1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương lý luận cơ bản về Nhà nước và Pháp luật

38 24 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 53,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1. Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, theo anhchị, cần phải thực hiện những vấn đề gì nhằm tăng cường chức năng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Câu 2. Bằng lý luận và thực tiễn anhchị hãy làm rõ bản chất nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Câu 3. Làm rõ những yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Câu 4. Bắng lý luận và thực tiễn anhchị hãy làm rõ nguyên tắc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Câu 5. Làm rõ mối quan hệ giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp trong thực thi quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Câu 6. Đánh giá của anhchị về việc phân công, phân cấp trong thực thi quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Câu 7. Từ thực tiễn quản lý xã hội ở Việt Nam hiện nay, hãy làm rõ vai trò của pháp luật Việt Nam. Câu 8. Từ thực tiễn Việt Nam hiện nay, hãy làm rõ việc tổ chức thực hiện pháp luật. Câu 9. Đánh giá của anhchị về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay. Câu 10. Đánh giá của anhchị về quy trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

Trang 1

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Câu 1 Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, theo anh/chị, cần phải thực hiệnnhững vấn đề gì nhằm tăng cường chức năng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa

Câu 2 Bằng lý luận và thực tiễn anh/chị hãy làm rõ bản chất nhà nước củanhân dân, do nhân dân và vì nhân dân của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Câu 3 Làm rõ những yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Câu 4 Bắng lý luận và thực tiễn anh/chị hãy làm rõ nguyên tắc tổ chức vàthực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Câu 5 Làm rõ mối quan hệ giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp trong thựcthi quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Câu 6 Đánh giá của anh/chị về việc phân công, phân cấp trong thực thiquyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Câu 7 Từ thực tiễn quản lý xã hội ở Việt Nam hiện nay, hãy làm rõ vai tròcủa pháp luật Việt Nam

Câu 8 Từ thực tiễn Việt Nam hiện nay, hãy làm rõ việc tổ chức thực hiệnpháp luật

Câu 9 Đánh giá của anh/chị về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở ViệtNam hiện nay

Câu 10 Đánh giá của anh/chị về quy trình xây dựng pháp luật ở Việt Namhiện nay

- Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế Chức năng tố chức và quản lý kinh tế

là chức năng cơ bản đặc thù của nhà nước xã hội chủ nghĩa Nhà nước xã hội chủnghĩa không chỉ là tổ chức của quyền lực chính trị, mà còn là chủ sở hữu các tư liệusản xuất chủ yếu; trực tiếp tổ chức và quản lý nền kinh tế đất nước, tạo điều kiệncho sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, thỏamãn nhu cầu của người lao động

Trang 2

Nội dung của chức năng tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước xã hội chủnghĩa rất rộng, bao gồm nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ cần giải quyết, là chứcnăng cơ bản của bất kỳ nhà nước xã hội chủ nghĩa nào Tuy nhiên, do đặc điểm vàhoàn cảnh cụ thể của mỗi nước không giống nhau, nên việc thực hiện chức năng tổchức và quản lý kinh tế trong mỗi nước cũng có những đặc điểm riêng.

Chức năng tổ chức và quản lý kinh tế trong điều kiện hiện nay có những nộidung mới như sau:

+ Nhà nước phải sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân cho phù họp với kinh tế thịtrường, vừa phát triển lại vừa ổn định

+ Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng đúng đắncác thành phần kinh tế

+ Phát triển mạnh mẽ khoa học, kỹ thuật để tạo động lực thúc đẩy nhanhchóng quá trình phát triển sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

+ Hình thành một hệ thống thị trường hoàn chỉnh (thị trường vốn, thị trườnglao động, thị trường giá cả, thị trường tín dụng )

+ Bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh của các chủ thể kinh tế

+ Đối mới và hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước (chủ yếu làpháp luật, kế hoạch, chính sách, quyết định hành chính) để tổ chức và quản lý kinh

tế, mở rộng và nâng cao hơn nữa hiệu quả của kinh tế đối ngoại

- Chức nấng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, trấn áp sựphản kháng của giai cấp bóc lột đã bị lật đổ và âm mưu phản cách mạng khảc Đây

là một chức năng hết sức quan trọng, khó khăn và phức tạp, nhất là trong giai đoạnđầu, sau khi cách mạng vô sản mới thành công

Ở giai đoạn đầu, khi nhà nước vô sản mới thành lập, lúc đó về chính trị, kinh

tế, văn hóa, xã hội, nhà nước vô sản chưa thật sự đủ sức mạnh để thắng lợi hoàntoàn đối với các thế lực phản cách mạng

Mặt khác, các thế lực đế quốc và phản động quốc tế luôn tìm mọi cách để tấncông và làm suy yếu chủ nghĩa xã hội, nuôi dưỡng và khuyến khích các thế lựcphản cách mạng nhằm tiến hành các âm mưu phá hoại và gây rối an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội Vì vậy, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải thực hiện tốt chứcnăng trấn áp mọi sự phản kháng của các giai cấp bóc lột và mọi âm mưu phá hoạicủa các thế lực phản cách mạng để giữ vững chính quyền, ổn định an ninh chính trị

và trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện hòa bình, ổn định cho công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội

Để thực hiện chức năng này, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải không ngừngtăng cường sức mạnh về mọi mặt, phải sử dụng sức mạnh tổng hợp của cả hệ thốngchính trị, chăm lo củng cố thế trận an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giáo dục

ý thức, giác ngộ chính trị và tinh thần cảnh giác cho toàn dân

Trang 3

- Chức năng tổ chức và quản ỉỷ văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ.Chức năng tổ chức và quản lý văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ có nộidung rất rộng với những nhiệm vụ hết sức phong phú và phức tạp, thể hiện trên cáclĩnh vực, các mặt hoạt động với những vấn đề cơ bản là:

về văn hóa: Nhiệm vụ trung tâm là xây dựng nền văn hóa mới, lối sống mới,con người mới, thiết lập trật tự, kỷ cương trong mọi hoạt động của nhà nước và xãhội; đấu tranh chống những tư tưởng, văn hóa lạc hậu và thù địch; đồng thời kếthừa và phát huy những giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại; tiếp thu, kế thừa, bảotồn, phát triển nền văn hiến các dân tộc; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhândân

về giảo dục và đào tạo: Giáo dục và đào tạo là nền tảng cho sự phát triển củabất kỳ một quốc gia, dân tộc nào Các nhà nước xã hội chủ nghĩa luôn coi trọnggiáo dục và đào tạo, nó vừa đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển, vừa hìnhthành phẩm chất con người mới xã hội chủ nghĩa Nhà nước thống nhất quản lý hệthống giáo dục quốc dân; phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo; họp tác toàn diện

và sâu rộng trong giáo dục và đào tạo

về khoa học và công nghệ: Nhà nước ưu tiên đầu tư cho khoa học và côngnghệ, đặc biệt cho các hướng khoa học công nghệ mũi nhọn; phát triển đồng bộ cácngành khoa học, đổi mới công nghệ phát triển lực lượng sản xuất; chăm lo đào tạo

và sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, tạo điều kiện để họ cống hiếnđược nhiều nhất cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ TÔ quôc

- Chức năng bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợiích cơ bản của công dân Đây là chức năng có ý nghĩa quan trọng của nhà nước xãhội chủ nghĩa Mục đích của chức năng này là nhằm bảo đảm cho pháp luật đượcthi hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, thiết lập, củng cố và điều chỉnh hệthống các quan hệ xã hội bảo đảm sự phát triển đúng hướng, phục vụ cho côngcuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động

Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dânlao động Nhà nước xã hội chủ nghĩa không những ban hành pháp luật ghi nhậnquyền và lợi ích của công dân, mà còn tạo điều kiện và có biện pháp bảo đảm choquyền và lợi ích đó được thực hiện trên thực tế Để thực hiện tốt chức năng này,nhà nước cần phải có những biện pháp đồng bộ về xây dựng pháp luật, tổ chức thựchiện pháp luật, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật; đồng thời phảigiáo dục để nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dântham gia vào quản lý nhà nước

Chức năng bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của công dân liên quan chặt chẽ tới quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội

và tăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước trên thực te là một thể thống nhất

Chức năng đối ngoại

Trang 4

- Chức năng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủnghĩa là vấn đề có tính quy luật trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trênphạm vi toàn thế giới Điều đó xuất phát từ thực tế vẫn còn tồn tại trong một thờigian dài những lực lượng chống đối chủ nghĩa xã hội Vì vậy, các nhà nước xã hộichủ nghĩa đều phải chú trọng tới chức năng bảo vệ Tổ quốc, coi việc củng cố quốcphòng để bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia, tạo điều kiện hòabình, ổn định cho công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ quan trọng,thường xuyên và lâu dài Nền quốc phòng của các nước xã hội chủ nghĩa là nềnquốc phòng vì mục đích tự vệ, nhưng đòi hỏi phải có đầy đủ sức mạnh và khả năngtác chiến cao để sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại và xâm lược của các thếlực thù địch và đế quốc.

- Chức năng mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, các tố chức quốc tế vàkhu vực Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đang diễn ra ngày càng nhanh,càng mạnh Các nhà nước xã hội chủ nghĩa với bản chất, mục đích của mình đã vàđang tham gia tích cực đối với các quan hệ quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủquyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ củanhau, bình đẳng và cùng có lợi; ủng hộ và góp phần tích cực vào phong trào đấutranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội

Đây là chức năng quan trọng của nhà nước xã hội chủ nghĩa, nó xuất phát từbản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa và phù hợp với xu hướng phát triển chungcủa nhân loại

Câu 2 Bằng lý luận và thực tiễn anh/chị hãy làm rõ bản chất nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Về bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa không chỉ là những vấn để có tínhnguyên tắc được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin khẳng định như đãnêu ở trên mà mô hình các nước xã hội xã hội chủ nghĩa cụ thể còn phụ thuộc vàođặc điểm dân tộc, truyền thống, văn hoá, trình độ kinh tế, xã hội và các đặc điểmcủa thời đại được vận dụng vào mỗi quốc gia Chủ nghĩa xã hội tuyệt đối khôngphải là những tri thức giáo điều, bất di bất dịch mà là một hệ thống các quan điểmkhoa học, cách mạng luôn đòi hỏi phải được xem xét một cách năng động, sáng tạo

và luôn luôn cần được đổi mới Vì vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính

là một trong những mô hình cụ thể đang được tìm tòi và đổi mới để tạo ra nhữngbước đi thích hợp cho xã hội Việt Nam Bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam là sự biểu hiện cụ thể của bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa.Cho nên việc làm sáng tỏ những đặc điểm thuộc bản chất của Nhà nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay là hoàn toàn cần thiết

Bản chất bao trùm nhất chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội của Nhànước Việt Nam hiện nay từ tổ chức đến hoạt động thực tiễn là tính nhân dân củaNhà nước Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định:

Trang 5

“Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”

Bản chất nhà nước của dân, do dân và vi dân được cụ thể bằng những đặctrưng sau:

- Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước

Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành cáccuộc đấu tranh cách mạng đã trải qua bao hy sinh gian khổ, đánh đuổi kẻ thù, xâmlược làm nên cách mạng Tháng Tám 1945 thành công và lập nên Nhà nước củamình Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay là Nhà nước do dân

mà nòng cốt là liên minh công nông trí thức tự tổ chức và định đoạt quyền lực nhànước Quyền lực nhà nước Việt Nam không thuộc về một cá nào, một nhóm ngườinào mà thuộc về toàn thể nhân dân

Nhân dân với tính cách là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước và thựchiện nó bằng nhiều hình thức khác nhau Hình thức cơ bản nhất là nhân dân thôngqua bầu cử lập ra các cơ quan đại diện quyền lực của mình Điều 6 Hiến pháp 2013

quy định “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại điện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân thông qua các cơ quần khác của Nhà nước ” Ngoài ra nhân dân còn thực hiện quyền lực nhà nước thông

qua các hình thức kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước hoặc trựctiếp thông qua việc thực hiện các quyền yêu cẩu, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo củamình với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền…

- Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước dân chủ thực sự và rộng rãi.

Lịch sử hình thành và phát triển của Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam có thể nhận thấy rõ trong quá trình hình thành và phát triển của một chế độdân chủ mới Những thiết chế nhà nước đầu tiên ra đời dựa trên cơ sở của dân chủ:Các hinh thức Quốc dân đại hội để bầu ra Chính phủ lâm thời; tổng tuyển cử để bầu

ra đại biểu Quốc hội và Chủ tịch nước những năm đầu tiên sau khi Cách mạngTháng Tám thành công; sự ghi nhận chính thức trong các Hiến pháp năm 1946,

1959, 1980, 1992, 2013 về xác định quyền lực tối cao thuộc về nhân dân, đã khẳngđịnh rõ mục tiêu và những bước phát triển của chế độ dân chủ nước ta Bản chấtdân chủ của nhà nước ta thể hiện toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tưtưởng, văn hóa, xã hội

+ Trong lĩnh vực kinh tế: Nhà nước thực hiện chủ trương tự do, bình đẳng vềkinh tế, tạo ra những điều kiện làm cho nền kinh tế có tính năng động, xây dựngquan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất

Trang 6

Chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đa sở hữu vàhình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh cho phép mọi đơn vị kinh tế đều có thể hoạtđộng theo cơ chế tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau

và đều bình đẳng trước pháp luật Bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động, coi

đó là động lực, đồng thời là mục tiêu lâu dài của dân chủ

+ Trong lĩnh vực chính trị: Nhà nước ta đã tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc,quy định những quyền tự do dân chủ trong sinh hoạt chính trị Nhà nước xác lập vàthực hiện cơ chế dân chủ đại diện thông qua chế độ bầu cử Đồng thời Nhà nướcthiết lập và thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp, tạo điều kiện cho nhân dân tham giavào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tham gia đóng góp ý kiến, kiếnnghị, thảo luận một cách dân chủ, bình đẳng vào các vấn đề thuộc đường lối, chủtrương, chính sách, các dự thảo luật pháp quan trọng làm cho nhân dân thực sự làchủ thể của những chủ trương, chính sách và văn bản pháp luật đó

+ Trong lĩnh vực tư tưởng- văn hóa- xã hội: Nhà nước thực hiện chủtrương tự do tư tưởng và giải phóng tinh thần, phát huy mọi khả năng của conngười; quy định toàn diện các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, học tập, laođộng, tự do tín ngưỡng, quyền bất khả xâm phạm thân thể, nhà ở, thư tín đảm bảocho mọi người được hưởng các quyền đó

Tự do tư tưởng văn hóa- xã hội trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng HồChí Minh và đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam

Nguyên tắc cơ bản để thực hiện dân chủ, phát huy quyền lực nhà nước,quyền làm chủ của nhân dân là bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước.Đồng thời, Nhà nước luôn đặt cho mình nhiệm vụ phải tôn trọng sự kiểm tra, giámsát của nhân dân, đẩy mạnh đấu tranh chống sự quan liêu, cửa quyền, tham nhũngtrong bộ máy nhà nước

- Nhà nước thống nhất các dân tộc cũng sinh sống trên đất nước Việt Nam

Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, Nhà nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam luôn coi đại đoàn kết dân tộc là một nguyên tắc cơ bản đểthiết lập chế độ dân chủ, phát huy quyền lực nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội,đồng thời là cơ sở để tạo ra sức mạnh của một nhà nước thống nhất

Chính sách đại đoàn kết dân tộc của nước ta thế hiện dưới bốn hình thức cơbản:

Một là, Nhà nước đã xây dựng cơ sở pháp lý vững vàng cho việc thiết lập

cũng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tạo điều kiện cho mỗi dân tộc đều có thể thamgia vào việc thiết lập, cũng cố và phát huy sức mạnh của nhà nước Điều này đượcthể hiện rõ trong các Hiến pháp qua các thời kỳ và các văn bản pháp luật quantrọng khác

Trang 7

Hai là, tất cả các tổ chức Đảng, Nhà nước, mặt trận, công đoàn, đoàn thanh

niên… đều coi việc thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, xây dựng Nhà nướcViệt Nam thống nhất là mục tiêu chung, là nguyên tắc hoạt động của tổ chức mình

Ba là, bên cạnh việc thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc, Nhà nước luôn

chú trọng việc ưu tiên đối với dân tộc thiểu số, các vùng núi, vùng sâu, vùng xa, tạođiều kiện để các dân tộc tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, cùng tồn tại và phát triển trên

cơ sở hoà hợp, đoàn kết, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội còngbằng, dânchủ, văn minh

Bốn là, chú ý tới điều kiện hoàn cảnh cụ thể của mỗi dân tộc, mỗi địa

phương, tôn trọng các giá trị văn hoá tinh thần, truyền thống của mỗi dân tộc, xâydựng bản sắc riêng của Nhà nước Việt Nam với đầy đủ tính phong phú mà vẫn đảmbảo sự nhất quán và thống nhất

- Nhà nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam thể hiện tính xã hội rộng rãi

Với mục tiêu xây dụng một xã hội văn minh, nhân đạo, bảo đảm công bằng

xã hội, Nhà nước Việt Nam đã quan tâm đặc biệt và toàn diện tới việc giải quyếtcác vấn đề xã hội như: Xây dựng các công trình phúc lợi xã hội, đầu tư cho việcphòng chống thiên tai, giải quyết các vấn đề bức xúc như xóa đói, giảm nghèo,chăm sóc sức khoẻ nhân dân, giải quyết việc làm, chống thất nghiệp, giúp đỡ ngườigià cô đơn, trẻ mô côi, chống các tệ nạn xã hội

Nhà nước không những chỉ đặt ra cơ sở pháp lý mà còn đầu tư thoả đáng choviệc giải quyết các vấn đề xã hội Đồng thời coi việc giải quyết các vấn đề này lànhiệm vụ của mọi cấp, mọi ngành và của nhà nước nói chung

Câu 3 Làm rõ những yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã hình thành từ rất sớm, nhưng nhà nướcpháp quyền với tư cách là học thuyết chính trị - pháp lý thì mới chỉ xuất hiện ở Tây

Âu vào thế kỷ XVII - XVIII

Thời cổ đại, nhiều nhà tư tưởng đã đưa ra những ý niệm về mối quan hệ giữangười cầm quyền với pháp luật, về tình trạng lộng quyền và chuyên quyền của vua,tình trạng không có trách nhiệm pháp lý của kẻ cầm quyền Những tư tưởng đó đãchống lại thuyết đặc miễn trách nhiệm của vua (không chịu trách nhiệm gì, dù cósai lầm) được thịnh hành trong các triều đại nô lệ và phong kiến

Học thuyết nhà nước pháp quyền về mặt lý luận ra đời ở thời đại cách mạng

tư sản thế kỷ XVII - XVIII, trong cuộc đấu tranh chống lộng quyền của giai cấpphong kiến và chế độ quân chủ chuyên chế, trong đó có sự tiếp tục kế thừa những ýniệm trên dù còn thô sơ Còn nhà nước pháp quyền hiện thực được xác lập trênthực tế ở một số nước tư bản phát triển chỉ từ sau chiến tranh thế giới thứ hai Mặc

dù tư tưởng nhà nước pháp quyền có cội nguồn từ xa xưa nhưng, việc xác định cácgiá trị của nhà nước pháp quyền và thực tiễn áp dụng chúng trong các nhà nước

Trang 8

khác nhau lại có sự khác nhau Điều này dẫn đến không có một khái niệm chung vềnhà nước pháp quyền được áp dụng cho tất cả các quốc gia trên thế giới.

Ở Việt Nam, quan điểm về Nhà nước pháp quyền được thừa nhận chính thức

và Đảng ta đã khẳng định quyết tâm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam trong nhiều văn kiện chính thức Nghị quyết Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định cần '‘tăng cường pháp chế xã hội chủnghĩa, xây dựng Nhà nước pháp qưyền Việt Nam Quản lý xã hội bằng pháp luật,đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức” Xét về bản chất và cũng là mụctiêu cần đạt được là toàn Đảng và toàn dân ta đã và đang ra sức phấn đấu để xâydựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ IX của Đảng đã ghi nhận: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu đểthực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vìdân ” Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã khẳng định:

“Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ” Việc xây dựng nhà nướcpháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa tiếp tục được Đại hội đại biếu toàn quốc lầnthứ XI của Đảng khẳng định với các nội dung: Xây dựng nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa được đẩy mạnh, hiệu lực, hiệu quả hoạt động được nâng lên

nhà nước pháp quyền là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và theo đó,pháp luật phải trở thành nguyên tắc cơ bản nhằm tổ chức thực thi quyền lực nhànước, tổ chức cuộc sống cộng đồng của toàn xã hội, điều hòa, phối họp hành vi ứng

xử của các thành viên cộng đồng Như vậy, nhà nước pháp quyền không phải làmột kiểu nhà nước, đó chỉ là “những đòi hỏi, những giá trị phổ biến, là biểu hiện rõrệt của một trình độ phát triển dân chủ, một cách thức tổ chức nhà nước và xã hộitrên nền tảng dân chủ”

Bên cạnh những nội dung có tính chất nguyên tắc được áp dụng chung chocác quốc gia thì nhà nước pháp quyền ở các quốc gia khác nhau được xác lậpkhông hoàn toàn giống nhau Với điều kiện cụ thể của Việt Nam thì Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có những đặc điểm cơ bản sau:

Một là, Nhà nước mà trong đó nhân dân lao động không chỉ là khách thể củaquyền lực mà còn là chủ thể tối cao của quyền lực đó Ở Nhà nước pháp quyền ViệtNam “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” Nhân dân thực hiện quyềnlực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội,Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước Nhân dân traoquyền của mình cho các cơ quan nhà nước và có quyền kiểm tra, giám sát việc tổchức và thực hiện quyền lực nhà nước Các cơ quan nhà nước phải phục vụ cho lợiích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân Pháp luật phải thực sự bắt nguồn từnhân dân, của nhân dân và phục vụ nhân dân

Hai là, Nhà nước có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, trong đó Hiến pháp

và luật giữ vai trò quan trọng; các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, người cóchức vụ cũng như công dân đều phải có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện nghiêm

Trang 9

minh pháp luật Trong Nhà nước pháp quyền, Hiến pháp và luật phải chiếm vị trítối thượng Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, thể hiện tập trung nhất ýchí, nguyện vọng của nhân dân cả nước Vì vậy, Hiến pháp phải có tính tối cao sovới các văn bản pháp luật khác Mọi văn bản quy phạm pháp luật đều phải phù hợpvới nội dung của Hiến pháp.

Ba là, Nhà nước mà trong đó mối quan hệ giữa nhà nước và công dân đượcgiải quyết đúng đắn Đây là vấn đề được đặt ra ở mọi xã hội khi có nhà nước nhưngkhông phải bao giờ và bất cứ lúc nào mối quan hệ này cũng được giải quyết theođúng nghĩa của nó Vì vậy, trong nhà nước pháp quyền, mối quan hệ đó phải đượcgiải quyết theo nguyên tắc về trách nhiệm tương hỗ giữa nhà nước và công dân.Mỗi công dân đều phải có quyền và trách nhiệm của mình trước nhà nước; đồngthời nhà nước cũng có quyền và trách nhiệm trước công dân Yêu cầu đó được thểhiện thành một quy tắc hiến định tại Điều 3 Hiến pháp năm 2013: “Nhà nước bảođảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảođảm quyền con người, quyền công dân ” và “Quyền công dân không tách rời nghĩa

vụ công dân Công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xãhội” (Điều 15)

Bổn là, Nhà nước mà trong đó các quyền tự do dân chủ và lợi ích chính đángcủa con người phải được pháp luật bảo vệ và tôn trọng; mọi hành vi lộng quyền,hách dịch, quan liêu của bất kỳ cá nhân có chức vụ hay tổ chức nào hoặc mọi hành

vi phạm pháp khác xâm phạm quyền tự do, lợi ích chỉnh đáng của công dân đềuphải nghiêm trị

Năm là, Nhà nước mà trong đó bộ máy nhà nước được phân định rõ rànggiữa quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; đồng thời vừa có sự phối hợp chặt chẽ,vừa kiểm soát lẫn nhau tạo thành cơ chế đồng bộ, bảo đảm sự thống nhất của quyềnlực nhà nước, thực hiện quyền lực nhân dân

Các cơ quan nhà nước cũng như các tổ chức xã hội và mọi công dân hoạtđộng trên cơ sở pháp luật và chịu sự điều chỉnh thống nhất của pháp luật

Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng đã nhận địnhnhững thành tựu và hạn chế của quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Theo đó, đến năm 2016, “Quan điểm và thểchế về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được bổ sung, hoàn thiện một bướcquan trọng và cơ bản Nhận thức của các cấp, các ngành, của cản bộ, đảng viên vànhân dân về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, donhân dân, vì nhân dân có bước phát triển ”

Tuy nhiên, bên cạnh đó thì cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyềnlực nhà nước ở các cấp chưa được chế định rõ; tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt độngcủa các thiết chế cơ bản trong bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cònnhiều điểm chưa thực sự hợp lý, hiệu lực, hiệu quả; hệ thống pháp luật thiểu đồng

Trang 10

bộ, nhiều nội dung chưa đáp ứng yêu cầu; kỷ cương, kỷ luật trong quản lý nhànước, thực thi công vụ còn nhiều yếu kém

Câu 4 Bắng lý luận và thực tiễn anh/chị hãy làm rõ nguyên tắc tổ chức

và thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay.

Bộ máy nhà nước muốn có hiệu lực và hiệu quả trong việc quản lý xã hội thìvấn đề quan trọng hàng đầu là phải bảo đảm cho nó có được một cơ cấu tổ chứchợp lý, một cơ chế hoạt động đồng bộ và đội ngũ cán bộ có đủ năng lực thực hiệnnhững nhiệm vụ được giao Tất cả những điều đó chỉ có thể đạt được khi xác địnhđúng những nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhànước

Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là những nguyên lý,những tư tưởng chỉ đạo đúng đắn, khách quan và khoa học, phù hợp với bản chấtcủa nhà nước, tạo thành cơ sở cho tố chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước

và toàn thể bộ máy nhà nước

Hệ thống nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước rất phongphú và nhiều loại, trong đó, những nguyên tắc cơ bản có tính bao quát đối với toànthể bộ máy nhà nước thường được ghi nhận trong Hiến pháp, đạo luật cơ bản củanhà nước, bao gồm:

1 Nguyên tắc bảo đảm quyền lực nhân dân trong tổ chức và hoạt động của

bộ máy nhà nước

Đây là một trong những nguyên tắc rất quan trọng trong tổ chức và hoạtđộng của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chấtcủa nhà nước xã hội chủ nghĩa: quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

Nội dung của nguyên tắc bảo đảm quyền lực nhân dân trong tố chức và hoạtđộng của bộ máy nhà nước thể hiện trên ba phương diện cơ bản là:

Thứ nhất, phải bảo đảm cho nhân dân tham gia đông đảo và tích cực vào việc

tổ chức lập ra bộ máy nhà nước Sự bảo đảm này thể hiện trước hết ở chỗ phải có

đủ cơ sở pháp lý và các biện pháp tổ chức phù hợp để nhân dân thế hiện ý chí củamình, phát huy quyền làm chủ, bầu ra các cơ quan đại diện của mình và thông qua

hệ thống cơ quan đại diện để lập ra các hệ thống cơ quan khác Nói cách khác,quyền lực nhà nước phải xuất phát từ nhân dân, thể hiện ý chí của nhân dân vàthuộc về nhân dân

Thứ hai, phải bảo đảm cho nhân dân tham gia đông đảo vào việc quản lý cáccông việc nhà nước và quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước Đây là vấn

đề có ý nghĩa rất quan trọng, bởi vì việc nhân dân tham gia đông đảo vào quản lýcác công việc nhà nước là cơ sở để nhân dân trực tiếp phát huy sức lực, trí tuệ vàvai trò làm chủ của mình trong quản lý xã hội và bảo vệ lợi ích của nhà nước, tậpthể và cá nhân V.I Lênin coi đây là phương pháp tuyệt diệu, phương pháp đặc thùchỉ có thể thực hiện được một cách đầy đủ trong chủ nghĩa xã hội

Trang 11

Thứ ba, phải có cơ chế bảo đảm cho nhân dân thực hiện việc kiểm tra, giámsát hoạt động của các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các tổ chức và cánhân khác được trao cho những quyền hạn nhất định để quản lý một số công việccủa nhà nước Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, đồng thời là một trong nhữngphương pháp bảo đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động đúng mục đích phục vụ vàbảo vệ lợi ích của nhân dân, chống những biểu hiện tiêu cực như quan liêu, háchdịch, cửa quyền, tham những, xa rời quần chúng của đội ngũ cán bộ nhà nước ỞViệt Nam, từ Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp năm 1946) đến Hiến pháp hiện hành(Hiến pháp năm 2013) đều khắng định nguyên lý: Tất cả quyền lực nhà nước thuộc

về nhân dân và quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, nhân viên nhànước trong việc tôn trọng nguyên tắc bảo đảm quyền lực nhân dân trong tổ chức vàhoạt động của bộ máy nhà nước cũng như những hình thức tham gia của nhân dânvào việc thiết lập bộ máy nhà nước, tham gia quyết định những vấn đề quan trọngcủa đất nước và kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và côngchức nhà nước Trong các Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam vấn đề tôntrọng quyền lực nhân dân, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làmchủ của nhân dân trong xây dựng và quản lý nhà nước luôn là một trong những nộidung quan trọng nhất Kể từ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba(khoá VIII) đã khắng định: “Tiếp tục phát huy tốt hơn nữa quyền làm chủ của nhândân qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiêp đê nhân dân tham giaxây dựng và bảo vệ Nhà nước, nhất là việc giám sát, kiểm tra của nhân dân đối vớihoạt động của cán bộ, công chức nhà nước ”

Để thực hiện tốt nguyên tắc này trong thực tế đời sống, Nhà nước ta cũngcần có những biện pháp để nhân dân có điều kiện nâng cao trình độ văn hóa, chínhtrị, pháp luật, quản lý, đồng thời nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhândân, cung cấp thông tin đầy đủ để dân biết, dân làm, dân kiểm tra các hoạt động củanhà nước

2 Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối vói nhà nước

Sự lãnh đạo của Đảng giữ vai trò quyết định trong việc xác định phươnghướng tổ chức và hoạt động của nhà nước xã hội chủ nghĩa Tăng cường vai tròlãnh đạo của Đảng đối với nhà nước còn nhằm giữ vững bản chất của Nhà nước ta,bảo đẫm mọi quyền lực thuộc về nhân dân, đưa công cuộc đổi mới đi đúng địnhhướng xã hội chủ nghĩa

Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước là nguyên tắcHiến định Điều 4 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam -Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dânlao động và của dân tộc Việt Nam, đại biếu trung thành lợi ích của giai cấp côngnhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng

Hồ Chỉ Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” Sựlãnh đạo của Đảng đối với nhà nước thể hiện ở các mặt chủ yếu là: Đảng đề rađường lối chính trị, những chủ trương và phương hướng lớn, và quyết định những

Trang 12

vấn đề quan trọng về tổ chức bộ máy, đồng thời chỉ đạo quá trình xây dựng phápluật, nhất là những đạo luật quan trọng nhằm thông qua nhà nước thể chế hoá cácchủ trương, chính sách của Đảng thành pháp luật, thành những quy định chungthống nhất trên quy mô toàn xã hội, thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhândân; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, hướng dẫn, chỉ đạo các cơ quan nhà nướchoạt động theo đúng đường lối của Đảng và đào tạo cán bộ tăng cường cho bộ máynhà nước.

Đảng lãnh đạo bằng vai trò tiên phong gương mẫu của đảng viên trong việcchấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, đặc biệt, thôngqua các tổ chức Đảng và các đảng viên làm việc trong bộ máy nhà nước Đảng lãnhđạo nhà nước nhưng không làm thay nhà nước Để có thể thực hiện tốt vai trò lãnhđạo đối với nhà nước, Đảng cũng phải thường xuyên củng cố, đổi mới nội dung vàphương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức Đảng vàđảng viên trong bộ máy nhà nước

3 Nguyên tắc tập trung dân chủ

Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc thể hiện sự kết họp hài hoà giữa

sự chỉ đạo tập trung thống nhất của các cơ quan nhà nước ở trung ương và các cơquan nhà nước cấp trên với việc mở rộng dân chủ, phát huy tính chủ động, sáng tạocủa các cơ quan nhà nước ở địa phương và các cơ quan nhà nước cấp dưới

Nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện trên ba mặt chủyếu là: Tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động, chế độ thông tin, báo cáo, kiểm tra và xử

lý các vấn đề trong quá trình tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước

Nguyên tắc tập trung dân chủ được quy định ở Điều 8 Hiến pháp năm 2013:

“Nhà nước được to chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, thực hiệnnguyên tắc tập trung dân chủ ”

về mặt tổ chức, nguyên tắc này thể hiện ở chế độ bầu cử, cơ cấu tổ chức bộmáy, chế độ công vụ, xác lập và giải quyết mối quan hệ giữa các bộ phận của bộmáy nhà nước nói chung, giữa trung ương với địa phương, giữa các bộ phận trongmỗi cơ quan nhà nước và trên bình diện chung nhất là giữa nhà nước với nhân dân.Nhân dân trực tiếp bầu ra hệ thống cơ quan đại diện, trao quyền cho các cơ quanđại diện bầu ra hoặc phê chuẩn các hệ thống cơ quan khác Ở Trung ương, Quốchội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, mọi cơ quan khác phải báo cáo, chịutrách nhiệm trước Quốc hội và phải chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Ở địaphương, Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, mọi cơquan khác ở địa phương đều chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và chịu sựgiám sát của Hội đồng nhân dân Đồng thời, các cơ quan địa phương phải chịu sựkiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên Vì vậy, nhiều cơ quan được tổchức và hoạt động theo hình thức “song trùng trực thuộc” (trực thuộc hai chiều)

về mặt hoạt động, các cơ quan nhà nước ở trung ương có quyền quyết địnhcác vấn đề cơ bản, quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc

Trang 13

phòng, đối ngoại trên phạm vi toàn quốc Các cơ quan nhà nước ở địa phươngquyết định những vấn đề thuộc phạm vi địa phương mình Quyết định của cơ quannhà nước cấp trên có ý nghĩa bắt buộc đối với cơ quan nhà nước cấp dưới Tuynhiên, trong phạm vi thẩm quyền luật định, các cơ quan nhà nước ở địa phương,cấp dưới có quyền tự quyết định và chịu trách nhiệm về những vấn đề cụ thể ở địaphương và cấp mình Các cơ quan nhà nước trung ương, cấp trên có quyền kiểmtra, giám sát hoạt động của các cơ quan địa phương, cấp dưới, thậm chí có thể đìnhchỉ, hủy bỏ quyết định của cơ quan cấp dưới cửa mình nếu những quyết định đó tráivới luật định, nhưng đồng thời, cơ quan trung ương, cấp trên cũng phải tạo điềukiện cho các cơ quan địa phương, cấp dưới phát huy quyền chủ động, sáng tạotrong giải quyết các vấn đề, góp phần vào việc thực hiện các nhiệm vụ chung củanhà nước.

về chế độ thông tin, trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hộichủ nghĩa cần chủ trọng xây dựng và thực hiện tốt chế độ thông tin, báo cáo, kiểmtra và xử lý các vấn đề kịp thời, đúng đắn, khách quan và khoa học Các chủtrương, quyết định của cấp trên phải được thông báo kịp thời cho cấp dưới, để cấpdưới nắm được đủng tinh thần chỉ đạo của cấp trên, từ đó chủ động giải quyết cácvấn đề đúng pháp luật và đáp ứng yêu cầu của cấp trên Các hoạt động của cấp dướiphải báo cáo kịp thời và đầy đủ cho cấp trên để cấp trên nắm được và có sự chỉ đạođối với cấp dưới, tạo ra sự nhịp nhàng, đồng bộ của cả bộ máy nhà nước

4 Nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc

Đoàn kết là truyền thống quý báu của nhân dân Việt Nam, là một trongnhững nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp dựng nước, giữ nước vàphát triển đất nước Đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, đại đoàn kết dân tộc làmột chính sách lớn và được khẳng định trong Điều 5 Hiến pháp năm 2013:

“1 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất củacác dân tộc cùng sinh sổng trên đất nước Việt Nam

2 Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển;nghiêm cẩm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc

3 Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữviết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóatốt đẹp của mình

4 Nhà nước thực hiện chỉnh sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để cácdân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước ”

Bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc với mục tiêu chung của dân tộc ta là:giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu xoá bỏ nghèonàn, lạc hậu, tiến tới dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.Bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc trở thành một trong những nguyên tắc cơ bảntrong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam

Trang 14

5 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động củacác cơ quan nhà nước phải được tiến hành theo đúng pháp luật, trên cơ sở của phápluật; mọi cán bộ và nhân viên nhà nước đều phải nghiêm chỉnh và triệt để tôn trọngpháp luật khi thực thi quyền hạn và nhiệm vụ của mình; tăng cường công tác kiểmtra, giám sát và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật

ở nước ta, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc hiến định.Điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theoHiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiển pháp và pháp luật ”

Đe thực hiện chủ trương củng cố và hoàn thiện bộ máy nhà nước, xây dựngNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đòi hỏi phải tăng cường hơn nữapháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Điều

đó đòi hỏi nhà nước phải đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng và hoàn chỉnh hệthống pháp luật, làm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhànước; tổ chức tốt công tác thực hiện pháp luật; đồng thời phải tăng cường công táckiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật

Ngoài năm nguyên tắc trên, trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

xã hội chủ nghĩa còn có những nguyên tắc khác như: nguyên tắc tổ chức lao độngkhoa học, nguyên tắc bảo đảm tính kinh tế, nguyên tắc công khai hoá Đồng thời,trong tổ chức và hoạt động của từng cơ quan cũng có những nguyên tắc đặc thù,phù họp với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan đó Do đó, chúng ta cần phải tiếptục nghiên cứu để áp dụng cho từng loại cơ quan trong những điều kiện và hoàncảnh cụ thể

Câu 5 Làm rõ mối quan hệ giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp trong thực thi quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay.

Nước ta đã ban hành và nhiều lần thay đổi các Hiến pháp như Hiến phápnăm 1946, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001

và Hiến pháp năm 2013 Qua những bản Hiến pháp thay đổi cùng với thực tiễn chothấy để thực hiện vai trò của nhà nước và kiểm soát được việc thực hiện quyền lựccủa nhà nước ta thì việc phân định rõ ba quyền quyền lập pháp, hành pháp và tưpháp đã giúp nhà nước tối ưu hóa được điều này

Trên thế giới cũng tổ chức các thiết chế nhà nước theo thuyết tam quyềnphân lập nước ta cũng đã dựa trên các tinh hoa của các thiết chế nhà nước trên thếgiới để có được sự phối hợp phân công nhịp nhàng giữa các cơ quan hành pháp lậppháp và tư pháp nhằm mục đích kiểm soát, tổ chức và phát huy được vai trò cũngnhư chức năng và quyền lực của nhà nước Để tìm hiểu rõ hơn về quyền lực nhànước và sự phối hợp giữa cơ quan hành pháp, lập pháp, tư pháp ở Việt Nam bài viếtsau đây sẽ phân tích chi tiết về vấn đề này

1 Lập pháp – Hành pháp – Tư pháp là gì?

Trang 15

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp quy định về quyền lực nhànước như sau:

”3 Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soátgiữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tưpháp.”

1.1 Lập pháp là gì?

Lập pháp là được hiểu theo quy định trên và trong Hiến pháp 2013 chính làmột trong ba chức năng chính của nhà nước, song hành cùng các quyền như quyềnhành pháp và quyền tư pháp để tổng hợp thành quyền lực của nhà nước Chúng ta

có thể hiểu và thấy mối quan hệ giữa quyền lực nhà nước với lập pháp chính là vừalàm Hiến pháp và vừa sửa đổi Hiến pháp, vừa làm luật và vừa sửa đổi luật Cũngtheo căn cứ Hiến pháp năm 2013 thì Quốc hội chính là cơ quan thực hiện quyền lậphiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng, cốt yếu của đất nước.Chính vì vậy, lập pháp được hiểu quyền thuộc về toàn thể nhân dân, được trao chohội nghị đại biểu nhân dân là Quốc hội

1.2 Hành pháp là gì?

Hành pháp là cùng một trong ba chức năng chính của nhà nước, là quyền lậppháp và quyền tư pháp hợp thành tạo nên quyền lực nhà nước Hành pháp chính làthi hành theo quy định tại hiến pháp, căn cứ theo hiến pháp để soạn thảo hoặc ban

bố các quy định của luật và thực hiện theo quy định của luật Đại diện cho hànhpháp là Chính phủ, người đứng đầu là Tổng thống/Chủ tịch nước Chính vì vậy,hành pháp được hiểu là việc thực hiện luật pháp đã được thiết lập thông qua cơquan Chính phủ

2 Quy định về tam quyền phân lập ở Việt Nam

Quy định tam quyền phân lập tại Việt Nam thể hiện về quyền lập pháp, hànhpháp và tư pháp được giao cho các cơ quan khác nhau trong nhà nước chứ khôngtập trung cho một cơ quan nào cụ thể mà sẽ phân ra cho các cơ quan khác nhau:quyền lập pháp giao cho quốc hội, quyền hành pháp giao cho chính phủ, quyền tưpháp giao cho tòa án Tam quyền phân lập được hiểu là nhằm mục đích dùng quyềnlực để thực hiện kiểm soát, cân bằng, khống chế và kiềm chế quyền lực giữa các cơquan nhà nước Quy định tam quyền phân lập được thể hiện cho ta thấy rõ và nógiúp ngăn ngừa được sự chuyên chế rất dễ phát sinh ở xã hội lạm quyền Như vậy,

Trang 16

có thể hiểu các quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp phải hoạt độngtheo nguyên tắc độc lập, có điều kiện kiểm tra và giám sát lẫn nhau, tạo ra sự cânbằng giữa các quyền để đảm bảo được quyền lực nhà nước

Theo quy định về mặt hình thức thì tại Việt Nam chính là đất nước có hệthống tam quyền phân lập, gồm có Quốc hội, có Chính phủ, có Tòa án và cơ quancông tố Hệ thống quyền lực theo quy định của pháp luật có cơ cấu tổ chức hoànthiện từ Trung ương đến các địa phương cấp huyện, quận cho tới cấp xã, phường

3 Sự phối hợp giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp tại Việt NamHiến pháp Việt Nam đã qua 5 lần thay đổi từ Hiến pháp năm 1946, 1959,

1980, 1992 sửa đổi bổ sung 2001, 2013 hiện hành thì trong đó ta thấy rõ về mốiquan hệ trong việc phân quyền theo chiều ngang đã ngày càng được hoàn thiện và

đi đến sự thống nhất từ cơ chế theo tập quyền sang cơ chế phân công, đến phối hợprồi tiếp theo là phân quyền, phân công, phối hợp và thực hiện kiểm soát quyền lực

Theo quy định tại Điều 2 Hiến pháp đã khẳng định cụ thể về nguyên tắc phâncông thực hiện quyền lực nhà nước Trong đó cũng quy định và ghi nhận chủ thểcủa mỗi nhánh quyền là nội dung cốt lõi của đạo luật cơ bản Với chức năng chínhđược ghi nhận thể hiện là quyền lực nhà nước, thì Hiến pháp chính là văn bản chínhthức nhân danh Nhân dân thể hiện chức năng của Nhà nước trong phạm vi nhấtđịnh cho các thiết chế và được thể hiện trong nhiều trường hợp bằng quy định cụthể bằng cách trao quyền

Với quy định như vậy thì theo mô hình phân quyền theo cách thức cứng rắnhoặc cách thức mềm dẻo và phân quyền, Hiến pháp hình thành nên một mối quan

hệ nhằm mục đích tương tác cũng như cơ chế kiểm soát quyền lực lẫn nhau để qua

đó làm rõ xác định mối quan hệ giữa ba nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp, tưpháp chủ yếu Để phân công quyền lực, cần xác định vị trí, chức năng, phạm vi,giới hạn hoạt động, cách thức phối hợp, tương tác giữa các cơ quan trong việc thựchiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp vốn đặc trưng cho chức năng cơ bảncủa Nhà nước

Câu 6 Đánh giá của anh/chị về việc phân công, phân cấp trong thực thi quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay.

Sự phân công thực thi quyền lực đã được thể hiện trong các Hiến pháp ViệtNam năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013, thông qua các quy địnhcủa Hiến pháp về vị trí chính trị - hiến pháp và các nhiệm vụ, quyền hạn của các cơquan nhà nước[1] Thuật ngữ phân quyền, phân cấp và nội dung, nguyên tắc phânquyền, phân cấp thực thi quyền lực nhà nước giữa trung ương và địa phương, giữacấp trên và cấp dưới lần đầu tiên được sử dụng chính thức trong Luật Tổ chứcchính quyền địa phương ở nước ta năm 2015 Bài viết tập trung phân tích, luận giải

tư tưởng phân công, phân cấp thực thi quyền lực nhà nước trong Hiến pháp năm2013; phân quyền, phân cấp trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015

Trang 17

và đưa ra một số giải pháp bảo đảm thực hiện phân công, phân quyền, phân cấp ởnước ta hiện nay.

1 Hiến pháp năm 2013 quy định về phân công, phân cấp giữa trung ương và địa phương

Quan điểm “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp,kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hànhpháp, tư pháp”[2] đã được ghi nhận trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam Thể chế hoá quan điểm này, Hiến pháp năm

2013 khẳng định cách thức tổ chức quyền lực và kiểm soát quyền lực nhà nước ởnước ta: “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soátgiữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tưpháp” (Điều 2) Quy định này đã được cụ thể hóa trước hết tại nhiều điều khoảncủa Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 về các nhiệm vụ,quyền hạn của các cơ quan nhà nước cao nhất của quyền lực nhà nước, của CQĐP

Hiến pháp năm 2013 không sử dụng thuật ngữ phân quyền, mà sử dụng

“phân công” thực thi quyền lực nhà nước giữa các cơ quan cao nhất của quyền lựcnhà nước được thể hiện trong những quy định về địa vị chính trị - hiến pháp củacác cơ quan nhà nước khi quy định: “Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập hiến,lập pháp”, Chính phủ là cơ quan “ thực hiện quyền hành pháp”, Tòa án nhân dân

“ thực hiện quyền tư pháp”, Viện kiểm sát nhân dân “ thực hiện quyền công tố vàkiểm sát hoạt động tư pháp” Những quy định này tạo nên cơ chế phân công thựcthi quyền lực nhà nước theo chiều ngang được thực hiện thông qua các quy định vềnhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sátnhân dân và các thiết chế (Chủ tịch nước, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhànước), nhằm tạo nên cơ chế kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thựchiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 đặtnền tảng cho cơ chế phân công, phân cấp giữa trung ương và địa phương, thông quaquy định: “CQĐP tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địaphương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra của

cơ quan nhà nước cấp trên” (Điều 112)

Với quy định này, CQĐP có trách nhiệm tự tổ chức thực hiện Hiến pháp vàpháp luật và đảm bảo việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương bằngviệc tạo ra các điều kiện, tiền đề về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, tổ chức -pháp lý, bằng khả năng của địa phương, theo phương thức, cách thức hợp pháp,hợp lý phù hợp với điều kiện, đặc điểm ở địa phương, đồng thời có quyền tự quyếtđịnh các vấn đề của địa phương do luật định và chịu trách nhiệm về các quyết địnhcủa mình trước nhân dân, cơ quan nhà nước cấp trên

Những vấn đề được quy định bởi luật là những vấn đề có tính ổn định, lâudài, những vấn đề của địa phương là những vấn đề có ý nghĩa địa phương, thuộcthẩm quyền, trách nhiệm giải quyết của CQĐP, khi CQĐP quyết định các vấn đề

Trang 18

của địa phương “chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên” Việc

cơ quan nhà nước cấp trên kiểm tra, giám sát đối với CQĐP nhằm đảm bảo sựthống nhất trong quản lý nhà nước, bảo đảm pháp chế, kỷ luật trong quản lý, bảođảm cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm minh, thống nhất Kiểm tra,giám sát chứ không chỉ đạo, điều hành hay can thiệp vào việc giải quyết các vấn đềthuộc thẩm quyền của địa phương, điều này nhằm tạo nên sự năng động, sáng tạo,

tự quyết, tự chịu trách nhiệm của CQĐP đối với nhân dân địa phương Quan điểmnày của Hiến pháp năm 2013 thể hiện quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền,quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật Những quy định của Hiến pháp năm

2013 là nền tảng pháp lý cho sự hình thành chế độ phân công và phân cấp ở nước

ta, đồng thời dần tạo nên cơ chế tự quản, tự chịu trách nhiệm của CQĐP

Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 còn quy định nguyên tắc xác định nhiệm vụ,quyền hạn của CQĐP phải dựa “ trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơquan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp CQĐP” (khoản 2 Điều112) Từ quy định này có thể suy ra rằng: những vấn đề gì đã thuộc nhiệm vụ,quyền hạn của cơ quan nhà nước ở trung ương sẽ không thuộc nhiệm vụ, quyền hạncủa CQĐP, những gì thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp này sẽ khôngthuộc nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp khác Quy định của Hiến phápnăm 2013 thể hiện rất rõ quan điểm phân định thẩm quyền theo chiều dọc giữatrung ương và địa phương, giữa CQĐP các cấp Việc phân định thẩm quyền đượcxác định trong các đạo luật nhằm bảo đảm tính ổn định của hoạt động nhà nước,hoạt động của các cấp chính quyền, bảo đảm cho tính năng động, sáng tạo và tráchnhiệm của CQĐP

Bên cạnh cơ chế phân định thẩm quyền, Hiến pháp năm 2013 đặt cơ sở nềntảng hiến định cho việc áp dụng cơ chế ủy quyền trong hành chính: “Trong trườnghợp cần thiết, CQĐP được giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nướccấp trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó” (khoản 3 Điều 112).Thực tiễn quản lý nhà nước có những vấn đề phát sinh ở địa phương, có ý nghĩaquốc gia, nhưng không thuộc thẩm quyền giải quyết của CQĐP mà thuộc nhiệm vụ,quyền hạn của cơ quan nhà nước cấp trên, để bảo đảm việc giải quyết các công việcđược thực hiện nhanh chóng, kịp thời, phù hợp với điều kiện của địa phương thì cơquan nhà nước cấp trên có thể giao cho CQĐP thực hiện Chủ thể giao quyền có thể

là cơ quan nhà nước ở trung ương, hay cơ quan thuộc chính quyền cấp trên của cơquan được giao nhiệm vụ Bên cạnh việc giao cho CQĐP thực hiện nhiệm vụ củamình, cơ quan nhà nước cấp trên có trách nhiệm phải bảo đảm đầy đủ điều kiện đểCQĐP thực hiện nhiệm vụ đó Các điều kiện có thể là nguồn lực tài chính, nguồnlực con người, các phương tiện máy móc, kỹ thuật, hay hỗ trợ các chuyên gia v.v Đây là những điều kiện tiên quyết để cơ quan được giao quyền thực hiện nhiệm vụcủa cơ quan nhà nước cấp trên - cơ quan giao quyền

Tóm lại, những quy định của Hiến pháp năm 2013 về địa vị chính trị - hiếnđịnh của các cơ quan tối cao của quyền lực nhà nước và phương thức phân định

Trang 19

nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và CQĐP, giữaCQĐP các cấp là biểu hiện của sự phân công thực thi quyền lực nhà nước theochiều ngang, chiều dọc giữa trung ương và CQĐP nhằm phân công chức năng,phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước một cách khoa học, rành mạch,nâng cao tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trongviệc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình đã được xác lập bằng luật Thực chấtđây là sự phân công lao động một cách khoa học nhằm hạn chế sự trùng lắp vềnhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan nhà nước Đồng thời, đây cũng là cơ sở đểhình thành, xác lập mối quan hệ trách nhiệm giữa trung ương và địa phương, giữaCQĐP các cấp, nhằm loại trừ những tồn tại của cơ chế tập trung quan, liêu bao cấpvốn đã hình thành, tồn tại rất lâu trong quản lý nhà nước ở nước ta, đáp ứng yêucầu của kinh tế thị trường, hội nhập, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân.

2 Phân quyền và phân cấp giữa trung ương và địa phương theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015

Trên cơ sở tinh thần, tư tưởng của Hiến pháp năm 2013 về phân công, phâncấp giữa trung ương và địa phương, Luật Tổ chức CQĐP năm 2015 lần đầu tiên đãchính thức sử dụng thuật ngữ phân quyền, phân cấp và phân biệt giữa phân quyền

và phân cấp - một hiện tượng gần gũi với phân quyền, nhưng khác nhau về bảnchất, coi phân quyền và phân cấp là hình thức để “phân định thẩm quyền giữa các

cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp CQĐP” Điều 12Luật này quy định: “Việc phân quyền cho mỗi cấp CQĐP phải được quy định trongcác luật” Như vậy, luật là hình thức pháp lý, phương tiện, công cụ để phân quyền.Phân quyền thể hiện mối quan hệ giữa quyền lực chung quốc gia với CQĐP - đạidiện cho một cộng đồng lãnh thổ địa phương, hay mối quan hệ giữa cộng đồng lãnhthổ quốc gia với cộng đồng lãnh thổ ở các đơn vị hành chính thuộc quốc gia, giữatoàn thể nhân dân và nhân dân ở các đơn vị hành chính Quan hệ đó được xác lậpbằng luật do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất - Quốc hội đại diện cho ý chí,nguyện vọng của nhân dân cả nước ban hành thể hiện quyền lực nhân dân, chủquyền nhân dân trong mối tương quan với quyền lực của các cộng đồng lãnh thổđịa phương Phân quyền là cơ sở hình thành chế độ tự quản địa phương, đồng thờinhằm nâng cao trách nhiệm của CQĐP với nhân dân địa phương về những vấn đềđược phân quyền

Trong chế độ dân chủ và pháp quyền, CQĐP có những quyền được phânquyền độc lập với chính quyền trung ương Vì vậy, đối với các nhiệm vụ, quyềnhạn được phân quyền, CQĐP tự chủ, tự quản, tự chịu trách nhiệm trong việc thựchiện, còn cơ quan nhà nước cấp trên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình

có trách nhiệm kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong việc thực hiện cácnhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền cho các cấp CQĐP Kiểm tra, giám sát tínhhợp hiến, hợp pháp nhằm bảo đảm tính pháp quyền trong hoạt động của CQĐP, bảođảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý - một biểu hiện, đòi hỏi của nhà nước pháp

Ngày đăng: 10/12/2021, 16:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w