Vì vậy, việc xác định rõ những vấn đề, quan điểm lý luận và thực tiễn về con người và phát triển nguồn lực đối với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Việt Nam là một vấn đề có ý
Trang 1QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MARX-LENIN VỀ CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ
XÂY DỰNG NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG
SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Con người luôn là một trong những vấn đề trung tâm của triết học, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học do sự phức tạp, đa dạng, vô cùng tận và giá trị, ý nghĩa thực tiễn của vấn đề này ở tất cả thời đại Mỗi nhà triết học, mỗi trường phái triết học khác nhau đều có những quan điểm, nội dung và sắc thái riêng biệt về con người, thể hiện lập trường và bối cảnh lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội khác nhau Quan điểm của Hegel phát triển theo hướng chủ nghĩa duy tâm, mang tính siêu tự nhiên, phi thể xác Quan điểm của Feuerbach tiến bộ hơn khi cho rằng con người là sản phẩm của tự nhiên Tuy nhiên, chỉ đến sự ra đời của triết học Marx -Lenin thì quan điểm về con người và bản chất của con người mới biểu hiện một cách toàn diện, đầy đủ và hoàn toàn phát triển theo chủ nghĩa duy vật
Khi nhìn nhận một cách khách quan vào những thành tựu to lớn mà Đảng và Nhà nước ta
đã, đang và sẽ đạt được, chủ nghĩa Marx - Lenin đã chứng minh được sự nổi trội và tiềm năng của nó trong sự nghiệp xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa của Việt Nam hiện nay Đối với một quốc gia chủ động phát triển và kiên trì con đường đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa
‘do dân, của dân, vì dân’ như Việt Nam, phát triển kinh tế - xã hội, xét đến cùng cũng là vì con người, hướng đến con người Xuất phát từ thực tiễn đó, phát triển con người toàn diện là động lực, đồng thời là chủ trương cơ bản lâu dài của Đảng và Nhà nước ta của công cuộc công nghiệp, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc VIII của Đảng đã chỉ rõ: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn, vấn đề phát triển con người còn gặp nhiều khó khăn và rào cản cần lưu tâm, xuất phát từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, khiến cho chất lượng phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và vai trò vốn có Vì vậy, việc xác định rõ những vấn đề, quan điểm lý luận và thực tiễn về con người và phát triển nguồn lực đối với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Việt Nam là một vấn đề có ý nghĩa cấp thiết, từ đó đề xuất một số giải pháp thích hợp để phát huy có hiệu quả vai trò tích cực của yếu tố con người
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề con người cùng với phương hướng phát triển con người Việt Nam trong thời đại mới, em lựa chọn đề tài “Quan điểm của triết học Marx-Lenin
về con người và vấn đề xây dựng nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay”
Do kiến thức và hiểu biết còn hạn chế, em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của cô trong quá trình làm bài
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3Chương I: Lý luận của chủ nghĩa Marx-Lenin về con người
1.1 Một số quan điểm triết học về con người trong lịch sử
1.1.1 Quan niệm về con người trong triết học phương Đông
Vấn đề con người được đề cập từ rất sớm, với nhiều quan điểm khác nhau, trong lịch sử triết học phương Đông, chủ yếu là ở hai quốc gia Ấn Độ và Trung Hoa Nhưng các quan niệm đó đều đặt nặng tính chất duy tâm, thô sơ, đơn giản và trực quan
Những tư tưởng triết học đầu tiên về con người xuất hiện ở phương Đông vào thế kỷ VI trước Công nguyên, biểu hiện ở các nền văn hóa dân gian khác nhau Nguồn gốc của con người được tiếp cận theo hai khuynh hướng Thứ nhất, con người xuất hiện từ một bản nguyên “vật chất” hiện thực nhất định nào đó, tức là từ “bố và mẹ” cụ thể, như “bọc trăm trứng” của Âu Cơ
và Lạc Long Quân (Việt Nam), từ “hỗn độn” của vũ trụ, hoặc do bà Nữ Oa nặn đất (Trung Hoa) hay từ gốc tre (Philippines) Thứ hai, con người là do một vị thần thánh xác định nào đó sinh ra,
đó chính là Thượng đế - vị thần tối cao nhất sinh ra trời đất, giới tự nhiên và con người dù quan niệm Thượng đế được hiểu theo cách riêng của mỗi dân tộc
Các nhà triết học Trung Hoa đặt vấn đề bản tính con người lên hàng đầu, tiếp cận từ giác
độ hoạt động thực tiễn chính trị, đạo đức của xã hội Họ cho rằng bản tính con người là Thiện (Nho gia) và Bất Thiện (Pháp gia)
Khác với nền triết học Trung Hoa, các trường phái triết học Ấn Độ, tiêu biểu là Phật giáo, lại tiếp cận vấn đề con người từ giác độ suy tư về con người và nhân sinh quan ở tầm chiều sâu triết lý siêu hình (siêu hình học) Một trong những kết luận độc đáo của Phật giáo là bản tính Vô ngã, Vô thường và tính hướng thiện của con người trên hành trình tìm ra sự Giác Ngộ
Các trường phái triết học - tôn giáo phương Đông như Phật giáo, Hồi giáo nhận thức bản chất con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí hoặc nhị nguyên luận Với nhiều hệ thống triết học khác nhau, triết học phương Đông biểu hiện tính đa dạng và phong phú, thiên về vấn đề con người trong mối quan hệ chính trị, đạo đức Nhìn chung, con người trong triết học phương Đông biểu hiện yếu tố duy tâm, có pha trộn tính chất duy vật chất phác ngây thơ trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội Tuy nhiên, bản chất con người theo quan niệm của các học thuyết tôn giáo phương Đông đều bị phản ánh sai lầm, hướng tới thế giới quan thần linh
1.1.2 Quan niệm về con người trong triết học phương Tây
Ở phương Tây, tư tưởng về con người đã xuất hiện từ rất sớm, điển hình nhất phải kể đến các hệ thống triết học ở Hy Lạp và La Mã cổ đại Quan niệm về nguồn gốc con người cũng cho rằng con người được tạo nên từ một bản nguyên hoặc là do sự kết hợp của một số bản nguyên nào đó
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, thế giới nói chung và con người nói riêng là do Thượng đế, hay thần linh tạo ra và quy định toàn bộ hoạt động của họ Theo Socrates, con người được an bài bởi thần linh nên việc nhận thức về linh hồn là sự xúc phạm thần linh Họ chỉ nên nhận thức về thế giới và bản thân trong giới hạn, như tìm hiểu về đạo đức của con người Còn Plato lại cho rằng vĩnh viễn và bất biến là bản nguyên tạo nên toàn bộ thế giới hiện tồn, tạo nên
cả thể xác và linh hồn của con người Thể xác có thể mất đi nhưng phần linh hồn là vĩnh viễn, bất tử, được chia thành ba loại là lý tính, lý trí, tình cảm, tương ứng với ba tầng lớp là các nhà
Trang 4cầm quyền và các nhà tư tưởng; các binh sĩ, quân nhân; những người bình dân Riêng cá nhân không có linh hồn sẽ trở thành nô lệ Các quan niệm trên là cơ sở lý luận cho nhiều tín ngưỡng,
mê tín, dị đoan và tư tưởng phân biệt chủng tộc
Ngược lại, các trào lưu duy vật đều khẳng định nguồn gốc tự nhiên của con người, rằng con người là sản phẩm từ sự phát triển của tự nhiên chứ không phải do thần linh chi phối Vai trò của con người, của trí tuệ, đạo đức và các giá trị khác như tự do, bình đẳng, lý tưởng đạo đức cao thượng… được đề cao Xu hướng này, vừa trực tiếp vừa gián tiếp, phủ nhận vai trò của các lực lượng siêu nhiên đối với sự ra đời, tồn tại, phát triển và bản tính con người Con người có khát vọng, con đường riêng Vì vậy, giải phóng và phát triển bản chất con người theo hướng tiến bộ là yêu cầu và điều kiện phát triển xã hội
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Marx - Lenin về con người
1.2.1 Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội
Xét trên phương diện sinh học, tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người
là giới tự nhiên Tức là, con người là một thực thể sinh vật, là sản phẩm của giới tự nhiên, là một động vật xã hội Giới tự nhiên là “thân thể vô cơ của con người, đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên” Con người phải phục tùng các quy luật của giới tự nhiên, các quy luật sinh học như di truyền, tiến học sinh học và các quá trình sinh học của giới tự nhiên Điểm khác biệt đặc biệt và quan trọng giữa con người và các thực thể sinh học khác thể hiện ở chỗ con người là một bộ phận đặc biệt, quan trọng của giới tự nhiên, nhưng lại có khả năng biến đổi giới tự nhiên và chính bản thân mình, dựa trên các quy luật khách quan
Xét trên phương diện xã hội, con người là một thực thể xã hội, thực hiện các hoạt động hoạt động xã hội Hoạt động xã hội quan trọng nhất của con người là lao động sản xuất Theo C Marx và Ph Engels, con người “là giống vật duy nhất có thể bằng lao động mà thoát khỏi trạng thái thuần túy là loài vật” Con vật thì phải sống hoàn toàn dựa vào các sản phẩm của tự nhiên và bản năng của chúng Trong khi đó, con người lại sống bằng lao động sản xuất, cải tạo tự nhiên, sáng tạo ra các vật phẩm để thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của mình Nhờ có lao động sản xuất, con người không chỉ là thực thể sinh học mà còn trở thành thực thể xã hội, thành chủ thể của
“lịch sử có tính tự nhiên”, có lý tính và “bản năng xã hội” Ngoài các quan hệ lẫn nhau trong lao động sản xuất, con người còn có hàng loạt các quan hệ xã hội ngày càng phong phú, đa dạng khác giữa người với người Con người không thể tách khỏi xã hội vì xét đến cùng, xã hội là sản phẩm của sự tác động qua lại lẫn nhau giữa những con người Nhờ lao động và giao tiếp xã hội,
tư duy, ý thức của con người có thể phát triển Ngôn ngữ và tư duy là một trong những biểu hiện
rõ nhất phương diện con người là một thực thể xã hội
Như vậy, ở con người, mặt tự nhiên tồn tại trong sự thống nhất với mặt xã hội Tính sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của loài người trong khi tính xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật Nhu cầu sinh học phải mang giá trị văn minh con người, còn nhu cầu
xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh hoạt
1.2.2 Con người là sản phẩm của lịch sử và của chính bản thân con người
Kế thừa các quan niệm tiến bộ trong lịch sử tư tưởng nhân loại và dựa vào những thành tựu của khoa học, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rằng con người vừa là sản phẩm của sự
Trang 5phát triển lâu dài của giới tự nhiên, vừa là sản phẩm của lịch sử xã hội loài người và của chính bản thân con người Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, Marx cho rằng tiền đề của lý luận tư duy biện chứng và duy vật lịch sử của các ông là những con người hiện thực đang hoạt động, lao động sản xuất và làm ra lịch sử của chính mình, làm cho họ trở thành những con người đang tồn tại Nhưng khác với con vật, con người không thụ động để lịch sử làm mình thay đổi bởi con người là chủ thể của lịch sử
1.2.3 Con người vừa là chủ thể của lịch sử, vừa là sản phẩm của lịch sử
Con người sẽ không tồn tại được nếu không có thế giới tự nhiên và lịch sử xã hội Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh Nhưng quan trọng hơn cả, con người luôn là chủ thể của lịch sử - xã hội C.Marx khẳng định rằng: “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục… cái học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục” Thông qua quá trình cải biến tự nhiên trong các hoạt động thực tiễn, con người thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội, làm phong phú thêm thế giới tự nhiên và tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình
Khi cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình, tức là con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân con người Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con người, vừa là phương thức làm biến đổi đời sống và xã hội Từ những hoạt động vật chất và tinh thần, con người thúc đẩy xã hội vận động từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra Sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người sẽ không xuất hiện nếu không có hoạt động của con người tạo ra quy luật xã hội
1.2.4 Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội
Con người vượt lên thế giới loài vật trên ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người Cả ba mối quan hệ này đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người Các quan hệ xã hội có nhiều loại: quan hệ quá khứ, quan hệ hiện tại, quan hệ vật chất, quan hệ tinh thần, quan hệ trực tiếp, gián tiếp, tất nhiên hoặc ngẫu nhiên… Tất cả đều góp phần hình thành bản chất của con người Khi các quan hệ xã hội thay đổi thì sớm hoặc muộn, ít hoặc nhiều, bản chất con người cũng sẽ thay đổi theo
Trong tác phẩm Luận cương về Feuerbach, C.Marx đã nêu lên luận đề nổi tiếng: “Bản chất của con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội” Điều này khẳng định không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội mà luôn sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định Quan niệm đó giúp chúng ta nhận thức đúng đắn, tránh khỏi cách hiểu thô thiển về mặt tự nhiên, cái sinh học ở con người
Trang 6Chương II: Thực trạng vấn đề xây dựng nguồn lực con người trong sự nghiệp
công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước ta 2.1 Công nghiệp hóa - hiện đại hóa tại Việt Nam
2.1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế
● Bối cảnh kinh tế quốc tế
Quá trình hội nhập kinh tế, tài chính quốc tế đang tiếp tục diễn ra sâu rộng và tác động lớn đến sự phát triển của hầu hết các quốc gia Toàn cầu hóa về thương mại, đầu tư tài chính và tiền tệ sẽ diễn ra mạnh mẽ, kéo theo quá trình quốc tế hóa hệ thống tài chính - tiền tệ, dẫn tới sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng trên phạm vi toàn thế giới
Sự cạnh tranh về vốn, về nguồn lực và công nghệ giữa các quốc gia diễn ra gay gắt hơn trong quá trình toàn cầu hóa được đẩy mạnh Tiến bộ khoa học - kỹ thuật trở thành là phương tiện, công cụ thúc đẩy hợp tác quốc tế và định hướng phát triển kinh tế - tài chính thế giới, cũng như tạo cơ hội thuận tiện cho các nước đi sau bắt nhịp và tham gia vào chuỗi kinh tế toàn cầu
Các mối quan hệ chính trị, kinh tế, tài chính quốc tế càng ngày có vai trò quan trọng và chi phối lẫn nhau, đồng thời toàn cầu hóa cũng kéo theo việc giảm sút tính độc lập trong quá trình thực hiện chính sách kinh tế nói chung và tài chính nói riêng của các quốc gia
Kinh tế thế giới dự báo vẫn sẽ có những biến đổi khó lường Khoảng cách giữa các nhóm nước phát triển và các nền kinh tế kém phát triển có xu hướng ngày càng gia tăng Chính sách đối phó và giải quyết khủng hoảng cùng với quá trình phục hồi của nền kinh tế thế giới sẽ đem đến những thay đổi trong cấu trúc và phương thức quản lý vĩ mô của nhiều nền kinh tế
● Bối cảnh kinh tế trong nước
Những thành tựu sau hơn 30 năm đổi mới đã làm cho tiềm lực của Việt Nam không ngừng được mở rộng, bao gồm cả tiềm lực tài chính của nhà nước Quá trình tái cơ cấu nền kinh
tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đã đạt được các kết quả bước đầu, tạo ra môi trường thuận lợi và tiền đề quan trọng để đẩy mạnh cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Mức sống và chất lượng cuộc sống của nhân dân ngày một nâng cao, nghèo đói từng bước được đẩy lùi, đời sống được cải thiện, hệ thống an sinh xã hội ngày càng phát triển Tăng trưởng kinh tế góp phần quan trọng củng cố tiềm lực và sức mạnh của nền tài chính quốc gia; quy mô thu, chi ngân sách nhà nước sẽ được mở rộng, dự trữ nhà nước được tăng cường
Cùng với đó, quá trình hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ và phát huy hiệu quả, tạo ra các
cơ hội khai thác các nguồn lực bên ngoài Hệ thống pháp luật trong nước đã được điều chỉnh để từng bước tuân thủ hệ thống các chuẩn mực, sự tôn trọng và tính thích ứng với các thông lệ quốc
tế, phù hợp với các quy luật của kinh tế thị trường
Các yếu tố của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không ngừng được hoàn thiện và phát huy hiệu quả trong việc thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt của đời sống kinh
tế - xã hội nói chung và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng
Bên cạnh những mặt thuận lợi, nền kinh tế đã và đang gặp phải không ít khó khăn, thách thức
Trang 72.1.2 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Kế thừa có chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loại, rút ra những kinh nghiệm lịch sử trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thực tiễn công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy khóa VI, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao
Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng và Nhà nước được xác định rộng hơn những quan điểm trước đó, bao gồm cả hoạt động sản xuất, kinh doanh, cả về dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, được sử dụng bằng các phương tiện và các phương pháp tiên tiến, hiện đại cùng với kỹ thuật và công nghệ cao
2.1.3 Tính tất yếu khách quan của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và vai trò của phát triển con người trong quá trình đó
Cơ sở vật chất - kỹ thuật tương ứng là yếu tố xác lập vững chắc mỗi phương thức sản xuất xã hội Chủ nghĩa xã hội muốn tồn tại và phát triển cũng cần phải có một nền kinh tế tăng trưởng dựa trên lực lượng sản xuất hiện và chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nông nghiệp lâu đời lạc hậu, cơ sở vật chất
và khoa học kỹ thuật thấp, trình độ của lực lượng sản xuất chưa cao… Do vậy, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa xảy ra là điều tất yếu Trong đó, nguồn nhân lực là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cụ thể:
Một là, các yếu tố bên cạnh yếu tố con người như vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật
chất, chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng, không thể phát huy ngay lập tức Chúng chỉ có thể phát huy tác dụng khi con người điều khiển và sử dụng bởi con người là nguồn lực duy nhất có tư duy, trí tuệ và nhận thức cách khai thác, điều khiển và gắn kết các nguồn lực khác với nhau, tạo nên một sức mạnh tổng hợp vô cùng to lớn để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Hai là, các nguồn lực ngoài con người là có giới hạn, không bất biến, có thể cạn kiệt do
khai thác và thời gian Còn yếu tố con người mà cốt lõi là trí tuệ lại là nguồn lực vô hạn Con người không chỉ có khả năng sinh sản sinh học mà còn không ngừng phát triển về mặt trí tuệ và thể chất nhờ học tập Từ đó, con người có thể góp phần cải tạo, nâng cấp những nguồn lực khác, hay sáng tạo ra những yếu tố chưa có trong giới tự nhiên
Ba là, theo quan điểm của Marx thì con người có sức mạnh to lớn khi trí tuệ của loài
người có thể vật thể hóa và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Trong thời đại công nghệ khoa học phát triển như vũ bão, các nước công nghiệp phát triển vận động theo hướng tri thức Nguồn lợi thu được từ tri thức có thể chiếm một nửa tổng giá trị tài sản quốc gia
Bốn là, từ bài học, kinh nghiệm lịch sử của nhiều quốc gia và thực tiễn đã khẳng định quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn phụ thuộc vào chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, phụ thuộc rất nhiều vào ý thức và năng lực nhận thức của mỗi cá nhân
Trang 8Nói tóm lại, yếu tố con người là yếu tố tiên quyết quyết định sự thành bại của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời cũng là mục tiêu hướng tới của quá trình này
2.2 Quan niệm về con người trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam
Nghiên cứu tăng trưởng kinh tế của các nước trên thế giới qua nhiều giai đoạn lịch sử, các lý thuyết tăng trưởng đã chỉ ra rằng yếu tố quan trọng nhất trong tăng trưởng kinh tế chính là nguồn nhân lực Các yếu tố khác như máy móc, thiết bị, tài nguyên thiên nhiên, hay công nghệ sản xuất chỉ phát huy tối đa hiệu quả bởi con người có trình độ chuyên môn, kỹ thuật Lý thuyết tăng trưởng của C.Marx cho rằng việc sử dụng tư bản bất biến không tạo ra giá trị thặng dư, tồn tại dưới dạng lợi nhuận mà chỉ có tư bản khả biến mới đem lại giá trị thặng dư trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa Nguyên nhân là do giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động, khi được vận dụng hay tiêu dùng, sẽ tạo ra một giá trị mới (v+m) lớn hơn giá trị bản thân nó
C Mác đã từng khẳng định rằng trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mỗi nhà tư bản đều coi người khác là phương tiện để lợi dụng Ngược lại, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta ưu tiên con người lên hàng đầu, xác định con người là động lực nhưng cũng là mục tiêu của sự phát triển Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Marx - Lenin trong tiến trình xây dựng xã hội mới, Đảng và Nhà nước đã nhiều lần nhấn mạnh “Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta” Nghị
quyết Trung ương 2 khóa VIII về Định hướng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 đã thể hiện rõ quan điểm “lấy việc
phát huy nhân tố con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: chiến lược con người phải nằm ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng dạy “vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” Vì vậy, mọi chủ trương, chính sách nhằm phát huy nhân tố con người đều xuất phát từ quan điểm cho rằng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, là chủ nhân thực sự của xã hội, là chủ thể của mọi hành động kinh tế, văn hoá xã hội và mục tiêu của toàn bộ sự nghiệp cách mạng là phục vụ nhân dân
Việt Nam đặt mục tiêu lâu dài vào con người, coi trọng việc nâng cao trí tuệ; coi việc bồi dưỡng, phát triển nguồn lực con người là yếu tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu phát triển con người toàn diện, tức là không chỉ hiểu con người ở đây với tư cách là người lao động sản xuất mà còn là một công dân trong xã hội, một cá nhân trong gia đình, tập thể, một thành viên trong cộng đồng, dân tộc; không chỉ là những người lao động chân tay mà còn là những người lao động trí óc
Mục tiêu phát triển con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa bao gồm: Một là, người lao động Việt Nam phải có lòng yêu nước nồng nàn, có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần tự cường dân tộc cao Hai là, người lao động phải có trí tuệ cao Ba là, người lao động phải có năng lực hoạt động thực tiễn tốt Bốn là, người lao động phải biết chủ động hội nhập quốc tế Năm là, yếu tố không thể thiếu đối với người lao động là sức khỏe cơ thể tốt, trí lực cao Sáu là, người lao động phải có tác phong lao động công nghiệp Bảy là, người lao động phải có văn hóa sinh thái Tám là, người lao động phải có năng lực phát huy những giá trị truyền
Trang 9thống, giá trị văn hóa của dân tộc, kết hợp với việc tiếp thu những tinh hoa của văn hóa nhân loại
2.3 Thực trạng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
2.3.1 Về số lượng nguồn lực
Trong những năm qua, do tác động của yếu tố sinh sản tự nhiên và di dân do tác động của quá trình đô thị hóa, đặc biệt là tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với sự phát triển
và tăng trưởng kinh tế cao…làm cho dân số Việt Nam tăng lên và cơ cấu dân số cũng biến đổi Hiện nay, dân số Việt Nam xếp thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indonesia và Philippines), xếp thứ 8 trong khu vực Châu Á, và xếp thứ 15 trên thế giới Tổng dân số của Việt Nam năm
2014 ước tính đạt 92.447.315 người, tăng 981.580 người so với 1/4/2015 và 1.953.963 người so với 1/4/2014 (GSO, 2016)
Khi nhìn vào quy mô dân số theo độ tuổi, Việt Nam đang trong thời kỳ cơ cấu “dân số vàng" Điều này mang lại cơ hội rất lớn để tận dụng nguồn nhân lực có chất lượng cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững của đất nước Tuy nhiên, nếu không có sự quan tâm và có các chính sách phát triển phù hợp, cơ cấu “dân số vàng” không những sẽ không đem lại tác động tích cực cho phát triển đất nước mà sẽ là áp lực về việc làm, trật tự, an ninh xã hội… Vì thế, tận dụng cơ cấu “dân số vàng” đòi hỏi có những chính sách phù hợp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, tăng năng suất lao động, tạo việc làm cho lực lượng lao động trẻ, bảo đảm an sinh xã hội cho người già và người dễ bị tổn thương, bảo đảm bình đẳng giới
2.3.2 Về chất lượng nguồn lực
Thứ nhất, về trình độ học vấn, chuyên môn - kỹ thuật:
Số năm học trung bình của dân số 20 - 24 tuổi theo vùng, nơi cư trú và giới tính
Cho đến nay, đa số những người trong độ tuổi đều đến trường học tập, trình độ học vấn của người lao động cũng nâng lên: cứ 1 cán bộ tốt nghiệp đại học thì có 1,16 cán bộ tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp và 0,92 công nhân kỹ thuật; cứ 1 vạn dân có 181 sinh viên đại học Tỷ
lệ biết chữ ở người lớn (trên 15 tuổi) tăng từ 86,1% năm 1990 lên 94% năm 2004 Nhiều tỉnh thành đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở Theo Tổng cục thống kê (2007), độ tuổi đi học trung bình của dân số thuộc nhóm tuổi 20 - 24, là lực lượng
Trang 10lao động trẻ, có số năm học bình quân là 9,6 năm Tuyệt đại đa số dân số làm việc có trình độ phổ thông (91%); 5,7% dân số làm việc có trình độ từ cao đẳng trở lên
Thứ hai, về cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu nguồn lực con người theo nhóm ngành
Theo điều tra về dân số và lao động thời kỳ 2015 – 2019, lực lượng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lao động ở Việt Nam là lao động làm trong khu vực “Nghề đơn giản” Trong năm
2019 có 1/3 tổng số lao động (35%) đang làm việc nằm trong khu vực “Nghề đơn giản” giảm 4%
so với năm 2015 Đứng thứ hai trong cơ cấu lao động là nhóm ngành dịch vụ với gần 1/5 tổng số lao động (17% năm 2015 và 18% năm 2019) Nhóm thợ thủ công và thợ khác, và thợ lắp ráp máy móc, thiết bị tăng lần lượt từ 9% và 15% năm 2015 lên 14% và 12% năm 2019 Nhóm nghề truyền thống nông lâm nghiệp chỉ còn chiếm 1/5 tỷ trọng của cơ cấu lao động Việt Nam, và giảm 3% trong 2015 đến 2019 Trong khi đó nhóm lao động thuộc khu vực chuyên môn kỹ thuật bậc cao chiếm 8% trong cơ cấu, cao hơn 1% so với khu vực nông, lâm, thủy sản vào năm 2019 Các ngành chuyên môn kỹ thuật bậc trung, nhân viên và nhà lãnh đạo lần lượt chiếm 3%, 2% và 1% trong cơ cấu lao động