Cuốn Tuổi trẻ với nghề truyền thống Việt Nam của học giả Nguyễn Viết Sự.[12] có một cách tiếp cận mới, đặc biệt là cuốn sách đã phân tích vai trò của giới trẻ đối với làng nghề truyền t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ XÃ HỘI
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG THỊ TRẤN LÂM - Ý YÊN - NAM ĐỊNH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ XÃ HỘI
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA NGƯỜI HỌC
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG THỊ TRẤN LÂM - Ý YÊN - NAM ĐỊNH
Mã số đề tài: DTSV.10.2021
Chủ nhiệm đề tài : Nguyễn Tài Lộc
Hà Nội, tháng 5 năm 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan bài nghiên cứu khoa học với đề tài “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề đúc đồng thị trấn Lâm - Ý Yên - Nam Định”
là công trình nghiên cứu của em tự viết, không sao chép của bất cứ ai, các số liệu sử dụng trong bài nghiên cứu là trung thực và chính xác
Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2021
Tác giả
Nguyễn Tài Lộc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Quản Lý Xã Hội và cô TS.Trần Thị Diệu Thúy – giảng viên hướng dẫn, đã quan tâm, chỉ bảo tận tình hướng dẫn
em trong suốt quá trình hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học
Đồng thời em xin cảm ơn đến Cán bộ Xã Yên Xá – Huyện Ý Yên đã giúp
em trong quá trình nghiên cứu và xác thực các tài liệu, số liệu tại địa phương
Trong quá trình nghiên cứu, chắc chắn đề tài không tránh khỏi sai sót, rất mong nhận được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn
để đề tài nghiên cứu của em được hoàn chỉnh hơn
Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2021
Tác giả
Nguyễn Tài Lộc
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT TÊN VIẾT TẮT TÊN VIẾT ĐẦY ĐỦ
2 CNH - HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
3 CN – TTCN Công nghiệp - thiểu thủ công nghiệp
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Bảng tổng hợp số liệu về sử dụng đất tại xã Yên Xá 14 Bảng 2: Thu nhập bình quân đầu người 16
Trang 7MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Bố cục của đề tài 6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KHÁI QUÁT VỀ LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG THỊ TRẤN LÂM - YÊN XÁ - Ý YÊN - NAM ĐỊNH 7
1.1 Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề 7
1.1.1.Các khái niệm cơ bản 7
1.1.1.1 Khái niệm bảo tồn và phát huy 7
1.1.1.2 Khái niệm giá trị văn hóa 8
1.1.1.3.Khái niệm về làng nghề và làng nghề truyền thống 8
1.1.2 Vai trò của làng nghề truyền thống 10
1.1.2.1 Vai trò làng nghề truyền thống trong sự phát triển kinh tế - xã hội 10
1.1.2.2 Vai trò của làng nghề truyền thống trong sự phát triển làng nghề và quảng bá hình ảnh và thương hiệu 11
1.1.2.3 Vai trò của làng nghề gắn kết với cộng đồng 12
1.2.Khái quát về làng nghề đúc đồng thị trấn Lâm - Yên Xá - Ý Yên - Nam Định 13
1.2.1 Vị trí địa lý 13
1.2.2 Đặc điểm kinh tế 15
1.2.3 Đặc điểm xã hội 18
1.3 Nguồn gốc làng nghề 20
1.3.1 Sự thay đổi của làng nghề đúc đồng xưa và nay 22
Trang 81.3.1.1 Làng nghề đúc đồng xưa 22
1.3.1.2 Làng nghề đúc đồng ngày nay 23
Tiểu kết chương 1 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG - THỊ TRẤN LÂM - Ý YÊN - NAM ĐỊNH 25
2.1 Các giá trị văn hóa của làng nghề đúc đồng làng Tống Xá– Thị trấn Lâm -Ý Yên – Nam Định 25
2.1.1 Phong tục, tập quán, lễ hội gắn với làng nghề 25
2.1.2 Giá trị nghệ thuật 28
2.1.3 Tri thức và kinh nghiệm trong sản xuất của làng nghề 29
2.1.4 Văn hóa ứng xử trong làng nghề 30
2.1.4.1 Sự biến đổi văn hóa ứng xử với làng nghề 30
2.1.4.2 Văn hóa ứng xử của người dân làng nghề với xã hội 31
2.1.5 Văn hóa tổ chức sản xuất của làng nghề 32
2.1.6 Giá trị kinh tế của làng nghề 34
2.2 Công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề đúc đồng Tống Xá-Thị trấn Lâm-Ý Yên-Nam Định 35
2.2.1 Công tác quy hoạch, sử dụng các nguồn lực, cơ chế, chính sách để bảo vệ và phát triển làng nghề 35
2.2.2 Áp dụng thành tựu khoa học công nghệ vào hoạt động phát triển nghề đúc đồng Tống Xá-Thị trấn Lâm-Ý Yên-Nam Định 38
2.2.3 Công tác tuyên truyền, quảng cáo, xúc tiến, phát triển làng nghề 39
2.2.4 Nguồn nhân lực bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa của làng nghề 41
2.2.5 Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đúc đồng hiện nay 42
2.2.6 Công tác quản lý và bảo vệ môi trường 44
2.2.7 Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm tại làng nghề 46
2.2.8 Công tác nghiên cứu định hướng phát triển sản phẩm đúc đồng 47
Tiểu kết chương 2 48
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG - THỊ TRẤN LÂM - YÊN XÁ - Ý YÊN - NAM ĐỊNH 49
Trang 93.1 Những cơ hội và thách thức cho làng nghề đúc đồng 49
3.1.1 Những thuận lợi, cơ hội để phát triển 49
3.1.2 Khó khăn và thách thức 49
3.2 Các giải pháp khai thác giá trị văn hóa làng nghề đúc đồng 51
3.2.1 Tăng cường áp dụng Chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương đối với phát triển làng nghề 51
3.2.2 Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực và lao động truyền thống cho làng nghề 51
3.2.3 Xây dựng mô hình phát triển làng nghề gắn liền với các yếu tố kinh tế - xã hội - môi trường 52
3.2.4 Tăng cường các hình thức để quảng bá bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa làng nghề 53
3.2.5 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm 54
Tiểu kết chương 3 55
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC 60
Trang 10
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Làng Tống Xá –Thị Trấn Lâm trước kia thuộc xã Yên Xá nằm ở trung tâm huyện cạnh huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, là huyện đồng bằng rộng lớn có điều kiện tự nhiên thuận lợi với tài nguyên đất phù sa màu mỡ đã hình thành nên các vùng sản xuất kinh tế như vùng chuyên canh cây lúa nước, vùng lúa - hoa màu, vùng thủ công nghiệp Trong đó hoạt động kinh tế thủ công nghiệp ngày càng có điều kiện phát triển do nghề đúc đồng làm cho nền kinh tế của xã đạt được hiệu quả cao và đời sống của nhân dân không ngừng được nâng cao Trải qua rất nhiều năm tháng khó khăn nhưng với truyền thống yêu lao động, cần cù, sáng tạo và nhất là đôi bàn tay khéo léo của cư dân Tống Xá thì các sản phẩm lao động không ngừng cải tiến Các nghề thủ công (đan lát, sơn mài, đúc, thêu…) ngày càng phong phú đa dạng, trong đó nghề đúc đồng không ngừng cải tiến về hình dạng, mẫu mã, hoa văn… về kỹ thuật đúc Vì vậy các mặt hàng đúc đồng không chỉ được dùng trong nước mà còn xuất khẩu ra bên ngoài với giá trị xuất khẩu cao và đã có chỗ đứng ở thị trường nhiều nước trên thế giới (Trung Quốc, Lào,Thái lan và một số nước ở Châu Âu…)
Quá trình lao động sáng tạo đó đã tạo nên giá trị độc đáo cho địa phương, tô thắm thêm truyền thống yêu lao động và đặc biệt giúp thế hệ mai sau biết trân trọng những thành quả lao động, giữ gìn và phát huy những thành quả mà ông cha ta đã tạo dựng lên Nghề đúc đồng từ khi hình thành, đặc biệt là sự lớn mạnh của các doanh nghiệp đúc đã góp phần đáng kể vào việc xóa đói, giảm nghèo, giải quyết được công ăn việc làm cho lao động dư thừa ở địa phương với 2344 nhân khẩu và các vùng lân cận Do có công ăn việc làm nên đã góp phần hạn chế được các tệ nạn xã hội Từ một làng quê nghèo nàn lạc hậu, với vài chục nhân khẩu, ngày nay Tống Xá đã lớn lên từng bước thay đổi da thịt, thoát ra khỏi đói nghèo, trở thành một trong những làng giàu có của tỉnh Chính sự thay đổi này đã làm đổi mới quê hương Có những
Trang 11thay đổi lớn lao về mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa và bộ mặt của làng quê
là do sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước, có sự đóng góp và hi sinh xương máu của các chiến sĩ trên các mặt trận, sự phấn đấu đi lên của cán bộ và nhân dân Tống Xá Ngoài ra còn có tác động không nhỏ từ nền khoa học - kĩ thuật tiên tiến hiện đại của thế giới Nghề đúc truyền thống của Tống Xá đã phát triển rất lâu đời và có vị thế nhất định được các cấp chính quyền, nhà nước công nhận Trong điều kiện kinh tế Việt Nam hội nhập với quốc tế, thương hiệu cho những mặt hàng sản xuất ra, có một vị trí quan trọng nhằm khẳng định về chất lượng để chiếm lĩnh thị trường Một trong những vấn đề mấu chốt để có thương hiệu không chỉ sản xuất theo kinh nghiệm, mà toàn bộ quy trình công nghệ phải được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn Việt Nam, chất lượng sản phẩm phải được phân tích thành phần trên các thiết bị hiện đại Tìm hiểu vấn đề này thì đã có sự quan tâm nghiên cứu của các cơ quan địa phương, các tập thể, các cá nhân song chỉ là những bản báo cáo, những bài viết , nghiên cứu tìm hiểu một khía cạnh nhỏ còn hết sức sơ lược, mang tính nhỏ giọt rời
rạc chưa hệ thống Từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề đúc đồng thị trấn Lâm - Ý Yên - Nam Định’’
2 Lịch sử nghiên cứu
Nghề thủ công truyền thống đã có lịch sử từ lâu đời nhưng phải thừa nhận rằng mức độ quan tâm của các nhà chuyên môn cũng như sự đầu tư cho việc nghiên cứu để có thể đưa ra những công trình, những đầu sách mang tính chuyên sâu hay giáo trình giảng dạy thì hầu như chưa có Tuy nhiên mấy năm trở lại đây đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu hơn về làng nghề
Làng nghề, phố nghề Thăng Long – Hà Nội (2000) của tác giả Trần
Quốc Vượng và Đỗ Thị Hảo đã đề cập đến các vấn đề như duy trì hình thức sản xuất, hay nêu một số khó khăn cho các làng nghề trong đó có làng nghề đúc đồng
Hoàn thiện chính sách , tạo lập môi trường cho nghề thủ công phát
Trang 12triển là vấn đề cấp thiết Thúc đẩy kinh tế, khôi phục phát triển các giá trị làng nghề trong đó có làng nghề đúc đồng Đưa ra các giải pháp đi đôi với bảo vệ môi trường
Cuốn Tuổi trẻ với nghề truyền thống Việt Nam của học giả Nguyễn
Viết Sự.[12] có một cách tiếp cận mới, đặc biệt là cuốn sách đã phân tích vai trò của giới trẻ đối với làng nghề truyền thống, qua đó cuốn sách này tính định hướng thế hệ trẻ sống phải biết có trách nhiệm với làng nghề
Cuốn “ Làng nghề truyền thống Việt Nam” tác giả Phạm Côn Sơn,
nhà xuất bản thành phố HCM, Hồ Chí Minh đã nói rõ các quan điểm, lý luận thực tiễn đối với làng nghề truyền thống.[ 10 ]
Trên tạp chí Di sản văn hóa số 4 ( 2003) tác giả Lê Thị Minh Lý có bài
viết “ Làng nghề và việc bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể’’ ở đó tác giả
nêu được lên tầm quan trọng việc giữ gìn và bảo tồn các giá trị văn hóa vốn là
di sản của dân tộc, như việc lưu truyền bí quyết nghề trong phạm vi làng xã hay những giá trị tinh thần mang đậm nét được phản ánh các phong tục, tập quán
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều chú trọng đến làng nghề và nghề thủ công truyền thống Việt Nam, chứ chưa có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, giá trị di sản của làng nghề thủ công truyền thống ở Yên Xá – Ý Yên Tuy nhiên những công trình nghiên cứu nêu trên là cơ sở nền tảng, tư liệu quan trọng không chỉ giúp em định hướng mà còn là kế thừa, tiếp thu trong quá trình thực hiện nghiên cứu
đề tài Thông qua nghiên cứu chuyên sâu về đề tài em hy vọng góp phần nhỏ vào công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa cho sản phẩm thủ công truyền thống mang nhiều công sức và tâm huyết của người dân làng Tống Xá trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa di sản nói chung và của làng nghề nói riêng, đề tài khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng
Trang 13công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề đúc đồng thị trấn Lâm - Ý Yên - Nam Định, từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề đúc đồng thị trấn Lâm - Ý Yên - Nam Định góp phần phát huy những giá trị văn hóa làng nghề,
nâng cao đời sống người dân thị trấn Lâm - Ý Yên - Nam Định
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đich trên đề tài đề ra những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa làng nghề
- Tổng quan về làng nghề đúc đồng thị trấn Lâm – Ý Yên – Nam Định
- Nhận diện những giá trị văn hóa làng nghề đúc đồng thị trấn Lâm – Ý Yên – Nam Định
- Khảo sát , phân tích, đánh giá thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị của làng nghề đúc đồng đúc đồng thị trấn Lâm – Ý Yên – Nam Định
- Đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn
và phát huy giá trị của làng nghề đúc đồng
4 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu công tác Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề đúc đồng thị trấn Lâm - Ý Yên - Nam Định
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài lấy làng Tống Xá - thị trấn Lâm – Trước
kia là xã Yên Xã, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định làm không gian nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: phạm vi thời gian nghiên cứu của đề tài là từ năm
2015 cho đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành triển khai thực hiện đề tài, dựa trên cở sở lý luận của các khoa học liên ngành và chuyên ngành Đề tài nghiên cứu đã sử dụng kết hợp những phương pháp nghiên cứu chính, bao gồm:
Trang 14- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Trên cơ sở thu thập nguồn tin từ
nhiều nguồn khác nhau như: tạp chí, sách, báo, website, tài liệu thống kê,…tác giả đề tài phân tích, tổng hợp thu thập thông tin làm cơ sở lý thuyết
và các luận điểm cho đề tài
- Phương pháp khảo sát thực địa: Cụ thể là phương pháp phóng vấn, phương pháp quan sát,Tác giả đề tài đã thực hiện khảo sát công tác bảo tồn và
phát huy giá trị văn hóa làng Tống Xá, Thị trấn Lâm qua UBND xã, huyện và làng Tống Xá, để thu thập những thông tin làm luận cứ, luận chứng cho đề tài
- Phương pháp lịch sử:Tác giả sử dụng phương pháp này để điều tra,
thu thập các thông tin về làng Tống Xá, từ đó tái hiện nội dung theo diễn trình
- Các giải pháp được đề xuất trong nghiên cứu có thể ứng dụng vào thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa làng nghề đúc đồng Tống Xá, thị trấn Lâm, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
- Đề tài có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về văn hóa nói chung và nghiên cứu về công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề đúc đồng Tống Xá, thị trấn Lâm, huyện Ý Yên, tỉnh Nam
Định nói riêng
Trang 16CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KHÁI QUÁT
VỀ LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG THỊ TRẤN LÂM - YÊN XÁ - Ý YÊN -
NAM ĐỊNH
1.1 Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề
1.1.1.Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm bảo tồn và phát huy
Khái niệm bảo tồn
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Bảo tồn là giữ lại không để mất đi” [4] Bảo
tồn văn hóa có hai đối tượng để bảo tồn: giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể
Bảo tồn tức là các hành động nhằm bảo vệ, gìn giữ, bảo lưu lại sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng, gìn giữ chúng để tồn tại cùng với thời gian Bảo tồn các sự vật, hiện tượng là lưu giữ, không làm cho chúng bị mai một, bị thay đổi và biến dạng Đề tài sử dụng khái niệm này làm khái niệm công cụ
để nghiên cứu
Khái niệm phát huy
Theo Từ điển tiếng Việt, Phát huy là “làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [4]
Phát huy là hành động nhằm đưa văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi đó như nguồn nội lực, các tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện mục tiêu của văn hóa đối với phát triển xã hội Phát huy văn hóa là làm cho những giá trị văn hóa, nghệ thuật truyền thống lan tỏa trong cộng đồng xã hội, có ý nghĩa xã hội tích cực
Phát huy văn hóa truyền thống của các dân tộc phải biết kế thừa có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của thế hệ trước để lại, làm cho các giá trị của văn hóa thấm sâu, lan tỏa vào đời sống cộng đồng xã hội, biết mở rộng giao lưu văn hóa để làm giàu thêm bản sắc văn hóa và làm thăng hoa giá trị Phát huy văn hóa truyền thống nhằm mục tiêu phát triển du lịch bền vững, phục vụ tích cực cho công tác bảo tồn các di sản văn hóa
Trang 17Như vậy, bảo tồn văn hóa được hiểu như là các nỗ lực nhằm bảo vệ và gìn giữ sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó Phát huy có nghĩa
là những hành động nhằm đưa các giá trị văn hóa vào trong thực tiễn, tạo sức lan tỏa tích cực trong xã hội, coi đó là nguồn nội lực tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng nghề là là các biện pháp để gìn giữ, tôn tạo các giá trị văn hóa làng nghề để chúng không bị mai một, mờ nhạt Và các giá trị văn hóa làng nghề đó được lan tỏa, tỏa sáng và có ý nghĩa tích cực trong đời sống xã hội của nhân dân, góp phần vào
1.1.1.2 Khái niệm giá trị văn hóa
Giá trị văn hóa là sự đánh giá mang tính cộng đồng đối với các hiện tượng, sản phẩm văn hóa do con người tạo ra trong bối cảnh xã hội nhất định Những giá trị đó được coi là tốt đẹp, là có ích, đáp ứng nhu cầu của con người trong mọi thời đại Một khi những giá trị đó được hình thành và được định hình thì nó có tác dụng chi phối những nhận thức, quan niệm, hành vi, tình cảm của con người trong mỗi cộng đồng ấy Giá trị văn hóa về thực chất là sự khẳng định của con người đối với sự tồn tại vật chất và tinh thần trong đời sống xã hội, quan hệ, trật tự của mình, hành vi, thái độ của mình, khích lệ con người sống và phát triển theo thang giá trị mà cộng đồng xã hội tôn vinh
Bên cạnh những giá trị tổng quát (yêu nước, cộng đồng, cần cù, hiếu học, gắn bó huyết thống và làng bản) còn tồn tại giá trị bộ phận Giá trị này được thể hiện trong từng lĩnh vực hoạt động của con người như: khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong ăn uống, đi lại, phong tục tập quán, lễ hội Những giá trị bộ phận không phải là những thực thể riêng biệt mà chúng góp phần chung đúc nên giá trị văn hóa tổng quát và ngược lại
1.1.1.3.Khái niệm về làng nghề và làng nghề truyền thống
Khái niệm làng nghề:
Đã có rất nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau về làng nghề, tuy nhiên hiện nay, định nghĩa, khái niệm về làng nghề vẫn chưa có sự thống nhất Theo Trần Quốc Vượng, Đỗ Thị Hảo“làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ
Trang 18khác như đan lát, gốm, làm tương… xong đã nổi trội một nghề truyền thống, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công nghiệp, có phường ( cơ cấu tổ chức),
có ông trùm, ông cả… cùng một số thợ và phó nhỏ, đã có chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định” [5,tr.12]
Xét theo góc độ kinh, trong cuốn[11] của Dương Bá Phượng cho rằng:
“ Làng nghề là làng ở nông thôn có một số hoặc một số nghề thủ công tách hẳn ra thủ công nghiệp và kinh doanh độc lập Thu nhập từ các làng nghề đó chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị toàn làng.[11,tr.3]
Khái niệm làng nghề truyền thống
Hiện nay chưa có khái niệm chính xác và thống nhất nhất về làng nghề truyền thống cho nên nhóm tác giả sử dụng một số quan niệm về các làng nghề truyền thống như sau:
Quan niệm 1: Làng nghề truyền thống là một đơn vị hành chính cổ xưa
mà cũng có nghĩa là một nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng Làng nghề không những là một làng sống chuyên nghề mà cũng có hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần thể để phát triển công ăn việc làm Cơ sở vững chắc của các làng nghề là
sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương
Quan niệm 2: Làng nghề truyền thống là những làng nghề làm nghề thủ
công có truyền thống lâu năm thường là qua nhiều thế hệ Quan niệm này cũng chưa đầy đủ bởi vì khi nói đến làng nghề truyền thống ta không thể chú
ý đến các mặt đơn lẻ, mà phải chú trọng đến nhiều mặt trong cả không gian và thời gian, nghĩa là quan tâm đến tính hệ thống, toàn diện của làng nghe đó trong đó yếu tố quyết định là nghệ nhân, sản phẩm, kĩ thuật sản xuất và thủ pháp nghè thuật
Quan niệm 3: Làng nghề truyền thống là những làng có tuyệt đại đa số
bộ phận dân số làm nghề cổ truyền Nó được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác kiểu cha
Trang 19truyền con nối hoặc ít nhất cũng tồn lại hàng chục năm Trong làng sản xuất mang tính tập trung, có nhiều nghệ nhân tài hoa và một nhóm người có tay nghề giỏi làm hạt nhân để phát triển nghề Đồng thời sản phẩm làm ra mang tính tiêu biểu độc đáo, tinh xảo, nổi tiếng vả đậm nét văn hóa dân tộc
1.1.2 Vai trò của làng nghề truyền thống
1.1.2.1 Vai trò làng nghề truyền thống trong sự phát triển kinh tế - xã hội
Làng nghề đóng vai trò tích cực trong việc gia tăng sản xuất các ngành phi nông nghiệp (các ngành tiểu thủ công nghiệp, các ngành dịch vụ) cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng CNH-HĐH đất nước Góp phần chuyển lao động từ sản xuất có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn Chuyển đổi tập quán sản xuất từ sản xuất nhỏ mang tính độc canh, tự túc sang sản xuất hàng hóa với qui mô lớn đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận công nghệ sản xuất có trình độ ngày càng cao
Xét về góc độ phân công lao động thì làng nghề không những cung cấp
tư liệu sản xuất mà còn dịch chuyển cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp như các ngành nghề chế biến Tạo điều kiện cho một đội ngũ lao động có điều kiện trình độ tay nghề cao hơn Giờ đây khi chuyển dịch sang công nghệ cao tạo ra khối lượng hàng hóa lớn, chất lượng ngày một cao
Sự đa dạng hóa các hình thức kinh doanh trong quá trình phát triển làng nghề (sự ra đời các doanh nghiệp vừa và nhỏ) và sự liên kết giữa các loại hình sản xuất để thành những cơ sở doanh nghiệp mạnh ngay trên địa bàn.Tăng thu nhập, thu hẹp mức sống giữa thành thị và nông thôn Phát triển làng nghề góp phần tăng thu nhập của người dân đồng thời tạo ra nguồn tích lũy khá lớn và
ổn định cho ngân sách địa phương cũng như các hộ gia đình
Phát triển làng nghề là cơ hội cho người nông dân tăng thu nhập của nguồn thu hai cách: Hoặc là tham gia vào làng nghề và nhận thu nhập do ngành nghề đem lại hoặc tham gia hoạt động dịch vụ phục vụ cho làng nghề
và nhận thu nhập từ hoạt động đó Các dịch vụ phát sinh phục vụ cho sản xuất làng nghề cũng rất phong phú, có thể là dịch vụ cung ứng nguyên vật liệu,
Trang 20công cụ sản xuất, dịch vụ chuyên khâu hỗ trợ sản xuất, dịch vụ tiêu thụ
Với các làng nghề thu nhập từ phi nông nghiệp đặc biệt là lao động từ làng nghề ngày càng trở nên quan trọng Bởi thu nhập tăng lao động sản xuất
cơ sở cho các đơn vị sản xuất đầu tư nâng cấp các loại máy móc, nâng cấp yếu tố đầu vào, năng suất, sản lượng sản xuất kéo gần khoảng cách giữa nông thôn và thành thị
Đây là mục tiêu của công cuộc CNH-HĐH ở nông nghiệp nông thôn
mà nước ta đã đề ra Khai thác được tiềm năng cũng như phát huy được lợi thế nhờ quy mô ở từng vùng, từng địa phương góp phần thực hiện thành công
sự nghiệp CNH-HĐH đất nước nói chung và CNH-HĐH nông thôn nói riêng Cùng với các nghề thủ công, làng nghề phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở nông thôn mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động, thu hút nhiều lao động sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục vì vậy đòi hỏi dịch
vụ cung cấp nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm phải thường xuyên
Như vậy sự phát triển làng nghề có tác dụng quan trọng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Tăng thu nhập cho người lao động trong làng nghề thu nhập bằng 2,1-2,3 lần lao động nông nghiệp thuần nông Góp phần hạn chế di dân tự do ra thành thị , giảm các tệ nạn xã hội và mất trật tư an ninh do không có việc làm gây ra
1.1.2.2 Vai trò của làng nghề truyền thống trong sự phát triển làng nghề và quảng bá hình ảnh và thương hiệu
Trong việc quảng bá hình ảnh và thương hiệu của làng nghề rất được chú trọng, trong nền công nghiệp hiện đại hóa, công nghiệp hóa này sẽ có rất nhiều sự cạnh tranh trong các vấn đề liên quan xung quanh đến tên tuổi thương hiệu của làng nghề đúc đồng
Khuyến khích các hộ làm nghề tổ chức khu sản xuất gắn với xây dựng các gian hàng giới thiệu sản phẩm để tạo thành khu trung tâm thương mại quảng bá sản phẩm làng nghề
Cùng với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, các hộ làm nghề đúc
Trang 21đồng đã đóng góp xây dựng trung tâm giới thiệu và quảng bá sản phẩm làng nghề đúc đồng truyền thống và thành lập ban quản lý Đối với các sản phẩm được trưng bày tại trung tâm, ban quản lý thống nhất với các hộ sản xuất có cùng mức giá chung cho mỗi loại sản phẩm
1.1.2.3 Vai trò của làng nghề gắn kết với cộng đồng
Có thể nói lịch sử phát triển của văn hóa làng nghề đúc đồng tại làng Tống xá luôn luôn gắn liền với quá trình phát triển kinh – xã hội của người dân Các phương thức sản xuất truyền thống có bề dày lịch sử lâu đời, là nơi hội tụ và kết tinh các giá trị và nét văn hóa độc đáo về lịch sử và quá trình hình thành
Văn hóa làng nghề đúc đồng được thể hiện qua các hoạt động lễ hội, hoạt động mua bán sản phẩm và phong cảnh của làng nghề, các hoạt động lễ hội hưởng thụ các thành quả của quá trình lao động sau một năm làm việc vất
vả hay hoạt động giỗ tổ nghề bày tỏ sự tri ân đến ông tổ của làng nghề hàng năm là những hoạt động đậm nét văn hóa cộng đồng Bên cạnh những mối quan hệ truyền thống tương trợ lẫn nhau giữa những người sản xuất và người bán Cảnh quan của làng nghề với hình ảnh cây đa, bến nước sân đình và chùa chiền cũng thể hiện nét văn hóa đặc trưng của làng nghề
Yếu tố cộng đồng thể khá nó nét qua các hoạt động đặc trưng tại làng Tống xá qua khảo sát thực tế nhóm tác giả đã đưa ra được một số quan điểm điểm riêng về tính cộng đồng tại địa phương nơi đây:
Thứ nhất: Được hình thành từ rất sớm trong lịch sử xây dựng và phát
triển của làng – huyện Ý Yên
Thứ hai: Gắn liền với tiến trình đấu tranh của dân tộc, là nét văn hóa
đặc trưng của người dân nơi đây đúng với tinh thần đoàn kết tương trợ, tình tập thể hòa đồng, nếp sống dân chủ bình đẳng Tính cộng đồng làng xã
“Tối lửa tắt đèn có nhau”, “Bán anh em xa mua láng giềng gần” đã tạo nên tình làng nghĩa xóm và nét văn hóa cộng đồng cực kỳ đậm sâu với người dân nơi đây
Trang 221.2.Khái quát về làng nghề đúc đồng thị trấn Lâm - Yên Xá - Ý Yên - Nam Định
1.2.1 Vị trí địa lý
Huyện Ý Yên nằm ở phía tây nam tỉnh Nam Định, phía bắc tiếp giáp tỉnh Hà Nam, phía tây giáp tỉnh Ninh Bình, phía đông giáp huyện Vụ Bản, phía nam giáp huyện Nghĩa Hưng Tọa lạc giữa hai trung tâm kinh tế chính trị của tỉnh Nam Định và Ninh Bình, có tuyến quốc lộ 10, đường sắt xuyên Việt
đi qua… trong đó:
Diện tích: 241, 23 km2
Dân số: 247718 người (2008)
Về hành chính một thị trấn Lâm - huyện lỵ và 31 xã như sau:
Yên Thọ, Yên Thành, Yên Trung, Yên Nghĩa, Yên Phương, Yên Tân, Yên Chính, Yên Phú, Yên Hưng, Yên Phong, Yên Bình, Yên Minh, Yên Dương, Yên Xá, Yên Hồng, Yên Quang, Yên Tiến, Yên Bằng, Yên Cường, Yên Đồng, Yên Mỹ, Yên Lợi, Yên Khánh, Yên Ninh, Yên Khang, Yên Lộc, Yên Phúc, Yên Trị, Yên Nhân, Yên Lương
Làng Tống Xá ngày nay thuộc xã Yên Xá, huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, nằm ở vị trí trung tâm của huyện và được tách ra từ xã Vạn Xá - Yên
Xá trước đây
Về địa giới, phía đông giáp thôn Khả Lang của xã Yên Dương; phía nam giáp xã Yên Ninh, thôn Cổ Liêu và một phần Thị Trấn Lâm; phía tây giáp đường 57, Thị Trấn Lâm và huyện Ý Yên; phía bắc giáp đường 12, thôn
Tu Cổ của xã Yên Khánh và thôn Vàng của xã Yên Bình Với vị trí này Tống
Xá được coi là cửa ngõ của tỉnh Nam Định, là vị trí chiến lược trong lịch sử, đặc biệt là trong thời kỳ chống giặc ngoại xâm của tỉnh Nam Định
Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, thời tiết ở đây tương đối ổn định do đó cây cối sinh sôi và phát triển nhanh chóng Tuy nhiên khí hậu ở đây cứ nắng lắm mưa nhiều nên gây ra tình trạng khô hạn vào mùa khô và ngập lụt vào mùa mưa ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó hiện tượng lúa bị bệnh như (sâu cuốn lá, vàng lá, nấm…) làm cho
Trang 23năng suất và sản lượng lúa ngày càng giảm Ngoài ra trung bình mỗi năm huyện Ý Yên phải đón nhận từ 3,4 cơn bão; từ 5,6 trận áp thấp nhiệt đới (tập trung vào tháng 6 và tháng 7), những hiện tượng bất thường khác như mưa đá ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoa màu vào vụ đông Đặc biệt nhân dân Tống Xá là vùng chiêm 5 trũng, thường xuyên bị ngập úng vào những ngày thu hoạch Đời sống nhân dân lúc nào cũng chịu ảnh hưởng nhiều hơn
so với một số địa điểm cùng trong tỉnh Trong điều kiện đó nhân dân Tống Xá
đã có nghề phụ bổ trợ thêm đó là nghề đúc đồng do ông cha ta dạy và truyền lại cho con cháu và được lưu truyền và ngay nay đã trở thành làng nghề truyền thống
Làng Tống Xá có tổng diện tích là 126, 33 ha trong tổng số diện tích xã Yên Xá 199,26 ha với các loại đất như sau:
Các loại đất khác ( ao hồ, sông mương… ) 2 16,78
Bảng 1: Bảng tổng hợp số liệu về sử dụng đất tại xã Yên Xá
Như vậy qua bảng thống kê các loại đất ở trên thì chúng ta thấy đất nông nghiệp vẫn chiếm ưu thế hơn hẳn so với các loại đất khác, trong đó đất nông nghiệp là 92, 71 (ha), đất công nghiệp là 5,16 (ha) Điều đó chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh tế ở Tống Xá chủ yếu vẫn là nông nghiệp, công nghiệp còn chiếm tỉ lệ khá nhỏ Tuy nhiên xu thế phát triển một nền kinh tế thủ công nghiệp, công nghiệp đang được cư dân Tống Xá đặc biệt quan tâm
Tống Xá hầu như không được ưu đãi về tài nguyên khoáng sản như các địa phương khác trong huyện và trong tỉnh nên hoạt động công nghiệp hầu như không diễn ra vào trước năm 1945 Tuy nhiên Tống Xá lại có rất nhiều tài nguyên đất, nhất là đất sét - đây là thứ nguyên liệu rất cần cho sản
Trang 24xuất công nghiệp (nghề đúc đồng) Chính sự ưu đãi của điều kiện tự nhiên này đã giúp cho nghề thủ công đúc đồng ở Tống Xá có điều kiện để phát triển Với điều kiện tự nhiên, đặc điểm và tích chất địa hình đã đem lại cho Tống Xá những điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi để phát triển nghề đúc của mình
1.2.2 Đặc điểm kinh tế
Làng Tống Xá là một vùng quê chiêm trũng do đó hoạt động sản xuất kinh tế của Tống Xá hầu như chưa có điều kiện để phát triển do trình độ dân trí lúc đó còn thấp nên hoạt động sản xuất nông nghiệp là chính, công nghiệp chưa phát triển nên cuộc sống của cư dân nơi đây còn vất vả, cực nhọc, nghèo túng Nhưng sau năm 1945 nền kinh tế của làng có sự khởi sắc: nông nghiệp không còn chiếm vị trí chủ đạo nữa mà thay vào đó là ngành thủ công nghiệp, công nghiệp Đó là chiều hướng để xây dựng kinh tế và xác định ngành kinh
tế mũi nhọn của huyện
Nền kinh tế của Tống Xá tương đối đa dạng bao gồm:
Thứ nhất về nông nghiệp: Nghề sống chính của người dân Tống Xá là
nông nghiệp năm này qua năm khác, đời sống hàng ngày đều phải trông chờ vào sản phẩm nông nghiệp như: (lúa gạo, ngô khoai, sắn, đậu đỗ…) Mặc dù khi ra đời từ Trang Kiến Hòa và làng Tống Xá, ông cha ta đã khai khẩn nhiều nhưng số lượng ruộng đất có hạn, dân cư từ nơi khác chuyển đến nhiều nên số lượng ruộng đất bình quân theo đầu người vẫn còn thấp hơn nhiều so với các địa phương khác trong huyện Mặt khác địa hình canh tác không thuận lợi, đất đai không màu mỡ, ruộng chiêm trũng chiếm nhiều, quanh năm lụt lội nên năng suất lúa và hoa màu thấp Bà con nông dân chân lấm tay bùn, làm ăn vất
vả, hai sương một nắng, quần quật trên cánh đồng mà vẫn không đủ thóc gạo, hoa màu Một số người tháng ba ngày tám phái đi mò cua bắt ốc, hoặc phải đi làm thuê, làm mướn quanh năm mà vẫn không đủ ăn
Thứ hai về nghề phụ : Trước Cách mạng tháng tám, cả làng có khoảng
14 gia đình vừa làm nông nghiệp vừa mở lò đúc tư nhân, tự quản lý toàn bộ từ khâu đầu vào đến khâu tiêu thụ sản phẩm Do trình độ công nghệ của cả nước
Trang 25còn lạc hậu, nên nghề đúc ở quê cũng rất đơn giản Tất cả dụng cụ đồ nghề, nhà xưởng rất thô sơ, các khâu kĩ thuật đều là kinh nghiệm và thủ công, chủ yếu dựa vào sức lao động của con người
Mua bán đồng nát, nghề hàn nồi, hàng năm cứ sau mồng 10 tháng giêng là các ông, các bác với đòn gánh trên vai mang theo các sản phẩm làng nghề như: đồ thờ cúng, lưỡi cày, diệp cày, nồi niêu, xoong chảo… bằng gang, đồng đi bán hoặc làm nghề hàn nồi và thu mua các nguyên vật liệu như: đồng nát, sắt vụn và các loại phế liệu về đổ cho các lò đúc Đồng thời với các nghề trên dân làng còn có nghề bưng trống Sản phẩm của nghề này gồm đủ các loại trống, cỡ trống lớn mang đi bán cho các đình chùa, hội làng, còn các cỡ trống nhỏ mang đi bán cho các cháu nhỏ Những người làm nghề đúc phải vất
vả cật lực nhưng đời sống kinh tế và sinh hoạt gia đình cũng chẳng được cải thiện là bao Đa số các gia đình nghề đúc vẫn phải sống trong những căn nhà lợp dạ đơn sơ, đời sống vẫn vất vả, ăn bữa này đã phải lo bữa mai
Thứ ba về công nghiệp: Hiện nay ở Tống Xá - Yên Xá có doanh thu từ
sản xuất công nghiệp chiếm 94% tổng doanh thu của toàn xã Tính đến năm
2018, toàn xã có trên 100 doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó có 57 công ty trách nhiệm hữu hạn, 8 doanh nghiệp tư nhân và 1 công ty cổ phần, chiếm 70% doanh nghiệp của huyện và 14% tổng số doanh nghiệp của tỉnh Thu nhập bình quân đầu người đạt gần 16 triệu đồng / người / năm [ 2]; cả xã có trên 100 chiếc xe hơi hạng sang… Nếu có ai nói với bạn: nhiều gia đình ở Yên Xá có vài chục tỷ đồng tiền mặt trong nhà thì bạn đừng vội kết luận họ
Trang 26Với gần 800 hộ, Yên Xá hiện chỉ có một số ít hộ “chuyên” về nông nghiệp và dịch vụ.Một loạt doanh nghiệp mới đã ra đời ở Yên Xá mà những người đứng đầu còn rất trẻ Họ tìm ra những sản phẩm chưa ai làm hoặc chưa
ai làm được như sản xuất chi tiết, phụ tùng của nhiều loại máy móc, thiết bị thuộc các 8 ngành xi măng, đường, kính, xây dựng, thủy tinh, cơ khí… Con đường đầy khó khăn, trở ngại, nhưng bằng quyết tâm và sức trẻ, họ đã đạt được những thành công bất ngờ
Trước sự phát triển nhanh, mạnh về số lượng và chất lượng doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, không gian sau lũy tre làng Yên Xá đã không còn đủ sức quần tụ Ngay từ năm 1992, khi tỉnh chưa có chủ trương xây dựng cụm công nghiệp nông thôn, Đảng ủy, Uỷ ban nhân dân xã đã phải xin các cấp có thẩm quyền cắt gần 2 ha đất nông nghiệp làm mặt bằng sản xuất cho
16 doanh nghiệp có nhu cầu cấp thiết nhất Đến cuối năm 2001, cụm công nghiệp đã điều chỉnh lên 10 ha, nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của các doanh nghiệp Trước thực tế đó, xã Yên Xá đang lập dự án phát triển quy mô cụm công nghiệp lên 30 ha
Làm công nghiệp trong cơ chế thị trường, người Yên Xá đã liên tục đầu
tư để đổi mới, kể cả đầu tư đón đầu công nghệ, thiết bị và nguồn nhân lực Trên một chục doanh nghiệp ở Yên Xá đã đầu tư các lò luyện thép trung tần
và nhiều dây chuyền rút thép Hiện nay, cả xã có hàng trăm máy móc, thiết bị hiện đại, các cơ sở đúc đều chuyển sang công nghệ khuôn cắt với sản phẩm đạt độ chính xác cao Không dừng lại ở đó, nhiều chủ doanh nghiệp đã tiếp cận công nghệ mới và đào tạo nguồn nhân lực với các chế độ ưu đãi nhằm thu hút nhân tài Hơn 20 doanh nghiệp đã vào công nghiệp với tổng mức đầu tư trên 100 tỷ đồng, thu hút trên một chục kỹ sư luyện kim, gần 30 nghệ nhân nghề đúc và khoảng 100 công nhân kỹ thuật có trình độ tạo mẫu bậc cao Người Yên Xá tự hào đã tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng, thay thế hàng nhập khẩu Đặc biệt, với những sản phẩm hoành tráng, có giá trị nghệ thuật cao như tượng Phật tổ Như Lai lớn nhất Đông Nam Á, được đặt tại núi Sóc
Trang 27Sơn - Hà Nội; cụm tượng đài mừng 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ…
Là một xã nghề, nông nghiệp được xác định “vừa làm, vừa chơi” hay
“làm để cho đất khỏi nhàn rỗi” nên tiến độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã Yên Xá tăng nhanh tới mức “chóng mặt” Trong 5 năm (1998 - 2003), giá trị sản xuất nông nghiệp đã giảm từ 20% xuống còn 6% tổng doanh thu của toàn
xã, thu nhập bình quân đầu người tăng gấp 3 lần Đời sống vật chất, tinh thần của người dân Yên Xá có bước tăng trưởng vượt bậc Những ngôi nhà cao tầng, biệt thự sang trọng mọc lên san sát Đằng sau lũy tre làng, sau những đồng lúa, ruộng màu là những khu dân cư sầm uất, âm thanh của cuộc sống hiện đại rộn ràng trên từng ngõ xóm, đường thôn Làng nghề Yên Xá không chỉ giải quyết vấn đề việc làm cho lao động trên địa bàn mà còn thu hút số lượng lớn lao động từ các vùng khác
Yên Xá hôm nay không chỉ là một làng nghề thủ công truyền thống mà còn là một cụm công nghiệp, một trong những vùng công nghiệp trọng điểm của huyện Ý Yên và tỉnh Nam Định Nhưng một thực tế đau lòng đang diễn
ra ở đây, Bác Nguyễn Thanh Vân - Chủ tịch xã Yên Xá xót xa: “chúng tôi đang phải trả giá thầm lặng bằng chính sự sống của con người và hơn hết là bằng thế hệ tương lai của Yên Xá” Gần như toàn bộ nguồn nước ở đây đã và đang bị ô nhiễm độc nặng, tiếng ồn gấp 5 - 10 lần so với tiêu chuẩn cho phép Giải quyết những hạn chế, tồn tại đang nằm ngoài khả năng của xã, của huyện
và cả của tỉnh
1.2.3 Đặc điểm xã hội
Từ các làng quê sống trên một nghìn năm nghèo nàn lạc hậu, ngày nay Tống Xá đã vươn lên thành một thôn có dáng dấp của một đô thị thu nhỏ với nhiều thay đổi nhanh chóng, theo nhịp sống của xã hội văn minh hiện đại và luôn vươn lên là một địa điểm làng nghề truyền thống của tỉnh Nam Định
Ai cũng biết: “Cây phải có cội, nước phải có nguồn” Cội nguồn là kính cẩn và linh thiêng Song do mải mê bươn trải với cuộc sống, nhiều người chưa nhớ ra rằng: làng Tống Xá đã 1230 tuổi Với một làng quê đổi mới như ngày
Trang 28nay, mỗi người dân nơi đây đã cùng nhau hướng về lịch sử cội nguồn họ
Cội nguồn thứ nhất đó là sự ra đời của làng Tống Xá với cái tên khai sinh là Trang Kiến Hòa, cùng với quá trình vật lộn qua bao năm tháng, từ nghèo đói bần hàn, từ chết chóc đâu thương, trải qua đoạn trường dâu bể, cho đến ngày nay đã bước vào 1235 tuổi (tính đến năm 2020)
Cội nguồn thứ hai đó là sự ra đời của nghề đúc truyền thống, một nghề
đã ba chìm bẩy nổi, cháy thịt nung da, song tự nó đã làm cho Yên Xá thực sự thoát nghèo, thay da đổi thịt, để có cuộc sống sung túc và hiện đại như ngày nay, khi tuổi nghề đã sấp xỉ 900 năm (889 năm tuổi) Người dân Yên Xá cũng
có những đặc điểm chung của mọi người dân Việt Nam, tuy nhiên do ra đời từ vùng đất chiêm trũng nghèo đói và do đặc tính làng nghề nên họ mang trong mình những đặc điểm sau: Có ý thức ham muốn học hỏi nâng cao kiến thức hiểu biết về nhiều mặt, đặc biệt là khoa học và kỹ thuật về công nghệ đúc và luyện kim Luôn có nhiệt tình mến khách thập phương Do tính chất nghề nghiệp, người dân Yên Xá phải giao lưu rộng rãi và tiếp xúc với các nhà máy,
xí nghiệp, với mọi tầng lớp nhân dân, mọi đối tượng quan chức từ cấp xã, huyện, tỉnh đến các Bộ ngành ở trung ương
Trong quan hệ giao tiếp nói chung, luôn nhiệt tình, thẳng thắn và thể hiện lòng mến khách, nên thu hút được nhiều khách đến hợp tác làm ăn Không chịu sống khổ cực trong lũy tre xanh mà luôn luôn hướng đến mọi nơi, khắp chân trời cuối bể Cũng do tính chất làng nghề, nên người dân Yên Xá luôn luôn nay đây mai đó Ngày trước quê hương còn nghèo đói, nhiều người phải tha phương cầu thực, hoặc di cư đến những vùng đất xa xôi để lập nghiệp và kiếm sống
Tống Xá hiện nay là nơi cư trú của rất nhiều dòng họ với tất cả 22 dòng
họ, với 2344 nhân khẩu, trong đó có số dân lớn nhất là các họ Nguyễn Văn (498 khẩu), Dương Doãn (392 khẩu), Nguyễn Đức (222 khẩu), Nguyễn Hữu (211 khẩu), Đỗ Văn (203 khẩu)….Các dòng họ ở đây đều sống vui vẻ, hòa đồng với nhau Đặc biệt là họ thường giúp đỡ nhau những lúc gặp khó khăn,
Trang 29hoạn nạn nên họ đã đoàn kết với nhau hơn trong đấu tranh cũng như phát triển kinh tế, xã hội Cư dân Tống Xá nói riêng và cư dân huyện Ý Yên nói chung đều theo đạo phật có từ thời nhà Lý ( 1010 - 1225 ) Mỗi gia đình đều thờ cúng tổ tiên thể hiện sự tôn kính người đã mất Đặc biệt vào những ngày giỗ, ngày rằm… người dân nơi đây đều làm cơm mời con cháu, cầu trời phật cho
họ phúc lộc, sức khỏe, làm ăn phát đạt… Đặc biệt hơn do tính chất nghề nghiệp nên những người làm ăn kinh doanh thường ra chùa để cầu xin đức phật cho làm ăn thuận lợi, xin lộc vào đầu năm để cả năm được may mắn
Trong khoảng thời gian gần 700 năm (1120 - 1802) nghề đúc của Tống
Xá dần dần phát triển và giao lưu rộng rãi với nhiều địa phương khác Với quê hương “Đất lành chim đậu” nhiều người ở nơi khác đã đến Tống Xá lập nghiệp, khu dân cư dần phát triển về phía đông làng, hình thành thêm 4 xóm nữa Như vậy cả làng Tống Xá có 7 xóm đó là: xóm Hà, xóm Cừ, xóm Đình, xóm Đá, xóm Đương… Có thể nói, đâu đâu cũng có bàn chân của người dân Yên Xá, mỗi chuyến đi có thể vài tuần, hoặc vài tháng Có người làm ăn phát tài, có người không gặp vận may thì vợ con không được nhờ, nhưng vẫn không
bỏ nghề Đa số người dân xóm Đình, xóm Đá, xóm Đương, từ những ngày xa xưa đã phải chịu đựng kiếp sống lang thang, nay đây mai đó để kiếm sống, như câu cao dao của các cụ ở Tống Xá vẫn còn lưu truyền cho đến ngày nay:
“Xóm Đình, xóm Đá, xóm Đương Trong ba xóm đó đi sương về mù”
Như vậy, từ các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý đã chi phối tới hoạt động kinh tế và phát triển đa dạng các ngành nghề trong đó hoạt động sản xuất thủ công nghiệp truyền thống đúc đồng đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của huyện Đồng thời còn tác động đến tình hình xã hội, sự quần cư
và đời sống của nhân dân
1.3 Nguồn gốc làng nghề
Làng Tống Xá thuộc huyện Ý Yên tỉnh Nam Định được xem là một trong những cái nôi của nghề đúc đồng ở nước ta
Trang 30Làng Tống Xá ra đời năm 791, nhưng nghề sống chính vẫn là nông nghiệp với cây lúa trồng màu Do dân số ngày càng tăng, ruộng đất không khai phá được nhiều, địa hình canh tác không thuận lợi, ruộng chiêm trũng nhiều, nên năng suất rất thấp Người dân lao động làm ăn quần quật quanh năm mà vẫn đói rách, nghèo khổ Cuộc sống trên 300 năm chỉ với đồng ruộng, không có gì thay đổi
Mãi đến năm 1118, sau 327 năm ra đời, dân làng mới có thêm một nghề mới đó là nghề đúc đồng Ngày tháng trôi qua, lúc đầu nghề mới này còn hết sức lạc hậu, song rồi từng bước phát triển vượt bậc kể từ năm 1986 đã tăng tốc rất mạnh mẽ như một bước ngoặt lớn về phát triển kinh tế của quê hương chiếm tới 97% doanh thu của xã
Nghề đúc đồng Tống Xá gắn với một truyền thuyết Chuyện rằng, cách đây gần 900 năm, tại Phủ Yên Khánh (nay thuộc tỉnh Ninh Bình) , có ông Nguyễn Chí Thành ngay từ nhỏ đã xuất gia theo hầu Thiền sư Giác Không Ông là người học rất giỏi, đi nhiều nơi, đem học vấn dạy cho mọi người
Trong một lần qua Tống Xá, vào ngày 12 tháng 2 Âm lịch tương đương với năm 1118, nhà sư Nguyễn Chí Thành (43 tuổi) đã đến vãng cảnh chùa Tống Xá ở xứ đường Leo, trước cửa làng và ngụ cư ở tại chùa này Trong thời gian ở chùa, ông đã đi thăm các cánh đồng của làng, nhận thấy ở phía đông bắc làng có một khu ruộng khoảng vài ba mẫu có loại đất sét dùng được làm khuôn đúc Ông đã cùng dân làng đào một hố sâu để lấy đất làm khuôn và dậy cho người 19 dân Tống Xá nghề đúc, kéo bễ thổi lò, chế tạo ra các dụng cụ bằng gang, đồng như cày, nồi chậu để cung cấp cho nông nghiệp và sinh hoạt gia đình Cánh đồng lấy đất làm khuôn đó là cánh đồng Cầu Hố Nhiều thế kỷ
đã trôi qua, lịch sử cũng nhiều thăng trầm, dâu bể nhưng nghề đúc đồng vẫn trường tồn như chính chất liệu đanh rắn của nó Để nhớ ơn công lao của ông, dân làng đã lập đền thờ Hàng năm, vào giữa tháng 2 Âm lịch, làng mở hội để tưởng nhớ công lao người đã truyền nghề, đem lại sự nghiệp cho làng
Đình thờ Đức Thánh Tổ ở Tống Xá chỉ là một đền nhỏ của riêng làng
Trang 31dựng lên để ghi nhớ công lao của ông trong thời gian 7 tháng về ở chùa Đường Leo - Tống Xá và dậy nghề đúc cho dân làng vào năm 1118 Qua bao thăng trầm của lịch sử, đình đã xuống cấp do nhiều nguyên nhân như: năm
1948 tòa đệ tam của đình bị rỡ để xây hầm kháng chiến, năm 1950 đạn đại bác bắn vào tòa đệ nhị Sau đó đình đã được tu sửa vào các năm: 1986, 2000,
2004, 2005, 2007, trong đó năm 2000 là sửa chữa lớn, có nâng cấp và dịch chuyển đình từ ngoài mặt đường vào trong khoảng 30m
Chính vì vị trí, vai trò to lớn của nghề đúc đồng ở Tống Xá - Ý Yên mà các cấp chính quyền địa phương, các ban ngành, các chủ đầu tư đã tích cực ủng hộ, giúp đỡ và khuyến khích cư dân nơi đây tiếp tục sản xuất và không ngừng mở rộng, nâng cao trình độ tay nghề Việc đẩy mạnh các mặt hàng đúc đồng, không những phát huy thế mạnh của địa phương, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao đời sống, cân đối ngành nghề mà còn có những hiểu biết cần thiết về bản sắc dân 20 tộc, hiểu rõ những hình thức chủ yếu về các nghề thủ công truyền thống, thêm yêu quý đất nước, yêu quý những con người tài hoa làm nên những sản phẩm tô đẹp thêm đời sống văn hóa - tinh thần chung của dân tộc, nhân dân địa phương Vì những sản phẩm làm ra chứa đựng lòng nhiệt thành, đam mê; ẩn chứa, gửi gắm ngụ ý, tâm hồn đời sống nhân dân, toát lên vẻ đẹp tài hoa trí tuệ, góp phần xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.[7]
1.3.1 Sự thay đổi của làng nghề đúc đồng xưa và nay
1.3.1.1 Làng nghề đúc đồng xưa
Tống Xá là vùng đất cổ với hơn 1.200 năm lịch sử mở đất, lập thôn được hình thành vào thế kỷ VIII do hai ông Tống Phúc Thành và Dương Vạn Hợp đem theo gia thất về đây khai hoang, vỡ đất, trồng cấy lập trang ấp có tên
là Kiến Hoà, sau này đổi tên là làng Tống Xá Sau 327 năm ra đời trang Kiến Hòa, đến năm 1118, vào ngày 12-2 nhà sư Nguyễn Chí Thành tu ở chùa Điềm
Xá, Gia Viễn, Ninh Bình đã đến thăm cảnh chùa ở đường leo của Tống Xá và
ở lại chùa này trong thời gian 7 tháng Sau khi tìm thấy ở cánh đồng phía Đông làng có chứa loại đất sét có thể làm được khuôn đúc, Ông đã dạy dân
Trang 32làng Tống Xá đào thành những hố sâu để lấy đất đem về làm khuôn và dạy nghề đúc kim loại Từ đó cánh đồng đào hố làm đất sét này được gọi là cánh đồng Cầu Hố
Đồng thời với dạy nghề đúc, Ông đã cho tu sửa lại chùa đường leo và đặt tên chùa là “Cổ Liêu tự” (có nghĩa là ngôi chùa cổ đã có từ rất xa xưa không rõ năm tháng) Ngày 12-9 cùng năm, tự nhiên Ông bỏ ra đi Để tưởng nhớ công lao của Ông, dân làng đã lập đền thờ Ông cạnh đền thờ Ông Tống và Ông Dương gọi là đền thờ Đức Thánh Tổ Sau khi chùa ở đường leo có tên là Cổ Liêu thì khu vực dân cư phía Đông Nam làng Tống Xá (tách ra từ trang Kiến Hòa), đa số là dòng họ Dương của ông Dương Vạn Hợp ở gần chùa đã đặt tên chùa, đó là làng Cổ Liêu (tên Cổ Liêu do nhà sư Minh Không đặt năm 1118)
Kể từ năm 1118, sau khi thầy Minh Không ra đi, các học trò như: Ông Lâm, Ông Thường, Ông Tường, Ông Tâm, Ông Hòa, Ông An, Ông Phúc đã tiếp thu được tinh hoa của Người, rồi hướng dẫn cho con cháu đời này qua đời khác Từ đó nghề đúc của làng Tống Xá ngày càng mở mang phát triển thịnh vượng, cuộc sống ngày càng ấm no sung túc Chính vì thế, dân làng đã xây dựng đình thờ Ông rất trang nghiêm và tôn kính Công đức của Ông đã được thể hiện bằng năm lần sắc phong cấp nhà nước
Hầu hết các gia đình sống chủ yếu bằng nghề nông, nhưng mở thêm một lò ú để có thêm việc làm và tăng thêm thu nhập Đây là các lò tư nhân, tự quản lý toàn bộ về công nghệ và tiêu thụ Mặc dù công việc đúc hoàn toàn là của các gia đình, nhưng ngay từ thời đó, đã có tính cộng đồng khá cao Các cụ nghệ nhân cao tuổi thường được cử ra để điều hòa các công việc lớn từ khâu đầu vào, sản xuất và tiêu thụ như: ấn định ngày đúc hàng tháng cho các lò; thống nhất hàng ngày buổi sáng từ giờ mới được nổi lửa, buổi chiều 7h phải tắt lửa; quy định giá cả và nơi mua, nơi bán cho các lò trong thời gian này đã hình thành nên các phường như: phương Cày, phường Đồng
Trang 33có doanh thu hàng năm trên 150 tỉ đồng (năm 2007 lên tới 250 tỉ), đã làm thay
da đổi thịt hàng chục gia đình nghề đúc
Quá trình trưởng thành và phát triển của nghề đúc đã xuất hiện nhiều tài năng, nhiều nghệ nhân có trình độ chuyên môn cao, có năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh giỏi, được đông đảo nhân dân làng nghề tự suy tôn và lưu truyền qua các thời kỳ Bàn tay và khối óc của các nghệ nhân đang làm cho nghề đúc ở làng Tống Xá, Yên Xá ngày càng phát triển, công nghiệp địa phương Ý Yên ngày càng mở rộng
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, đề tài đã trình bày một số vấn đề về khái niệm , các chính sách của nhà nước,vai trò của làng nghề đối với sự phát triển và giữ gìn các giá tri văn hóa Đồng thời, chương 1 đã trình bày tổng quan về về Thị Trấn Lâm – Yên Xá – Ý Yên cũng như làng nghề truyền thống đúc đồng (nguồn gốc của làng nghề) Những nội dung được trình bày trong chương 1 chính là cơ sở
lí luận và thực tiễn giúp nhóm tác giả triển khai nội dung chương 2
Trang 34CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LÀNG NGHỀ ĐÚC ĐỒNG - THỊ TRẤN LÂM -
Ý YÊN - NAM ĐỊNH 2.1 Các giá trị văn hóa của làng nghề đúc đồng làng Tống Xá– Thị trấn Lâm -Ý Yên – Nam Định
2.1.1 Phong tục, tập quán, lễ hội gắn với làng nghề
Một trong những giá trị văn hóa tiêu biểu của làng nghề đúc đồng – Thị trấn Lâm – Yên Xá – Ý Yên – Nam Định là tín ngưỡng thờ tổ nghề, lễ hội làng truyền thống, lễ hội đền Tống Xá, gắn với di tích lịch sử đền thờ Đức Thánh tổ:
Lễ hội đền thờ Đức Thánh Tổ còn có tên gọi khác là Lễ hội làng nghề truyền thống xã Yên Xá; Lễ hội đền Tống Xá là lễ hội truyền thống của cư dân thôn Tống Xá thuộc xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, là nơi tôn vinh, ngưỡng vọng vị Thánh tổ, thiền sư Nguyễn Minh Không và nghề đúc truyền thống Vào dịp lễ hội hàng năm tại các di tích, đều diễn ra nghi lễ
“hiến xảo” để tấu, trình với các vị tổ nghề những sản phẩm làng nghề Trước
lễ hội từ 2-3 tháng, các gia đình làm nghề sẽ đầu tư tâm sức chế tác thủ công một sản phẩm tiêu biểu và có giá trị nhất Khi tổ chức nghi lễ “hiến xảo” các gia đình mang sản phẩm ra đình, đền thờ tổ nghề làm lễ yết cáo, dâng trước ban thờ các vị tổ những sản phẩm có tính thẩm mỹ cao và kỹ thuật tinh xảo Cùng với nghi lễ “hiến xảo”, nghi thức “rước lửa”, “kéo lửa” khai hội cũng là một hoạt động không thể thiếu tại mỗi làng nghề dịp đầu năm
Lễ hội đền thờ Đức Thánh Tổ có từ lâu đời do cộng đồng làng nghề đúc kim loại Tống Xá sáng tạo, thực hành, được kế tục qua nhiều thế hệ Đây là dịp để dân làng thể hiện sự tri ân, lòng tự hào về một nhân vật lịch sử, một danh nhân đã có những đóng góp quan trọng đối với quốc gia Đại Việt thời
Lý, đặc biệt là công lao truyền nghề đúc kim loại cho địa phương
Vì thế thiền sư Nguyễn Minh Không còn được dân làng tôn là Thánh
Tổ, có vai trò quan trọng bảo trợ cuộc sống tinh thần của dân làng, trong đó
Trang 35có nghề đúc truyền thống
Lễ hội đền thờ Đức Thánh Tổ được diễn ra trong các ngày 10, 11, 12 tháng 2
âm lịch, với các nghi lễ tiêu biểu như: Lễ mục dục, lễ rước kiệu Đức Thánh
Tổ, Thực hành tế nam quan và tế nữ quan
Trong đặc điểm sinh hoạt văn hóa tinh thần của làng nghề hầu như đều gắn liền với các hoạt động văn hóa dân gian khác nhau Trên kênh báo Nam Định có viết:
Trong lễ hội đền thờ Đức Thánh Tổ diễn ra rất nhiều hoạt động hội, thu hút đông đảo cộng đồng địa phương và du khách đến xem, cổ vũ như: Biểu diễn các tích chèo về lịch sử lập làng và nghề đúc, vật cầu bùn, leo cột
mỡ, cờ tướng
Biểu diễn tích chèo: Ý Yên là vùng đất cổ với nhiều di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống, dân ca, dân vũ phong phú, đa dạng như: nghệ thuật chầu văn, ca trù, xẩm…đặc biệt là nghệ thuật hát chèo, với sự giúp đỡ của Nghệ nhân ưu tú Trần Quang Lộc, đội văn nghệ
xã Yên đã dàn dựng được nhiều tiết mục hát chèo, hát văn đặc sắc, trong đó tiêu biểu phải kể đến vở chèo “Kiến Hòa mở hội” và “Chín trăm năm vàng son Thánh Tổ Minh Không truyền nghề”, “Thánh Tổ Minh Không truyền nghề đúc Tống Xá”
Vật cầu bùn: Đây là trò chơi dân gian truyền thống có từ lâu đời thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân đến xem và cổ vũ náo nhiệt Trò chơi được
tổ chức trong 2 ngày 11 và 12 tháng Hai âm lịch
Thông qua các nghi lễ và các hoạt động trong lễ hội Đức Thánh Tổ đã phản ánh lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Kiến Hòa xưa - Tống
Xá nay; về quá trình ra đời phát triển của nghề đúc kim loại truyền thống của địa phương Tri ân công đức to lớn của Đức Thánh Tổ Nguyễn Minh Không - ông Tổ của nghề đúc truyền thống.Thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây” mang đậm giá trị nhân văn, thể hiện bản sắc truyền thống văn hóa Việt Nam
Trang 36Lễ hội đền thờ Đức Thánh Tổ còn là dịp để gắn kết cộng đồng, phát huy tinh thần đoàn kết, tình làng nghĩa xóm, yêu thương giúp đỡ nhau trong cuộc sống, là dịp con em quê hương làm ăn sinh sống ở xa tìm về nguồn cội Đặc biệt đối với cộng đồng nghề đúc kim loại, đây còn là dịp trao đổi kinh nghiệm, khích lệ các nghệ nhân và gia đình quyết tâm bảo tồn, phát huy nghề truyền thống của ông cha truyền lại, góp phần xây dựng phát triển kinh tế của gia đình và địa phương
Phỏng vấn Bác Phạm Quang Ngọc có cảm nghĩ như nào khi đến với lễ hội khi là một vị khách đến nơi đây: Đến với lễ hội cộng đồng và du khách lưu lại những ấn tượng sâu sắc về những tình cảm thân thiện, mến khách của người dân, về không khí vui tươi đặc sắc của lễ hội, là hình ảnh quê hương Yên Xá đẹp giàu và đang trên đà phát triển thịnh vượng Lễ hội đền thờ Đức Thánh Tổ vì thế còn là một sản phẩm du lịch văn hóa đăc trưng, hấp dẫn của tỉnh Nam Định
Hay như phỏng vấn Anh Phan Trung Quyết cảm nghĩ về quy mô lễ hội như thế nào, anh cho hay: Lễ hội đền thờ Đức Thánh Tổ là lễ hội truyền thống, với quy mô lớn, có vai trò quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của cộng đồng, nó đã trở thành tài sản chung, được cộng đồng sáng tạo, thực hành
và trao truyền qua nhiều thế hệ, đến nay vẫn duy trì và phát triển, trở thành di sản văn hóa đặc trưng tiêu biểu của cộng đồng dân cư làng Tống Xá nói riêng
và của tỉnh Nam Định nói chung Hiện nay những người đại diện cộng đồng trực tiếp thực hành lễ hội lên tới hàng trăm người và số người tham dự mỗi kỳ
lễ hội lên tới hàng vạn người tham gia
Như vậy làng nghề đúc Tống Xá ngoài yếu tố sản xuất còn mang đậm yếu tố văn hóa và yếu tố tâm linh phù hợp Ở đó những người dân làng nghề
đã hình thành nên những hội, phường buôn Cho dù buôn đâu, bán đâu, những
người này vẫn có sự liên kết chặt chẽ với những người làng
Tín ngưỡng và lễ hội tại làng Tống xá thường gắn liến với các điều kiện
tự nhiên và có quy luật riêng của làng Nó được thể hiện qua các giá trị văn
Trang 37hóa – xã hội tại làng Tống Xá, tái xác định những mối quan hệ mật thiết giữa gia đình với xã hội ngày càng gắn bó và liên kết cộng động, các thành viên trong cùng một làng với nhau và thể hiện rõ nét qua các mùa lễ hội tại làng Tống Xá
2.1.2 Giá trị nghệ thuật
Tống Xá là làng nghề truyền thống nổi tiếng nhất về nghệ thuật đúc đồng, tạc tượng, sản xuất ra các sản phẩm tinh xảo bậc nhất Công đoạn đúc đồng theo Ông Nguyễn Văn Khanh - một nghệ nhân ở làng Tống Xá với truyền thống ba đời làm nghề - cho biết, có 7 công đoạn chính để tạo ra một sản phẩm làm bằng đồng Đó là tạo mẫu, tạo khuôn, nấu chảy nguyên liệu, rót khuôn, hoàn thiện sản phẩm, cuối cùng là đánh bóng Đầu tiên là tạo mẫu, người thợ sẽ dùng đất sét hay thạch cao dẻo để tạo thành mẫu đã định sẵn Bước thứ hai là tạo khuôn, dùng đất phù sa trộn đất sét, tro trâu và bông vụn đắp ngoài vật mẫu Thứ ba, nấu chảy nguyên liệu: dùng đồng vụn và các hợp kim với tỉ lệ phù hợp đun nóng chảy và trộn lẫn với nhau Công đoạn nấu đồng rất cầu kỳ, người thợ phải luôn quan sát và tính toán để đồng chảy đều,
độ chảy vừa phải, khi nấu vừa chín tới thì sẽ rót đồng vào khuôn Tiếp theo là rót khuôn, đây là khâu khó nhất và đòi hỏi trình độ của tay nghề cao của người thợ Khi rót đồng thì phải diễn ra liên tục, đều tay, để đảm bảo sản phẩm
ra lò được mịn màng, nhẫn nhụi và sáng bóng. Bước cuối cùng là hoàn thiện sản phẩm, sau khi nguội, dỡ sản phẩm ra khỏi khuôn, mài, giũa, đục, chạm, tách và đánh bóng theo ý tưởng của nghệ nhân Để sản phẩm mượt mà, sáng bóng không bị gờ, không lẫn đồng sóng hay đồng cháy phụ thuộc nhiều vào khả năng của những người thợ Công đoạn hoàn thiện sản phẩm mang yếu tố quyết định phần “hồn” của mỗi sản phẩm đúc “Công đoạn này phụ thuộc hoàn toàn vào bàn tay nghệ nhân từ những chạm trổ tạo nên đường nét của vật phẩm, thật sự thổi hồn cho mỗi bức tượng”.Làm khuôn, nấu đồng, rót đồng vào khuôn Sản phẩm sau khi hoàn tất phải đồng sắc – đồng khí mới đạt yêu cầu kỹ thuật Còn về tính nghệ thuật lại đòi hỏi cao trong khâu chế tác,
Trang 38những chi tiết chạm trổ hay tạo hình sản phẩm là yếu tố cốt lõi tạo thành giá trị nghệ thuật Kỹ thuật chạm bạc, chạm đồng, ghép tam khí, hay ngũ khí (đồng, vàng, bạc, đồng xanh, đồng đen) hoặc đắp nổi đều dựa trên sự phát triển của nghề gò đồng Sinh ra ở vùng đất truyền thống, mỗi thế hệ, mỗi ngành đều hành thạo với công việc và trở thành những người mang tinh hoa đến mọi miền đất nước
2.1.3 Tri thức và kinh nghiệm trong sản xuất của làng nghề
Đã từ thời xa xưa, những nghệ nhân đúc đồng của Làng nghề đúc đồng
Ý Yên chỉ đúc những sản phẩm đơn giản như các đồ thờ cúng, đỉnh đồng, lư hương Cho đến ngày nay, do sự phát triển của làng nghề truyền thống nói chung trên cả nước, và nghề đúc đồng nói riêng
Tại Ý Yên, đã cho ra đời những tượng phật, danh nhân, lãnh tụ dân tộc,
đồ thờ cúng, chuông, tượng, đồ phong thủy bằng đồng vô cùng tinh xảo Và
để có được những sản phẩm như vậy, cần phải có những yếu tố vô cùng quan trọng để tạo lên bản sắc riêng cho làng nghề đó là kinh nghiệm và những tri thức để lại cho đến ngày nay:
+ Tay nghề đúc đồng của những nghệ nhân Đồng Ý Yên Nam Định rất điêu luyện do có được những kinh nghiệm lâu năm được truyền lại của những người đời trước
+ Trí sáng tạo của những nghệ nhân rất lớn nên tạo ra cái hồn cho mỗi sản phẩm
+ Những người nghệ nhân đúc đồng tại Ý Yên luôn đầu tư những kiến thức thực tiễn cùng với lý thuyết của nghề Thêm vào đó, sự đầu tư trang thiết
bị công nghệ, máy móc để góp phần mang đến sự sáng tạo và thành công cho mỗi sản phẩm họ làm ra
+ Nhiệt tình với khách hàng, ham học hỏi và tiếp thu những kiến thức cùng ý kiến đóng góp của khách hàng Biết tìm tòi, sáng tạo để mang đến những sản phẩm mới vô cùng độc đáo
Trang 392.1.4 Văn hóa ứng xử trong làng nghề
2.1.4.1 Sự biến đổi văn hóa ứng xử với làng nghề
Nếu như trước đây Tống Xá việc giữ gìn bí quyết và truyền nghề chủ yếu được giữ gìn trong gia đình thì hiện nay phương thức truyền nghề tương đối mở rộng hơn so với trước
Nghề đúc đồng vốn là một nghề đòi hỏi nhiều kỹ thuật, nên ở Tống Xá nếu đã muốn theo nghề và gắn bó với nghề, thì cần một thời gian rất dài để học tập cũng như rèn luyện các kỹ năng cần thiết Mỗi nhà, mỗi cơ sở lại
có những thế mạnh, một thị trường tiêu thụ riêng, nên việc giữ gìn mẫu mã cũng như bí mật về khuân mẫu, hay cách thức, tỷ lệ được bàn giao lại rất nghiêm ngặt
Quan niệm về trình độ học vấn của các nghệ nhân đúc đồng ở Tống Xá:Trước đây nếu như chỉ dựa vào nông nghiệp thì người dân Tống Xá chỉ có
thể đủ ăn, có khi còn thiếu đói và không phải ngẫu nhiên mà dân gian xưa có câu “ có thực mới vực được đạo”, gia đình không đủ của ăn thì con cái cũng kém phần học tập đi đôi chút Trong thời kỳ bao cấp cũng thế và cho đến hiện tại là thế kỷ thứ 21 người dân làng nghề chú trọng hơn trong việc đầu tư cho con em đi học hành đầy đủ, nghiêm túc để đào tạo ra những lứa nghệ nhân có trình độ không chỉ ở tay nghề mà còn là ứng xử có thái độ tốt, trân trọng làng
nghề đúc đồng
Quan niệm trong mối quan hệ gia đình: Người thợ thủ công ở Tống Xá
hầu hết các công việc do hai vợ chồng bàn bạc và quyết định, chỉ trừ công việc nhà cửa do người phụ nữ quyết định, còn lại do đôi bàn tay của người đàn ông đảm nhiệm, điều này cho thấy xu hướng bình đẳng giữa vợ chồng Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình cũng có sự tôn trọng, kính trên nhường dưới nhưng sự độc lập về kinh tế dẫn đến quyền giám sát của thế
hệ trước đó có xu hướng giảm đi
Quan niệm trong quan hệ làng xóm: Trong cuộc sống người dân làng
Tống Xá, ngoài mối quan hệ gia đình và họ hàng còn mối quan hệ xóm giềng
Trang 40là mối quan hệ xã hội mang tính truyền thống của người dân ở làng Trong thời xưa, mỗi con người sinh ra đều bị rằng buộc bởi các mối quan hệ dòng
họ, hương ước, và cho đến bây giờ nó đã nhạt dần đi và thay vào đó là sự
sẻ chia, đoàn kết, tinh thần tương thân tương ái được nêu lên rất rõ
2.1.4.2 Văn hóa ứng xử của người dân làng nghề với xã hội
Ứng xử của những người làm nghề tại Tống Xá với xã hội được thể hiện qua chữ tín trong kinh doanh
Chữ tín đối với người dân làng Tống Xá được đánh giá qua chất lượng sản phẩm, bởi từ thời gian nhận làm và đưa ra sản phẩm hoàn chỉnh, kể cả quan hệ cung cầu trong lúc sản xuất Tất cả những yếu tố này thể hiện rõ nét nhất qua sản phẩm cũng như số lượng sản phẩm tiêu thụ và chất lượng sản phẩm Muốn giữ uy tín thì phải tạo ra sản phẩm tốt, mà muốn làm được như vậy thì người thợ thủ công phải tỉ mỉ, chính xác từng công đoạn một
Ứng xử với xã hội của người dân làng Tống Xá còn được thể hiện qua
ý thức bảo tồn các giá trị văn hóa Lịch sử phát triển của làng nghề đúc đồng luôn gắn liền với lịch sử phát triển nền văn hóa Việt Nam nhiều bản sắc Nhiều sản phẩm của làng Tống Xá được sản xuất mang tính nghệ thuật cao, mang tính đặc trưng riêng của làng nghề vượt qua hơn cả những giá trị đơn thuần nó còn thể hiện nó là những hiện vật được coi là biểu tượng đẹp đẽ truyền thống của làng
Nhưng sự phát triển của kinh tế thị trường đã dẫn đến sự cạnh tranh giữa các cơ sở sản xuất, giữa các gia đình trong làng nghề với nhau Do sản xuất cùng một loại mặt hàng hóa, các gia đình trong làng nghề thường cạnh tranh nhau trong việc thu hút khách hàng, giá cả sản phẩm, do đó nhiều khi xảy ra các hành vi ứng xử không lành mạnh trong kinh doanh buôn bán để tranh giành khách hàng Mặt trái ấy đó vô hình ảnh hưởng rất lớn đến quan hệ ứng xử xã hội với nhau
Tình trạng này sẽ diễn ra mạnh mẽ trong hiện tại và tương lai nếu không có sự điều tiết kịp thời của cơ quan quản lý và cộng đồng cư dân tại