1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái tại khu du lịch tràng an – ninh bình pdf

134 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với khái niệm như tắm biển, nghỉ núi…đều được hiểu là DLST.” Du lịch sinh thái có thể còn được hiểu dưới những tên gọi khác như: - Du lịch thiên nhiên Nature tourism - Du lịch dựa vào t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ XÃ HỘI

BÁO CÁO TỔNG HỢP

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC

ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DU LỊCH SINH THÁI TẠI KHU DU LỊCH

TRÀNG AN – NINH BÌNH

Mã đề tài: DTSV.04.2021

Chủ nhiệm đề tài : Bùi Phương Anh Lớp : 1805QLVA Cán bộ hướng dẫn : TS.Phạm Văn Đại

Hà Nội, tháng 5 năm 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI KHOA QUẢN LÝ XÃ HỘI

BÁO CÁO TỔNG HỢP

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC

ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DU LỊCH SINH THÁI TẠI KHU DU LỊCH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Chúng em xin cam đoan nội dung đề tài nghiên cứu khoa học này là công trình nghiên cứu của nhóm chúng em dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Văn Đại, khoa Quản lý xã hội, trường Đại học Nội vụ Hà Nội Các tư liệu đã được sử dụng trong bài là trung thực, có trích dẫn rõ ràng trong phần danh mục Tài liệu tham khảo Những ý kiến đưa ra trong đề tài nghiên cứu đều là kết quả nghiên cứu của nhóm chúng em, nếu sai chúng em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2021

Chủ nhiệm đề tài

Bùi Phương Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học năm 2020 là một hoạt động tốt để làm quen với công việc nghiên cứu thực tiễn, tạo điều kiện cho sinh viên vận dụng kiến thức đã học vào nghiên cứu hoạt động thực tế tại các cơ quan chức năng hiện nay Trong suốt quá trình khảo sát và nghiên cứu thông tin phục vụ đề tài nghiên cứu, chúng em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, góp ý từ phía Cán

bộ hướng dẫn, các thầy cô trong trường Đại học Nội vụ Hà Nội và các đơn vị quản

lý khu du lịch Tràng An – Ninh Bình Vì vậy, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới những người đã dõi theo và giúp đỡ chúng em hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này

Trước hết, chúng em xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới toàn thể quý thầy cô trường Đại học Nội vụ Hà Nội nói chung và khoa Quản lý xã hội nói riêng đã tạo điều kiện cho chúng em được tham gia thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học năm 2020 Chúng em xin chân thành cảm ơn TS Phạm Văn Đại, khoa Quản lý xã hội, trường Đại học Nội vụ Hà Nội, là cán bộ đã trực tiếp hướng dẫn chúng em trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu này Tiếp đến, chúng em xin gửi lời cảm ơn tới các đơn vị quản lý khu du lịch

đã tạo điều kiện cho chúng em được tìm hiểu, nghiên cứu về tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tại Tràng An – Ninh Bình trong những năm gần đây Từ

đó, chúng em đã được trau dồi thêm rất nhiều kiến thức để góp phần vào hoàn thiện đề tài của mình và những kĩ năng cần thiết cho chuyên ngành Quản lý văn hóa sau này

Do kiến thức chuyên môn cũng như hiểu biết, tư duy còn một số mặt hạn chế, nên không thể tránh khỏi những sự thiếu sót Vì vậy, chúng em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn

Chúng em xin trân trọng cảm ơn !

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

5 Giả thuyết nghiên cứu 8

6 Phương pháp nghiên cứu 8

7 Bố cục bài nghiên cứu 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 10

1.1 Khái niệm về du lịch sinh thái 10

1.1.1 Khái niệm về du lịch sinh thái trên thế giới 10

1.1.2 Khái niệm về du lịch sinh thái tại Việt Nam 13

1.2 Những đặc trưng của du lịch sinh thái 16

1.3 Những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái 18

1.3.1 Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn 19

1.3.2 Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái 19

1.3.3 Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng 19

1.3.4 Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương 20

1.4 Vai trò của phát triển du lịch sinh thái 20

1.4.1 Lợi ích về kinh tế 20

1.4.2 Lợi ích về xã hội 21

1.4.3 Lợi ích về thẩm mỹ 22

1.4.4 Lợi ích về sinh thái 22

1.5 Điều kiện, tài nguyên phát triển du lịch sinh thái 23

Tiểu kết chương I 27

CHƯƠNG II: TIỀM NĂNG DU LỊCH SINH THÁI Ở TRÀNG AN – NINH BÌNH 28

2.1 Quan điểm phát triển du lịch sinh thái tại Tràng An 28

Trang 6

2.1.1 Phát triển du lịch gắn với việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc,

bảo tồn các giá trị tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan 28

2.1.1.1 Phát triển du lịch sinh thái- nghỉ dưỡng gắn với việc bảo vệ môi trường.28 2.1.1.2 Phát triển du lịch văn hóa tâm linh gắn với các lễ hội truyền thống 29

2.1.1.3 Phát triển du lịch thể thao mạo hiểm gắn với hệ thống các núi đá, các hang động 34

2.1.2 Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch kết hợp phát triển du lịch nhanh và bền vững 36

2.1.2.1 Sự tham gia của cộng đồng trong du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng 36 2.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch 37

2.1.2.3 Phát triển du lịch nhanh và bền vững, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế xã hội địa phương 38

2.1.3 Biện pháp chống ô nhiễm môi trường 40

2.1.4 Phát triển du lịch gắn với đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội 43

2.1.5 Tổng quan về Luật du lịch 47

2.2 Các mục tiêu và định hướng phát triển du lịch ở Tràng An 54

2.2.1 Mục tiêu của Tràng An trong việc phát triển du lịch sinh thái 54

2.2.2 Định hướng tổng quát 55

2.2.3 Định hướng chiến lược phát triến du lịch sinh thái Tràng An 57

2.2.4 Định hướng phát triển các loại hình du lịch 60

2.2.4.1 Các loại hình du lịch phổ biến, đang phát huy hiệu quả tại Việt Nam 60

2.2.4.2 Xác lập các loại hình du lịch trên địa bàn Ninh Bình 63

2.3 Khái quát về quần thể danh thắng Tràng An 68

2.3.1 Các di tích văn hoá 70

2.3.2 Các hang động tiêu biểu 71

2.4 Thực trạng tiềm năng phát triển du lịch tại Tràng An 73

2.4.1 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 74

2.4.2 Các loại hình du lịch có thể tổ chức tại Tràng An 76

2.4.3 Nguồn lực lao động 78

2.4.4 Tình hình khách du lịch và doanh thu 80

Trang 7

2.4.4.1 Kinh doanh của khu du lịch năm 2018 80

2.4.4.2 Kinh doanh của khu du lịch năm 2019 81

2.4.4.3 Kinh doanh của khu du lịch năm 2020 82

2.4.5 Marketing quảng cáo du lịch 82

2.4.6 Hiện trạng tổ chức quản lý và khai thác hoạt động du lịch sinh thái tại Tràng An – Ninh Bình 84

2.4.6.1 Hiện trạng tổ chức quản lý 84

2.4.6.2 Hoạt động du lịch sinh thái 85

Tiểu kết chương II 87

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI QUẦN THỂ TRÀNG AN – NINH BÌNH 89

3.1 Giải pháp về tổ chức quản lý 89

3.2 Giải pháp về môi trường 92

3.3 Giải pháp về quy hoạch xây dựng 97

3.3.1 Quy hoạch xây dựng vùng cấm và vùng hạn chế xây dựng 99

3.3.2 Định hướng quy hoạch xây dựng khu dân cư 100

3.3.3 Quy hoạch và phát triển khu vực chăm sóc và dịch vụ 101

3.3.4 Định hướng xây dựng và quy hoạch vùng đệm 102

3.3.5 Quy hoạch xây dựng phát triển giao thông 103

3.3.5.1 Giao thông đường bộ 103

3.3.5.2 Giao thông đường thủy 104

3.3.5.3 Bến xe và đường hàng không 104

3.3.6 Đánh giá chiến lược quy hoạch và xây dựng 104

3.4 Giải pháp thu hút cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch 105

3.5 Giải pháp tiếp thị và tăng cường quảng bá du lịch sinh thái 110

3.6 Giải pháp đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch 113

Tiểu kết chương III 117

KẾT LUẬN 118

TÀI LIỆU THAM KHẢO 120

PHỤ LỤC 122

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế trên thế giới, du lịch đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống văn hóa – xã hội của con người Du lịch không những là một ngành kinh tế góp phần nâng cao đời sống vật chất mà còn giúp con người có điều kiện giao lưu văn hóa giữa các quốc gia vùng miền Chính vì vậy ngày nay du lịch đã nằm trong chiến lược phát triển của rất nhiều quốc gia, trở thành nền kinh tế quan trọng có đóng góp lớn trong sự phát triển của các nước Cùng với sự phát triển của ngành du lịch nói chung thì Du lịch sinh thái (DLST) đã và đang phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu và trở thành mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia trong chiến lược phát triển du lịch Hiện nay khi nền công nghiệp bùng nổ kéo theo môi trường bị ô nhiễm nặng nề thì DLST

có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với con người Mô hình DLST giúp con người có điều kiện tiếp cận với thiên nhiên hoang sơ, môi trường trong lành, tìm hiểu nền văn hóa bản địa đặc sắc, thỏa mãn nhu cầu khám phá và hồi phục sức khỏe cho con người DLST là loại hình du lịch có trách nhiệm, du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các mục tiêu bảo tồn tự nhiên và phát triển cộng đồng và đây

là loại hình du lịch có nhiều đóng góp thiết thực cho việc phát triển bền vững, bảo vệ tự nhiên và mang lại lợi ích kinh tế Chính vì vậy DLST đã trở thành mục tiêu phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới về du lịch bởi tính ưu việt của nó Ninh Bình là một tỉnh nằm ở phía Đông Nam của đồng bằng bắc bộ, hấp dẫn du khách bởi quần thể du lịch kỳ thú với những giá trị tự nhiên và văn hóa nổi bật như: Vườn quốc gia Cúc Phương, Tam Cốc, Bích Động, Cố đô Hoa Lư, Nhà Thờ đá Phát Diệm…Hai năm trở lại đây khu du lịch Tràng An được đầu tư xây dựng và đưa và khai thác phục vụ du lịch thì du lịch Ninh Bình càng phát triển với định hướng khai thác du lịch thành ngành kinh tế chủ yếu của tỉnh Khu du lịch Tràng An nằm ở phía đông bắc của tỉnh Ninh Bình thuộc địa phận các xã: Trường Yên, Ninh Xuân, Ninh Hải (Thuộc huyện Hoa Lư), xã Gia Sinh (của huyện Gia Viễn), xã Ninh Nhất, phường Tân Thành (Thành phố Ninh Bình) với tổng diện tích là 1.566 ha Khu du lịch Tràng An là điểm du lịch mới được đưa

Trang 9

vào khai thác và với lợi thế về cảnh quan Tràng An đã được đánh giá là một

trong những địa điểm du lịch hấp dẫn vào bậc nhất của nước ta hiện nay Đến

với Tràng An du khách sẽ được chiêm ngưỡng cảnh núi non hùng vĩ được ví

như một “Hạ Long trên cạn” với những hang động kỳ thú, những dải núi đá vôi,

cùng với dòng sông xanh biếc tạo nên một khung cảnh hết sức lên thơ Tràng An

còn là nơi du khách có thể khám phá những giá trị về lịch sử của mảnh đất và

con người nơi đây được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Với

những giá trị về cả thiên nhiên và văn hóa, Tràng An đang dần trở thành điểm du

lịch hấp dẫn đối với du khách khi lựa chọn các chuyến du lịch sinh thái DLST

đang trở thành mối quan tâm lớn của nhiều lĩnh vực, để góp phần vào việc phát

triển du lịch của đất nước, khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch sinh thái tại

khu du lịch sinh thái Tràng An – Ninh Bình

Việc chọn đề tài “Đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái tại khu du lịch

Tràng An – Ninh Bình” nhằm nghiên cứu và đánh giá hoạt động du lịch tại

Tràng An, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch, bảo vệ

môi trường tự nhiên của địa phương, góp phần tăng hiệu quả kinh tế, nâng cao

đời sống cho người dân địa phương

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Công trình nghiên cứu về du lịch sinh thái trên thế giới

- Bài viết “What Is Ecotourism And Why Is It Important?” (2021) của

Francesca

Bài viết của tác giả Francesca đăng tải tại website littlelosttravel.com –

được biết đến với trang thông tin về du lịch hữu ích cho những du khách quốc tế

có nhu cầu tìm hiều về các địa điểm du lịch và đồng thời cung cấp thêm thông

tin về các loại hình du lịch Trong bài viết tác giả đã đưa ra những dẫn chứng,

khái niệm cụ thể về du lịch sinh thái và tầm quan trọng của việc bảo vệ thiên

nhiên, hệ sinh thái của chúng ta Tác giả nêu lên việc du khách tham gia du lịch

sinh thái không chỉ thư giãn mà còn tập trung vào làm việc và bảo vệ môi

trường Việc trở thành một du khách mang trong mình kiến thức về du lịch nói

chung và du lịch sinh thái, bảo tồn thiên nhiên mỏng manh nói riêng là việc tác

Commented [A1]: Toàn bộ phần này cho sang mục 1 của

Chương 1;

Trang 10

giả thành công khi nêu lên cụ thể giúp người đọc nắm được những điều cơ bản khi chọn địa điểm chuyến du lịch tiếp theo là du lịch sinh thái

- Bài viết“An Introduction to Ecotourism” (2020) của Amanda Briney

Du lịch sinh thái được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau giúp người đọc có thể dễ dàng hiểu được mục đích lớn lao trong việc du lịch kết hợp với thiên nhiên Ở bài viết đã nêu tóm gọn lại rằng “Du lịch sinh thái được định nghĩa rộng rãi là du lịch ít tác động đến các địa điểm nguy cấp và thường không bị xáo trộn”; định nghĩa trên ngắn gọn nhưng đánh thẳng vào ý nghĩa thực sự của việc du lịch sinh thái Qua bài viết tác giả đã nêu đầy đủ về nguồn gốc, ví dụ và nguyên tắc khi DLST để từ đó rút ra những đánh giá như phê bình và đưa ra đề xuất về các gói du lịch đảo bảo tối ưu việc tham quan kết hợp bảo vệ môi trường

- “Ecotourism” (2020) của David A Fennell

Cuốn sách được tái bản lần thứ 5 và là đầu sách hàng đầu về vấn đề nghiên cứu du lịch sinh thái nói chung Ấn bản lần này tập trung vào một loạt các mâu thuẫn về kinh tế, xã hội và sinh thái tiếp tục ảnh hưởng đến du lịch sinh thái về lý thuyết và thực tiễn, đồng thời xem xét lĩnh vực này liên quan đến các hình thức du lịch liên quan khác, tác động, bảo tồn, tính bền vững, giáo dục và giải thích, chính sách và quản trị, và mệnh lệnh đạo đức của du lịch sinh thái vì những điều này áp dụng cho hình thức du lịch xanh nhất thế giới Đây là một tài liệu tham khảo cần thiết cho những người quan tâm đến du lịch sinh thái, cuốn sách có thể tiếp cận với sinh viên, nhưng vẫn giữ được độ sâu cần thiết để sử dụng cho các nhà nghiên cứu và thực hành trong lĩnh vực này Cuốn sách này sẽ thu hút sự quan tâm của sinh viên trong nhiều lĩnh vực bao gồm địa lý, kinh tế, kinh doanh, đạo đức, sinh học và nghiên cứu môi trường

- “Ecotourism and Sustainable Tourism - New Perspectives and Studies” (2011) của Jaime A Seba

Ngày càng có nhiều sự quan tâm đến du lịch sinh thái và du lịch bền vững, cung cấp cho du khách các điểm đến và hoạt động có tác động tiêu cực thấp hơn đến môi trường Du lịch sinh thái và Du lịch bền vững , một tập hợp các bài báo và nghiên cứu nêu bật nhiều xu hướng du lịch mới này, sử dụng các

Trang 11

ví dụ từ nhiều khu vực khác nhau trên thế giới, bao gồm bờ biển Georgia và rừng nhiệt đới ở Nigeria Nó xem xét du lịch dựa vào thiên nhiên, sự tham gia của cộng đồng vào du lịch sinh thái địa phương, du lịch thể thao sinh thái, và nhiều hơn nữa Bài viết đánh giá và nghiên cứu về nhiều địa điểm du lịch sinh thái nổi tiếng thế giới từ đó đưa ra những đánh giá khách quan và chủ quan giúp người đọc có cái nhìn toàn diện

- Bài viết “Ecotourism – The developing tourism trend in Vietnam” đăng tải trên Blog du lịch các nước châu Á

Việt Nam là đất nước được đánh giá là “rừng vàng, biển bạc” bởi lẽ sự đa dạng về tài nguyên thiên nhiên, môi trường sống và thực vật cùng sinh vật phong phú về chủng loài Những yếu tố trên giúp việc du lịch sinh thái là hình thức du lịch vô cùng thu hút các du khách không chỉ trong mà ngoài nước chú ý đến Nhận thức được tiềm năng đó, nhiều chuyên gia đánh giá và lựa chọn ra những địa điểm du lịch sinh thái tiềm năng Bài viết không chỉ đánh giá về thiên nhiên mà còn về con người, văn hoá, các dân tộc, hết sức đa dạng phong phú

2.2 Những công trình nghiên cứu về du lịch sinh thái ở Việt Nam và khu du lịch Tràng An – Ninh Bình

2.2.1 Ở Việt Nam

-“Du lịch sinh thái” của GS-TSKH Lê Huy Bá

Đây là cuốn sách nhận được sự quan tâm một cách đáng kể mỗi khi nhắc đến du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng Tác giả đã nêu lên thực trạng khi ống khói của các nhà máy, các xí nghiệp càng vươn cao hơn lên bầu trời, dân số không ngừng gia tăng, tập trung công nghiệp, khói bụi giao thông đang là vấn nạn thì nhu cầu tìm về với tự nhiên là điều tất yếu Tài liệu giới thiệu hiểu biết thêm về cơ sở sinh thái môi trường, sinh thái cảnh quan, cái hay

và cái đẹp của một số loại hình sinh thái đặc thù nhằm khai thác phục vụ cho hướng dẫn du lịch sinh thái và bảo vệ môi trường bền vững

-“Bàn về văn hoá du lịch Việt Nam” của Phan Huy Xu

Cuốn sách góp phần làm rõ một số vấn đề nhận thức cơ bản về văn hóa du lịch nói chung cũng như văn hóa du lịch ở Việt Nam nói riêng, trong đó có mối

Trang 12

quan hệ giữa văn hóa và du lịch, nhận diện sự khác biệt giữa văn hóa du lịch và

du lịch văn hóa, các thành tố của văn hóa du lịch, việc ứng xử văn hóa trong phát triển du lịch

Bên cạnh đó, công trình cũng góp phần khái quát thực trạng du lịch Việt Nam từ góc nhìn văn hóa du lịch xoay quanh các thành tố như tài nguyên du lịch, du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cộng đồng địa phương cũng như quản lý nhà nước về du lịch, về môi trường du lịch quốc tế với những ứng xử theo thông lệ quốc tế

- “Du lịch Việt Nam qua 26 di sản thế giới” của Võ Văn Thành

Trên thế giới ngày nay, có nhiều người bận rộn với công việc mưu sinh hay đam mê theo đuổi nghề nghiệp, sở thích mà chưa có điều kiện để tìm hiểu tất cả những di sản thế giới ở Việt Nam Chính vì vậy, “Du lịch Việt Nam qua

26 di sản thế giới” giới thiệu các di sản tầm cỡ thế giới ở Việt Nam như nguồn cảm hứng cho bất kỳ ai quan tâm và muốn khám phá toàn bộ các Di sản thế giới được UNESCO công nhận – trong đó kể đến quần thể danh thắng Tràng An – Ninh Bình Hãy bằng cách nào đó, biến tất cả những tài nguyên du lịch này thành sản phẩm du lịch để đáp ứng nhu cầu du lịch cao cấp của du khách và đồng thời cũng phát huy giá trị các di sản và biến chúng thành lợi thế cạnh tranh của du

lịch Việt Nam

- “Du lịch sinh thái - Những vấn đề về lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam” của Phạm Trung Lương

Cuốn sách ra đời với hi vọng được góp phần nâng cao hiểu biết của xã hội

về du lịch sinh thái, cung cấp những thông tin tham khảo bổ ích cho công tác hoạch định chính sách, quản lý, điều hành, hướng dẫn du lịch và cho công tác nghiên cứu, giảng dạy…về du lịch sinh thái Du lịch sinh thái là một lĩnh vực còn mới, với nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn đang trong quá trình phát triển, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới, vì vậy nội dung cuốn sách đã đề cập đến nhiều mặt mới về vấn đề này

2.2.2 Tại khu du lịch Tràng An – Ninh Bình

- Bài viết “Đi du lịch mùa nào đẹp nhất?” đăng trên webDi sản Tràng An

Trang 13

dẫn người đọc là những du khách tiềm năng đang tìm thời điểm thích hợp để đến Tràng An trải nghiệm khung cảnh thiên nhiên, con người một cách trọn vẹn nhất Để không bỏ lỡ thưởng ngoạn nét đẹp của các điểm du lịch Ninh Bình, việc lựa chọn thời điểm vui chơi phù hợp cũng được xem là một trong những thông tin mà bạn nên tìm hiểu trước chuyến đi của mình Tuy nhiên, dù là xuân

hạ thu đông thì Ninh Bình vẫn mang trong mình những vẻ đẹp đặc trưng riêng của từng mùa

- Bài viết “Chèo thuyền Tràng An ngắm những động vật quý hiếm” cũng

được đăng tải tại website Di sản Tràng An cho thấy chèo thuyền không chỉ là bộ môn giúp du khách vui chơi mà còn thư giãn, tận hưởng vẻ đẹp thiên nhiên, không khí trong lành Chèo thuyền dọc bờ sông không chỉ được chiêm ngưỡng

vẻ đẹp hoang sơ, kì diệu của thiên nhiên nơi đây mà du khách còn có cơ hội

ngắm nhìn những loài động vật quý hiếm, đặc trưng nơi đây

- Bài viết “Bảo vệ rừng ở Quần thể danh thắng Tràng An” (2020) đăng tải

trên trang báo mạng Hội nông dân Ninh Bình đã đi sâu vào vấn đề công tác bảo

vệ môi trường đặc biệt là các giải pháp bảo vệ rừng, góp phần tích cực việc tôn tạo cảnh quan danh thắng, thúc đẩy ngành du lịch tỉnh Ninh Bình ngày càng phát triển Nắm bắt xu hướng du lịch sinh thái ngày càng tăng cao của các du khách, việc khai thác có hiệu quả và bền vững bảo vệ các giá trị của Quần thể danh thắng Tràng An là việc cần hơn bao giờ hể Bài báo đã nêu ra được các vấn đề

và hướng giải quyết đúng đắn của các ban quản lý, lãnh đạo khu du lịch để giải quyết kịp thời

- Bài viết “Hệ sinh thái ở Tràng An Ninh Bình” (2019) được viết bởi

Phạm Diệu đã miêu tả cảnh quan sinh thái hùng vĩ được tạo nên bởi mẹ thiên nhiên Các địa danh nơi đây sống động mà nên thơ nhưng cũng nông thôn bình

dị như một bức tranh tiên cảnh tuyệt vời cùng với các loài đông, thực vật quý hiếm Nếu để ví thì Tràng An tựa như một viên ngọc xanh mát cổ quý ẩn mình khiến mỗi du khách đặt chân đến nơi đây đều tựa như lạc vào một vườn cổ tích vậy Chính điều đó khiến mỗi ai đi qua đều không thể quên được con người, cảnh vật sinh thái tại Tràng An

Trang 14

- Bài viết: “ Về với Ninh Bình – vùng đất cố đô” (2014) được viết bởi Lê

Phương và Thu Hiền đã cho ta nhìn Ninh Bình với một cái nhìn cổ xưa, với vẻ hoang sơ đầy cổ kính Bài viết cũng đề cập đến những danh lam thắng cảnh như

hệ thống hang động chứa đựng những sắc thái riêng biệt với những khối thạch nhũ muôn màu, muôn vẻ Ngoài ra, cũng cho ta nhìn về một lịch sử đầy vẻ vang

và hào hùng ở nơi đây Con người cũng là một yếu tố quan trọng được nói đến ở bài viết, cho ta một cái nhìn thực tế hơn không chỉ về cảnh vật mà còn về tính cách con người, sự hiếu khách, thật thà, chất phác của người dân Ninh Bình Đây là nguồn tư liệu tốt, gợi mở về lý luận và thực tiễn để chúng em tiến hành thực hiện đề tài Qua đó thấy được đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, các bài báo viết về du lịch sinh thái Tràng An Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về phát triển du lịch sinh thái tổng quan tại Tràng An Vậy nên nhóm chúng em đã kế thừa và tham khảo rất nhiều bài viết hữu ích khác để tiếp tục tìm

hiểu và nghiên cứu về“Đánh giá tiềm năng du lịch sinh thái tại quần thể danh thắng Tràng An – Ninh Bình”

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá được tài nguyên và cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển du lịch sinh thái tại quần thể danh thắng Tràng An – Ninh Bình Đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng và phát triển đông thời bảo tồn di sản thiên nhiên đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái

- Xác lập cơ sở khoa học cho việc đề xuất những định hướng và biện pháp khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên nhằm phát triển có hiệu quả du lịch sinh thái, bảo vệ cảnh quan và môi trường

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Một số vấn đề lý luận về du lịch sinh thái

- Nghiên cứu tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại Tràng

An – Ninh Bình

- Đánh giá mức độ đảm bảo các nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái và đềxuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác các giá trị văn hoá, tiềm

Trang 15

năng phát triển du lịch sinh thái trong khu vực nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khu du lịch sinh thái và các tiêu chí nhận biết khu du lịch sinh thái, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, tài nguyên thiên nhiên, thảm thực vật và tiềm năng du lịch sinh thái tại quần thể danh thắng Tràng An – Ninh Bình

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu về khu du lịch sinh thái Tràng

An, thuộc địa phận các xã Trường Yên, Ninh Vân, Ninh Hải (huyện Hoa Lư), Gia Sinh (huyện Gia Viễn), xã Ninh Nhất, phường Tân Thành (TP.Ninh Bình), tỉnh Ninh Bình

- Phạm vi thời gian: Các số liệu từ 2018-2020

- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung đến sự phát triển du lịch sinh thái bao gồm điều kiện cơ sở vật chất kĩ thuật, tài nguyên thiên nhiên,… tại Tràng An – Ninh Bình trong những năm gần đây

5 Giả thuyết nghiên cứu

Khu du lịch Tràng An – Ninh Bình có đầy đủ các điều kiện phát triển loại hình DLST Việc đánh giá tiềm năng phát triển DLST của Tràng An góp phần phát huy được lợi thế và khắc phục những tồn tại để thức đẩy Tràng An phát triển tương xứng với tiềm năng

6 Phương pháp nghiên cứu

Căn cứ vào tình hình thực tế, dựa trên cơ sở lý luận của các khoa học liên ngành và chuyên ngành Đề tài nghiên cứu đã sử dụng kết hợp 4 phương pháp nghiên cứu chính, bao gồm:

- Phương pháp khảo sát thực tế: Nhóm đề tài đã đến trực tiếp địa điểm du lịch Tràng An để tìm hiểu thông tin Từ đó phân tích những tài liệu thực tế do nhóm thực hiện để điều tra xu hướng du lịch sinh thái tại nơi đây

- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu: Trên cơ sở thu thập nguồn tin

từ nhiều nguồn khác nhau như sách, báo, website, tài liệu thống kê…Từ đó,

Trang 16

nhóm đề tài đã tổng hợp, phân tích, chọn lọc và rút ra những kết luận trong việc đánh giá tiềm năng phát triển du lịch sinh thái Tràng An – Ninh Bình

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Qua các buổi gặp gỡ, trao đổi với người dân sống lâu năm quanh khu vực Tràng An, nhóm đề tài đã thu thập được một

số thông tin, kiến thức hữu ích cho đề tài nghiên cứu

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Nhóm đề tài đã thu thập các ý kiến khác nhau của các chuyên gia, kiểm tra lẫn nhau để có một cái nhìn khách quan hơn về phát triển du lịch sinh thái

7 Bố cục bài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, để tài nghiên cứu gồm có 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Tiềm năng du lịch sinh thái ở Tràng An – Ninh Bình

Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái tại quần thể Tràng An – Ninh Bình

Trang 17

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Khái niệm về du lịch sinh thái

1.1.1 Khái niệm về du lịch sinh thái trên thế giới

PGS.TS Phạm Trung lương nhận định:“Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã mau chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người, thuộc các lĩnh vực khác nhau Đối với một số người, “du lịch sinh thái” đơn giản được hiểu là sự kết hợp ý nghĩa của 2 từ ghép du lịch và sinh thái vốn đã quen thuộc Song đứng ở góc nhìn rộng hơn, tổng quát hơn thì một số người quan niệm DLST là du lịch thiên nhiên, là khái niệm mà trong thực tế đã xuất hiện từ đầu những năm 1800 (Ashton, 1993) Với khái niệm như tắm biển, nghỉ núi…đều được hiểu là DLST.”

Du lịch sinh thái có thể còn được hiểu dưới những tên gọi khác như:

- Du lịch thiên nhiên (Nature tourism)

- Du lịch dựa vào thiên nhiên (Nature – base tourism)

- Du lịch môi trường (Environmental tourism)

- Du lịch đặc thù (Particular tourism)

- Du lịch xanh (Green tourism)

- Du lịch thám hiểm (Adventure tourism)

-Du lịch bản xứ (Indigenous tourism)

- Du lịch có trách nhiệm (Responsible tourism)

- Du lịch nhạy cảm (Sensitized tourism)

- Du lịch bền vững (Sustainable tourism)[1; tr.6]

Cũng có người quan niệm DLST là loại hình du lịch có lợi cho sinh thái,

ít có những tác động tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của các hệ sinh thái nơi diễn ra các hoạt động du lịch

Có những ý kiến cho rằng DLST đồng nghĩa với du lịch đạo lý, du lịch có trách nhiệm, du lịch xanh có lợi cho môi trường hay có tính bền vững

Có thể nói, cho đến nay khái niệm về DLST vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, với những tên gọi khác nhau Tuy nhiên, mặc dù những tranh luận vẫn còn tiếp tục nhằm đưa ra một định nghĩa chung được chấp nhận

Trang 18

về DLST, đa số ý kiến tại các diễn đàn quốc tế chính thức về DLST đều cho rằng DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được quản lý bền vững về mặt sinh thái Du khách sẽ được hướng dẫn tham quan với những diễn giải cần thiết về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được những giá trị thiên nhiên và văn hóa mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với các hệ sinh thái và văn hóa bản địa

Về nội dung, DLST là loại hình du lịch tham quan, thám hiểm, đưa du khách tới những môi trường còn tương đối nguyên vẹn, về các vùng thiên nhiên hoang dã, đặc sắc để tìm hiểu, nghiên cứu các hệ sinh thái và các nền văn hóa bản địa độc đáo, làm thức dậy ở du khách tình yêu và trách nhiệm bảo tồn, phát triển đối với tự nhiên và cộng đồng địa phương

Nói một cách khác, DLST là loại hình du lịch với những hoạt động có sự nhận thức mạnh mẽ về thiên nhiên và ý thức trách nhiệm đối với xã hội Thuật ngữ “Responsible travel” (Du lịch trách nhiệm) luôn gắn liền với khái niệm DLST, hay nói một cách khác DLST là hình thức du lịch có trách nhiệm là không làm ảnh hưởng đến các khu bảo tồn thiên nhiên, không ảnh hưởng đến môi trường và góp phần duy trì, phát triển cuộc sống của cộng đồng người dân địa phương.[1; tr.7]

Khái quát lại, có thể coi DLST là loại hình du lịch có những đặc tính cơ bản:

- Phát triển dựa vào những giá trị (hấp dẫn) của thiên nhiên và văn hóa bản địa

- Được quản lý bền vững về môi trường sinh thái

- Có giáo dục và diễn giải về môi trường

- Có đóng góp cho những nỗ lực bảo tồn và phát triển cộng đồng

Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về DLST lần đầu tiên được Hector ceballos – Lascurain đưa ra năm 1987: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tựnhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”.[17]

Cùng với thời gian, định nghĩa về DLST được nhiều nhà nghiên cứu quan

Trang 19

tâm đưa ra, điển hình là:

“Du lịch sinh thái là du lịch đến các khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hóa không làm thay đổi

sự toàn vẹn của các hệ sinh thái Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế đểủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chính cho người dân địa phương” (Wood, 1991)

“Du lịch sinh thái được phân biệt với các loại hình du lịch thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao đối với môi trường và sinh thái, thông qua những hướng dẫn viên có nghiệp vụ lành nghề Du lịch sinh thái tạo ra mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức được giáo dục để biến bản thân khách du lịch thành những người đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường Phát triển DLST sẽ làm giảm thiểu tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài chính do

du lịch mang lại và chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên” (Allen, 1993)

Mặc dù có chung quan niệm cơ bản về DLST, song căn cứ vào những đặc thù và mục tiêu phát triển, mỗi quốc gia, mỗi tổ chức quốc tế đều phát triển những định nghĩa riêng của mình về DLST Một số định nghĩa về DLST khá tổng quát có thể xem xét đến là:

- Định nghĩa của Nelpan:

“Du lịch sinh thái là loại hình du lịch đề cao sự tham gia của nhân dân vào việc hoạch định và quản lý các tài nguyên du lịch để tăng cường phát triển cộng đồng, liên kết giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển du lịch, đồng thời sử dụng thu nhập từ du lịch để bảo vệ các nguồn lực mà ngành du lịch phụ thuộc vào”.[4; tr.12]

- Định nghĩa của Malaysia:

“Du lịch sinh thái là hoạt động du lịch và thăm viếng một cách có trách nhiệm về mặt môi trường, tới những khu thiên nhiên còn nguyên vẹn, nhằm tận hưởng và trân trọng các giá trị của thiên nhiên (và những đặc tính văn hóa kèm theo, trước đây cũng như hiện nay), mà hoạt động này sẽ thúc đẩy công tác bảo tồn, có ảnh hưởng của du khách không lớn và tạo điều kiện cho dân chúng địa

Trang 20

phương được tham dự một cách tích cực, có lợi về xã hội và kinh tế”.[19]

- Định nghĩa của Australia:

“Du lịch sinh thái là du lịch dựa vào thiên nhiên, có liên quan đến sự giáo dục

và diễn giải về môi trường thiên nhiên, được quản lý bền vững về mặt sinh thái” [4; tr.16]

- Định nghĩa của Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế:

“Du lịch sinh thái là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên

mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương”.[4; tr.13]

Còn rất nhiều định nghĩa khác về DLST, trong đó Buckley (1994) đã tổng quát như sau:

“Chỉ có du lịch dựa vào thiên nhiên, được quản lý bền vững, hỗ trợ bảo tồn, và có giáo dục môi trường mới được xem là du lịch sinh thái” Trong đó yếu

tố quản lý bền vững bao hàm cả nội dung hỗ trợ phát triển cộng đồng

Như vậy, từ định nghĩa đầu tiên được đưa ra năm 1987 cho đến nay, nội dung của định nghĩa DLST đã có sự thay đổi: từ chỗ đơn thuần coi hoạt động DLST là loại hình du lịch ít tác động đến môi trường tự nhiên sang cách nhìn tích cực hơn Theo đó, DLST là loại hình du lịch có trách nhiệm với môi trường,

có tính giáo dục và diễn giải cao về tự nhiên, có đóng góp cho hoạt động bảo tồn

và đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương

1.1.2 Khái niệm về du lịch sinh thái tại Việt Nam

Ở Việt Nam, DLST là lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữa thập kỉ 90 của thế kỉ XX, song đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trường Do trình độ nhận thức khác nhau, ở những góc độ nhìn nhận khác nhau, khái niệm về DLST cũng còn nhiều điểm chưa thống nhất

Để có được sự thống nhất về khái niệm cơ sở cho công tác nghiên cứu và hoạt động thực tiễn phát triển DLST, Tổng cục Du lịch Việt Nam đã phối hợp với nhiều Tổ chức quốc tế như ESCAP, WWF, IUCN,…có sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học quốc tế và Việt Nam về DLST và các lĩnh vực liên quan, tổ chức Hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển Du lịch sinh

Trang 21

thái ở Việt Nam” từ ngày 7 đến 9/9/1999 Một trong những kết quả quan trọng của Hội thảo là lần đầu tiên đã đưa ra định nghĩa về DLST ở Việt Nam, theo đó:

“Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.”[1; tr.11]

Đây được coi là sự mở đầu thuận lợi cho các bước tiếp theo trong quá trình phát triển DLST ở Việt Nam

Mặc dù khái niệm về DLST còn có những điểm chưa thống nhất và sẽ còn được hoàn thiện dần trong quá trình phát triển của nhận thức, song những đặc điểm cơ bản nhất của định nghĩa về DLST cũng đã được Tổ chức Du lịch thế giới (WTO) tóm tắt lại như sau:

- DLST bao gồm tất cả những hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên mà ở

đó mục đích chính của khách du lịch là tham quan tìm hiểu về tự nhiên cũng như những giá trị văn hóa truyền thống ở các vùng thiên nhiên đó

- DLST bao gồm những hoạt động giáo dục và diễn giải về môi trường

- Thông thường DLST được các tổ chức chuyên nghiệp và doanh nghiệp

có quy mô nhỏ ở nước sở tại tổ chức cho các nhóm nhỏ du khách Các công ty

lữ hành nước ngoài có quy mô khác nhau cũng có thể tổ chức, điều hành hoặc quảng cáo các tour DLST cho các nhóm du khách có số lượng hạn chế

- DLST hạn chế đến mức thấp nhất các tác động đến môi trường tự nhiên

và văn hóa - xã hội

- DLST có sự hỗ trợ cho hoạt động bảo tồn tự nhiên bằng cách:

+ Tạo ra những lợi ích về kinh tế cho địa phương, các tổ chức và chủ thể quản lý, với mục đích bảo tồn các khu tự nhiên đó

+ Tạo ra các cơ hội về việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương + Tăng cường nhận thức của cả du khách và người dân địa phương về sự cần thiết phải bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hóa.[1; tr.12]

Tuy nhiên, mối quan hệ giữa phát triển DLST với bảo tồn tự nhiên không phải lúc nào theo một chiều mà là mối quan hệ qua lại thể hiện ở ba dạng

- Quan hệ cùng tồn tại: Khi có rất ít mối quan hệ giữa hoạt động du lịch

Trang 22

và bảo tồn tự nhiên hoặc cả hai tồn tại một cách độc lập

- Quan hệ cộng sinh: Trong đó cả du lịch và bảo tồn tự nhiên đều nhận được những lợi ích từ mối quan hệ này và có sự hỗ trợ lẫn nhau

- Quan hệ mâu thuẫn: Khi sự hiện diện của du lịch, nhất là du lịch đại chúng, làm tổn hại đến nỗ lực bảo tồn tự nhiên

Mối quan hệ này được thể hiện ở dạng nào là tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó mức độ sử dụng và quản lý tài nguyên là yếu tố quan trọng Điều này thường được thể hiện thông qua các giai đoạn phát triển của du lịch

Ở giai đoạn đầu, khi hoạt động du lịch mới phát triển, mức độ sử dụng tài nguyên còn thấp, mối quan hệ thường thể hiện ở dạng quan hệ cùng tồn tại Lúc này hoạt động du lịch và bảo tồn tự nhiên ít có ảnh hưởng đến nhau và cùng song song tồn tại Tuy nhiên dạng quan hệ này rất khó duy trì lâu dài, đặc biệt khi hoạt động du lịch phát triển hơn với mức độ sử dụng tài nguyên cao hơn và những tác động đến môi trường cũng rõ rệt hơn

Giai đoạn tiếp theo, mối quan hệ có thể phát triển theo hướng tích cực nếu hoạt động du lịch được quản lý theo quy hoạch phù hợp với các quy luật tự nhiên, có lợi cho bảo tồn và du lịch Mối quan hệ này được xem là quan hệ cộng sinh, trong đó những giá trị của tự nhiên vẫn được bảo tồn, thậm chí ở điều kiện tốt hơn, trong khi chất lượng sản phẩm du lịch được đảm bảo, lợi ích của ngành

du lịch và khu vực được tăng cường

Trong trường hợp ngược lại, khi du lịch phát triển mà không quan tâm đến công tác bảo tồn thì mối quan hệ sẽ trở thành mâu thuẫn Thậm chí, ngay cả khi mối quan hệ này đang là cộng sinh, song nếu không được duy trì và quản lý tốt, sẽ dễ chuyển sang quan hệ mâu thuẫn Trong thực tế điều này thường xảy ra, đặc biệt trong trường hợp khi du lịch phát triển với mục đích đơn thuần về lợi ích kinh tế

DLST được quy hoạch và được quản lý trên cơ sở các nguyên tắc phát triển của mình sẽ tạo được mối quan hệ cộng sinh với môi trường Vì vậy việc nhận thức và đánh giá một cách đầy đủ những lợi ích lâu dài, nhiều mặt trong quy hoạch phát triển DLST là rất cần thiết

Trang 23

Trải qua thời gian những vấn đề quan trọng, cần thiết cho những người quan tâm đến DLST cũng đã dần được làm sáng tỏ hơn, bao gồm:

- Việc quản lý và kiểm soát hoạt động phát triển DLST ở các vùng tự nhiên chủ yếu phải do cộng đồng địa phương đảm trách

- Cần có được nhận thức một cách đầy đủ và đúng đắn về sự cần thiết phải bảo vệ các vùng tự nhiên nhằm bảo tồn đa dạng sinh học và đa dạng văn hóa

- Cần có được những dự báo và biện pháp kiểm soát bổ sung khi tổ chức phát triển hoạt động DLST ở những khu vực có tính nhạy cảm đặc biệt về môi trường

- Cần đảm bảo các quyền lợi truyền thống của cộng đồng và quyền lợi của địa phương ở những khu vực thuận lợi cho phát triển DLST

1.2 Những đặc trưng của du lịch sinh thái

Mọi hoạt động phát triển du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng đều được thực hiện trên cơ sở khai thác những giá trị của tài nguyên du lịch tự nhiên, văn hóa, lịch sử kèm theo các điều kiện về cơ sở hạ tầng và lịch sử Kết quả của quá trình khai thác đó là sự hình thành những sản phẩm du lịch từ các tiềm năng về tài nguyên, đem lại nhiều lợi ích cho xã hội

Trước tiên đó là những lợi ích về kinh tế - xã hội, tạo ra nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, nâng cao đời sống kinh tế cho cộng đồng địa phương thông qua các dịch vụ du lịch, tạo điều kiện cho việc bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử và

sự đa dạng của thiên nhiên nơi có những hoạt động phát triển du lịch Sau nữa là những lợi ích đem lại cho khách du lịch trong việc hưởng thụ các cảnh quan thiên nhiên mới lạ và độc đáo, các truyền thống văn hóa lịch sử, những đặc thù dân tộc mà trước đó họ chưa biết tới, từ đó xác lập ý thức trách nhiệm về bảo tồn

sự toàn vẹn của các giá trị thiên nhiên, văn hóa lịch sử của nơi họ đến nói riêng

và của hành tinh nói chung

DLST là một dạng của hoạt động du lịch, vì vậy nó cũng bao gồm tất cả những đặc trung cơ bản của hoạt động du lịch nói chung, bao gồm:

Tính đa ngành: Tính đa ngành thể hiện ở đối tượng khai thác để phục vụ

Trang 24

du lịch (sự hấp dẫn về cảnh quan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hóa, cơ sở hạ tầng vad các dịch vụ kèm theo…) Thu nhập xã hội từ du lịch cũng mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác nhau thông qua các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách du lịch (điện, nước, nông sản, hàng hóa…).[1; tr.17]

Tính đa thành phần: Biểu hiện ở tính đa dạng trong thành phần khách

du lịch, những người phục vụ du lịch, cộng đồng địa phương, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, các tổ chức tư nhân tham gia vào hoạt động du lịch.[1; tr.18]

Tính đa mục tiêu: Biểu hiện ở những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên

nhiên, cảnh quan lịch sử - văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống của khách du lịch và người tham gia hoạt động dịch vụ du lịch, mở rộng sự giao lưu văn hóa, kinh tế và nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi thành viên trong xã hội.[1; tr.18]

Tính liên vùng: Biểu hiện thông qua các tuyến du lịch, với một quần thể

các điểm du lịch trong một khu vực, một quốc gia hay giữa các quốc gia với nhau.[1; tr.18]

Tính mùa vụ: Biểu hiện ở thời gian diễn ra hoạt động du lịch tập trung

với cường độ cao trong năm Tính mùa vụ thể hiện rõ nhất ở các loại hình du lịch nghỉ biển, thể thao theo mùa (theo tính chất của khí hậu) hoặc loại hình du lịch nghỉ cuối tuần, vui chơi giải trí (theo tính chất công việc của những người hưởng thụ sản phẩm du lịch).[1; tr.18]

Tính chi phí: Biểu hiện ở chỗ mục đích đi du lịch là hưởng thụ các sản

phẩm du lịch chứ không phải với mục tiêu kiếm tiền.[1; tr.18]

Tính xã hội hóa: Biểu hiện ở việc thu hút toàn bộ mọi thành phần trong

xã hội tham gia (có thể trực tiếp hoặc gián tiếp) vào hoạt động du lịch

Bên cạnh các đặc trưng của ngành du lịch nói chung, DLST cũng hàm chứa những đặc trưng riêng:

- Tính giáo dục cao về môi trường: DLST hướng con người tiếp cận gần hơn nữa với các vùng tự nhiên và các khu bảo tồn, nơi có giá trị cao về đa dạng sinh học và rất nhạy cảm về mặt môi trường Hoạt động du lịch gây nên những

áp lực lớn đối với môi trường, và DLST được coi là chiếc chìa khóa nhằm cân bằng giữa mục tiêu phát triển du lịch với việc bảo vệ môi trường

Trang 25

- Góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì tính đa dạng sinh học: Hoạt động DLST có tác dụng giáo dục con người bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, qua đó hình thành ý thức bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như thúc đẩy các hoạt động bảo tồn, đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững

- Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương: Cộng đồng địa phương chính là những người chủ sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại địa phương mình Phát triển DLST hướng con người đến các vùng tự nhiên hoang

sơ, có giá trị cao về đa dạng sinh học, điều này đặt ra một yêu cầu cấp bách là cần phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương tại khu vực đó, bởi vì hơn ai hết chính những người dân địa phương tại đây hiểu rõ nhất về các nguồn tài nguyên của mình Sự tham gia của cộng đồng địa phương có tác dụng to lớn trong việc giáo dục du khách bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường, đồng thời cũng góp phần nâng cao hơn nữa nhận thức cho cộng đồng, tăng các nguồn thu nhập cho cộng đồng.[1; tr.19]

1.3 Những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái

PGS.TS Phạm Trung Lương nhận định: “Mặc dù du lịch sinh thái được xem là loại hình du lịch đặc thù, có tiềm năng, được ưu tiên phát triển trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam khi bước vào thế kỷ XXI, song cho đến nay, việc phát triển loại hình du lịch này còn nhiều hạn chế, do đây là một lĩnh vực mới ở Việt Nam nên còn thiếu những hiểu biết về lý luận và kinh nghiệm thực tiễn Sự phát triển của DLST hiện còn chưa tương xứng với tiềm năng phong phú và đa dạng của Việt Nam Các hình thức hoạt động của loại hình du lịch này mới chỉ mang ý nghĩa tham quan, hưởng thụ môi trường để tái tạo sức khỏe, ít đạt được ý nghĩa về nâng cao nhận thức, giáo dục để du khách có trách nhiệm đối với việc bảo tồn các giá trị của môi trường tự nhiên, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa bản địa, cũng như chưa mang lại những giá trị đích thực đối với lợi ích của cộng đồng.” [1; tr.3]

Chính vì vậy, hoạt động DLST cần tuân theo một số nguyên tắc sau:

Trang 26

1.3.1 Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn

Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động DLST, tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa DLST vói các loại hình du lịch dựa vào tự nhiên khác Du khách khi rời khỏi nơi mình đến tham quan sẽ phải có được sự hiểu biết cao hơn

về các giá trị của môi trường tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hóa bản địa Với những hiểu biết đó, thái độ cư xử của du khách sẽ thay đổi, được thể hiện bằng những nỗ lực tích cực hơn trong hoạt động bảo tồn và phát triển những giá trị về tự nhiên, sinh thái và văn hóa khu vực

1.3.2 Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái

Cũng như hoạt động của các loại hình du lịch khác, hoạt động DLST tiềm

ẩn những tác động tiêu cực đối với môi trường và tự nhiên Nếu như đối với những loại hình du lịch khác, vấn đề bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái chưa phải là những ưu tiên hàng đầu thì ngược lại, DLST coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng cần tuân thủ bởi vì:

- Việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái chính là mục tiêu hoạt động của DLST

- Sự tồn tại của DLST gắn liền với môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình Sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái các hệ sinh thái đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động DLST

Với nguyên tắc này, mọi hoạt động DLST sẽ phải được quản lý chặt chẽ

để giảm thiểu tác động tới môi trường, đồng thời một phần thu nhập từ hoạt động DLST sẽ được đầu tư để thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường và duy trì sự phát triển của các hệ sinh thái

1.3.3 Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng

Đây được xem là một trong những nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động DLST, bởi các giá trị văn hóa bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các giá trị môi trường của hệ sinh thái ở một khu vực cụ thể Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục, sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương dưới tác động nào đó sẽ làm mất đi sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn

Trang 27

có của khu vực và vì vậy sẽ làm thay đổi hệ sinh thái đó Hậu quả của quá trình này sẽ tác động trực tiếp đến DLST

Chính vì vậy, việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng địa phương có ý nghĩa quan trọng và là nguyên tắc hoạt động của DLST

1.3.4 Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương

Đây vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu hướng tới của DLST Nếu như các loại hình du lịch thiên nhiên khác ít quan tâm đến vấn đề này và phần lớn lợi nhuận từ các hoạt động du lịch đều thuộc về các công ty điều hành thì ngược lại, DLST sẽ dành một phần đáng kể lợi nhuận từ hoạt động của mình để đóng góp nhằm cải thiện môi trường sống của cộng đồng địa phương

Ngoài ra, DLST luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương, như đảm nhiệm vai trò hướng dẫn viên, đáp ứng chỗ nghỉ cho khách, cung ứng các nhu cầu về thực phẩm, hàng lưu niệm cho khách để thông qua đó sẽ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương Kết quả là cuộc sống của người dân sẽ ít bị phụ thuộc hơn vào khai thác tự nhiên, đồng thời họ sẽ nhận thấy lợi ích của việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phát triển DLST

1.4 Vai trò của phát triển du lịch sinh thái

1.4.1 Lợi ích về kinh tế

Du lịch là một ngành kinh doanh sinh lợi hơn bất kỳ một ngành kinh tế nào khác.Với lợi nhuận hàng năm mang lại cho các quốc gia hàng năm lên đến trăm triệu USD

Theo số liệu điều tra của hiệp hội DLST thế giới thì DLST chiếm khoảng 20% thị phần du lịch thế giới, ước tính DLST đang tăng trưởng hàng năm với tốc độ trung bình từ 10%-30% Sự đóng góp kinh tế của DLST không chỉ phụ thuộc vào lượng tiền mang đến khu vực mà điều quan tâm là lượng tiền đọng lại

ở khu vực mà nhờ đó tạo ra được những tác động nhân bội Theo ước lượng chung là không đến 10% số tiền tiêu của du khách được nằm lại ở cộng đồng gần điểm DLST vì phần lớn kinh phí được sử dụng cho tiếp thị và đi lại trước khi du khách đến điểm du lịch

Trang 28

Tại Việt Nam, du lịch sinh thái cộng đồng đã góp phần xóa đói, giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Du lịch cộng đồng mang lại hiệu quả rõ rệt trong quá trình phát triển ở các vùng nông thôn nước ta, tạo nhiều

cơ hội cho cộng đồng địa phương thu nhập trực tiếp từ hoạt động du lịch, chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng dịch vụ và phát triển bền vững Thông qua du lịch sinh thái cộng đồng, văn hóa các địa phương, các vùng miền được tôn trọng, bảo vệ, khai thác, phát huy giá trị và được giới thiệu, quảng bá rộng rãi Du lịch cộng đồng mang lại hiệu quả rõ ràng trong quá trình hiện đại hóa nông thôn thông qua việc tạo thêm nhiều công ăn việc làm, giữ gìn

và phát huy các làng nghề truyền thống, bảo vệ các giá trị cộng đồng, thay đổi mức sống của người dân địa phương, thay đổi nhận thức và từng bước thu hẹp

sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn về chất lượng cuộc sống, giảm bớt sức ép

về di dân tự do từ các vùng nông thôn tới đô thị, góp phần làm ổn định trật tự xã hội Khi cộng đồng phát triển, các dịch vụ du lịch tại điểm đến được nâng lên, chất lượng phục vụ du khách từ đó cũng được nâng cao, đem lại nguồn thu dồi dào cho người dân và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch Mối quan hệ hữu cơ giữa phát triển du lịch với phát triển cộng đồng vì thế càng trở nên khăng khít, gắn bó hơn.[16]

- xã hội những vùng này càng trở lên sôi động hơn, văn minh hơn

DLST phát triển tốt, nhiều dịch vụ du lịch chất lượng cao được tăng cường, điều đó tạo điều kiện giữ gìn trật tự, an toàn xã hội

Tuy nhiên về mặt người dân bản địa dù dưới hình thức nào khi đã thương

Trang 29

mại hóa thì văn hóa của họ cũng bịmảnh hưởng, du lịch luôn du nhập những thói quen có thể tốt có thể tiêu cực DLST sẽ góp phần hạn chế tối thiểu mặt tiêu cực thông qua giáo dục có mục đích cho du khách, cộng đồng địa phương khi tham gia vào hành trình DLST

1.4.3 Lợi ích về thẩm mỹ

Tràng An – Ninh Bình ngoài giá trị về địa chất - địa mạo, văn hóa, còn là nơi có chứa đựng các hiện tượng thiên nhiên siêu việt hay các khu vực có vẻ đẹp thiên nhiên khác thường và tầm quan trọng thẩm mỹ Điều này phù hợp với tiêu chí về thẩm mỹ, là cơ sở để Ninh Bình xây dựng hồ sơ đề nghị công nhận là di sản thế giới cho Quần thể danh thắng Tràng An

Khu du lịch sinh thái Tràng An thuộc dãy núi thành trì thiên tạo của Kinh

đô Hoa Lư xưa, xung quanh núi bao bọc bốn phía, ẩn dưới mỗi ngọn núi là những hang động được thông nhau bởi các thung nước, tạo nên một cảnh quan vừa đẹp, vừa kỳ vĩ

Không những thế, khu hang động Tràng An còn được ví như một "bảo tàng địa chất ngoài trời", với địa hình được bao bọc bởi toàn bộ các dãy núi đá vôi hình cánh cung ở giữa vùng chiêm trũng ngập nước Chính các yếu tố trên, Ninh Bình trở thành điểm đến của khách du lịch trong và ngoài nước Những khu vườn sinh thái, hệ thống thực vật độc đáo tạo nên nhiều khung cảnh đẹp làm

mê hồn nhiều khách du lịch khi đến đây Các điểm du lịch trên không chỉ thu hút khách du lịch độ tuổi trung niên mà còn được giới trẻ biết đến qua các Review

du lịch hay qua các Blog du lịch tại Việt Nam Từ đó tạo tiền đề cho du lịch Ninh Bình phát triển thêm các thắng cảnh, mở ra nhiều tour du lịch sinh thái cho

du khách giúp cảnh quan nơi đây được khai thác trọn vẹn Để làm được điều đó

TP Ninh Bình không chỉ chú trọng về đầu tư khu du lịch mà còn về sinh thái, bảo tồn và phát huy các giống loài quý hiếm, các vùng đất hoang sơ được khai thác có giới hạn để giữ vững về mặt thẩm mỹ cho nơi đây

1.4.4 Lợi ích về sinh thái

Du lịch sinh thái (DLST) được xem là công cụ tốt nhất để bảo tồn thiên nhiên, nâng cao chất lượng môi trường, đề cao các giá trị cảnh quan và nhận

Trang 30

thức của toàn dân về sự cần thiết phải bảo vệ hệ sinh thái dễ bị tổn thương, khống chế sự thay đổi của môi trường sinh thái, khắc phục những tài nguyên đang bị hủy hoại

Phát triển DLST đồng nghĩa với bảo vệ môi trường vì DLST tồn tại gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình DLST được xem là công cụ bảo tồn đa dạng sinh học, nếu các hoạt động DLST được thực hiện một cách đúng nghĩa thì sẽ giảm thiểu được các tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học Sở dĩ như vậy là vì bản chất của DLST là loại hình du lịch dựa trên cơ sở các khu vực có tính hấp dẫn cao về tự nhiên và có hỗ trợ cho bảo tồn tự nhiên Bên cạnh đó, việc phát triển DLST còn đặt ra yêu cầu đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện về kinh phí để nâng cao cơ sở hạ tầng, duy trì và bảo tồn các thắng cảnh, tuyên truyền, vận động người dân địa phương thông qua các dự

án bảo vệ môi trường, ngoài ra nó còn tạo cơ hội để du khách ủng hộ tích cực trong việc bảo tồn tài nguyên môi trường

Việc du lịch kết hợp sinh thái còn tạo động lực quan trọng, khơi dậy ý thức bảo vệ môi trường vàduy trì hệ sinh thái Người dân khi nhận được lợi ích

từ hoạt động DLST, họ có thể hỗ trợ ngành du lịch và công tác bảo tồn tốt hơn, bảo vệ các điểm tham quan

Như vậy phát triển DLST ngoài việc thỏa mãn những nhu cầu mong đợi của du khách nó còn duy trì, quản lý tối ưu các nguồn tài nguyên môi trường và

là “bí quyết để phát triển bền vững”

1.5 Điều kiện, tài nguyên phát triển du lịch sinh thái

* Điều kiện đầu tiên để có thể tổ chức được DLST là sự tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao

Sinh thái tự nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu tự nhiên và động thực vật, bao gồm: sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động vật (animal ecology), sinh thái thực vật (plant ecology), sinh thái nông nghiệp (agricultural ecology), sinh thái khí hậu (ecoclimate) và sinh thái nhân văn (human ecology)

Đa dạng sinh thái là một bộ phận và là một dạng thứ cấp của đa dạng sinh

Trang 31

học, ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài Đa dạng sinh thái thể hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống, mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống như: đất, nước, địa hình, khí hậu…đó là các hệ sinh thái (eco-systems) và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc nhiều loài sinh vật (habitats) (Theo công ước đa dạng sinh học được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh Rio de g Gianero về môi trường)

Như vậy có thể nói DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên (natural-based tourism) (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể tồn tại và phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung Điều này giải thích tại sao hoạt động DLST thường chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên (natural reserve), đặc biệt ở các vườn quốc gia (natural park), nơi còn tồn tại những khu rừng với tính đa dạng sinh học cao và cuộc sống hoang dã Tuy nhiên điều này không phủ nhận sự tồn tại của một số loại hình DLST phát triển ở những vùng nông thôn (rural tourism) hoặc các trang trại (farm tourism) điển hình

* Điều kiện thứ hai có liên quan đến những điều kiện cơ bản của DLST ở

2 điểm:

- Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao được hiểu biết cho khách DLST, người hướng dẫn viên ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng địa phương Điều này rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động DLST, khác với những loại hình du lịch tự nhiên khác khi du khách có thể tự mình tìm hiểu hoặc yêu cầu không cao về sự hiểu biết này ở người hướng dẫn viên Trong nhiều trường hợp, cần thiết phải cộng tác với người dân địa phương để có được những hiểu biết tốt nhất, lúc đó người hướng dẫn viên chỉ đóng vai trò là một người phiên dịch giỏi

- Hoạt động DLST đòi hỏi phải coa được người điều hành có nguyên tắc Các nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên, họ chỉ

Trang 32

đơn giản tạo cho khách du lịch một cơ hội để biết được những giá trị tự nhiên và văn hóa trước khi những cơ hội này thay đổi hoặc vĩnh viễn mất đi Ngược lại, các nhà điều hành DLST phải có sự cộng tác với các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương nhằm mục đích đóng góp vào việc bảo

vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hóa khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương với khách du lịch

* Điều kiện thứ ba nhằm hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt động DLST đến tự nhiên và môi trường, theo đó DLST cần được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về “sức chứa” Khái niệm “sức chứa” được hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý học và xã hội Tất cả những khía cạnh này

có liên quan tới lượng khách đến một địa điểm vào cùng một thời điểm

Đứng trên góc độ vật lý, sức chứa ở đây được hiểu là số lượng tối đa du khách mà khu vực có thể tiếp nhận Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn tối thiểu về không gian đối với mỗi du khách cũng như đối với nhu cầu sinh hoạt của họ

Đứng ở góc độ sinh học, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà nếu lớn hơn sẽ vượt quá khả năng tiếp nhận của môi trường, làm xuất hiện các tác động sinh thái do hoạt động của du khách và tiện nghi mà họ sử dụng gây ra Sức chứa này sẽ đạt tới giới hạn khi số lượng du khách và các tiện nghi mà họ

sử dụng bắt đầu có những ảnh hưởng tới tập tục sinh họat của các loài thú hoang

dã và làm cho hệ sinh thái bị xuống cấp (như làm phá vỡ tập quán kết bầy, làm đất bị xói mòn…)

Đứng ở góc độ tâm lý, sức chứa được hiểu là giới hạn lượng khách mà nếu vượt quá thì bản thân du khách sẽ cảm thấy khó chịu vì sự đông đúc và hoạt động của họ bịảnh hưởng bởi sự có mặt của các du khách khác Nói một cách khác, mức độ thỏa mãn của du khách bị giảm xuống dưới mức bình thường do tình trạng quá đông đúc Sức chứa này đạt tới ngưỡng khi có quá nhiều du khách đến điểm tham quan làm du khách phải chịu nhiều tác động do du khách khác gây ra (như khó quan sát được các loài thú hoang dã, đi lại khó khăn hơn, sự khó chịu nảy sinh do rác thải…) Những tác động này làm giảm đáng kể sự hài lòng

Trang 33

của du khách

Đứng ở góc độ xã hội, sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà tại đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến đời sống văn hóa-xã hội, kinh tế-xã hội của khu vực Cuộc sống bình thường của cộng đồng địa phương có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập

Đứng ở góc độ quản lý, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà khu

du lịch có khả năng phục vụ Nếu lượng khách vượt quá giới hạn này thì năng lực quản lý (lực lượng nhân viên, trình độ và phương tiện quản lý…) của khu du lịch sẽ không đáp ứng được yêu cầu của khách, kết quả là sẽ làm ảnh hưởng đến môi trường và xã hội

Do khái niệm sức chứa bao gồm cả định tính và định lượng, vì vậy khó có thể xác định một con số chính xác về sức chứa cho một khu vực Mặt khác, mỗi khu vực khác nhau sẽ có chỉ số sức chứa khác nhau Các chỉ số này chỉ có thể xác định một cách tương đối bằng phương pháp thực nghiệm

Một điểm cần phải lưu ý trong quá trinh xác định sức chứa là “quan niệm”

về sự “đông đúc” của các nhà nghiên cứu có sự khác nhau, đặc biệt trong những điều kiện phát triển xã hội khác nhau (ví dụ giữa các nước châu Á và châu Âu, giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển…) Rõ ràng để đáp ứng yêu cầu này, cần phải tiến hành nghiên cứu sức chứa của các địa điểm cụ thể để căn

cứ vào đó mà có các quyết định về quản lý Điều này cần được tiến hành đối với các nhóm đối tượng khách/thị trường khác nhau, phù hợp với tâm lý và quan niệm của họ DLST không thể đáp ứng được nhu cầu của tất cả cũng như mọi loại khách hàng Để đơn giản, Boullon (1985) đưa ra một công thức chung để xác định sức chứa du lịch của một khu vực, chia thành yêu cầu khu vực do du khách sử dụng và tiêu chuẩn trung bình cho từng cá nhân (thường là m2/người) Sức chứa = khu vực do du khách sử dụng/ tiêu chuẩn trung bình cho mỗi cá nhân

Tiêu chuẩn không gian trung bình cho mỗi khách thường được xác định bằng thực nghiệm và thay đổi phụ thuộc vào hình thức hoạt động du lịch

* Điều kiện thứ tư là thỏa mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của khách du

Trang 34

lịch Việc thỏa mãn mong muốn của khách DLST về những kinh nghiệm, hiểu biết mới đối với tự nhiên, văn hóa bản địa thường rất là khó khăn, song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngành DLST Vì vậy những dịch vụ

để làm hài lòng du khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì họ tham quan

Tiểu kết chương I

Du lịch sinh thái mang đến cho du khách không chỉ là những trải nghiệm

và khám phá thiên nhiên đầy thú vị, đáp ứng nhu cầu nghỉ dưỡng Mà còn tăng thêm sự hiểu biết và ý thức bảo vệ môi trường thiên nhiên một cách tích cực Giúp du khách khám phá và biết thêm về một vùng đất mới đầy hấp dẫn, thú vị Qua đó, nâng cao tầng quan trọng của các giá trị thiên nhiên, hiểu rõ hơn về sự tác động qua lại giữa hệ sinh thái và chất lượng sống của con người Nâng cao hiểu biết dân trí về môi trường sinh thái, văn hóa lịch sử của mỗi vùng đất Bên cạnh đó, du lịch sinh thái cũng là biện pháp góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường xanh – sạch – đẹp, tăng cường sức khỏe về cả thể chất lẫn tinh thần cho du khách và cộng đồng Giảm áp lực lên môi trường, giảm việc khai thác nguồn lợi thiên nhiên phục vụ du lịch, bảo tồn và duy trì được vẻ đẹp hoang sơ nhất của tự nhiên Chức năng giáo dục chính là lợi ích quan trọng nhất của những chuyến du lịch sinh thái Đặc biệt là trong thời buổi hiện đại, môi trường ô nhiễm quá mức và trái đất đang nóng dần lên thì lợi ích này vô cùng quan trọng và hữu ích Từ những phân tích trên, ta đã có cái nhìn khái quát hơn

về du lịch sinh thái cũng như sự phát triển của du lịch sinh thái tác động lên mọi mặt của vấn đề mà chúng ta cần phải giải quyết ở chương 2

Trang 35

CHƯƠNG II: TIỀM NĂNG DU LỊCH SINH THÁI

Ở TRÀNG AN – NINH BÌNH 2.1 Quan điểm phát triển du lịch sinh thái tại Tràng An

2.1.1 Phát triển du lịch gắn với việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, bảo tồn các giá trị tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan

Để du lịch Tràng An phát triển tương ứng với tiềm năng của vùng cần đặt

ra mục tiêu phát triển bền vững Phát triển du lịch gắn với môi trường sinh thái - đây là một trong những quan điểm phát triển quan trọng trong phát triển du lịch Tràng An Phát triển du lịch phải đảm bảo sự bền vững về môi trường tự nhiên, môi trường văn hóa – xã hội Muốn vậy hoạt động du lịch phải có trong tâm, trọng điểm, đặt ra các kế hoạch khai thác, bảo tồn và phát triển Du lịch Tràng

An tập trung phát tiển theo hướng:

2.1.1.1 Phát triển du lịch sinh thái- nghỉ dưỡng gắn với việc bảo vệ môi trường

Tràng An - Ninh Bình được thiên nhiên ưu đãi nhiều cảnh quan tự nhiên tươi đẹp cũng như những di sản văn hóa độc đáo để trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn Trong số 975 di tích có gần 90 di tích được xếp hạng quốc gia, nổi bật

là quần thể Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới Tràng An; Vườn quốc gia Cúc Phương, Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, Nhà thờ đá Phát Diệm Cùng với những danh lam thắng cảnh, Ninh Bình còn có nhiều làng nghề truyền thống như làng nghề thêu ren Văn Lâm, làng nghề chạm khắc đá Ninh Vân, các làng nghề chiếu cói Kim Sơn, làng nghề gốm Bồ Bát Theo thống kê của các cơ quan chuyên môn, những năm gần đây Ninh Bình trở thành điểm đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn mang lại về nhiều mặt, sự phát triển nhanh chóng số lượng du khách đến với Ninh Bình cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường du lịch cũng như công tác bảo tồn di sản

Do đó, từ năm 2001 đến nay, Tỉnh ủy đã ban hành 3 nghị quyết về phát triển du lịch trong đó hết sức quan tâm vấn đề bảo vệ môi trường cả về tự nhiên

và văn hóa, xã hội

Đồng thời, công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên và bảo vệ môi trường

Trang 36

được tăng cường, trong đó đã làm tốt công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển các khu, tua, tuyến du lịch, các dự án, đề án bảo vệ môi trường Hệ thống thu gom, xử

lý nước thải của thành phố Ninh Bình, xử lý nước thải tại các cơ sở du lịch Môi trường tại các khu du lịch trên địa bàn tỉnh cơ bản được giữ gìn sạch đẹp, hệ động thực vật tại các khu, điểm du lịch nhìn chung được bảo tồn, nguyên

sơ, thậm chí được bổ sung, làm phong phú, đa dạng hơn

Để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển bền vững, đảm bảo hài hòa giữa sinh kế của người dân, tăng trưởng kinh tế với giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực tới môi trường, trong thời gian tới ngành du lịch cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động kết hợp áp dụng các biện pháp hành chính, kinh tế để nâng cao ý thức tự giác, chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường cho người dân

2.1.1.2 Phát triển du lịch văn hóa tâm linh gắn với các lễ hội truyền thống

Du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người trong đời sống tinh thần Theo cách nhìn nhận đó, du lịch tâm linh khai thác những yếu tố văn hóa tâm linh trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch, dựa vào những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử hình thành nhận thức của con người về thế giới, những giá trị về đức tin, tôn giáo, tín ngưỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác Du lịch tâm linh mang lại những cảm xúc và trải nghiệm thiêng liêng về tinh thần của con người trong khi

đi du lịch

Tháng 11/2003, tỉnh Ninh Bình đã đăng cai tổ chức Hội nghị quốc tế về

du lịch tâm linh tại Ninh Bình (tháng 11-2013) theo sáng kiến của Tổng Thư ký

Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) Taleb Rifai Nội dung của Hội nghị, đặc biệt là các ý kiến của các chuyên gia đề cập đến tiềm năng, lợi thế của Ninh Bình đã tạo tiền đề để các doanh nghiệp, công ty lữ hành xây dựng chiến lược phát triển loại hình du lịch tâm linh Là một tỉnh nằm ở cực Nam của đồng bằng châu thổ sông Hồng, Ninh Bình lưu giữ nhiều dấu tích liên quan trực tiếp đến các nền minh cổ ở Việt Nam như văn hóa Tràng An, văn hóa Hòa Bình, văn hóa

Trang 37

Đa Bút, văn hóa Đông Sơn Nơi đây không chỉ có cố đô Hoa Lư là kinh đô đầu tiên của Nhà nước Trung ương phong kiến tập quyền đầu tiên của Việt Nam trải qua ba Triều đại nhà Đinh, Tiền Lê vàLý, mà còn là còn là căn cứ quân sự của các Triều đại nhà Trần và Tây Sơn Trong kháng chiến chống ngoại xâm nơi đây

có phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn, chiến khu Quỳnh Lưu Những đặc điểm

về lịch sử, văn hóa, tự nhiên và con người đã tạo cho vùng đất Ninh Bình hệ thống các di tích phong phú và đa dạng góp phần đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Ninh Bình

Ninh Bình có trên 1.500 di tích, hệ thống di tích này gồm các công trình: chùa, đình, đền, miếu, phủ, nhà thờ công giáo, nhà thờ họ, trong đó có 3 di tích cấp quốc gia đặc biệt là khu du lịch sinh thái Tràng An - Tam Cốc - Bích Động; khu di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Cố đô Hoa Lư và Núi Non Nước Đặc biệt, quần thể danh thắng Tràng An đã được UNESCO ghi danh là

Di sản văn hóa và thiên nhiên Thế giới và trở thảnh di sản hỗn hợp đầu tiên của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á

* Lễ hội cố đô Hoa Lư

Theo ông Lã Đăng Bật chia sẻ: “Kinh đô Hoa Lư Là Kinh đô đầu tiên của Nhà nước phong kiến tập quyền ở Việt Nam Hồi đó, tuy chỉ mang tính chất một quân thành nhưng Kinh đô Hoa Lư trải qua 42 năm (968-1010) tồn tại và gắn bó với nhiều đời vua của ba vương triều Đinh, Lê, Lý đã thực sự là trung tâm chính trị kinh tế, văn hóa của nước Đại Cồ Việt thống nhất, độc lập, tự chủ.” [2; tr.5] Thời gian diễn ra: 15/2 âm lịch hoặc từ ngày 6/3 - 10/3 âm lịch

Địa điểm: khu di tích văn hóa Cố đô Hoa Lư, huyện Trường Yên, tỉnh Ninh Bình

Thuộc danh sách các lễ hội ở Ninh Bình, lễ hội cố đô Hoa Lư là lễ hội lớn nhất trong năm được tổ chức tại Quảng trường trung tâm khu di tích văn hóa cố

đô Hoa Lư tại huyện Trường Yên, Ninh Bình Lễ hội thể hiện lòng yêu nước, bản sắc “Uống nước nhớ nguồn” đồng thời cũng giáo dục thế hệ trẻ lòng biết ơn sâu sắc đến các anh hùng dân tộc đã có công giữ nước như vua Đinh Tiên Hoàng, vua Lê Đại Hành Lễ hội thường được tổ chức vào ngày sinh của

Trang 38

vua Đinh Tiên Hoàng vào ngày 15/2 âm lịch hoặc từ ngày 6/3-10/3 âm lịch

Lễ hội bao gồm các lễ rước như: lễ mở cửa đền, lễ dâng hương, lễ rước nước… cùng nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thi đấu thể thao và các trò chơi dân gian như: thi đấu bóng chuyền, nhiếp ảnh, tranh thư pháp, bày mâm ngũ quả tiến vua,…

* Khu tâm linh núi chùa Bái Đính

Thời gian diễn ra: từ mùng 6/1 đến hết tháng 3 âm lịch

Địa điểm: chùa Bái Đính, xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, Ninh Bình Tôn giáo và tín ngưỡng tôn giáo là một trong những vẫn đề luôn được quan tâm sâu rộng nhất trong đời sống con người Ngoài tín ngưỡng dân gian, Việt Nam còn có một số tôn giáo lớn như: Đạo Phật, Đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, đạo Hồi, đạo Cao Đài, đạo Hoà Hảo… Trong đó, đạo Phật du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ II, trải qua nhiều thăng trầm và còn tồn tại đến ngày nay Hiện nay, số người theo đạo Phật khoảng trên 70% dân số cả nước Những khu văn hoá tâm linh liên quan đến tôn giáo ngày càng được chú trọng gìn giữ, tôn tạo và phát triển Bởi đây là những khu di tích mang ý nghĩa lịch sử, văn hoá, tinh thần, có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống nhân dân

Chùa Bái Đính cổ thuộc địa phận xã Gia Sinh – huyện Gia Viễn - tỉnh Ninh Bình là một ngôi chùa cổ đã được nhà nước công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hoá cấp Quốc gia từ ngày 18/6/1997

Chùa Bái Đính cổ được Thiên sư Nguyễn Minh Không (1065 – 1141) phát hiện Ông đã phát hiện động trên núi Bái Đính khi đến đây tìm cây thước cho vua Lý Thần Tông (1128 – 1138) và biến động thành chùa – đây là điểm đặc biệt của chúa Bái Đính cổ Chùa Bái Đính cổ gồm nhiều hang, mỗi hang là một gian thờ Phật, thờ Mẫu, thờ Thần… Tại đây còn lại vườn thuốc của Thánh Nguyễn Minh Không, với nhiều loại thuốc quý: sinh địa, hoài sơn, sâm bồ, ngũ

da bì, bồ chích, đậu xương, vôi hạc, lông công, hoàng bá, bạch chỉ,…

Hiện nay, trên đồi Ba Rau, gần với chân núi Bái Đính, chùa Bái Đính đã

đi vào hoạt động Công trình được khởi công từ năm 2003, kỷ niệm 1000 năm

Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long Ngày 17/5/2008 chùa khánh thành

Trang 39

giai đoạn 1 nhân dịp cùng với khu di tích Yên Tử, vịnh Hạ Long – Quàng Ninh đón đoàn đại biểu các nước về chiêm bái trong chương trình đại lễ Phật đảng Liên Hợp Quốc lần thứ V (lần đầu tiên tổ chức tại Việt Nam) Hiện nay ngôi chùa đã trở thành ngôi chùa lớn nhất Việt Nam, và dự kiến sẽ trở thành ngôi chùa lớn nhất khu vực đông Nam Á

Diện tích tổng thể của khu văn hoá tâm linh núi chùa Bái Đính là 700 ha, hiện đã và đang hoàn thiện một số công trình chính trong giai đoạn 1, mới sử dụng 50 ha, bao gồm các hạng mục: Tam quan nội, tháp chuông, điện Quan Thế

Âm Bồ Tát, chùa Pháp Chủ, điện Tam Thế, hành lang La Hán, giếng Ngọc, đến giai đoạn II, khu văn hoá tâm linh sẽ mở rộng hết 700 ha, xây dựng thêm các công trình: tháp Bồ Đề 9 tầng, khu thờ Mẫu, khu thờ Tổ, khu tháp mộ sư, khu nhà tăng thiền viện, khu nhà khách, khu bảo tàng Phật giáo Việt Nam…

Ngôi chùa Bái Đính đã là ngôi chùa xác lập được nhiều kỷ lục nhất Việt Nam Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã cấp các bằng “Xác nhận kỷ lục” Nơi đây được xây dựng phù hợp với kiến trúc chùa Việt Nam và cảnh quan thiên nhiên khu vực, cũng giống như các ngôi chùa cổ Việt Nam khác, nhưng có quy mô lớn hơn rất nhiều Tại đây còn có 500 bức tượng La Hán bằng đá nguyên khối cao từ 1,5m đến 2m; 200 tượng Quan Thế Âm nhỏ bằng đồng; 1.284 tượng Thích Ca Mâu Ni nhỏ bằng đồng; 1.808 tượng Phật nhỏ bằng Đồng

Trong đó, chuông đồng lớn nhất Việt Nam là kỷ lục chùa Bái Đính tự phá

kỷ lục chiếc chuông đồng nặng 27 tấn của mình Ngoài ra, chùa Bái Đính còn có những kỷ lục khác chưa được chính thức công nhận: ngôi chùa có diện tích lớn nhất Việt Nam, ngồi chùa có nhiều tượng La Hán nhất Việt Nam, chuông đồng lớn nhất Đông Nam Á (chiếc chuông đồng 27 tấn của chùa Bái Đính là chuông lớn thứ 2 đông Nam Á), tượng Phật lớn nhất Đông Nam Á Với văn hoá Phật giáo của người dân Việt Nam hiện, một không giạn tâm linh quy mô, rộng lớn

và bề thế như chùa Bái Đính là cần thiết để gìn giữ và nuôi dưỡng những giá trị tinh thần tốt đẹp, hướng tâm con người đến điều thiện Hơn nữa, với vẻ đẹp, sự thống nhất trong tổng thể khu du lịch sinh thái Tràng An rộng lớn, khu văn hoá tâm linh núi chùa Bái Đính hy vọng sẽ trở thành điểm đến của đông đảo du

Trang 40

khách quốc tế, thúc đẩy ngành du lịch Việt Nam phát triển nhanh chóng, quảng

bá sâu rộng văn hoá Việt Nam với bạn bè quốc tế

* Lễ hội truyền thống thờ Đức Thánh Minh Đại Vương

Thời gian diễn ra: 18/3 âm lịch

Địa điểm: đền Trần, xã Minh Hải, huyện Hoa Lư, Ninh Bình

Đức Thánh Minh Đại Vương là một trong số những vị thần được dân chúng thờ tụng theo tín ngưỡng dân gian Tại Ninh Bình thì Đức Thánh được thờ tại các địa phương như: Đình làng Sinh Dược, Xã Gia Sinh (Gia Viễn); Núi Cánh Diều (Thành phố Ninh Bình); núi Thiện Dưỡng, đền Kê Thượng, Xã Ninh Vân (Hoa Lư) và Đền Trần thuộc Khu Du lịch Tâm linh Tràng An - Bái Đính

Lễ hội truyền thống thờ Đức Thánh Minh Đaị Vương tại khu sinh thái Tràng An

là một trong những lễ hội đặc sắc ở Ninh Bình thu hút rất đông du khách thập

phương tham gia

Điểm độc đáo của lễ hội là lễ rước nước, tế lễ và phóng sinh trên sông với hàng ngàn chiếc thuyền Đoàn thuyền rước này sẽ vượt qua hơn 5 km trên sông

và xuyên qua hơn 11 hang động trên sông Sào Khê Tham gia đoàn thuyền rước này du khách vừa được hòa mình vào không khí linh thiêng của lễ hội, vừa được chiêm ngưỡng bức tranh thủy mặc Tràng An đẹp vô cùng Sau khi vượt qua hơn

11 hang động, đoàn rước sẽ được chia làm đôi, một nửa sẽ tiếp tục cuộc hành trình trên sông, nửa còn lại sẽ cập bến và rước lễ trên bờ Đoàn rước lễ trên bờ

sẽ vượt qua 3 quả núi với quãng đường hơn 3 km để về đền Nội Lâm để cử hành các nghi thức tế lễ

* Lễ hội đền Thái Vi

Thời gian diễn ra: từ ngày 14 - 17/3 âm lịch

Địa điểm: thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, Ninh Bình

Hội được tổ chức hàng năm từ ngày 14 đến ngày 17 tháng 3 âm lịch tại thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư Nằm trong những lễ hội tâm linh ở Ninh Bình, lễ hội đền Thái Vi được tổ chức nhằm tưởng nhớ các vị vua nhà Trần có công lao lớn đối với đất nước Điểm độc đáo của lễ hội này là lễ rước kiệu không phải chỉ một đoàn mà gồm trên 30 đoàn của các xã trong huyện Hoa

Ngày đăng: 10/12/2021, 16:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Trung Lương (2004), Du lịch sinh thái - những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái - những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2004
2. Lã Đăng Bật (2009), Kinh đô Hoa Lư, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh đô Hoa Lư
Tác giả: Lã Đăng Bật
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc
Năm: 2009
3. Lã Đăng Bật (2018), Ninh Bình Một Vùng Sơn Thủy Hữu Tình, Nhà xuất bản Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ninh Bình Một Vùng Sơn Thủy Hữu Tình
Tác giả: Lã Đăng Bật
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
Năm: 2018
4. Megan Epler Wood (2002), Ecotourism: Principles, Practices & Policies for Sustainability, United Nations Environment Programme Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ecotourism: Principles, Practices & "Policies for Sustainability
Tác giả: Megan Epler Wood
Năm: 2002
5. Trần Đức Thanh (2000), Nhập môn khoa học du lịch, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học du lịch
Tác giả: Trần Đức Thanh
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
6. Thuý Lê (2008), “Quần thể xuyên thuỷ động Tràng An – nét độc đáo hiếm có”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quần thể xuyên thuỷ động Tràng An – nét độc đáo hiếm có”
Tác giả: Thuý Lê
Năm: 2008
7. Báo cáo quy hoạch tổng thể Ninh Bình giai đoạn 2007 – 2015 Khác
8. Báo cáo quy hoạch chi tiết xây dựng khu du lịch Tràng An, tỉnh Ninh Bình Khác
9.Sở du lịch Ninh Bình, Non nước Ninh Bình. Trang web Khác
15. Trích Th.s Nguyễn Anh Tuấn , Chuyên viên chính Vụ Lữ hành Tổng cục Du lịch Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w