó còn phát triển thêm nghề khai thác quặng
Vì ở vùng núi phía Bắc nước ta có rất nhiều loại khoáng sản quý như vàng, bạc,thiếc,…
Thương nghiệp
Nội thương
Ở triều Lý, giao thông mở mang và thuận lợi hơn trước từ đường bộ đếnđường thủy nhờ đó việc trao đổi buôn bán qua lại giữa các địa phương và vùngmiền được thuận lợi Tại nhiều nơi đã xuất hiện chợ, đây là nơi trao đổi hàng hóanông sản và thủ công được sản xuất trong xã hội Tại kinh đô Thăng Long, có khu
Trang 25vực cư trú, sinh hoạt và làm ăn của cư dân kinh thành, nơi đây chia ra thành nhiềuphố phường chuyên buôn bán hoặc sản xuất các loại hàng hóa Ở trung tâm ThăngLong đã xuất hiện những chợ lớn như: chợ Đông, chợ Tây, chợ Nam để trao đổibuôn bán các loại sản phẩm sản xuất tại kinh thành và vùng lân cận mang tới.
Theo Đại Việt sử kí toàn thư có ghi nhận vào năm 1035 nhà Lý cho“Mở chợ Tây
Nhai và phố dài chợ ấy.” [8, tr.257] Thời Lý, các vua tiến hành việc đúc tiền để
lưu thông, sử sách ghi lại vào năm 1042 vua Lý Thái Tông cho“đúc tiền Minh
Đạo” [8, tr.263] nhân lúc nhà vua đổi niên hiệu mới là Minh Đạo Một số loại tiền
đòng của thời Lý như: tiền Thuận Thiên Đại Bảo (1010-1028), Càn Phù NguyênBảo (1039-1042) và Minh Đạo Thông Bảo (1042-1043),…có những năm nước ta
mất mùa đói kém, chẳng hạn vào năm 1156“bị đói to, một thăng gạo giá 70 đồng
tiền” [8, tr.322] Không chỉ lưu thông mà tiền còn dùng vào việc thu thuế như vào
năm 1013, vua Lý Thái Tông đã“định các loại thuế trong nước:1-Ao hồ ruộng
đất, 2-Tiền và thóc về bãi dâu”[8, tr.243] và cấp phát cho các cai ngục lại Vào
thời kỳ này tiền còn để chuộc tội, theo sách Việt sử thông giám cương mục ghi
rằng:“phàm người được chuộc tội phải tùy theo tội nặng hay nhẹ mà bắt nộp tiền
nhiều hay ít khác nhau” [21, tr.346] Như vậy, đồng tiền vào thời Lý đóng vai trò
quan trọng không chỉ giao lưu buôn bán, thu thuế mà còn cả trong pháp luật.Chứng tỏ kinh tế tiền tệ thời kỳ này đã thâm nhập vào nhiều lĩnh vực đời sống xãhội
Ngoại thương
Nước ta đã có quan hệ buôn bán với nước ngoài từ khá sớm Nhưng để thắtchặt an ninh quốc gia, nên ngay từ khi giao thương buôn bán với bên ngoài triềuđình có thái độ đề phòng nghiêm ngặt Tại biên giới nước ta và phương Bắc cónhững nơi giao thương quốc tế thường đặt trên bờ sông, gọi là bạc dịch trường
chẳng hạn như“Một trường ở trại Vĩnh Bình, có lẽ là chợ Kỳ Lừa ngày nay, người
Việt đem các sản vật quí như các thứ hương, sừng tê, ngà voi, tiền đồng,…đến đổi lấy các thứ vải vóc của người Trung Hoa Muối của người Việt thì dùng để đổi lấy vải thường” [1, tr.200] Bạc dịch trường ở Khâm Châu là lớn nhất“những thương
Trang 26nhân của Đại Việt đã mang cá, sò bằng thuyền chài đến để đổi lấy gạo và vải thước Những nhà buôn lớn (phú thương) thường từ châu Vĩnh An phải thông điệp cho Khâm Châu Hàng hóa đem đến bán là bạc, đồng, tiền, trầm hương, quang hương, thục hương, sinh hương, trân châu, ngà voi, sừng tê,…Còn thương nhân Trung Quốc thì đem bán những giấy, bút, gạo, vải…” [20, tr.259] Ngoài ra còn có
các đảo Vân Đồn, đảo Ngọc Vừng và đảo Cống Đông mà trung tâm là những bếntrên đảo Vân Hải Từ những yếu tố trên cho thấy rằng ngoại thương nước ta vàothời Lý phát triển nhưng vẫn thuộc trong tầm kiểm soát của nhà nước
1.2.2 Tình hình kinh tế dưới thời Trần
Qua tình hình chính trị của nhà Trần đã góp một phần to lớn trong việc thiếtlập nền tảng, cơ sở vững chắc cho sự phát triển của đất nước Thêm vào đó, từ cácchính sách chính trị dưới thời Trần đã tạo điều kiện cho việc xây dựng bộ máy nhànước thêm phần hoàn thiện, ổn định Tuy nhiên, trong từng thời đại không chỉđiểm qua tình hình chính trị mà tình hình kinh tế cũng là một nét nổi bật Kinh tếĐại Việt dưới thời Trần cũng vậy, nó đã phản ảnh những vấn đề liên quan đến cácchính sách và các hoạt động kinh tế từ năm 1225-1400
Nông nghiệp
Sau khi nhà Lý sụp đổ, nhà Trần lên ngôi và tiếp tục công cuộc trị vì đất nướcnhư nhà Lý Việc lo lắng đầu tiên của nhà Trần sau khi lên nắm quyền là nhanhchóng phục hồi và phát triển kinh tế Cũng giống như các triều đại Ngô, Đinh,Tiền Lê, nhà Trần đặc biệt quan tâm và chú trọng đến sự phát triển nông
nghiệp“vào năm 1266, nhà vua cho phép các vương hầu, công chúa, phò mã,
cung phi được chiêu tập dân nghèo đi khai hoang các vùng đất ven sông và ven biển để thành lập các trang ấp riêng” [2, tr.480] Phần đất mà họ khai khẩn được
sẽ trở thành ruộng tư nhân của quý tộc, đều đó coi như vua ban cấp cho họ để họhăng hái tích cực hơn trong công cuộc khai hóa, mở rộng diện tích Vì vậy ruộngđất là một nguồn tư liệu sản xuất phổ biến của xã hội và đó là cơ sở kinh tế quantrọng Về ruộng đất thời Trần, nhà Trần đã kế thừa và phát triển từ các chính sáchruộng đất của nhà Lý và được chia theo các loại hình sở hữu: ruộng đất thuộc sở
Trang 27hữu của nhà nước, ruộng đất thuộc sở hữu của tư nhân Bên cạnh các loại hình sởhữu đó, nhà nước còn ban hành chính sách phong cấp ruộng đất với các tên gọinhư thái ấp, ấp thang mộc, điền trang Thời Trần có lẽ việc phong thưởng thái ấpđược thực hiện một cách phổ biến nhằm ban thưởng cho vương hầu, tôn thất họTrần vừa giúp vua quản lí đất nước đồng thời vừa củng cố tiềm lực quốc phòng.Điền trang, ấp thang mộc cũng chính là một hình thái kinh tế tiêu biểu của thờiTrần Từ các chính sách phong cấp ruộng đất dưới triều Trần đã có ảnh hưởng tíchcực đối với sự phát triển kinh tế của Đại Việt thế kỷ XIII-XIV.
Bên cạnh chính sách khai khẩn, nhà nước cũng rất quan tâm đến việc bảo vệ
đê điều, kênh máng, công tác thủy lợi cũng được thực hiện một cách có quy mô,
có tổ chức Tiếp đến, vào năm 1248 vua Trần Nhân Tông đã đặt thêm chức Hà đê
sứ để chuyên phụ trách việc sửa chữa, đào khe ngói phòng lụt hạn, đắp đê ở dọc
hai bờ sông lớn gọi là Quai vạc“lần đầu tiên trong lịch sử, trong bộ máy nhà nước
đã hình thành cơ quan chuyên trách về đê điều và khẩn hoang như Hà đê sứ ở các lộ” [20, tr.478] Việc đắp đê để phòng lụt hạn tuy nhiên nếu xâm phạm vào đất
của người dân thì phải cho họ tiền tương ứng với số đất đó Hầu hết, các con sôngkênh rạch đều được khai quật, nạo vét và khai thông, ở vùng ven biển để ngănnước mặn cũng như việc sửa đắp đê cũng khai khẩn Nhà Trần đã cho đắp các đêđiều như: vào năm 1255, nhà vua sai Lưu Miễn đắp đê ở Thanh Hóa Việc xâydựng đê điều yêu cầu mọi người dân phải có nghĩa vụ và trách nhiệm tham gia xâydựng đắp đê, xây dựng các con đê vững mạnh để bảo vệ mùa màng, tránh thiên tai
lũ lụt,…Việc này được nhà nước quy định rõ: hàng năm vào tháng giêng hoặc làkhi mùa màng rảnh rỗi, tất cả nhân dân, không phân biệt giàu, nghèo, già, trẻ phải
đi sửa đắp đê, học sinh Quốc Tử Giám cũng không được miễn
Diện tích đất canh tác được mở rộng một phần là do đất chiếm hữu, phần khác
là do chính sách của nhà Trần trong việc phong chức chánh, phó đồn điền sứ đểtiến hành đi khai hoang, lập dồn điền, lập các trang ấp Từ các chính sách tích cựcnhư thế đã mang đến hiệu quả vô cùng đáng kể Bên cạnh đó là những chính sáchkhuyến nông của nhà nước đã đánh dấu một bước phát triển rõ nét, đạt tới trình độ
Trang 28tiên tiến hơn so với các thời kỳ trước đó.“Một sứ giả nhà Nguyên đến nước ta
1293, nhận thấy ở vùng đồng bằng này, mỗi năm lúa chín bốn lần Nông nghiệp thời Trần đạt tới trình độ thâm canh tăng vụ khá cao Ngoài lúa nông dân còn trồng nhiều hoa màu, trồng dâu nuôi tằm và gia đình nào cũng có nhiều cây ăn quả với các thứ hoa quả nhiệt đới phong phú” [20, tr.193] Ở thời kỳ này đặc
trưng cơ bản của nền kinh tế nước ta là nền nông nghiệp lúa nước Lúa chính làcây trồng chủ yếu ở nước ta thời bấy giờ vì nó phổ biến và dễ trồng Nơi đây hội
tụ những điều kiện hết sức thuận lợi cho việc trồng lúa nước Việc trồng lúa nước
và canh tác thêm các loại rau màu đã tạo công ăn việc làm cho người dân, ngoài racòn cung cấp một nguồn lương thực thiết yếu nhằm phục vụ đời sống Ta thấy,vào thời điểm này nhân dân thời Trần đã biết tận dụng những điều kiện đất đai đểlàm thêm vụ sớm và vụ muộn để nâng cao đời sống Nhờ đó, góp phần tạo độnglực thúc đẩy nền kinh tế ngày một phát triển hơn
Những công cụ lao động như rìu, dao, lưỡi cày có ý nghĩa vô cùng quan trọngtrong sản xuất tuy nhiên không thể không kể đến công tác chăm lo bảo vệ sức kéotrâu, bò vì đó chính là công cụ lao động thứ hai trong sản xuất Vì thế vào mùa hạ,tháng 4 năm 1123 triều Trần ban hành nhiều đạo luật cấm giết mổ, trong đó cóthông qua chiếu để quy định về việc cấm giết trâu Ở nước ta, vào thời Trần đã lấynông nghiệp làm nguồn kinh tế chính của cả nước, do đó đã ban hành chính sáchphân chia ruộng đất cho nông gia để khuyến khích việc đồng áng tăng gia sảnxuất Việc ban hành chính sách về kinh tế được thực hiện ở thời này một cách triệt
để Đặc biệt, nhà vua còn đứng ra tổ chức việc tế lễ, cầu cho mưa thuận gió hòa,mùa màng bội thu Để khuyến khích phát triển nông nghiệp, song hành còn cóchính sách “ngụ binh ư nông” Chính sách này được người dân nhiệt liệt hưởngứng đồng sức cày cấy, canh tác để tạo nên những cánh đồng lúa mùa màng bộithu
Nhờ những chính sách khuyến nông của nhà nước mà nền kinh tế Đại Việtđược phục hồi và phát triển nhanh chóng Là một nhân tố chủ yếu để thúc đẩy nềncông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển
Trang 29Thủ công nghiệp
Thủ công nghiệp thời Trần có bước phát triển vượt bậc so với thời Lý Vàothời Trần, nổi bật với các ngành nghề như: trồng dâu, chăn tằm, ươm tơ dệt vảilụa, luyện kim,…rất được phổ biến và phát triển Đặc biệt nghề gốm ở thời Trầnrất nổi tiếng và được sử dụng rộng rãi với hoa văn tinh tế và đẹp mắt Như gốmBát Tràng với kỹ thuật tinh xảo, được xem như một vật phẩm quý báo, là một mặthàng thu hút số lượng lớn khách nước ngoài Nghề gốm ở thời Trần phát triển thực
sự đỉnh cao“một số thợ thủ công giỏi còn bị triều đình trưng tập để tập trung xây
dựng các công trình lớn như sửa chữa và mở rộng kinh thành Thăng Long, khu Tức Mặc (Thiên Trường – Nam Định)” [18, tr.127] Tóm lại, mọi sự tồn tại của
hình thức thủ công nghiệp chỉ phát triển kinh tế hàng hóa, thực chất chỉ mang đếnquyền lợi cho giai cấp thống trị thời Trần Tuy nhiên giai cấp bị trị luôn bị họ bốclột, bị bần cùng hóa dã man Vì vậy cuộc sống họ rất khổ cực, đói kém
Bên cạnh nghề làm gốm, nghề dệt cũng được triều đình chú trọng được đặtngay các các cung đình, đền đài Tuy nhiên, trong cung điện của vua cũng có cácxưởng dệt, và đồ dệt của các vua chúa chủ yếu là bằng tơ tằm Vì vậy, nghề dệt lụa
ở thời Trần rất phổ biến.“Người trong nước đều mặc áo lục thâm, áo hoa, quần
mỏng, cổ áo tròn khâu bằng là, đàn bà cũng mặc áo thâm nhưng màu trắng ở trong rộng hơn để viền vào cổ áo” [20, tr.118] Trong nhân dân, các ngành nghề
truyền thống tiếp tục phát triển đáp ứng nhu cầu sinh hoạt mà còn tham gia làmvật phẩm của nhà nước như: đúc đồng, đúc tiền, rèn sắt, làm giấy, làm mộc, sảnxuất vũ khí, đóng thuyền…đều có bước phát triển với trình độ khá cao nhằm đápứng nhu cầu quốc phòng và của vua quan
Nhờ thủ công nghiệp phát triển đã làm cho việc buôn bán cũng phát triển, xét
về một khía cạnh thì nó vẫn vượt trội hơn nhà Lý Tuy nhiên vẫn chưa đạt tới trình
độ hợp tác sản xuất giữa các làng nghề Các xưởng thủ công còn hoạt động, tổchức riêng, chưa phát triển tập trung để hình thành quy mô sản xuất kinh tế lớn
Thương nghiệp
Trang 30Thủ công nghiệp ở thời Trần đã có bước phát triển vượt bậc và đạt được nhữngthành tựu rực rỡ Nhờ vào đó, thủ công nghiệp cũng góp phần tác động trực tiếpđến sự phát triển của thương nghiệp Trong thương nghiệp, khuyến khích pháttriển nội thương được nhà Trần thực hiện triệt để với nhiều mặt hàng đa dạng để
mở rộng giao lưu, hợp tác buôn bán với nước ngoài
Kinh đô Thăng Long được kế thừa từ nhà Lý, nơi đây được xem như một trung
tâm kinh tế lớn của thời Trần“Hàng hóa từ các địa phương cũng được chuyển về
kinh thành Thăng Long Muốn mua những hàng xa xỉ thì phải tới Thăng Long Kinh đô Thăng Long, không chỉ hội tụ nghề thủ công và buôn bán nhỏ của người Việt mà còn có của hành buôn của người Trung Quốc, Hồi Hột, Chà Và…” [20,
tr.492] Kinh đô Thăng Long quả thực là nơi buôn bán, giao lưu sầm uất với nhiềuphố phường, làng nghề thủ công, nhiều vật phẩm có giá trị và đa dạng
Vào thời kỳ này, nhiều cảng sông, cảng biển xuất hiện tạo điều kiện cho việcmua bán, trao đổi hàng hóa, giao thương vật phẩm thuận lợi hơn như bến: Đông
Bộ Dầu, Cơ Xá, An Hoa,…
Ở thời Lý, việc sử dụng tiền tệ đã xuất hiện trong mua bán Thế nên sang thờiTrần tiền tệ được sử dụng rộng rãi và phổ biến hơn Ngoài đơn vị tiền tệ thì một sốđơn vị do chiều dài, diện tích cũng được thống nhất để tiện việc trao đổi hàng hóa,mua bán ruộng đất, nộp thuế cho nhà nước
Về ngoại thương thời Trần, nhà Trần đã mở rộng giao lưu với một số nước lớn:
Ấn Độ, Mã Lai, Trung Quốc “Giao thương giữa Đại Việt với Trung Quốc bằng
con đường chính trị, ngoại giao dưới hình thức tiến công, hàng hóa thường theo chân các sứ đoàn ra nước ngoài” [20, tr.497].
Những bước phát triển kinh tế mới dưới Thời Trần đã góp phần to lớn trongviệc củng cố bộ máy chính quyền Nhờ những chính sách về kinh tế có tác dụngnâng cao đời sống của người dân, qua đó tăng cường thêm cho quyền lực quốc
phòng thêm vững mạnh
1.3 Tình hình xã hội
Trang 311.3.1 Tình hình xã hội dưới thời Lý
Thời Lý tồn tại hai giai cấp chính là địa chủ phong kiến và nông dân Trong xãhội cũng hình thành các giai cấp rõ rệt như các đẳng cấp quý tộc, tôn thất, quan lạiđược hưởng những đặc quyền đặc lợi như miễn sưu dịch, binh dịch,…Còn nhữngngười dân còn lại như nông dân, địa chủ bình dân, thợ thủ công, thương nhân gọi
là thứ dân, tầng lớp này phải làm mọi nghĩa vụ cho nhà nước như nộp thuế, đi sưudịch,…Đẳng cấp thấp kém nhất trong xã hội là nông nô, nô tì, điền nhi,…Tuynhiên nông dân cũng có nhiều loại như có người cày ruộng công làng xã, càyruộng địa chủ hay làm thuê cuốc mướn cũng tồn tại, nhưng đây chính là lực lượngchính để sản xuất của xã hội và cũng có thể xem như quân chủ lực chống ngoạixâm vào thời chiến loạn Vào những giai đoạn khác nhau mà số ít nông dân bịnông nô hóa, nô tì hóa và biến thành đẳng cấp thấp nhất của xã hội nhất là vàocuối triều đại Nhìn chung nét nổi bật ở thời kỳ này là đã chia ra các đẳng cấp xãhội nhưng mối quan hệ giữa vua quan và nhân dân không có khoảng cách xa làmcho xã hội có mối thân tình và đời sống người dân được cải thiện hơn vào thời kỳtrước do nhà nước ban hành các chính sách khai khẩn, lập làng,…
1.3.2 Tình hình xã hội dưới thời Trần
Đến thời Trần cấu trúc xã hội được ổn định với ba đẳng cấp chính:
Đẳng cấp quý tộc bao gồm vua, quý tộc và quan lại Đứng đầu là vua cai trịmuôn dân, tập hợp quanh vua là các quý tộc, quan lại họp thành đẳng cấp thượnglưu cầm quyền Họ được nhà nước ban cấp ruộng đất và đã trở thành lãnh chúahoặc địa chủ đồng thời được pháp luật ưu đãi, bảo vệ và khi bị tội họ được quyền
ưu tiên trước pháp luật
Đẳng cấp bình dân chủ yếu là nông dân và một ít thợ thủ công, thương dân vàđịa chủ Đây là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, trong đó nông dân là lựclượng sản xuất chính Phần lớn nông dân ở thời Trần khi nhận ruộng đất công làng
xã đều phải thực hiện các nghĩa vụ tô thuế, binh dịch, lao dịch cho nhà nước Cómột số nông dân nghèo phải đi khai hoang lập nghiệp ở các vùng ven sông, venbiển Một số làng do nhà nước cấp thực ấp cho quan lại, thì người nông dân ở đây
Trang 32thay vì nộp tô thuế cho nhà nước đã phải nộp tô thuế cho viên quan được cấp Đốivới thợ thủ công và thương nhân sống rải rác trong các làng xã, một số ít ở kinh
đô “Họ sản xuất các sản phẩm và đem đi trao đổi với nông dân trong làng hoặc
với dân các làng lân cận, hay làm trung gian giữa người sản xuất với người tiêu thụ Họ cũng phải nộp thuế và làm nghĩa vụ đối với nhà vua” [2, tr.486]
Đẳng cấp nô tì: vào thời Trần nô tì phát triển nhiều hơn trước, đây là đẳng cấp
thấp nhất trong xã hội.“Họ không được phép có tư liệu sản xuất, không có quyền
sử dụng chính bản thân sức lao động của mình vì những mục đích kinh tế riêng của bản thân họ Thân phận nô tì lệ thuộc vào chủ Họ bị thích chữ vào mặt theo hàm hiệu của chủ, không được kết hôn với con nhà thường dân, trong chiến đấu
dù có công lao họ cũng không được quyền dự vào hàng tước” [2, tr.486-489] Tuy
nhiên, pháp luật nhà Trần cũng bảo vệ chở che họ chứ không giống nô tì trong chế
độ chiếm hữu nô lệ
Nhìn chung, cấu trúc xã hội thời Trần đang ở thế cân bằng ổn định, tạm thờihòa hoãn những mâu thuẫn bên trong xã hội, làm dịu đi những xung đột giai cấp.Nhờ đó nhà Trần có thể đoàn kết được sức mạnh muôn dân để chiến thắng giặcngoại xâm
Bên cạnh đó, đời sống xã hội dưới triều Trần cũng rất phong phú Các nghithức và phong tục đều được quy định bốn mùa trong năm ấn định việc trồng lúa.Cuộc lễ lớn nhất được tổ chức vào đầu năm trước khi bước vào công việc đồng
áng mới“Cuộc lễ bắt đầu hai ngày trước khi năm cũ kết thúc Nhà vua đi xe ngự
dụng, các quan đều mặt triều phục đi trước, tới điện để cử hành các nghi thức.”
[6, tr.208] Ngoài ra, các trò chơi ở thời này là trò cưỡi ngựa đánh cầu dành cho
quý tộc, súc sắc, cờ, diều và đá cầu
Do nhà nước thực thi những chính sách, nghi lễ, biện pháp…làm cho đời sốngngười dân có sự thay đổi xuất hiện một số đẳng cấp mới nhưng nhìn chung xã hội
có bước phát triển và ổn định hơn so với các thời kỳ trước
Tiểu kết chương 1:
Trang 33Nhà Lý và nhà Trần được thành lập trên cơ sở kế thừa những giá trị tích cựccủa các triều đại trước về chính trị, kinh tế, xã hội Từ đó, phát huy những chínhsách tiến bộ giúp cho đất nước ngày càng đi lên và vững mạnh, đời sống nhân dâncũng dần dần được cải thiện Vấn đề ngoại giao cũng được nhà nước chú trọng,đối với quân xâm lược luôn cố gắng giữ vững độc lập tự chủ của mình bằng nhữngbiện pháp cứng rắn mềm dẻo phù hợp với tình hình đất nước Đại Việt ta Tất cảviệc làm đó đều nhờ vào sự lãnh đạo sáng suốt của nhà vua cùng với đó là cônglao của các vị công thần cho nên nhằm để khen thưởng nhà vua đã ban hành chínhsách phong cấp ruộng đất cho các quan lại, công thần, quý tộc…
Trang 34Chương 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH PHONG CẤP RUỘNG ĐẤT
THỜI LÝ-TRẦN
2.1 Chế độ phong cấp ruộng đất dưới thời Lý
Khái niệm: phong cấp là phong chức tước, cấp bổng lộc, ruộng đất
Trên nền tảng là một nước nông nghiệp, những thứ thiết yếu dùng để đáp ứng nhucầu không thể là cái gì khác ngoài ruộng đất và những sản phẩm nông nghiệp Chính điềunày kết hợp với ảnh hưởng chế độ phong thưởng, ban cấp bổng lộc của các triều đạiphong kiến phương Bắc đã dẫn đến việc các nhà nước dân tộc ngay từ sớm đã thi hành
các chính sách ban cấp phong thưởng theo ấp, làng, hộ nông dân.“Hai hình thức sử dụng
quyền sở hữu nhà nước về ruộng đất phổ biến là phong cấp các hộ nông dân và phong cấp ruộng đất” [15, tr.89].
Nhà nước thời phong kiến nào cũng có thời gian tồn tại nhất định Cũng nhưVương triều Lý tồn tại từ năm 1009-1225 trải qua 9 đời vua xảy ra biết bao thăngtrầm mới giữ vững nền độc lập của đất nước Và kế thừa sự nghiệp của các triềuđại trước đến thời Lý nhà nước đã ban bố nhiều chính sách nhằm phát triển đấtnước về nhiều mặt từ quân sự đến kinh tế-xã hội Triều đại này ban cấp bổng lộctheo nhiều hình thức khác nhau nhưng chủ yếu là phong cấp ruộng đất
Những hình thức phong cấp được nhà nước phong thưởng cho công thần, quanlại, quý tộc và những người có công, bằng làng ấp hay hộ nông dân đó là một hìnhthức được thường xuyên sử dụng trong thời Lý Thực chất đây là hình thức đánhgiá công lao và đóng góp của người được ban cấp đối với nhà Lý Chức, hàm,tước càng cao thì số lượng ban cấp càng nhiều Hình thức phong cấp đầu tiên được
sử dụng là thực ấp
2.1.1 Chế độ phong cấp thực ấp
Trang 35Thực ấp là vùng đất được ban cho quan lại gồm một số lượng hộ nông dâncùng ruộng đất chịu sự quản lý của họ Từ trước khi việc phong cấp này phổ biến
ở thời Lý thì đã xuất hiện“Từ năm 950, Ngô Xương Văn đã cấp đất cho người cậu
của mình là Dương Tam Kha làm thực ấp Thời Đinh, Đinh Tiên Hoàng ban cho Trần Lãm thực ấp ở Sơn Nam Sang thời Tiền Lê, các con trai của Lê Hoàn được
cử đi trấn trị ở các vùng hiểm yếu và được thực ấp luôn ở đây Chẳng hạn như Lê Long Đĩnh thực ấp ở Đằng Châu (Kim Động, Hưng Yên) Lê Long Kính thực ấp ở Tiên Xá (Phù Tiên, Hưng Yên)…Sau khi lên ngôi vua, Lê Long Đĩnh ban cho Lý Công Uẩn làm thực ấp” [15, tr.91-92].
Đến thời Lý, việc ban cấp có lẽ được mở rộng và phát triển hơn trước Đa phần
những đại thần có công đều được ban cấp thực ấp Có thể kể đến“Thái úy Tô Hiến
Thành được ban thực ấp ở Cổ Am (Vĩnh Bảo, Hải Phòng), thái úy Lý Công Bình Được ban thực ấp ở An Lão (Bình Lục, Hà Nam); Thậm chí người đánh cá bà Mục Thận nhờ công cứu vua ở Tây Hồ mà được ban quan chức tài vật thực ấp đất
ở Tây Hồ” [15, tr.92] Ngoài ra, theo các nguồn sử liệu khác viết rằng thì việc ban
cấp thực ấp tức là cho hưởng tô thuế của ấp đó “Ở nước ta, như những nhân
chứng ở trên, thực ấp thông thường chỉ gồm 1,2 xã Tất nhiên việc ban thực ấp này còn tùy thuộc vào công lao, chức vụ của người được ban và khi ban, nhà nước cũng chú ý đến làng xã hay vùng đất đem ban là địa phương giàu hay nghèo, nhiều hay ít hộ” [15, tr.92-93] Theo Ngô Thì Sĩ nhận xét:“Triều nhà Lý các quan đều không được cấp bổng lộc Các quan trong kinh thì được triều đình ban thưởng cho Các quan ở ngoài thì được triều đình giao cho cai quản nhân dân trong một địa phương được quyền tổ chức thuộc viên, bắt dân phải nộp thuế ruộng đất, đầm ao và cày cấy chăn nuôi để lấy lợi Còn các quan coi ngục thì có bổng lộc thường xuyên” [4, tr.71] Như là“Năm 1067…cấp cho ngục lại mỗi người bổng mỗi năm 20 quan tiền và 100 bó lúa để giữ thanh liêm” [8, tr.233]
Do phần thực ấp (số lượng hộ được ăn) theo các nhà sử học chỉ có trên danhnghĩa nhưng thực tế thì không có Người được ban cấp trên danh nghĩa là đượcnhận một số lượng hộ thực ấp (như trên) mới phù hợp và xứng đáng với công lao
Trang 36đóng góp của mình Nhưng do việc phong cấp của nhà nước trở nên ngày càngnhiều và rộng rãi cùng với đó là công lao của các vị công thần tương đối lớn dẫnđến sự quá tải, nhà nước không thể đáp ứng việc phong thưởng thực ấp một cáchđầy đủ như trước được nữa Để giải quyết việc đó nhà nước đã có thêm hình thứcphong cấp thực ấp kèm thật phong.
2.1.2 Chế độ phong cấp thực ấp kèm thật phong
Chế độ này nhằm giúp nhà Lý một mặt đánh giá cao giá trị đóng góp củangười được phong bằng thực ấp, mặt khác quy định cụ thể số hộ thực tế mà họđược thật sự phong thưởng-số hộ thực phong dĩ nhiên là nhỏ hơn so với giá trị củacông lao của người được ban Hình thức phong thưởng thực ấp kèm thật phongtính theo đơn vị là hộ Mỗi hộ sẽ tương ứng với một số tô thuế nhất định kèm theothực trạng tài sản Chẳng hạn như ở bia Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi dựng năm 1107
ở xã An Nguyên (Chiêm Hóa, Hà Tuyên) thì phò mã Thái phó, trưởng châu Vị
Long là Hà Di Khánh được phong“Đô tri tả vũ vệ đại tướng quân…thượng trụ
quốc, thực ấp 3.900 hộ, ăn thật phong 900 hộ” “Theo Đại Việt sử kí toàn thư, nhờ có công lớn trong việc đánh bại cuộc xâm lược của liên quân Chàm-Chân Lạp đầu thế kỉ XII, tướng quân Lý Bất Nhiễm được thăng tước hầu thực ấp 4.500
hộ, ăn thật phong 1.500 hộ” [15, tr.94].“Theo văn bia chùa Hương Nghiêm, trên núi Càn Ni, thuộc làng Phủ Lý, phủ Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa), dựng vào ngày mồng 4, tháng Chạp, năm Giáp Thìn (ngày 10, tháng giêng, năm 1125) cho biết một vị đại thần
là Thái phó Lưu Khánh Đàm có công phò giúp dưới ba triều vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông, ông được Lý Nhân Tông phong làm Nhập nội Nội thị sảnh đô tri kiểm hiệu thái phó kiêm cung dịch sứ đại tướng quân, Kim tử quang lộc đại phu, thượng trụ quốc khai quốc công và được ban 6.700 hộ thực ấp
và 3.000 hộ thực phong” [20, tr.234-235] Khai quốc công Lý Thường Kiệt với
nhiều chiến tích và công lao trong việc bảo vệ và xây dựng đất nước, giá trị xứngđáng được hưởng 10.000 hộ tuy nhiên do nhà nước không đủ điều kiện để cấp nênphải khẳng định số thật phong là 4.000 hộ