nắm rõ, đầy đủ các quy định, quy chế; chưa theo dõi sát lịch học của lớp để hướng dẫn và kiểm tra việc lên lớp, học tập của SV; công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên chưa k
Trang 1BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP KHOA
Nâng cao chất lượng công tác cố vấn học tập tại Phân hiệu Thành phố Hồ Chí Minh
Mã số:ĐTCK.2021 03
Chủ nhiệm đề tài: ThS Bùi Thị Bình
Hà Nội, tháng 7 năm 2021
Trang 2BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP KHOA
Nâng cao chất lượng công tác cố vấn học tập tại Phân hiệu Thành phố Hồ Chí Minh
Mã số:ĐTCK.2021 03
Chủ nhiệm đề tài: ThS Bùi Thị Bình Thành viên đề tài: ThS Phạm Thị Hằng
Hà Nội, tháng 7 năm 2021
Trang 3- Lãnh đạo Phân hiệu và lãnh đạo các đơn vị trong Phân hiệu đã ủng hộ, tạo mọi điều kiện cần thiết, cung cấp các số liệu thứ cấp để giúp nhóm nghiên cứu có được dữ liệu cần thiết phục vụ cho việc xây dựng báo cáo;
- Các giảng viên, viên chức của Phân hiệu chia sẻ các quan điểm cá nhân
và đóng góp ý kiến cho quá trình hoàn thành báo cáo;
- Các em sinh viên khóa 2017-2021, 2018-2022, 2019-2023, 2020-2024
đã tham gia trả lời phỏng vấn phiếu, phỏng vấn sâu để nhóm nghiên cứu có đủ
dữ liệu thực hiện đề tài;
- Sự tận tâm, nhiệt huyết của các thành viên nhóm nghiên cứu trong suốt quá trình triển khai đề tài
Đây là công trình đầu tay của nhóm nghiên cứu nên chắc chắn có nhiều sai sót, nhóm nghiên cứu hy vọng tiếp tục nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, bạn bè đồng nghiệp để nhóm có thể hoàn thiện bản báo cáo này ở mức độ cao nhất
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4Phòng Quản lý đào tạo và Công
tác sinh viên Phòng QLĐT&CTSV
Trang 5DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1 Danh sách các lớp và phân bố CVHT 41 Biểu đồ 2.2 Cơ cấu theo độ tuổi của đội ngũ CVHT 42
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu theo thâm niên làm công tác CVHT của đội
Bảng 2.8 Đánh giá của SV về kỹ năng của Cố vấn học tập 58
Bảng 2.9 Ý kiến của SV về thái độ của CVHT trong thực hiện
Bảng 2.10 Tổng hợp số lượng xếp loại học lực SV ngành Luật,
Quản lý nhà nước, Quản trị văn phòng 61
Bảng 2.11 Tổng hợp số lượng xếp loại điểm rèn luyện SV ngành
Quản lý nhà nước 64 Bảng 2.12 Đánh giá hiệu quả công tác CVHT 66 Biểu đồ 2.13 Mức độ đáp ứng nhu cầu tư vấn của SV 67 Biểu đồ 2.14 Những khó khăn, hạn chế của công tác CVHT 70 Bảng 2.15 Quy trình công tác CVHT 97 Bảng 2.16 Tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của
Trang 6MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 13
4 Đối tượng, phạm vi, khách thể nghiên cứu 14
5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng 14
6 Kết cấu báo cáo nghiên cứu 15
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 16
1.1 LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC16 1.1.1 Một số khái niệm về công tác cố vấn học tập ở trường đại học 16
1.1.2 Mục đích, vai trò của công tác cố vấn học tập 21
1.1.3 Nội dung của công tác cố vấn học tập 23
1.2 CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP 26
1.2.1 Khái niệm chất lượng công tác cố vấn học tập ở trường đại học 26
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng công tác cố vấn học tập 28
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác cố vấn học tập 29
1.3.1 Nhóm các yếu tố khách quan 30
1.3.2 Nhóm các yếu tố chủ quan 31
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP TẠI PHÂN HIỆU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 40
2.1 KHÁI QUÁT VỀ PHÂN HIỆU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 40
2.1.1 Sơ lược quá trình phát triển của Phân hiệu 40
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Phân hiệu 41
2.1.3 Tổ chức hoạt động đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại Phân hiệu 41
2.2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP TẠI PHÂN HIỆU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 43
2.2.1 Đánh giá chất lượng đầu vào 43
2.2.2 Đánh giá chất lượng quá trình thực hiện hoạt động cố vấn học tập 50
2.2.3 Đánh giá chất lượng đầu ra 64
2.3 NHẬN XÉT VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP TẠI PHÂN HIỆU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 72
Trang 72.3.1 Kết quả đạt được 72
2.3.2 Hạn chế 73
2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế 75
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 77
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP TẠI PHÂN HIỆU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 79
3.1 Cơ sở, nguyên tắc đề xuất giải pháp 79
3.1.1 Cơ sở lý luận về công tác cố vấn học tập 79
3.1.2 Cơ sở pháp lý về thực hiện công tác cố vấn học tập 79
3.1.3 Cơ sở thực tiễn về thực trạng chất lượng công tác cố vấn học tập tại Phân hiệu 82
3.1.4 Các nguyên tắc đề xuất giải pháp 82
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng công tác cố vấn học tập của Phân hiệu 83
3.2.1 Hoàn thiện tổ chức công tác cố vấn học tập 84
3.2.2 Nâng cao nhận thức về công tác cố vấn học tập 88
3.2.3 Bồi dưỡng năng lực công tác cố vấn học tập và rèn luyện cho đội ngũ Cố vấn học tập 89
3.2.4 Xây dựng và hoàn thiện các điều kiện hỗ trợ cho công tác cố vấn học tập 98
3.2.5 Tăng cường hoạt động kiểm tra, đánh giá công tác cố vấn học tập 103
3.3 Một số kiến nghị, đề xuất 107
3.3.1 Đối với Phân hiệu 107
3.3.2 Đối với các phòng có chức năng quản lý đào tạo, công tác sinh viên 108
3.3.3 Đối với các khoa quản lý ngành đào tạo 108
3.3.4 Đối với Cố vấn học tập 109
3.3.5 Đối với Đoàn Thanh niên 109
3.3.6 Đối với Sinh viên 109
KẾT LUẬN 111
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC SỐ 1 114
PHỤ LỤC 2 121
PHỤ LỤC 3 125
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xuất phát từ tính chất đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong các trường đại học, cố vấn học tập có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình tổ chức hoạt động đào tạo Mỗi CVHT là một nhân tố then chốt trong mối quan hệ nhà trường - sinh viên, là một chuyên gia tư vấn về học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện, định hướng nghề nghiệp và cả tâm tư tình cảm cho SV trong suốt quá trình học tập tại Trường Nhận thức được vai trò to lớn và tích cực của công tác CVHT trong đảm bảo chất lượng đào tạo, trong những năm gần đây, các trường ĐH ngày càng quan tâm nhiều hơn đến công tác này Nhiều hội thảo, hội nghị nhằm triển khai nâng cao hiệu quả công tác CVHT đã được các trường
tổ chức Đến nay, CVHT đã được xác định là một chức danh trong hệ thống các chức danh của cơ sở đào tạo đại học theo hệ thống tín chỉ
Xuất phát từ vị trí, vai trò của Phân hiệu Thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là Phân hiệu), là đơn vị trực thuộc Trường Đại học Nội vụ Hà Nội (gọi tắt
là Nhà trường) Phân hiệu được giao nhiệm vụ tổ chức đào tạo bậc đại học vừa làm vừa học từ năm 2014 và tổ chức theo hình thức niên chế cho đến năm 2017
Từ năm 2017 cho đến nay Phân hiệu được giao nhiệm vụ tổ chức đào tạo bậc đại học, cao đẳng hệ chính quy, liên thông, vừa làm vừa học và tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ Tính đến nay có 04 khóa SV được đào tạo theo hình thức này Dù áp dụng hình thức đào tạo nào cũng không thể thiếu vai trò rất quan trọng của đội ngũ CVHT, giáo viên chủ nhiệm Phân hiệu tuân thủ tổ chức đào tạo, tổ chức công tác CVHT theo quy định chung của Nhà trường
Xuất phát từ thực trạng đội ngũ CVHT tại Phân hiệu Đội ngũ CVHT là các giảng viên, viên chức có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tâm huyết với nghề với nhiệm vụ được giao, tận tâm vì SV Các CVHT đã thực hiện tốt vai trò của mình trong việc tư vấn, hỗ trợ SV về tư vấn học tập, tư vấn định hướng nghề nghiệp và thích ứng với môi trường đại học Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác CVHT vẫn còn một số hạn chế như CVHT chưa
Trang 9nắm rõ, đầy đủ các quy định, quy chế; chưa theo dõi sát lịch học của lớp để hướng dẫn và kiểm tra việc lên lớp, học tập của SV; công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên chưa kịp thời, đầy đủ dẫn đến phát sinh một số hành
vi vi phạm nội quy, quy chế của Nhà trường; chưa tư vấn, hỗ trợ cho SV phương thức trang bị kiến thức, kỹ năng mềm cho nghề nghiệp…Chính vì vậy, để công tác CVHT tại Phân hiệu đạt được hiệu quả như mong muốn, đặc biệt là khi Phân hiệu có đủ nguồn lực triển khai đầy đủ các nội dung của đào tạo theo hình thức tín chỉ thì cần phải có các giải pháp hữu hiệu để khắc phục những hạn chế trên, góp phần nâng cao chất lượng công tác CVHT tại Phân hiệu
Từ những lý do trên nhóm tác giả lựa chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng
công tác cố vấn học tập tại Phân hiệu Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài
nghiên cứu Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ CVHT tại Phân hiệu
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Từ năm 2007, các trường ĐH bắt đầu áp dụng phương thức đào tạo theo
hệ thống tín chỉ Sự chuyển giao giữa hai phương thức đào tạo niên chế và đào tạo theo hệ thống tín chỉ đã tạo nên sự thiếu hụt về hệ thống lý luận và thực tiễn
áp dụng mô hình đào tạo theo hệ thống tín chỉ Và sự thiếu hụt này cũng đã ảnh hưởng không ít đến các trường trong quá trình đào tạo Trước tình hình đó, các nhà giáo dục đã tiến hành những nghiên cứu về đào tạo theo hệ thống tín chỉ để hoàn thiện hệ thống lý luận, đồng thời nghiên cứu những kinh nghiệm từ các
mô hình đào tạo trên thế giới, bao gồm cả những nghiên cứu về đội ngũ CVHT làm phong phú thêm thực tiễn, nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Đội ngũ CVHT có vai trò đặc biệt và có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả của phương thức đào tạo mới này Phương thức đào tạo này đòi hỏi SV phải tích cực, chủ động và tự chịu trách nhiệm, tự ý thức việc học của bản thân mình Đây cũng chính là điểm yếu của nhiều SV, đòi hỏi phải có người tư vấn, trợ giúp trong quá trình học tập và sinh hoạt cá nhân Để tư vấn, trợ giúp SV,
Trang 10một số trường ĐH bổ nhiệm chức danh CVHT thực hiện hai kiêm nhiệm hai nhiệm vụ: cố vấn học tập và chủ nhiệm lớp; một số trường bổ nhiệm hai chức danh: CVHT và giáo viên chủ nhiệm lớp cùng tham gia cố vấn, quản lý một lớp học Để thống nhất về cơ sở lý luận, khẳng định vai trò của CVHT trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ, một số trường ĐH đã tổ chức hội nghị, hội thảo bàn luận về vi ̣trí, vai trò, nhiệm vu ̣của CVHT cũng như những giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác CVHT trong nhà trường Những bài viết, bài tham luận về hoạt động của CVHT cũng ngày càng nhiều và được nghiên cứu theo chiều sâu theo thời gian
Trước năm 2010, chưa có nhiều đề tài nghiên cứu sâu sắc đối tượng này, bởi vì đến năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo mới ban hành Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ Do đó, giai đoạn trước năm 2010, CVHT vẫn là một khái niệm còn tương đối mới đối với đào tạo đại học tại Việt Nam
Từ năm 2010 cho đến nay, các trường đại học, cao đẳng đều áp dụng hình thức tổ chức đào tạo này nên có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, bài báo, hội thảo, hội nghị về công tác CVHT Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu, bài viết đăng trên tạp chí, kỷ yếu hội thảo sau:
Năm 2010, tác giả Trần Thi ̣Minh Đứ c, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tiến hành đề tài nghiên cứu đặc biệt cấp đại học Quốc gia
về CVHT trong thời gian 02 năm, từ 04/2010 đến 04/2012 là “Xây dựng mô
hình hoạt động của cố vấn học tập trong đào tạo tín chỉ ở trường Đại học Việt Nam” (Mã số QGĐT 10.14) Đề tài do Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn làm cơ quan đảm nhận thực hiện và phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu về Phụ nữ Đại học Quốc gia Hà Nội Đề tài nghiên cứu về thực trạng đào tạo theo hệ thống tín chỉ và vai trò của CVHT trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ, đồng thời dựa trên lý thuyết tiếp cận và các mô hình CVHT các trường đại học trên thế giới để xác định hoạt động của CVHT trong các trường đại học có
Trang 11đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại Việt Nam; từ đó đề xuất xây dựng mô hình CVHT [9]
Trong cuốn sách chuyên khảo "Cố vấn học tập trong các trường đại học"
do tác giả Trần Thị Minh Đức (chủ biên) có nhiều bài viết của chính tác giả và cộng sự phân tích thực trạng hoạt động CVHT trong các trường đại học và phân tích các kỹ năng cơ bản cần có như kỹ năng lắng nghe, đặt câu hỏi để thực hiện công việc hỗ trợ sinh viên trong trường đại học [8]
Hai công trình nghiên cứu của tác giả Trần Thị Minh Đức và các cộng
sự đã củng cố hệ thống lý luận về CVHT và công tác CVHT, cung cấp một số
kỹ năng cho hoạt động CVHT, kinh nghiệm tổ chức công tác CVHT của một
số trường Đây là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho các trường đại học tổ chức hoạt động CVHT của mình đạt được hiệu quả cao
Tháng 6/2011, Trường Đại học Cần Thơ đã tổ chức Hội nghi ̣“Nâng cao
vai trò Cố vấn học tập”, trong đó đề cập đến vai trò, chức năng, nhiệm vụ của
CVHT; những khó khăn và yêu cầu đối với đội ngũ CVHT và biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của CVHT [11] Hội thảo được tổ chức ngay sau khi các trường tổ chức rộng rãi hình thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ Các bài tham luận đã giúp các trường đại học xác định được những thuận lợi, khó khăn
và giải pháp khắc phục từ Trường Đại học Cần Thơ Từ đó nghiên cứu, lựa chọn vận dụng vào trường mình để nâng cao hiệu quả công tác CVHT
Trong bài viết nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Duy Mộng Hà, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa
ra phương thức phát triển công tác CVHT một cách hệ thống: từ việc xây dựng
cơ chế, chính sách phù hợp, phân công và bồi dưỡng năng lực CVHT đến việc theo dõi, giám sát và đánh giá định kỳ, thường xuyên để cải tiến liên tục cũng như chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau Chính vì thế, việc xây dựng bộ công cụ để đánh giá hiệu quả công tác CVHT là vô cùng cần thiết [12] Tuy nhiên, trong bài viết của mình, tác giả mới chỉ dừng là ở mức độ đề cập đến cần thiết phải
Trang 12xây dựng bộ công cụ để đánh giá, chưa đưa ra bộ công cụ đánh giá cụ thể để áp dụng cho hoạt động đánh giá công tác CVHT của Trường
Tác giả Võ Thị Ngọc Lan, Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Thành phố
Hồ Chí Minh, trong một bài viết của mình cũng đưa ra nhiều giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả công tác CVHT và rèn luyện đội ngũ CVHT tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh như ban hành quy định cố vấn học tập mới, thay đổi mô hình CVHT, bồi dưỡng năng lực công tác CVHT cho đội ngũ CVHT, thực hiện đánh giá công tác cố vấn của CVHT từng học kỳ, sử dụng phối hợp Email, Website và Forum của bộ phận CVHT, thực hiện ghi và theo dõi Sổ tay học tập và rèn luyện của SV [13] Bài viết của tác giả cung cấp nhiều nội dung liên quan đến công tác CVHT, trong đó có nội dung rất đáng quan tâm đó là về các mô hình CVHT Tác giả đã giới thiệu một số mô hình, phân tích ưu điểm, hạn chế của từng mô hình Đây là nguồn tham khảo cần thiết
để các trường vận dụng tổ chức mô hình CVHT phù hợp với đặc thù của mình
Tác giả Lưu Thị Thúy (2013), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn Thành phố Hồ Chí Minh, trong luận văn thạc sĩ "Thực trạng quản lý đội
ngũ cố vấn học tập tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh" của mình đã phân tích, đánh giá thực trạng quản lý đội ngũ
CVHT tại Trường như công tác quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng đội ngũ CVHT; công tác đào tạo, bồi dưỡng; chế độ, chính sách đối với đội ngũ CVHT để đưa
ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đội ngũ CVHT tại Trường [16] Công trình nghiên cứu của tác giả tiếp cận công tác CVHT dưới góc độ quản
lý Khẳng định đội ngũ nhân sự làm công tác CVHT là nhân tố quyết định tính hiệu quả của hoạt động này và chỉ ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CVHT Đây là nguồn thông tin tham khảo cho các trường trong công tác tổ chức đội ngũ CVHT
Như vậy, các công trình nghiên cứu này đã làm nổi rõ về tầm quan trọng của công tác CVHT trong quá trình tổ chức đào tạo theo hệ thống tín chỉ Đề cao vai trò của CVHT hỗ trợ SV trong tiến trình học tập, rèn luyện, tích lũy
Trang 13kiến thức, kỹ năng cho nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động
và khẳng định là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình dạy học và giáo dục SV Đồng thời làm rõ chức năng, nhiệm vụ, nội dung của công tác CVHT, chỉ ra những biện pháp cần thiết cho các trường phải làm như thế nào để tổ chức và triển khai hoạt động CVHT nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
Tuy nhiên bên cạnh khẳng định tính cần thiết của hoạt động CVHT, những công trình nghiên cứu này đều có phạm vi, đối tượng và mục tiêu nghiên cứu khác nhau và môi trường khác nhau, vì vậy khó có thể áp dụng vào Phân hiệu Thành phố Hồ Chí Minh Nhưng đậy sẽ là những tư liệu tham khảo quý giá mà nhóm tác giả tham khảo, học hỏi để thực hiện đề tài của mình
Đối với Phân hiệu, là một cơ sở giáo dục đại học còn non trẻ, hoạt động đào tạo bậc đại học chính quy mới tổ chức được bốn năm nên còn một số hạn chế trong công tác đào tạo theo hệ thống tín chỉ, công tác sinh viên, đặc biệt là công tác CVHT và cũng chưa có một đề tài nghiên cứu nào về công tác CVHT
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Nâng cao chất lượng công tác cố vấn học tập
tại Phân hiệu Thành phố Hồ Chí Minh” là hoàn toàn mới, mang tính lý luận
và thực tiễn cần thiết và cấp bách cho Phân hiệu
3 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài xác định mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ thực trạng công tác CVHT, phân tích những ưu điểm, khó khăn, hạn chế và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác CVHT, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác CVHT của Phân hiệu Đại học Nội vụ tại TP Hồ Chí Minh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về chất lượng công tác CVHT trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ;
- Nghiên cứu thực trạng chất lượng công tác CVHT tại Phân hiệu Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế để làm căn cứ đề xuất các giải pháp khắc phục;
Trang 14- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác CVHT nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo theo tín chỉ, từ đó sẽ đảm bảo quyền lợi của người học, hỗ trợ tốt hơn cho người học
4 Đối tượng, phạm vi, khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng công tác CVHT tại Phân hiệu Thành phố Hồ Chí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu công tác CVHT cho SV đại học chính quy của Phân hiệu Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 5 năm 2021
4.3 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài là đội ngũ CVHT, sinh viên, lãnh đạo
các khoa đào tạo, phòng chức năng của Phân hiệu Thành phố Hồ Chí Minh
5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
5.1 Cách tiếp cận
- Cách tiếp cận đi từ lý luận đến khảo sát, phân tích thực tiễn để xem xét, đánh giá việc thực hiện công tác CVHT để từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế
và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó
- Tiếp cận gián tiếp: Trên cơ sơ kết quả điều tra, khảo sát, đề tài tổng hợp, phân tích, lý giải nội dung, làm rõ từng vấn đề nghiên cứu, đề xuất các giải pháp, kiến nghị, hoàn chỉnh nội dung
5.2 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
Để có được các thông tin khoa học và thực tiễn phục vụ cho việc giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu,
kỹ thuật cụ thể như sau:
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Nhóm nghiên cứu đã thu thập và phân tích các văn bản chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước liên quan đến công tác CVHT trong các trường đại học; các công trình nghiên cứu
và các bài viết về công tác CVHT trong các trường đại học để làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Trang 15- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi được nhóm nghiên cứu sử dụng để tìm hiểu thực trạng công tác CVHT tại Phân hiệu Đề tài đã tiến hành phỏng vấn bảng hỏi với 168 SV, 12 CVHT các lớp bậc đại học hệ chính quy của Phân hiệu để đánh giá về thực trạng công tác CVHT
- Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình thực hiện đề tài nhóm nghiên cứu đã xin ý kiến của một số chuyên gia để lấy ý kiến đánh giá thực hiện một
số nhiệm vụ trong công tác CVHT, tham khảo kinh nghiệm và đề xuất của các nhà quản lý, các GV có kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu
- Một số phương pháp bổ trợ khác
- Kỹ thuật xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm MS.Ecxel để xây dựng bảng biểu, đồ thị, phần mềm SPSS phân tích xử lý số liệu điều tra
6 Kết cấu báo cáo nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung báo cáo được kết cấu thành ba chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về chất lượng công tác cố vấn học tập ở trường đại học
Chương 2 Thực trạng chất lượng công tác cố vấn học tập tại Phân hiệu Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác cố vấn học tập tại Phân hiệu Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 16Giáo dục đại học được coi là một trong những nền tảng giáo dục ở mức
độ cao, thường xuyên được thực hiện và diễn ra ở các cơ sở giáo dục đại học Quy định tại Điều 7 Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018, Cơ sở giáo dục đại học có tư cách pháp nhân, bao gồm đại học, trường đại học và cơ sở giáo dục đại học có tên gọi khác phù hợp với quy định của pháp luật Trong phạm
vi đề tài, chúng tôi nghiên cứu, tìm hiểu khái niệm về trường đại học
Trong Từ điển Văn hóa giáo dục Việt Nam, tác giả Vũ Ngọc Khánh gọi
cơ sở giáo dục đại học là "Nhà trường" và tác giả cho rằng "Nhà trường nói
chung là cơ sở tiến hành các hoạt động giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân Nhà trường được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước với các loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục Nhà trường chịu sự quản lý của Nhà nước, của các cơ quan quản
lý giáo dục theo sự phân công, phân cấp của Chính phủ Nhà trường được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của cấp có thẩm quyền và theo điều lệ nhà trường, trong đó xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của nhà trường, quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội" [10]
Tác giả Trần Văn Chương, trong luận án tiến sĩ của mình đã đưa ra khái
niệm "Trường đại học là một cơ sở giáo dục bậc cao tiếp theo bậc trung học
phổ thông dành cho học sinh có khả năng và nguyện vọng học tiếp lên trên Trường đại học cung cấp cho sinh viên học vấn cao và cấp các bằng cấp khoa
Trang 17học trong các lĩnh vực ngành nghề Các trường đại học có thể cung cấp các chương trình bậc đại học và sau đại học" [7]
Tại Điều 4 Luật Giáo dục đại học, trường đại học (gồm trường đại học,
học viện) là cơ sở giáo dục đại học đào tạo, nghiên cứu nhiều ngành, được cơ cấu tổ chức theo quy định của pháp luật
Như vậy, theo nhóm tác giả, Trường đại học là cơ sở giáo dục đại học
đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật; thực hiện hoạt động đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, sau đại học; hoạt động khoa học và công nghệ
Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, hiện nay các cơ sở giáo dục đại học (bao gồm trường đại học) được thành lập với hai loại hình cơ sở giáo dục đại học công lập do Nhà nước đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động và
là đại diện chủ sở hữu; cơ sở giáo dục đại học tư thục do nhà đầu tư trong nước hoặc nước ngoài đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động
Cơ sở giáo dục đại học được phân tầng nhằm phục vụ công tác quy hoạch mạng lưới phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển, nâng cao năng lực đào tạo và nghiên cứu khoa học của các cơ
sở giáo dục đại học, thực hiện quản lý nhà nước thành các tầng sau: i) cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu, ii) cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng, iii) cơ sở giáo dục đào tạo định hướng thực hành [6]
1.1.1.2 Khái niệm Cố vấn học tập ở trường đại học
CVHT được biết đến khi học chế tín chỉ ra đời vào năm 1872 tại Trường Đại học Havard, Hoa Kỳ [8] Ở nước ta, chức danh CVHT được xuất hiện khi
tổ chức hoạt động đào tạo đại học, cao đẳng theo hệ thống tín chỉ Cụm từ CVHT vừa là danh từ vừa là động từ, đối với nội dung này chúng tôi xét khái niệm CVHT dưới góc độ danh từ, có nghĩa là chỉ người làm công tác CVHT
Ở Mỹ, CVHT được hiểu là “Nhà tham vấn hoặc một thành viên làm việc
trong khoa của trường đại học, người được đào tạo để chuyên trợ giúp sinh
Trang 18viên trong việc cung cấp thông tin về đào tạo để sinh viên có thể thích ứng trong lớp học và đạt được mục tiêu học tập” [8]
Ở Úc, CVHT theo định nghĩa của Đại học Victoria là: “Cán bộ của
phòng hỗ trợ sinh viên, là những người cung cấp thông tin, tư vấn và giới thiệu, trợ giúp cho sinh viên trong các vấn đề trọng điểm và các quy trình ở bậc đại học có ảnh hưởng đến họ Theo yêu cầu của sinh viên, cố vấn học tập còn là người đại diện, lắng nghe các vấn đề của sinh viên liên quan đến quá trình học tập, những bất bình và phương pháp rèn luyện” [8]
Ở Pháp, Trường đại học Toulouse Le Mirail cho rằng: “Cố vấn học tập
là người đi theo và giúp đỡ cho sinh viên trong suốt năm đầu tiên ở giảng đường đại học Thông qua các buổi gặp mặt trực tiếp hoặc trao đổi gián tiếp với sinh viên, cố vấn học tập có vai trò tư vấn cho sinh viên trong việc xây dựng kế hoạch học tập Ngoài ra họ cũng giúp cho sinh viên về mặt xã hội một cách tốt nhất trong môi trường giáo dục đại học” [8]
Ở Việt Nam cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm CVHT
Theo Từ điển tiếng Việt của GS Hoàng Phê (chủ biên, 1998) thì “Cố vấn là
người thường xuyên được hỏi ý kiến để tham khảo công việc” Như vậy, cố vấn
chính là người định hướng, dẫn đường, tư vấn để người được hỏi nên theo đó
mà hành động
Theo tác giả Trần Văn Phúc – Nguyễn Kim Chuyên (2016), CVHT "Là
người tư vấn và hỗ trợ SV phát huy tối đa khả năng học tập, rèn luyện và nghiên cứu khoa học, lựa chọn học phần phù hợp để đáp ứng mục tiêu tốt nghiệp và khả năng tìm được việc làm thích hợp sau khi ra trường; theo dõi quá trình học tập, rèn luyện của SV nhằm giúp SV điều chỉnh kịp thời những hành động cho phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đào tạo" [14] Theo quan niệm này, CVHT vừa
là người tư vấn học tập cho SV, vừa là người quản lý SV từ khi sinh viên bước chân vào giảng đường đại học đến kết thúc chương trình đại học
Ngày 05 tháng 4 năm 2016, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư
số 10/2016/TT-BGDĐT ban hành Quy chế công tác sinh viên đối với chương
Trang 19trình đào tạo đại học hệ chính quy Theo Quy chế này, Điều 19 "Các đơn vị, cá
nhân phụ trách công tác sinh viên" đưa ra khoản 2 "Chủ nhiệm lớp sinh viên"
có nhiệm vụ hỗ trợ quản lý, hướng dẫn các hoạt động học tập và rèn luyện của
lớp sinh viên; Khoản 3 "Cố vấn học tập" có nhiệm vụ tư vấn, hướng dẫn sinh
viên thực hiện tốt quy chế, quy định về đào tạo [3] Do đó, theo quy định, để
quản lý lớp, hỗ trợ và thực hiện các dịch vụ SV có hai chức danh "Chủ nhiệm
lớp" và "Cố vấn học tập" Trong thực tế, một số trường quy định chức danh
"Chủ nhiệm lớp" có chức năng làm công tác quản lý lớp, là viên chức, giảng
viên của các khoa, đơn vị chức năng; chức danh "Cố vấn học tập" có chức năng
làm công tác CVHT cho SV, là giảng viên của các Khoa đào tạo, viện, trung
tâm Và cũng có nhiều trường quy định một chức danh "Cố vấn học tập" kiêm
nhiệm hai chức năng
Tóm lại, có nhiều cách hiểu khác nhau về CVHT, trên cơ sở tham khảo
các khái niệm trên và quy định hiện hành của Nhà nước, nhóm tác giả cho rằng
Cố vấn học tập là người thực hiện công tác tư vấn, hỗ trợ, theo dõi trong quá trình học tập, rèn luyện của sinh viên nhằm giúp đáp ứng mục tiêu đào tạo và khả năng tìm được việc làm sau khi ra trường; quản lý, hướng dẫn và chỉ đạo lớp được phân công phụ trách
Như vậy, CVHT là người kiêm nhiệm hai vai trò, vừa là cố vấn học tập, vừa là chủ nhiệm lớp, được quy định trong quá trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ Với vai trò cố vấn học tập, người làm công tác CVHT có nhiệm vụ tư vấn,
hỗ trợ SV tự nhận thức về mình, phát huy tối đa khả năng học tập, lựa chọn đăng ký học phần, xây dựng kế hoạch học tập phù hợp để đáp ứng mục tiêu tốt nghiệp, tìm việc làm thích hợp; theo dõi thành tích học tập của SV nhằm giúp
SV điều chỉnh kịp thời hoặc đưa ra một lựa chọn phù hợp trong quá trình học tập Với vai trò là chủ nhiệm lớp, người làm công tác CVHT có nhiệm vụ quản
lý, hướng dẫn lớp được phân công phụ trách trong tổ chức hoạt động học tập, rèn luyện; thực hiện chế độ hội họp, báo cáo Đồng thời cũng là cầu nối giữa
SV – Nhà trường – Cơ quan, tổ chức sử dụng nhân lực
Trang 201.1.1.3 Khái niệm công tác cố vấn học tập ở trường đại học
Đối với nội dung này nhóm tác giả xét cụm từ CVHT dưới góc độ động
từ, có nghĩa là chỉ công tác hoặc hoạt động CVHT Theo một số nghiên cứu của các học giả nước ngoài, công tác CVHT được xem là một trong những phương tiện hiệu quả giúp cho sự phát triển của SV về trí tuệ, nhân cách và xã hội Do đó, công tác CVHT là một tiến trình phát triển có tính hệ thống, dựa trên những thỏa thuận giữa SV và CVHT, cũng như dựa trên mối quan hệ SV -
CVHT Theo Crockett (trích theo Martin, 2004, tr.3) cho rằng: "Công tác cố
vấn học tập là một tiến trình trợ giúp sinh viên sáng rõ trong việc lựa chọn các mục tiêu nghề nghiệp, mục tiêu cuộc sống; đồng thời giúp sinh viên phát triển các kế hoạch học tập, nhằm thực hiện các mục tiêu đó" [15] Theo cách hiểu
này, việc dạy – học sẽ bao gồm cả công tác CVTH và nhắm tới tất cả các khía cạnh phát triển của một cá nhân, đó là thể chất, tinh thần và trí tuệ
Theo Thông tư số 10/2016/TT-BGDĐT, tại Điều 16 về "Hỗ trợ và dịch
vụ sinh viên" đưa ra khoản 1 "Tư vấn học tập", Điều 19 "Các đơn vị, cá nhân phụ trách công tác sinh viên" đưa ra khoản 3 "Cố vấn học tập" [1] Theo cách
dùng thuật ngữ trong hai Điều này, "Tư vấn học tập" là hoạt động và "Cố vấn
học tập" là chủ thể thực hiện hoạt động Thêm vào đó Khoản 3 Điều 19 sử dụng
cụm từ "Công tác cố vấn học tập" để diễn tả các hoạt động tư vấn học tập Như vậy có thể thấy "Tư vấn học tập" và "Công tác cố vấn học tập" là từ đồng nghĩa
Mặt khác, trong văn bản của nhiều trường đại học của Việt Nam về công tác cố
vấn học tập thường dùng cụm từ "Công tác cố vấn học tập" theo nghĩa tương đồng với "Hoạt động cố vấn học tập" phụ thuộc vào ngữ cảnh muốn chuyển tải
thông tin
Với sự phân tích ở trên, nhóm tác giả cho rằng công tác cố vấn học tập
là những công việc liên quan đến tư vấn học tập, rèn luyện và quản lý sinh viên nhằm trợ giúp sinh viên đạt được các mục tiêu học tập; nhà trường đạt được mục tiêu đào tạo
Trang 21Như vậy, công tác CVHT được hiểu là những công việc hay các hoạt động của CVHT như tư vấn học tập, tư vấn nghề nghiệp, tư vấn các vấn đề thích nghi với môi trường đại học, quản lý lớp, sinh viên và các hoạt động
hỗ trợ CVHT thực hiện nhiệm vụ nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra của SV và nhà trường
1.1.2 Mục đích, vai trò của công tác cố vấn học tập
và của cơ sở đào tạo
Thông qua CVHT, đã tạo thêm kênh thông tin để Nhà trường kịp thời phát hiện và giải quyết các tình huống phát sinh trong công tác sinh viên bởi vì CVHT là cầu nối giữa SV với Nhà trường, truyền tải tâm tư, nguyện vọng, đề xuất, kiến nghị của SV đến với ban lãnh đạo Nhà trường Đồng thời CVHT cũng là người truyền tải thông tin từ Nhà trường đến SV
Công tác CVHT giúp tăng cường việc phối hợp giữa Nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác sinh viên
1.1.2.2 Vai trò của công tác Cố vấn học tập ở trường đại học
Từ năm 2007 trở lại đây, giáo dục đại học Việt Nam đã có một số thay đổi mạnh mẽ để tiệm cận với sự phát triển giáo dục đại học của thế giới, trong
đó có việc chuyển đổi từ học chế niên chế sang hệ thống tín chỉ Đào tạo theo
hệ thống tín chỉ có nhiều ưu thế so với các phương thức đào tạo niên chế truyền thống Một trong những ưu thế nổi bật đó là người học được đặt vào ví trí trung tâm của quá trình đào tạo, người học được cá nhân hóa quá trình học tập của mình Và phương thức đào tạo này cũng đòi hỏi SV phải chủ động trong học tập, định hướng nghề nghiệp Tuy nhiên, trên thực tế, SV gặp không ít khó khăn trong việc định hướng, chọn lựa cách học, quy trình học tập, học gì, học thế
Trang 22nào, thời điểm ra trường phù hợp với năng lực của từng SV nhằm giúp sinh viên phát huy tối đa năng lực của bản thân và đạt kết quả học tập tốt nhất Để
tư vấn, hỗ trợ SV giải quyết các khó khăn đó, các trường đại học bổ nhiệm chức danh CVHT có trách nhiệm tư vấn, trợ giúp SV Như vậy có thể thấy công tác CVHT có vai trò rất quan trọng trong hoạt động đào tạo theo hệ thống tín chỉ,
có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công trong học tập và lựa chọn nghề nghiệp của SV Vai trò của CVHT được thể hiện qua các nội dung sau:
- Cố vấn học tập là người định hướng, tư vấn, hỗ trợ về học tập, rèn luyện và nghề nghiệp cho sinh viên
Với vai trò này, CVHT sẽ giúp cho SV nhận thức được tầm quan trọng của quy chế đào tạo, nhận thức chính xác các khái niệm của quy chế, hiểu được quy chế, chương trình đào tạo, phương pháp học tập, từ đó chọn lựa được chương trình kế hoạch học tập phù hợp với sức học, hoàn cảnh cá nhân và tự tìm ra biện pháp khắc phục các khó khăn xuất hiện khi mới từ gia đình vào môi trường xã hội và trường Đại học Thông qua hoạt động cố vấn cho các lớp SV, CVHT nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, tình cảm, năng lực cá nhân, hoàn cảnh gia đình, nguyện vọng của từng SV để từ đó có những đề xuất kịp thời với nhà trường về các biện pháp hỗ trợ cho SV cũng như thực hiện tốt công tác quản lý SV
Muốn làm tốt vai trò này, CVHT phải đóng vai trò là một nhà tâm lý Nghĩa là phải làm sao cho SV tin tưởng, mong muốn được chia sẻ bằng chính năng lực, uy tín của mỗi CVHT chứ không phải xem nhiệm vụ CVHT như một yêu cầu để làm cho xong nghĩa vụ Khi đã được SV tin tưởng thì CVHT sẽ dễ dàng hơn trong quá trình làm việc với SV, hiệu suất hoạt động cố vấn sẽ cao, biết cách hướng cho SV đi đúng con đường mà các em lựa chọn
CVHT là người được Nhà trường, Khoa ủy quyền quản lý toàn diện SV trong quá trình theo học tại trường Điều này yêu cầu người CVHT, một mặt vừa quản lý SV, mặt khác phải quan tâm tới từng cá nhân SV về mọi phương diện Do đó, CVHT cần phải trang bị những kỹ năng về lãnh đạo, tổ chức, quản
Trang 23lý,… Đối mặt với những vấn đề toàn cầu đã và đang đặt ra cho ngành giáo dục, CVHT cần phải chăm lo hình thành ở SV – thế hệ tương lai của đất nước những tình cảm, thái độ, hành vi, thói quen ứng xử hợp lý Do đó, CVHT cũng cần phải quan tâm đến sự phát triển của SV về các mặt giá trị thẩm mỹ, giáo dục đạo đức, hoạt động sinh hoạt ngoại khóa Đó là những yếu tố quan trọng giúp
SV hình thành các kỹ năng cần thiết cho bản thân sau khi ra trường Để phát huy tốt vai trò là người tư vấn, cố vấn thì CVHT cần có năng lực dự báo chính xác khả năng của mỗi sinh viên, biết khơi dậy tiềm năng của mỗi em trong việc lựa chọn học phần, lập kế hoạch học tập, điều chỉnh kịp thời SV trong quá trình học tập và rèn luyện giúp các em khắc phục khó khăn, giải đáp những thắc mắc liên quan đến học tập, quản lý SV giúp các em hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập, rèn luyện
- CVHT là cầu nối trung gian giữa Nhà trường và SV và SV với xã hội
Với vai trò này, CVHT là nhân vật trung gian, là cầu nối để thiết lập mối quan hệ hai chiều: Nhà trường – SV, SV – xã hội Một mặt, CVHT vừa đại diện cho nhà trường để quản lý, tư vấn học tập cho SV, vừa đại diện cho SV liên lạc với nhà trường Mặt khác CVHT còn là người làm cho mối quan hệ giữa SV với xã hội trở nên gắn bó hơn thông qua việc liên hệ thực tập, kiến tập cho SV, kết nối với các cơ sở tuyển dụng tìm việc làm thêm… CVHT là người đại diện, bảo vệ SV một cách chính đáng về quyền lợi cũng như nguyện vọng đúng đắn của các em với Nhà trường, đơn vị chức năng và với cộng đồng xã hội Để thể hiện là một nhà tư vấn, CVHT cần có hiểu biết sâu rộng, biết trau dồi tu dưỡng phẩm chất, nhân cách, biết tự hoàn thiện bản thân
Tóm lại, những công việc CVHT thực hiện sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
sự thành công trong học tập và lựa chọn nghề nghiệp của SV, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo theo hệ thống tín chỉ của mỗi trường đại học
1.1.3 Nội dung của công tác cố vấn học tập
Nội dung của công tác CVHT cũng chính là những hoạt động hay công việc CVHT phải thực hiện Hiện nay, căn cứ vào điều kiện của mình, các trường
Trang 24quy định về chức năng, nhiệm vụ CVHT cho phù hợp nhằm đạt được mục tiêu đào tạo Về cơ bản, CVHT phải thực hiện các công việc cơ bản sau:
1.1.3.1 Tư vấn học tập cho sinh viên
- Tư vấn, trợ giúp sinh viên trong lĩnh vực học tập:
Tư vấn học tập là một vấn đề phức tạp, bao gồm nhiều nội dung với các dạng hoạt động khác nhau, đó là:
+ Tư vấn cho SV về xây dựng kế hoạch: Xây dựng kế hoạch học tập là xây dựng một thời gian biểu cụ thể, hợp lý để đạt được một kết quả học tập hiệu quả trong một khoảng thời gian nhất định Mỗi SV, tùy thuộc vào nhu cầu, điều kiện của bản thân lập kế hoạch học tập riêng Kế hoạch đó có thể được thay đổi trong năm học, học kỳ, nhưng quan trọng là phải tuân thủ theo kế hoạch đã được phê duyệt Việc xây dựng kế hoạch học tập hợp lý sẽ giúp SV chủ động gian của bản thân hiệu quả, phát huy tính tư duy sáng tạo và chủ động trong mọi tình thế Bằng kinh nghiệm, kiến thức của CVHT, tư vấn cho SV xây dựng kế hoạch học tập hợp lý, đạt được mục tiêu học tập của SV CVHT tư vấn cho SV cách thức tìm hiểu chương trình đào tạo, các môn học sẽ đăng ký, lựa chọn giảng viên, đăng ký bổ sung, rút bớt học phần, đăng ký học cải thiện
Trong quá trình thực hiện kế hoạch học tập, CVHT tư vấn cho SV cách cập nhật các môn học đã đăng ký và thời gian lên lớp, phân bổ thời gian cho từng hoạt động như học tập, phong trào, tham gia các hoạt động xã hội, đánh giá kết quả đạt được từng môn học, bổ sung, điều chỉnh kế hoạch và các nội dung khác theo quy định của Nhà trường
+ Tư vấn cho SV về phương pháp học tập: CVHT tư vấn cho SV tìm hiểu chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ, xác định mục tiêu học tập, thay đổi phương pháp học tập truyền thống, hình thành phương pháp học tập tích cực, phù hợp với hoạt động theo học chế tín chỉ như tham gia xây dựng bài, làm việc nhóm, tìm kiếm tài liệu; hình thành các kỹ năng như thuyết trình trước đám đông, kỹ năng làm việc nhóm
Trang 25+ Tư vấn về phương pháp nghiên cứu khoa học: Song song với hoạt động học tập là hoạt động nghiên cứu khoa học của SV Nghiên cứu khoa học của
SV có ý nghĩa vô cùng to lớn, giúp SV tiếp nhận với cách học mới và tập làm quen với hoạt động nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, đây là một hoạt động khó khăn, đòi hỏi sự nỗ lực, sự nghiêm túc và chuyên cần của SV Nhiều SV có đam mê trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, tuy nhiên chưa đủ kiến thức cũng như các kỹ năng để tiến hành làm một bài nghiên cứu Do đó, SV rất cần được CVHT hướng dẫn cách thức, quy trình cũng như kỹ năng làm nghiên cứu khoa học CVHT sẽ là người tư vấn, định hướng cho các em cách thức tiến hành một công trình nghiên cứu khoa học như lựa chọn vấn đề, lựa chọn giảng viên hướng dẫn, các bước tiến hành một đề tài, tra cứu tài liệu
- Tư vấn hướng nghiệp và việc làm cho SV:
Định hướng nghề nghiệp cho SV là một quá trình liên tục, kéo dài từ khi
SV năm đầu cho đến năm cuối cùng của bậc đại học CVHT tư vấn cho SV có định hướng nghề nghiệp đúng đắn, phù hợp với bản thân Giúp SV hiểu rõ đặc điểm của ngành, nghề và trình độ được đào tạo, các vấn đề chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến ngành nghề, phương pháp học tập phù hợp với đặc điểm của ngành nghề, cơ hội tìm việc làm sau khi tốt nghiệp, bổ sung kiến thức và kỹ năng cần thiết để hòa nhập với môi trường làm việc sau khi tốt nghiệp, các kênh thông tin về việc làm
- Tư vấn về thích nghi với môi trường đại học:
+ CVHT tư vấn cho SV nắm được các quy định của Bộ GD&ĐT, của Nhà trường về nghĩa vụ, trách nhiệm của SV; chế độ, chính sách, ưu đãi của Nhà nước, của Nhà trường
+ Tư vấn trong quá trình rèn luyện: Cùng với hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của SV, các hoạt động mang tính rèn luyện SV không thể thiếu trong môi trường giáo dục đại học, là một trong những mảng hoạt động giáo dục quan trọng ở Nhà trường giúp giáo dục sinh viên phát triển toàn diện Môi trường đại học tạo điều kiện thuận lợi cho SV trong quá trình rèn luyện Bởi vì
Trang 26đồng hành cùng SV, CVHT tư vấn cho SV hiểu rõ mục tiêu của các hoạt động rèn luyện trong nhà trường, giúp SV có ý thức, rèn luyện tác phong, đạo đức, lòng say mê trong việc tham gia các hoạt động chính trị - xã hội, văn hóa, văn nghệ, thể thao, các hoạt động hướng đến lợi ích cộng đồng, phòng chống tệ nạn
xã hội,… giúp sinh viên ý thức tham gia vì mục đích chính đáng chứ không vì mục đích là để được điểm số cao khi xét điểm rèn luyện ở cuối học kỳ
+ Tư vấn cho SV giải quyết, xử lý các vấn đề trong đời sống cá nhân, sinh hoạt tập thể
1.1.3.2 Quản lý sinh viên
Với nội dung quản lý sinh viên, CVHT thực hiện các công việc sau:
- CVHT theo dõi tình hình, kết quả học tập của sinh viên trong từng học
kỳ, cảnh báo SV khi kết quả học tập giảm sút
- CVHT đánh giá điểm rèn luyện cho SV, lớp mình phụ trách trong từng học kỳ chính theo đúng quy định
- Tham gia, phối hợp với các đơn vị chức năng trong việc xử lý học vụ, thực hiện chế độ, chính sách cho sinh viên
- Thực hiện chế độ hội họp, báo cáo theo quy định
- Thực hiện nhiệm vụ khác khi được Nhà trường, Khoa giao
1.2 CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP
1.2.1 Khái niệm chất lượng công tác cố vấn học tập ở trường đại học
Hiện nay thuật ngữ “chất lượng“ được sử dụng phổ biến trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và hoạt động của con người Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau nên có nhiều quan điểm về chất lượng khác nhau như: Chất lượng là sự hoàn hảo, chất lượng là mức tốt, sự xuất sắc; chất lượng
là sự phù hợp với nhu cầu; chất lượng là sự phù hợp với các yêu cầu hay đặc tính nhất định; chất lượng là sự sự thoả mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất
Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông, chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, một sự việc
Trang 27Theo Từ điển Oxford Pocket Dictionary, chất lượng là mức hoàn thiện,
là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản
Theo Tiêu chuẩn ISO 9000:2005 định nghĩa chất lượng là: "Mức độ đáp
ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có"
Như vậy, chất lượng là một khái niệm đa nghĩa, có tính lịch sử, hàm chứa nhiều yếu tố định lượng và định tính, dẫn đến quan niệm đo lường và đánh giá mang tính tương đối Dưới các góc độ quan niệm khác nhau, mục đích khác nhau thì việc đánh giá chất lượng cũng khác nhau Trong lĩnh vực giáo dục, thuật ngữ chất lượng thường được sử dụng khi xem xét, đánh giá hoặc so sánh kết quả với mục tiêu đã xác định được xác định dưới hai góc độ chính là: chất lượng trong hệ thống giáo dục và chất lượng sản phẩm giáo dục
Trong giáo dục đại học, khái niệm về chất lượng cũng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào góc độ tiếp cận, quan điểm của các nhà khoa học Ví dụ, theo quan điểm của giới học thuật, chất lượng là sự vượt trội,
có nghĩa dựa trên đánh giá cơ sở giáo dục đạt được mục tiêu một cách xuất sắc, nổi bật; theo quan điểm của người đánh giá ngoài, chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu, có nghĩa đánh giá cơ sở giáo dục đạt được các tiêu chí đã đề ra; theo quan điểm của sinh viên, chất lượng là giá trị gia tăng, có nghĩa là giá trị được thêm vào SV trong quá trình giáo dục đào tạo; theo quan điểm của người sử dụng lao động và sinh viên, chất lượng là sự hài lòng của khách hàng, có nghĩa hoạt động giáo dục đào tạo đáp ứng được kỳ vọng của người mua, là sự hài lòng của khách hàng
Từ phân tích ở trên, đối với công tác CVHT, chất lượng phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào, quá trình thực hiện nhiệm vụ của CVHT và được thể hiện
ở mức độ đạt được mục tiêu đã đề ra và được thể hiện ở kết quả học tập, rèn luyện, hình thành nhân cách, kỹ năng sống của SV sau quá trình được hỗ trợ,
tư vấn Như vậy, chất lượng công tác CVHT là những giá trị thể hiện sự đáp
Trang 28ứng nhu cầu, mục tiêu của hoạt động cố vấn học tập, bao gồm tư vấn, hỗ trợ, quản lý sinh viên
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng công tác cố vấn học tập
Quan niệm chất lượng tương đối nhấn mạnh đến khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng Để đánh giá chất lượng cần có chuẩn chất lượng Để có thể lượng hóa chất lượng công tác CVHT cần có công cụ nhận diện, bao gồm các chỉ số gắn với dữ liệu định lượng và định tính, gọi là các tiêu chí nhằm lượng hóa các tiêu chuẩn liên quan đến nội dung công tác CVHT Tiêu chí là tập các yêu cầu và quy trình được sử dụng để tham chiếu lại với các bằng chứng đánh giá khi được so sánh Trong khuôn khổ đề tài, nhóm tác giả đưa ra một số các tiêu chí cơ bản sau:
1.2.2.1 Tiêu chí đánh giá chất lượng đầu vào
- Mục tiêu và nhiệm vụ:
Được xác định rõ ràng, cụ thể, được cấp có thẩm quyền phê duyệt và công bố công khai Theo định hướng đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, mục tiêu và nhiệm vụ thường xuyên được điều chỉnh theo hướng nâng cao chất lượng đào tạo, phù hợp với yêu cầu thực tế sử dụng lao động của thị trường việc làm
- Căn cứ pháp lý thực hiện công tác CVHT:
Hệ thống các quy định, hướng dẫn về công tác CVHT: Trường đại học
có hệ thống các văn bản quy định về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và được rà soát, đánh giá, bổ sung, điều chỉnh
- Đội ngũ CVHT:
Mô hình công tác CVHT được tổ chức hợp lý; đội ngũ CVHT được bố trí phù hợp về số lượng, cơ cấu và đạt chuẩn theo quy định đáp ứng yêu cầu giảng dạy và CVHT Có kế hoạch, chính sách khuyến khích đội ngũ CVHT học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng
- Cở sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ công tác CVHT:
Trang 29Trường đại học có phòng chuyên biệt phục vụ cho hoạt động tư vấn, các loại phương tiện hỗ trợ liên lạc, các trang thiết bị khác hỗ trợ cho công tác CVHT
1.2.2.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng quá trình thực hiện hoạt động
cố vấn học tập
- Có kế hoạch công tác CVHT, giám sát chặt chẽ, bảo đảm thực hiện kế hoạch đúng tiến độ, có hiệu quả
- CVHT thực hiện nhiệm vụ đúng quy định, yêu cầu đã được phê duyệt
- Có hệ thống sổ sách, biểu mẫu giúp thuận lợi thực hiện nhiệm vụ CVHT trong quản lý sinh viên, quản lý lớp, chế độ báo cáo
1.2.2.3 Tiêu chí đánh giá chất lượng đầu ra
- Năng lực của SV:
Mục tiêu của công tác CVHT là trang bị cho SV kiến thức, kỹ năng để
tổ chức quá trình học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức phù hợp với năng lực, điều kiện, sở trường, năng khiếu SV đáp ứng được mục tiêu thì công tác CVHT
có hiệu quả Nghĩa là sau khi được tư vấn, hỗ trợ, SV biết vận dụng vào quá trình học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức và được phản ánh thông qua kết quả
và rèn luyện của SV, được đánh giá bằng điểm số Khung điểm để đánh giá căn
cứ quy định hiện hành của Bộ GD&ĐT được ban hành trong Quy chế đào tạo trình độ đại học và Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của SV hệ chính quy
- Hiệu quả công tác CVHT:
Hiệu quả công tác CVHT được đánh giá thông qua đáp ứng nhu cầu tư vấn, hỗ trợ của SV, nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác cố vấn học tập
Công tác CVHT là công tác quan trọng trong đào tạo tín chỉ tại các trường đại học hiện nay và rất thiết thực với SV Theo nghiên cứu một số tài liệu của các nhà khoa học và từ thực tiễn, chúng tôi nhận thấy chất lượng công tác CVHT cũng bị tác động bởi một số yếu tố cơ bản sau đây:
Trang 301.3.1 Nhóm các yếu tố khách quan
1.3.1.1 Sự phát triển của khoa học – công nghệ
Sự phát triển của khoa học – công nghệ có ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển của giáo dục nói chung, công tác sinh viên nói riêng Sự phát triển của khoa học – công nghệ sẽ làm thay đổi bức tranh thị trường lao động, làm thay đổi mạnh mẽ về nhu cầu nguồn nhân lực, cơ cấu ngành nghề và trình độ Yêu cầu đặt ra cho các trường đại học cần đáp ứng nhu cầu xã hội, cần đào tạo ra những người lao động có đủ kiến thức, kỹ năng và khả năng tự học, sáng tạo
để thích nghi với môi trường làm việc mới Để đáp ứng yêu cầu đó đòi hỏi các trường đại học phải đổi mới hình thức tổ chức dạy học Đối với công tác CVHT, phải hỗ trợ SV phát triển các kỹ năng học tập, nghề nghiệp, hình thành tư duy phản biện, óc sáng tạo, từ đó giúp SV có thể tự học, tự đổi mới suốt đời Muốn được như vậy, bên cạnh sự nỗ lực từ bản thân SV, cần có sự hỗ trợ, tư vấn của CVHT Đồng thời, với sự phát triển của khoa học – công nghệ, trong môi trường toàn cầu hóa với một xã hội có nhiều phức tạp, quan hệ xã hội phong phú, SV dễ bị tác động, ảnh hưởng về động cơ, mục tiêu, phương pháp học tập, định hướng nghề nghiệp, tâm lý, mối quan hệ cá nhân, làm cho công tác CVHT càng khó khăn, phức tạp hơn Đòi hỏi công tác CVHT phải được tổ chức phù hợp, CVHT làm tốt vai trò của mình thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác CVHT
1.3.1.2 Ảnh hưởng từ đặc điểm lứa tuổi của Sinh viên
Sinh viên là nhóm xã hội đặc biệt trong lứa tuổi từ 18-25, với hoạt động chủ đạo là học tập để tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp ở các trường đại học để chuẩn bị cho hoạt động nghề nghiệp sau khi ra trường Đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở lứa tuổi thanh niên – SV là sự phát triển tự ý thức, SV có sự hiểu biết, thái độ, có khả năng đánh giá bản thân để chủ động điều chỉnh sự phát triển của bản thân theo hướng phù hợp với xu thế xã hội Khi SV nhận thức rõ ràng về những năng lực, phẩm chất của mình, mức độ phù hợp của những đặc điểm đó với yêu cầu nghề nghiệp, các em sẽ xác định rõ
Trang 31ràng mục tiêu học tập, rèn luyện và thể hiện bằng hành động học tập hàng ngày, trong giờ lên lớp, trong thực tập nghề hay nghiên cứu khoa học Nhờ khả năng
tự nhận thức, tự đánh giá, SV có thể nhìn nhận, xem xét năng lực học tập của mình, kết quả học tập cao hay thấp phụ thuộc vào ý thức, thái độ, phương pháp học tập của SV Các đặc điểm này của SV đòi hỏi phải có các phương pháp thích hợp trong công tác CVHT Ví dụ như để SV tin tưởng lựa chọn CVHT để
tư vấn, hỗ trợ các khó khăn vướng mắc trong học tập, rèn luyện, thích nghi với môi trường đại học, ngoài yêu cầu phải nắm vững về chuyên môn công tác CVHT cũng như giảng dạy thì mỗi CVHT phải là người thấu hiểu tâm lý lứa tuổi thanh niên – SV, đồng cảm với các em, đối xử công bằng, tôn trọng, mamg lại sự tin tưởng cho các em Hoặc để SV có môi trường tốt để phát huy, thể hiện những đặc điểm tích cực của lứa tuổi thanh niên – SV thì nhà trường, các đơn vị chức năng cần tạo điều kiện tốt nhất Nếu tổ chức công tác CVHT phù hợp với đặc điểm của lứa tuổi thanh niên – SV sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác CVHT tại các trường đại học
1.3.2 Nhóm các yếu tố chủ quan
1.3.2.1 Năng lực thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ Cố vấn học tập
Năng lực thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ CVHT có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công tác CVHT của các trường đại học Năng lực của đội ngũ CVHT được thể hiện ở các yếu tố sau:
- Sự hiểu biết của Cố vấn học tập về đào tạo tín chỉ:
Chất lượng công tác CVHT phụ thuộc vào mức độ hiểu biết của CVHT
về đào tạo theo tín chỉ, có nghĩa cố CVHT cần hiểu rõ về tiến trình đào tạo được phân chia thành các phần, các đoạn, thành "cây đào tạo" Tác giả Bùi Thị Hồng
Thái cho rằng, mọi người đều chờ đợi ở CVHT sự hiểu biết về chương trình đào
tạo, về ngành nghề và về cá nhân SV để có thể đưa ra những định hướng đúng đắn cho SV trong việc xây dựng kế hoạch học tập và có thể tư vấn cho SV thành công trong quá trình học tập đại học [8] Tác giả Đoàn Trọng Thiều cho rằng CVHT phải nắm vững chức năng, nhiệm vụ của CVHT, có trình độ chuyên gia
Trang 32trong lĩnh vực mình làm cố vấn, nắm được bản chất của việc học tập ở bậc đại học theo hệ thống tín chỉ, nắm vững nội dung chương trình, kế hoạch đào tạo của nhà trường, phải là người hiểu và có năng lực tự học, tự nghiên cứu [15]
Trong công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hằng Phương (2013) cũng chỉ ra rằng những người là công việc tư vấn không chỉ cần được trang bị kiến thức về tư vấn một cách bài bản, hệ thống mà còn phải hiểu về việc mình đang làm, hiểu sâu sắc về vai trò CVHT trong đào tạo tín chỉ như thế nào Và SV chỉ cảm thấy được trợ giúp thật sự nếu người tư vấn là những hiểu
về đào tạo theo tín chỉ Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chỉ có những CVHT hiểu biết về đào tạo theo hệ thống tín chỉ mới là những người giúp SV hiệu quả nhất [15]
Các CVHT được trang bị kiến thức, sự hiểu biết về đào tạo tín chỉ sẽ sẵn lòng giúp đỡ cho SV Chính vì vậy, sự hiểu biết của CVHT về đào tạo theo tín chỉ được xem là vấn đề then chốt của việc hình thành kỹ năng thực hiện nhiệm
vụ ở chỗ khi hiểu biết, họ sẵn sàng thay đổi bản thân, sẵn sàng vì SV hơn
- Kỹ năng thực hiện nhiệm vụ của Cố vấn học tập:
Ngoài kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn thì các kỹ năng của CVHT
là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác CVHT Bởi vì CVHT phải thực hiện ba nhiệm vụ chủ yếu, đó là i) tư vấn học tập cho SV, ii) quản lý và tổ chức lớp, tư vấn và hỗ trợ SV trong các hoạt động học tập và rèn luyện, iii) thực hiện các quy định về thời gian làm việc với lớp, chế độ báo cáo
về công tác CVHT
Tác giả Cormier, L.S & Hackney, H (1993) nhấn mạnh, điều quan trọng
CVHT cần làm là thiết lập được mối quan hệ tốt với SV, có thái độ hòa nhã, ứng xử thân thiện, tiếp đón SV nhiệt tình và sẵn lòng hỗ trợ cho SV trong đó cần lắng nghe tốt và khích lệ tinh thần cho SV [dẫn theo 15]
Theo NACADA, người CVHT khi làm việc với SV cần có các kỹ năng
như: kỹ năng thiết lập mối quan hiệu quả; kỹ năng giao tiếp tốt; kỹ năng giải quyết vấn đề; kỹ năng thuyết trình và nói chuyện trước đám đông; kỹ năng hợp
Trang 33tác, giám sát, tổ chức và lên kế hoạch; kỹ năng thúc đẩy và phát triển; kỹ năng
sử dụng máy tính và khai thác internet [dẫn theo 8]
Nhóm tác giả cũng là những người đang làm nhiệm vụ CVHT, chúng tôi
cũng tự nghiên cứu, học hỏi về các kỹ năng làm việc với SV, do thiếu sự đào
tạo, bồi dưỡng bài bản cho nên đôi khi làm việc với SV chúng tôi không kiểm soát được tâm trạng của mình nên còn biểu hiện thái độ bực mình hoặc còn giải quyết theo ý kiến chủ quan của mình, chưa thực sự biết điều SV nghĩ và SV muốn Nếu được cung cấp kiến thức, kỹ năng bài bản chắc chắn chúng tôi sẽ làm tốt hơn công việc của mình
Qua các nghiên cứu và thực tiễn công tác CVHT cho thấy, CVHT có các
kỹ năng tốt sẽ tạo không khí thân mật, thoải mải, sinh viên được khích lệ, động viên, gợi ý được giải pháp cho các vấn đề mà SV đang gặp phải Như vậy sẽ giúp cho buổi tư vấn đạt được hiệu quả Hoặc CVHT có kỹ năng như kỹ năng lập kế hoạch tốt sẽ giúp cho việc tư vấn, duyệt kế hoạch học tập cá nhân của
SV phù hợp với năng lực, điều kiện của SV và quy định về đào tạo theo hệ thống tín chỉ Đối với bản thân CVHT, kỹ năng lập kế hoạch tốt giúp CVHT định lượng được những công việc cần làm, không bị bỏ sót, công việc nào cần làm trước, rút ngắn thời gian làm việc, có khả năng xử lý các tình huống bất ngờ xảy ra
- Thái độ của Cố vấn học tập đối với công tác CVHT:
Theo một số tác giả, để thực hiện hoạt động CVHT, điều có tính chất định hướng nhất đó là có nhận thức được rằng đây là việc làm cần thiết và quan trọng đối với SV trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ Trong luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hằng Phương đã trích dẫn kết quả nghiên cứu của một số tác giả trên thế giới về ảnh hưởng của thái độ đến tiến trình thực hiện công việc, chẳng hạn các tác giả Albert Ellis, Weit (1957), Snyder (1961) hay Stefflre,
King, Leafgreb (1961) khẳng định khi một người yêu thích và thực sự nhiệt
huyết trong hoạt động trợ giúp thì họ sẽ quý trọng con người và họ say mê với công việc giúp đỡ hay tác giả người Pháp Gérard Scallon (2005) nói đến nền
Trang 34tảng cho thành công trong việc trợ giúp là khi người ta có thái độ sẵn sàng với công việc, cảm thấy yêu mến công việc [dẫn theo 15]
Chỉ khi CVHT nhận thức được rằng mình có vai trò quan trọng đối với
SV, việc mình làm ảnh hưởng đến học tập và cả tương lai sau này của SV thì khi đó họ sẽ yêu thích, tích cực, say mê với công việc và có những hành động thiết thực, cụ thể, hữu ích cho hoạt động tư vấn của mình Nếu CVHT thái độ tích cực trong thực hiện nhiệm vụ của mình; CVHT luôn sẵn sàng tư vấn, hỗ trợ SV bất cứ khi nào SV cần; sẵn sàng chia sẻ, động viên, giúp đỡ, đưa ra những lời khuyên bổ ích, cách xử lý phù hợp nhất khi SV gặp vấn đề cần tư vấn, xử lý; đối xử chân thành, thân thiện, hòa đồng với SV; luôn tự học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ, cập nhập thông tin mới; phối hợp, hỗ trợ tốt với các đơn vị, đồng nghiệp trong thực hiện nhiệm vụ CVHT sẽ giúp cho công tác CVHT đạt hiệu quả cao Ngược lại, nếu CVTH có thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm của cố vấn học tập trong công việc sẽ là một trong những nguyên nhân dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, như SV bị khiển trách, kỷ luật, thậm chí
là bị đuổi học, ảnh hưởng đến học tập, tương lai nghề nghiệp của SV Tiến sĩ
Lê Văn Khuyến – nguyên phó vụ trưởng Vụ Đại học và sau Đại học – Bộ
GD&ĐT trong một bài phỏng vấn cho biết: “Nguyên nhân chính dẫn đến việc
nhiều sinh viên bị thôi học khi đào tạo tín chỉ do sự thiếu trách nhiệm của cố vấn học tập Hệ thống này phải có trách nhiệm hỗ trợ cho sinh viên trong việc lựa chọn kế hoạch học tập phù hợp Nếu hết học kì I, sinh viên có kết quả học tập không tốt thì cố vấn học tập phải tác động và hướng dẫn để sinh viên rút bớt học phần trong kì tiếp theo để vừa với sức học – vì vậy muốn thành công trong đào tạo tín chỉ các trường phải chú trọng xây dựng đội ngũ này" [18]
Hiệu quả công tác CVHT chịu ảnh hưởng trực tiếp từ trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất của người làm CVHT Chính vì vậy, quản lý đội ngũ CVHT là phải có những biện pháp kích thích, tạo động lực cho đội ngũ này luôn phát triển Bản thân mỗi CVHT phải không ngừng phấn đấu học tập, trau
Trang 35dồi, rèn luyện chuyên môn, nghiệp vụ và thực sự làm tấm gương sáng cho SV noi theo
1.3.2.2 Tổ chức hoạt động cố vấn học tập
Ngoài các yếu tố ảnh hưởng trên, chất lượng CVHT phụ thuộc vào cách thức các trường đại học tổ chức hoạt động CVHT, được thể hiện bằng các yếu
tố sau:
- Cơ chế chính sách đối với Cố vấn học tập:
Sự tạo điều kiện của Nhà trường về mặt chính sách, điều kiện cơ sở vật chất là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động CVHT Carter J (2007) cho rằng kỹ năng của người CVHT có mối quan hệ mức độ họ được quan tâm, có chế độ như tất cả những người có mã ngành nghề khác Khi nghiên cứu về tính công bằng xã hội trong công việc của CVHT, Arnsperger Selzer, R
và Ellis Rouse, J (2013) đã đề xuất cần có các chế độ hợp lý cho người CVHT
để họ tập trung làm việc, nâng cao năng suất, những yếu tố liên quan đến chế
độ có thể kể đến như điều kiện làm việc (cơ sở vật chất, trang thiết bị, các khoản
thù lao ) Các tác giả này cho rằng khi không đảm bảo được công bằng, khó
ai có thể hoàn thành được nhiệm vụ của họ một cách tốt đẹp, càng khó để thể hiện được các kỹ năng trợ giúp [15]
Như vậy, có chế độ, chính sách hợp lý như ban hành, cung cấp đầy đủ các văn bản, tài liệu hướng dẫn; phụ cấp được hưởng tương xứng với yêu cầu, đòi hỏi của công việc; trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị hoặc các điều kiện khác sẽ góp phần tạo động lực cho CVHT thực hiện nhiệm vụ của mình Bởi vì khi quyền lợi không được đảm bảo, không được tạo sự thuận lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ sẽ làm cho CVHT giảm đi lòng nhiệt huyết, say mê và khó có thể hoàn thành nhiệm vụ của họ một cách tốt đẹp Do đó, để công tác CVHT mang lại kết quả cao thì phải gắn liền với các chính sách hợp
lý, tạo ra động lực phát triển
Trong thực tế ở một số trường các CVHT được bố trí kiêm nhiệm công tác giảng dạy, tham gia rất nhiều hoạt động khác như nghiên cứu khoa học, văn
Trang 36nghệ, thể thao hoặc tham gia các tổ chức đoàn thể khác Một số trường có phụ cấp bằng vật chất cho đội ngũ CVHT, nhưng một số trường chỉ được trừ giờ khối lượng theo quy định, các khoản chi phí liên quan đến công tác CVHT phải
tự chi trả như tiền điện thoại, mua văn phòng phẩm
- Mô hình tổ chức Cố vấn học tập:
Tác giả Trần Thị Minh Đức (2012) đã nghiên cứu và tổng hợp một số
mô hình CVHT các trường đại học trên thế giới tổ chức và áp dụng trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ như sau:
+ Mô hình cố vấn học tập phi tập trung
Với mô hình này, Khoa quản lý ngành đào tạo có trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác CVHT theo quy định Khoa có lựa chọn, đề xuất người có thẩm quyền bổ nhiệm CVHT từ giảng viên của Khoa CVHT được phân một lượng SV nhất định và chịu trách nhiệm với Khoa về hoạt động CVHT của mình Đồng thời Khoa phải quản lý toàn bộ quá trình thực hiện nhiệm vụ của CVHT, từ việc triển khai cho đến đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ
Mô hình này ưu điểm là CVHT thường gần gũi với SV, nắm bắt tình hình
SV tốt Tuy nhiên, chất lượng tư vấn thường không đồng nhất, những vấn đề trọng tâm của cuộc tư vấn thường bị thu hẹp lại
+ Mô hình cố vấn học tập tập trung
Với mô hình này các trường sẽ bố trí đội ngũ CVHT tư vấn cho SV suốt quá trình học tập tại trường, từ khi bắt đầu nhập học cho đến lúc ra trường Với cách thức này, các khoa không có CVHT nữa Việc tư vấn cho SV được thực hiện bởi nhân viên văn phòng tư vấn Ưu điểm của mô hình này là các nhân viên được đào tạo bài bản, đảm bảo được chất lượng tư vấn, có sự kiểm tra, giám sát về các dịch vụ tư vấn và các nhu cầu dịch vụ đặc biệt khác, có địa điểm làm việc riêng, thuận lợi cho việc liên hệ, tư vấn Nhược điểm là tốn kém
về chi phí cho nhân viên và hoạt động, tương tác giữa giảng viên, khoa và SV giảm, khó nắm bắt tình hình SV
+ Mô hình chia sẻ
Trang 37Theo mô hình này, hệ thống CVHT được thiết lập ở cấp khoa Khoa cử giảng viên làm CVHT cho SV thuộc ngành đào tạo của mình Đồng thời, SV còn có thêm cố vấn học tập ở văn phòng cố vấn trợ giúp cho giảng viên Sẽ có
sự phân chia nhiệm vụ cố vấn hợp lý: giảng viên chịu trách nhiệm cố vấn về các vấn đề liên quan đến học tập, nghiên cứu khoa học; văn phòng cố vấn chịu trách nhiệm cố vấn về các vấn đề như tư vấn tâm lý, cung cấp thông tin về quy định, quy chế, chế động, chính sách, học bổng, học vụ, việc làm thêm, thủ tục hành chính Ưu điểm mô hình này là có sự phối hợp của các dịch vụ tư vấn nên đảm bảo tính nhất quán trong cung cấp thông tin chung, chi phí thấp, giảm tải cho giảng viên, các cuộc tư vấn theo chuyên đề có chất lượng Tuy nhiên,
mô hình này đỏi hỏi phải có mối liên hệ phối hợp chặt chẽ giữa hai cố vấn để trợ giúp SV tốt nhất cho những vấn đề cụ thể của SV [9] Đây là mô hình được
áp dụng tại nhiều trường đại học ở Việt Nam và được đánh giá là rất hiệu quả trong việc hỗ trợ, cung cấp dịch vụ cho SV
Việc tổ chức công tác CVHT theo mô hình nào là do các trường lựa chọn quyết định Tuy nhiên để phát huy hiệu quả công tác CVHT thì việc lựa chọn mô hình phải phù hợp với đặc điểm của mô hình đào tạo theo hệ thống tín chỉ, đặc điểm về nhân lực làm công tác CVHT, đặc điểm các ngành nghề đào tạo của trường, số lượng sinh viên Bởi vì có sự lựa chọn mô hình CVHT phù hợp sẽ giúp chọn được CVHT có chuyên môn sâu, kỹ năng tốt, từ đó sinh viên sẽ nhận được tư vấn, hỗ trợ đầy đủ, chính xác trong các lĩnh vực tâm lý và đời sống, học tập và nghiên cứu khoa học, đào tạo, công tác SV và chủ trương chính sách
- Số lượng sinh viên cần phụ trách:
Với một số lượng SV quá đông sẽ khiến cho CVHT thường xuyên phải giải đáp các thắc mắc và điều này sẽ ảnh hưởng đến quá trình thực hiện các cuộc tư vấn có chất lượng tốt, khó có thể thể hiện được các biểu hiện của kỹ năng khi tư vấn Tại một số Trường hiện nay, có những CVHT phải phụ trách vài chục SV, thậm chí lên đến hàng trăm SV và còn phải thực hiện nhiều công việc khác nữa Một người mà làm quá nhiều việc sẽ khó làm tốt được tất cả các
Trang 38việc, do vậy nếu một CVHT mà phải phụ trách quá nhiều SV thì sẽ không tập trung cho bất cứ một SV nào cả Mặc dù ngày nay giao tiếp giữa SV và CVHT
có nhiều thuận lợi thông qua các phương tiện điện tử, mạng internet nhưng vẫn mất nhiều thời gian để tìm hiểu thông tin, trả lời các vấn đề thắc mắc của SV dẫn đến chất lượng các cuộc tư vấn có thể sẽ không đạt yêu cầu
- Thâm niên công tác của Cố vấn học tập:
Hiệu quả công tác CVHT nói chung phụ thuộc vào thời gian công tác của người làm CVHT, bởi vì thời gian thực hiện công việc sẽ liên quan đến hình thành kinh nghiệm, kỹ năng, nghĩa là nếu một người có thâm niên trong công tác sẽ có nhiều kinh nghiệm, kỹ năng hơn so với người mới vào nghề Cũng có nghiên cứu cho rằng, về mặt cảm xúc thì khi nghe nói đến những giảng viên có thời gian làm công tác chủ nhiệm trong trường lâu năm thường khiến SV cảm thấy yên tâm hơn khi tiếp xúc Do đó, có thể nói rằng thâm niên công tác cũng
là một yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác CVHT
- Công tác bồi dưỡng, tập huấn về kiến thức, chuyên môn, kỹ năng cho
cố vấn học tập:
Đây là yếu tố quan trọng quyết định đến năng lực của CVHT Một số trường đại học nước ngoài, CVHT là những người tốt nghiệp các ngành trợ giúp (ngành Tâm lý giáo dục, Tham vấn ), có bằng cấp từ cử nhân, thạc sĩ trở lên và tại Mỹ cần có chứng thỉ thực hành [8] Nhưng ở Việt Nam, chủ yếu là giảng viên kiêm nhiệm công việc CVHT Giảng viên ở nhiều khoa khác nhau hoặc ở các phòng, ban Trong khi đó, chất lượng công tác CVHT phụ thuộc vào việc trau dồi, tập huấn, bồi dưỡng và phải được giám sát thường xuyên Bởi vì phần lớn CVHT không được đào tạo một cách bài bản mà chủ yếu trau dồi qua quá trình làm việc Do đó CVHT cần phải trải qua các khóa tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng định kỳ Đồng thời qua khóa tập huấn để CVHT được lắng nghe, chia sẻ khó khăn, thuận lợi, kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động của mình
Trang 39TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong Chương 1, nhóm nghiên cứu đã hệ thống hóa các cơ sở lý luận, làm rõ các vấn đề liên quan đến công tác CVHT Cụ thể là đưa ra khái niệm về khái niệm CVHT, công tác CVHT, chất lượng công tác CVTH, mục đích, vai trò, tiêu chí đánh giá chất lượng công tác CVTH và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác CVHT Đây sẽ là tiền đề để khảo sát thực trạng, đánh giá chất lượng công tác CVHT và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng công tác CVHT tại Phân hiệu Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 40CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC CỐ VẤN HỌC TẬP
TẠI PHÂN HIỆU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 KHÁI QUÁT VỀ PHÂN HIỆU THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1.1 Sơ lược quá trình phát triển của Phân hiệu
Phân hiệu là cơ sở giáo dục đại học công lập trực thuộc Trường Đại học
Nội vụ Hà Nội - Bộ Nội vụ và chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ GD&ĐT Phân hiệu tọa lạc tại địa chỉ số 181 Lê Đức Thọ, Phường 17, quận
Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
Tiền thân của Phân hiệu là Văn phòng đại diện Trường Đại học Nội vụ
Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2012 đến năm 2015 Đến ngày 18/12/2015, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ra Quyết định số 1877/QĐ-BNV thành lập Cơ sở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh, trụ sở tại số 9 Nguyễn Văn Thủ, Quận 1 Đến năm 2016, thực hiện chủ trương sắp xếp lại các cơ sở giáo dục đào tạo của Bộ Nội vụ, ngày 14/11/2016, Bộ trưởng
Bộ Nội vụ ra Quyết định số 4035/QĐ-BNV về việc giải thể Trường Trung cấp Văn thư – Lưu trữ Trung ương trực thuộc Cục Văn thư Lưu trữ Nhà nước, chuyển giao nguyên trạng cơ sở vật chất, tài chính, giáo viên, người lao động
và học viên về Trường Đại học Nội vụ Hà Nội quản lý Theo đó, ngày 27/12/2016, Hiệu trưởng Trường Đại học Nội vụ Hà Nội ban hành Quyết định
số 2165/QĐ-ĐHNV về việc giao nguyên trạng cơ sở vật chất, tài chính, giáo viên, người lao động, học viên Trường Trung cấp Văn thư - Lưu trữ Trung ương cho Cơ sở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh quản lý
và sử dụng
Đến ngày 27/12/2018, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành Quyết định số 5600/QĐ-BGDĐT về việc thành lập Phân hiệu Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh (trên cơ sở kế thừa đội ngũ nhân lực, cơ sở vật chất của Cơ sở Trường Đại học Nội vụ Hà Nội tại Thành phố Hồ Chí Minh)