1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BẤT cập TRONG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT về THỰC HIỆN kết LUẬN THANH TRA và KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

12 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 30,9 KB
File đính kèm FILE ĐÍNH KÈM.rar (28 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bất cập trong quy định pháp luật về thực hiện kết luận thanh tra 2010: Bài viết phân tích về khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc thực hiện kết luận thanh tra; phân tích các bất cập pháp luật về thực hiện kết luận thanh tra. cùng một số kiến nghị để hoàn thiện kết luận thanh tra

Trang 1

BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN KẾT LUẬN

THANH TRA VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

ThS Nguyễn Phương Thảo

I Đặt vấn đề

Hiệu quả của công tác thanh tra phụ thuộc rất lớn vào việc nhận thức, sự tuân thủ quy định pháp luật về kết luận thanh tra và thực hiện đầy đủ các kết luận thanh tra Thực tiễn thi hành cho thấy, việc thực hiện quy định pháp luật về kết luận thanh tra đã đạt được những kết quả nhất định Bên cạnh đó cũng có những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện

Từ năm 2014, Chính phủ, Thanh tra Chính phủ và các bộ, ngành đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định về tổ chức bộ máy, quy trình, trình tự thủ tục theo dõi, đôn đốc, xử lý sau thanh tra Cụ thể: Nghị định số 86/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra; Nghị định số 33/2015/NĐ-CP năm

2015 của Chính phủ về thực hiện kết luận thanh tra; Thông tư số 01/2013/TT-TTCP ngày 12/3/2013 của Thanh tra Chính phủ về hoạt động theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau thanh tra; Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-TTCP-BNV ngày 08/9/2014 của Thanh tra Chính phủ và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Thông

tư liên tịch số 07/2015/TTLT-TTCP-NHNN ngày 25/11/2015 của Thanh tra Chính phủ

và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc hướng dẫn phong tỏa tài khoản của đối tượng thanh tra

Điều 40 Luật Thanh tra năm 2010 quy định, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kết luận thanh tra hoặc nhận được kết luận thanh tra, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp hoặc Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành có trách nhiệm tổ chức chỉ đạo việc thực hiện kết luận thanh tra: (i) xử lý, yêu cầu hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý sai phạm về kinh tế; (ii) xử lý, yêu

Trang 2

cầu hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý cán bộ, công chức, viên chức

có hành vi vi phạm pháp luật; (iii) áp dụng, yêu cầu hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật; (iv)

xử lý vấn đề khác thuộc thẩm quyền trong kết luận thanh tra Luật Thanh tra cũng quy định rõ về xử lý hành vi không thực hiện yêu cầu, kết luận, quyết định xử lý về thanh tra tại Điều 41 nhưng chỉ quy định mang tính nguyên tắc chung Căn cứ Luật Thanh tra, Nghị định số 33/2015/NĐ-CP ngày 27/3/2015 của Chính phủ quy định cụ thể về thực hiện kết luận thanh tra

Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện kết luận thanh tra: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày công bố kết luận thanh tra:

Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp với cơ quan ban hành kết luận thanh tra có trách nhiệm: chỉ đạo việc thực hiện kết luận thanh tra; xử lý sai phạm về hành chính, kinh tế; xử lý cán bộ, công chức, viên chức, người có hành vi vi phạm; khắc phục sơ hở, yếu kém trong quản lý, hoàn thiện chính sách, pháp luật (Điều 4, Điều 5, Điều 6, Điều 7 Nghị định số 33/2015/NĐ-CP);

Thủ trưởng cơ quan ban hành kết luận thanh tra có trách nhiệm: Quyết định, yêu cầu, kiến nghị thực hiện kết luận thanh tra; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra (Điều 8, Điều 9);

Đối tượng thanh tra và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm: tổ chức thực hiện kết luận thanh tra, văn bản chỉ đạo, yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý

về thanh tra; thực hiện kết luận thanh tra, văn bản chỉ đạo, yêu cầu, kiến nghị, quyết định

xử lý sai phạm về hành chính, kinh tế, xử lý cán bộ, công chức, viên chức, người có hành

vi vi phạm, khắc phục sơ hở, yếu kém trong quản lý, hoàn thiện chính sách, pháp luật; báo cáo việc thực hiện kết luận thanh tra (Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 13, Điều

14 )

Trang 3

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp đối tượng thanh tra có trách nhiệm: thực hiện và chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra; xử lý hành vi vi phạm của đối tượng thanh tra (Điều 15, Điều 16)

Theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra: trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày công bố kết luận thanh tra, người được giao nhiệm vụ theo dõi có trách nhiệm mở hồ sơ theo dõi tập hợp các thông tin liên quan đến việc thực hiện kết luận thanh tra Sau 45 ngày theo dõi, nếu nhận thấy việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra chưa hoàn thành, Thủ trưởng cơ quan thanh tra quyết định tiến hành đôn đốc thực hiện, hoạt động này được tiến hành trong thời hạn 25 ngày Nếu việc thực hiện kết luận thanh tra vẫn chưa hoàn thành, tiến hành kiểm tra theo quy định tại Nghị định này, thời gian kiểm tra tối đa là 10 ngày kể từ ngày bắt đầu kiểm tra Nếu nội dung kiểm tra phức tạp, phạm vi kiểm tra rộng thì thời hạn kiểm tra là 20 ngày, kể từ ngày bắt đầu kiểm tra Căn cứ kết quả kiểm tra, thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước, thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành có trách nhiệm yêu cầu thủ trưởng cơ quan quản lý trực tiếp của đối tượng kiểm tra áp dụng biện pháp theo thẩm quyền buộc đối tượng kiểm tra hoàn thành việc thực hiện kết luận thanh tra hoặc áp dụng theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật…

Đối với hành vi không thực hiện yêu cầu, kết luận, quyết định xử lý về thanh tra thì tùy đối tượng sẽ bị xử lý như sau: Trong quá trình thanh tra, đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra mà không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ, chính xác, kịp thời theo yêu cầu của người ra quyết định thanh tra (Khoản 1 Điều 41 Luật Thanh tra năm 2010)

Đối tượng thanh tra mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không kịp thời thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật (Khoản 2 Điều 41 Luật Thanh tra năm 2010)

Trang 4

Người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành, cộng tác viên thanh tra, thành viên khác của Đoàn thanh tra mà không hoàn thành nhiệm vụ thanh tra hoặc cố ý không phát hiện hoặc phát hiện hành vi vi phạm pháp luật đến mức phải xử lý mà không xử lý, không kiến nghị việc xử lý hoặc có hành vi khác vi phạm pháp luật về thanh tra thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

Như vậy, Luật Thanh tra năm 2010 và các văn bản hướng dẫn đã quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của cơ quan, cá nhân được giao nhiệm vụ thanh tra, người đứng đầu

cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp đối tượng thanh tra, đối tượng thanh tra, trình tự, thủ tục việc thực hiện kết luận thanh tra… Đây chính là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện kết luận thanh tra trên thực tế

2 Thực trạng thực hiện kết luận thanh tra

Luật Thanh tra năm 2010 đã quy định về việc xử lý và chỉ đạo việc thực hiện kết luận thanh tra, xử lý hành vi không thực hiện yêu cầu, kết luận, quyết định xử lý về thanh tra Tuy nhiên, trên thực tế nhiều kết luận thanh tra tỷ lệ thực hiện đạt thấp, thu hồi tiền không cao, thậm chí kéo dài trong nhiều năm

Từ năm 2016 đến 2018, ngành Thanh tra thành phố Hải Phòng đã đôn đốc thực hiện 1.054 kết luận thanh tra Trong đó, có 327 kết luận thanh tra hành chính; 727 kết luận thanh tra chuyên ngành; theo dõi đôn đốc xử lý sai phạm về kinh tế 101.760.748.000 đồng, kiến nghị thu hồi 63.466.766.000 đồng, kiến nghị xử lý bằng hình thức khác 38.294.002.000 đồng, kiến nghị lập lại trật tự quản lý 14.655,6 m2 đất…

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn một số kết luận thanh tra tỷ lệ thực hiện đạt thấp, thu hồi tiền không cao, thậm chí không thu hồi được tiền Một số kiến nghị

Trang 5

trong kết luận thanh tra kéo dài trong nhiều năm chưa thực hiện xong; cá biệt có kết luận thanh tra kéo dài từ năm 2011 đến nay nhưng vẫn chưa thực hiện xong1

Tháng 3/2021, Thanh tra Thành phố Hồ Chí Minh đã đã có Thông báo kết luận thanh tra số 17/TB-TTTP-P2 về thanh tra trách nhiệm thủ trưởng trong việc thực hiện pháp luật về thanh tra, tiếp công dân, xử lý đơn và giải quyết KN, TC tại UBND quận 8 trong các năm 2018 – 2019: Trong đó, UBND quận 8 thực hiện các kết luận thanh tra còn tương đối chậm, chưa dứt điểm do còn vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư tại các dự án, trong cưỡng chế tháo dỡ các công trình xây dựng vi phạm hành chính2…

Hiệu lực, hiệu quả của công tác thanh tra phụ thuộc rất lớn vào việc nhận thức và triển khai đầy đủ các kết luận thanh tra Qua thực tiễn thi hành cho thấy, tỷ lệ thu hồi tiền, tài sản thất thoát thấp so với các kiến nghị trong kết luận thanh tra, việc thực hiện các kiến nghị khác trong kết luận thanh tra cũng chiếm tỷ lệ không cao Thực trạng này có nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân khách quan, có nguyên nhân chủ quan như việc xác định nội dung, đối tượng thanh tra, chất lượng hoạt động thanh tra, báo cáo, kết luận thanh tra, ý thức tổ chức thực hiện kết luận thanh tra, ý thức chấp hành của đối tượng thanh tra…trong đó, có cả nguyên nhân do bất cập quy định pháp luật về thực hiện kết luận thanh tra

Nguyên nhân của tình trạng này:

Thứ nhất, do một số người đứng đầu cơ quan, đơn vị được thanh tra chưa thật sự

quan tâm chỉ đạo thực hiện những kiến nghị trong các kết luận thanh tra, chỉ tập trung vào thực hiện việc thu hồi kinh tế mà chưa chú trọng chỉ đạo thực hiện các kiến nghị trong công tác quản lý, điều hành, kiểm điểm, xử lý cán bộ vi phạm; một số đối tượng thanh tra có biểu hiện trốn tránh, đối phó với kết luận thanh tra dẫn đến việc xử lý gặp khó khăn, nhất là xử lý về kinh tế

1 http://thanhtravietnam.vn/nghien-cuu-trao-doi/thuc-trang-va-giai-phap-nang-cao-hieu-qua-thuc-hien-ket-luan-thanh-tra-tai-hai-phong-182799

2 https://thanhtra.com.vn/thanh-tra/ket-luan-thanh-tra/quan-8-tp-hcm-thuc-hien-ket-luan-thanh-tra-con-cham-chua-dut-diem-179263.html

Trang 6

Thứ hai, một số kết luận thanh tra kiến nghị biện pháp xử lý còn chung chung, chỉ

kiểm điểm, rút kinh nghiệm nhưng không quy định thời hạn dẫn tới công tác đôn đốc, theo dõi xử lý bị động, khó theo dõi; một số cơ quan quản lý nhà nước chậm thực hiện kiến nghị trong kết luận thanh tra liên quan đến trách nhiệm của mình, có biểu hiện đùn đẩy, đối phó

Thứ ba, nhận thức của người đứng đầu một số địa phương, đơn vị đối với vai trò,

vị trí, thẩm quyền của cơ quan thanh tra còn hạn chế, ít quan tâm hoặc chỉ bó hẹp quyền hạn của thanh tra quận, huyện; giao nhiều việc không liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của cơ quan thanh tra hoặc chỉ giao tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo; nhận thức của một số cá nhân, tổ chức về kết luận thanh tra còn chưa đúng, cho rằng Kết luận thanh tra chỉ là văn bản hành chính thông thường, chỉ có tính chất kiến nghị mà không có tính chất mệnh lệnh hành chính nên chấp hành, thực hiện không nghiêm túc

Thứ tư, pháp luật về thực hiện kết luận thanh tra còn bất cập, chưa rõ ràng Những

bất cập trong quy định của pháp luật về thực hiện kết luận thanh tra sẽ được trình bày tại mục 3

3 Bất cập trong quy định của pháp luật về thực hiện kết luận thanh tra

Thứ nhất, Luật Thanh tra năm 2010 không quy định về khái niệm đối tượng thanh tra Điều 3 Luật Thanh tra năm 2010 quy định về “Thanh tra nhà nước” là hoạt động

xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân Như vậy có thể hiểu đối tượng thanh tra là: Việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân Khảo cứu các văn bản pháp luật liên quan, không chỉ Luật Thanh tra năm 2010; Nghị định số 86/2011/ NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra; Nghị định số 33/2015/NĐ-CP đều không có quy định cụ thể thế nào là “đối tượng thanh tra”, tuy nhiên từ “Đối tượng thanh tra” lại được sử dụng 49 lần trong Luật Thanh tra năm

2010, 30 lần trong Nghị định số 33/2015/NĐ-CP; 66 lần trong Nghị định số

Trang 7

86/2011/NĐ-CP và rất nhiều lần trong các văn bản pháp luật liên quan Điều này sẽ gây khó khăn, lúng túng cho người đọc, cơ quan có thẩm quyền trong việc xác định cụ thể đối tượng thanh tra Mặt khác, xét về kỹ thuật lập pháp, đây được coi là sự chưa hoàn thiện trong việc xây dựng và hoàn thiện các quy phạm pháp luật

Thứ hai, về thời hạn thực hiện kết luận thanh tra Điều 40 Luật Thanh tra năm

2010, Nghị định số 33/2015/NĐ-CP ngày 27/3/2015 của Chính phủ quy định về thực hiện kết luận thanh tra không quy định cụ thể về thời hạn thực hiện kết luận thanh tra, văn bản chỉ đạo, yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra đối với đối tượng thanh tra,

cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, dẫn đến mỗi kết luận thanh tra, văn bản chỉ đạo, yêu cầu, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra yêu cầu thời gian thực hiện kết luận thanh tra khác nhau, không thống nhất Dựa vào thời hạn thực hiện kết luận thanh tra được quy định trong luật, các cơ quan có thẩm quyền mới có căn cứ pháp luật để xác định trách nhiệm của đối tượng thanh tra không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không kịp thời kết luận thanh tra

Thứ ba, thời gian theo dõi, đôn đốc, kiểm tra chưa phù hợp với tính chất của từng

kết luận thanh tra và từng cấp thanh tra Điều 22 Nghị định số 33/2015/NĐ-CP quy định thời hạn theo dõi việc thực hiện kết luận thanh tra là trong vòng: 63 ngày, bao gồm 15 ngày mở hồ sơ theo dõi, 45 ngày để báo cáo thủ trưởng cơ quan thanh tra và 3 ngày để thủ trưởng cơ quan thanh tra quyết định: Kết thúc việc theo dõi và lưu trữ hồ sơ theo dõi theo quy định hiện hành nếu việc thực hiện kết luận thanh tra đã hoàn thành hoặc tiến hành đôn đốc việc thực hiện kết luận thanh tra

Về thời hạn đôn đốc việc thực hiện kết luận thanh tra: Điều 23 Nghị định số

33/2015/NĐ-CP quy định: Việc đôn đốc thực hiện kết luận thanh tra gồm: Trong vòng 5 ngày kể từ ngày được giao việc đôn đốc, người được giao việc đôn đốc có trách nhiệm đề xuất văn bản đôn đốc trình thủ trưởng cơ quan thanh tra Người được giao việc đôn đốc

có trách nhiệm báo cáo kết quả đôn đốc với thủ trưởng cơ quan thanh tra trong thời hạn

25 ngày, kể từ ngày được giao việc đôn đốc việc thực hiện kết luận thanh tra Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả đôn đốc việc thực hiện kết luận thanh

Trang 8

tra, thủ trưởng cơ quan thanh tra nhà nước, thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành căn cứ kết quả đôn đốc để quyết định: Kết thúc việc đôn đốc và lưu trữ hồ sơ đôn đốc theo quy định hiện hành nếu việc thực hiện kết luận thanh tra đã hoàn thành; tiến hành kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra Như vậy, việc đôn đốc thực hiện kết luận thanh tra sẽ trải qua nhiều nhất là 28 ngày để người được giao kết luận thanh tra thực hiện báo cáo về: Quá trình đôn đốc; tình hình, tiến độ thực hiện kết luận thanh tra; kết quả thực hiện kết luận thanh tra sau khi đôn đốc; đánh giá chung và

đề xuất giải pháp thực hiện kết luận thanh tra

Về thời hạn kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra: Khi hết thời hạn thực hiện

kết luận thanh tra, mà đối tượng đôn đốc không hoàn thành việc thực hiện; Đối tượng đôn đốc không thực hiện trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện kết luận thanh tra hoặc đối tượng thanh tra có dấu hiệu tẩu tán tài sản, tiêu hủy tài liệu, không hợp tác, cản trở hoặc

có hành vi vi phạm pháp luật khác theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định số 33/2015/NĐ-CP thì Thủ trưởng cơ quan thanh tra ra kết luận thanh tra Thời hạn kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra tối đa là 05 ngày kể từ ngày bắt đầu kiểm tra Nếu nội dung kiểm tra phức tạp, phạm vi kiểm tra rộng thì thời hạn kiểm tra tối đa là 10 ngày, kể

từ ngày bắt đầu kiểm tra Nếu kiểm tra nhiều kết luận thanh tra phức tạp, phạm vi kiểm tra rộng thì thời hạn kiểm tra tối đa là 20 ngày Người được giao nhiệm vụ kiểm tra có trách nhiệm báo cáo kết quả kiểm tra với thủ trưởng cơ quan thanh tra trong vòng 3 ngày

kể từ ngày kết thúc kiểm tra thực hiện kết luận thanh tra Như vậy, thời hạn kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra là không quá 20 ngày

Hiện nay, Luật thanh tra năm 2010 quy định gồm: Thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành tuy nhiên quy định về việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra là quy định chung cho cả thủ tục của thanh tra hành chính và thành tra chuyên ngành Nhiều kết luận thanh tra có phạm vi rộng, thời kỳ thanh tra dài, nội dung thanh tra phức tạp, kết luận thanh tra liên quan đến nhiều chủ thể nên việc thực hiện kết luận thanh tra đòi hỏi mất nhiều thời gian Trong khi đó, hiện nay quy định thời gian theo

Trang 9

dõi và đôn đốc, kiểm tra ngắn nên đối tượng thanh tra và các chủ thể thanh tra chưa có kết quả thực hiện đáng kể để có thể đánh giá một cách toàn diện và chính xác

Thứ tư, về quy trình thực hiện các bước đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận

thanh tra chưa có hướng dẫn cụ thể, thống nhất từ khâu xây dựng kế hoạch kiểm tra, ban hành quyết định, tổ chức kiểm tra, xây dựng các báo cáo, trách nhiệm và sự phối hợp trong kiểm tra… Điều này gây khó khăn cho hoạt động kiểm tra, đặc biệt là các bộ và địa phương còn rất lúng túng do chưa có căn cứ pháp lý

Ví dụ: Khoản 4, Điều 23 và Khoản 6, Điều 24 Nghị định số 33/2015/NĐ-CP có quy định kết quả xử lý kết quả đôn đốc/kiểm tra phải được công khai theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, pháp luật về thanh tra chưa quy định cụ thể về vấn đề này, dẫn đến vướng mắc trong thực hiện Liệu kết quả và việc xử lý kết quả đôn đốc/kiểm tra phải công khai có giống với việc công khai kết luận thanh tra? Công khai kết quả đôn đốc/ kết quả kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra bằng hình thức nào? Việc công khai kết quả đôn đốc/ kết quả kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra được thực hiện trong bao lâu?

Thứ năm, chế tài đối với đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên

quan không thực hiện hoặc thực hiện không đúng yêu cầu của kết luận thanh tra, quyết định, yêu cầu, kiến nghị thực hiện kết luận thanh tra chưa rõ ràng Điều 41 Luật thanh tra năm 2010 quy định: Đối tượng thanh tra mà không thực hiện hoặc thực hiện không đầy

đủ, không kịp thời thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật Nghị định số 33/2015/NĐ-CP ngày 27/3/2015 của Chính phủ quy định về thực hiện kết luận thanh tra chỉ quy định trách nhiệm của cơ quan,

tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện kết luận thanh tra và theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận thanh tra, quy định mang tính chung nhất về chế tài thực hiện mà chưa quy định các biện pháp, chế tài cụ thể xử lý đối với trường hợp đối tượng thanh tra,

cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan không thực hiện hoặc thực hiện không đúng yêu cầu của kết luận thanh tra, quyết định, yêu cầu, kiến nghị thực hiện kết luận thanh tra; chưa có quy định cụ thể về thời hạn đối tượng thanh tra phải thực hiện nộp lại số tiền sai

Trang 10

phạm qua thanh tra theo Quyết định thu hồi tiền Đơn cử như việc xử lý hành chính đối với đối tượng thanh tra không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời thì có thể: xử lý kỷ luật đối với đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức hoặc cũng có thể là

xử phạt hành chính nếu đối tượng vi phạm là công dân, tổ chức Trong trường hợp xử lý

kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, đối tượng thanh tra sẽ tùy trường hợp sẽ là

cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kỷ luật hoặc là người bị kỷ luật Trong cả hai trường hợp phải xử lý nêu trên, thì hiện nay đều diễn ra tình trạng thiếu chủ động, tích cực trong việc xử lý, không chấp hành hoặc né tránh trong việc chấp hành yêu cầu, quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền, nhất là đối với người có chức vụ, quyền hạn Thậm chí có trường hợp bao che dung túng cho người có hành vi vi phạm, vì vậy sai phạm không được kịp thời khắc phục xử lý tiếp tục tái diễn nghiêm trọng và nguy hiểm hơn3 Mặt khác, chưa có quy định về xử phạt vi phạm hành chính cụ thể đối với các trường hợp đối tượng thanh tra không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời kết luận thanh tra

3 Giải pháp khắc phục những bất cập trong quy định pháp luật

Để góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác xử lý sau thanh tra, tác giả đề xuất một số kiến nghị sau:

Thứ nhất, bổ sung khái niệm về đối tượng thanh tra Tại khoản 9 Điều 2 Dự thảo

Luật sửa đổi, bổ sung của Luật Thanh tra năm 2010 có bổ sung định nghĩa về đối tượng

thanh tra: “Đối tượng thanh tra là cơ quan, tổ chức, cá nhân được xác định trong Quyết

định thanh tra.” Theo tác giả, định nghĩa về đối tượng thanh tra nên được xây dựng như

sau: “Đối tượng thanh tra là cơ quan, tổ chức, cá nhân bị thanh tra được xác định trong

Quyết định thanh tra”

Thứ hai, cần có quy định về thời hạn thực hiện kết luận thanh tra để tránh hiện

tượng lúng túng, khó khăn trong việc thực hiện kết luận thanh tra và là căn cứ để xác định

3 Thực trạng việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đối tượng thanh tra trong việc thực hiện kết luận thanh tra , Ths

Nguyễn Đình Bính, Vụ Pháp chế, Thanh tra Chính phủ, http://www.issi.gov.vn/thuc-trang-viec-thuc-hien-quyen-va-nghia-vu-cua-doi-tuong-thanh-tra-trong-viec-thuc-hien-ket-luan-thanh-tra_t104c2714n3166tn.aspx

Ngày đăng: 10/12/2021, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w