1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tài liệu ôn thi lịch sử đảng USSH HCM

30 75 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đảng Cộng Sản Việt Nam Ra Đời Và Lãnh Đạo Đấu Tranh Giành Chính Quyền (1930 - 1945)
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 80,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên đường đi tìm chân lý cho dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩaMác – Lênin từ một phương diện hết sức thực tế: chỉ có chủ nghĩa cộng sản, con đường cách mạng vô sản mới có thể

Trang 1

Chương 1 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI VÀ LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN (1930 - 1945)

Câu 1: Vì sao trong quá trình tìm đường cứu nước, NAQ lựa chọn con đường CM vô sản?

Những năm đầu thế kỷ XX, cách mạng Việt Nam đứng trước những thách thức mới, đó là tìm ra con đườnggiải phóng dân tộc đúng đắn Con đường phong kiến, khuynh hướng tư sản từng bước dẫn dắt phong trào cách mạngnước ta đi lên nhưng cuối cùng đều thất bại Đến năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường giải phóng chodân tộc, đó là con đường cách mạng vô sản Vậy, vì sao Bác lại lựa chọn con đường đó?

Bằng những hoạt động thực tiễn của mình Nguyễn Ái Quốc đã có những nhận thức về cách mạng thế giới vànhững con đường cứu nước, từ đó Bác lựa chọn con đường đúng đắn cho dân tộc ta

1 Hoàn cảnh lịch sử

Trên thế giới, Chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang Chủ nghĩa đế quốc, những mâu thuẫn vốn có trong lòng chủnghĩa tư bản lúc này đã trở nên sâu sắc Chủ nghĩa đế quốc đã trở thành kẻ thù chung của nhân dân thế giới Cáchmạng tháng Mười Nga bùng nổ và thắng lợi, từ đó đã trở thành tấm gương cho các dân tộc đang đấu tranh giành độclập dân tộc Dưới ảnh hưởng của cách mạng tháng 10 Nga làm cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địavới phong trào công nhân chính quốc ở các nước chính quốc trở nên gắn bó cùng chống lại kẻ thù chung

Phong trào cách mạng thế giới phát triển rất mạnh, học thuyết Mác-lênin đã được phổ biến rộng ở nhiều nước

và có ảnh hưởng lớn đến phong trào cách mạng thế giới Chính điều đó đã ảnh hưởng đến quá trình tìm đường cứunước của NTT

Trong nước, chính hoàn cảnh từ quê hương và đất nước nơi Người sinh ra đã tác động mạnh đến việc ra đi tìmđường cứu nước của Người NTT sinh ra và lớn lên ở Nghệ An, nơi có truyền thống yêu nước, nơi có nhiều nhà yêunước bất khuất Nghệ An cũng là một trong những nơi phát triển mạnh của các phong trào đấu tranh, tiêu biểu làphong trào Cần Vương

Người sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, thống trị nhân dân trở thành nô

lệ Các cuộc vùng dậy đấu tranh của nhân dân đều thất bại Sự thất bại của các phong trào kháng Pháp chứng tỏ cáchmạng nước ta đang lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối cách mạng, thiếu hẳn 1 phương pháp khoahọc và 1 giai cấp tiên tiến lãnh đạo cứu nước Giải phóng dân tộc đã trở thành yêu cầu bức thiết nhất của toàn thể dântộc Việt Nam Trong hoàn cảnh đó đã thôi thúc nhiều người dân Việt Nam tìm con đường cứu nước mới, trong đóNTT là tiêu biểu

2 Quá trình thực hiện

Người chọn con đường cách mạng vô sản còn vì tính đúng đắn của nó đối với cách mạng một nước thuộc địa.Đây là con đường cách mạng duy nhất có khả năng giải phóng dân tộc Việt Nam, là con đường phù hợp với hoàncảnh cụ thể đầy khó khăn của cách mạng nước ta khi đó Tính đúng đắn phù hợp của nó được thể hiện rõ nét qua nộidung con đường cách mạng mà Người đã nêu lên trong thời gian hoạt động từ 1920 – 1927 Sự kiện đánh dấu bướcngoặt trong cuộc đời hoạt động của Nguyễn Ái Quốc là việc Người đọc được bản “Sơ thảo luận cương về các vấn đềdân tộc và thuộc địa” của Lênin đăng trên báo Nhân đạo Với sự kiện này, lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc tìm thấy vàđến với con đường cách mạng vô sản Trên đường đi tìm chân lý cho dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩaMác – Lênin từ một phương diện hết sức thực tế: chỉ có chủ nghĩa cộng sản, con đường cách mạng vô sản mới có thểchỉ ra con đường cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc và đồng thời thực hiện được ba cuộc giải phóng vốn làước mơ từ lâu của nhân loại là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người

Nếu như luận cương của Lênin làm cho Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế III, lựachọn con đường cách mạng vô sản thì một loạt những sự kiện chính trị sau đó đã góp phần củng cố vững chắc thêmniềm tin ấy Đó là việc đọc được điều thứ 8 trong 21 điều kiện kết nạp vào Quốc tế Cộng sản làm Nguyễn Ái Quốcthật sự tâm đắc bởi vì nó khẳng định sự giúp đỡ, tinh thần đoàn kết quốc tế của giai cấp vô sản ở các nước đế quốc

đối với các nước thuộc địa và phụ thuộc: “Về vấn đề thuộc địa và dân tộc bị áp bức thì các Đảng ở các nước của giai

cấp tư sản có thuộc địa và áp bức các dân tộc khác, phải có một đường lối đặc biệt rõ ràng minh bạch Đảng nào muốn gia nhập Quốc tế III đều buộc phải thẳng tay vạch mặt những thủ đoạn xảo trá của bọn đế quốc nước mình ở các thuộc địa, ủng hộ bằng thực tế chứ không bằng lời nói mọi phong trào giải phóng ở thuộc địa, đòi hỏi phải trục xuất bọn đế quốc nước mình ra khỏi các thuộc địa ấy, gây trong công nhân nước mình thái độ anh em chân thành với nhân dân lao động các nước thuộc địa và các dân tộc bị áp bức và tiến hành tuyên truyền có hệ thống trong quân đội nước mình chống mọi sự áp bức các dân tộc thuộc địa” Mặt khác, trong Đại hội Quốc tế cộng sản và Đại hội các dân

tộc phương Đông đã đưa ra khẩu hiệu về tư tưởng cách mạng quốc tế, về mối quan hệ chặt chẽ giữa giai cấp vô sảnphương Tây và các dân tộc phương Đông bị áp bức: Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại Nhưvậy, con đường cách mạng vô sản ở các thuộc địa không bị cô lập, luôn được ủng hộ, giúp sức

Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, tiêu chuẩn cao nhất cho sự lựa chọn và định hướng của Người là kiênquyết đứng về phía học thuyết và tổ chức cách mạng nào thực sự quan tâm đến quyền lợi và cuộc sống của các dân

Trang 2

tộc bị áp bức, bênh vực, ủng hộ và chỉ ra con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc Tiêu chuẩn hết sức thiết thực đóđối với sự nghiệp giải phóng một nước thuộc địa lại phù hợp với đường lối của cách mạng vô sản – là con đườngcách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo, nhằm dùng bạo lực cách mạng lật đổ ách thống trị của giai cấp tư sản, lập nênchế độ xã hội chủ nghĩa – và cuối cùng người thanh niên yêu nước Việt Nam ấy quyết định chọn con đường cáchmạng vô sản cho dân tộc mình đi theo.

Mặt khác, con đường cách mạng vô sản đã có tiền lệ, đã trở thành hiện thực ở nước Nga và để lại nhiều bàihọc kinh nghiệm Chính con đường cách mạng vô sản đã đưa đến thắng lợi vang dội của Cách mạng tháng Mười Nganăm 1917 đánh đổ chủ nghĩa tư bản ở nước Nga Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng thế giới, thành quả cách mạng

đã đưa giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên nắm chính quyền Con đường cách mạng ấy không là lý thuyếtchung mà đã trở thành hiện thực ở nước Nga rộng lớn thì ai dám chắc nó không có cơ hội thành công ở một nướcthuộc địa trong đó có Việt Nam Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn con đường cách mạng vô sản

Chủ nghĩa tư bản đã từng có vai trò lịch sử trong các thế kỷ trước, cho dù hiện nay vẫn còn khả năng tồn tại

do biết lợi dụng sự phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ và bóc lột các nước thuộc thế giới thứ ba, nhưng nó đãbộc lộ những khiếm khuyết và mâu thuẫn nội tại không thể giải quyết như vấn đề dân tộc, giai cấp, vấn đề xóa bỏ chế

độ người bóc lột người, chiến tranh, bảo vệ môi trường Do bản chất của mình, ngày nay, chủ nghĩa tư bản hiện đạivẫn không từ bỏ chính sách thực dân xâm lược với nhiều biến tướng mới rất tinh vi và xảo quyệt nhằm bóc lột cácnước kém phát triển, chậm phát triển Đặc biệt gần đây, cuộc tấn công quân sự của Liên quân do NATO lãnh đạochống Libya, cho dù cố che đậy với những lý do gì, thì về thực chất vẫn là các cuộc xâm lược nhằm mục đích phânchia lại thị trường thế giới, giành giật tài nguyên, môi trường,

Bài học lịch sử trong thế kỷ XX và thập kỷ đầu của thế kỷ XXI cảnh tỉnh chúng ta rằng, còn chủ nghĩa tư bản

là còn nguy cơ bị xâm lược; độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, sự thống nhất đất nước còn bị đe dọa Do đó, chủnghĩa tư bản quyết không phải là sự lựa chọn của nhân loại trong thời đại ngày nay Chỉ có đi theo con đường cáchmạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội thì độc lập dân tộc mới được giữ vững, nhân dân lao động mớiđược giải phóng thực sự Đó cũng chính là chân lý thời đại mà cách đây 100 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lĩnh hộiđược ở chủ nghĩa Mác - Lênin trên hành trình đi tìm đường cứu nước, cứu dân của mình

Câu 2: Bằng sự kiện lịch sử chọn lọc, chứng minh sự ra đời của Đảng Cộng sản VN là 1 tất yếu lịch sử.

Tình hình thế giới:

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủnghĩa làm cho mâu thuẫn trong thế giới TBCN ngày càng trở nên gay gắt Mâu thuẫn này tạo ra tính tất yếu của cáchmạng vô sản Thời điểm này cũng xuất hiện mâu thuẫn giữa các nước tư bản với nhau do tranh giành thuộc địa, phânchia thị trường và khu vực ảnh hưởng

Cùng với đó là cuộc cách mạng vô sản đầu tiên nổ ra và giành thắng lợi tại Nga năm 1917 Thắng lợi củacuộc cách mạng Tháng mười đã cổ vũ phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thếgiới, đặc biệt là nhân dân các nước thuộc địa

Tháng 3- 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập, với khẩu hiệu "Vô sản thế giới và các dân tộc bị áp bức

đoàn kết lại" đã đánh dấu một giai đoạn mới của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Diễn biến trong nước:

Trước 1930, phong trào yêu nước ở Việt Nam nổ ra mạnh mẽ nhưng đều bị thất bại, do bị khủng hoảng vềđường lối cách mạng như là Phong trào Cần Vương (1885-1896), Cuộc khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Giang) diễn ra từnăm 1884, các cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp của nhân dân Việt Nam Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất(1914-1918), Bên cạnh đó, phong trào yêu nước dưới sự lãnh đạo của tầng lớp sĩ phu tiến bộ chịu ảnh hưởng của

tư tưởng dân chủ tư sản diễn ra sôi nổi Đại diện của xu hướng bạo động là Phan Bội Châu, với chủ trương dùng biệnpháp bạo lực để đánh đuổi thực dân Pháp, khôi phục nền độc lập cho dân tộc Đại biểu cho xu hướng cải cách là PhanChâu Trinh, với chủ trương vận động cải cách văn hóa, xã hội; động viên lòng yêu nước trong nhân dân; đả kích bọnvua quan phong kiến thối nát, đề xướng tư tưởng dân chủ tư sản; thực hiện khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh,

Trang 3

mở mang dân quyền; phản đối đấu tranh vũ trang và cầu viện nước ngoài.

Tóm lại, trước yêu cầu lịch sử của xã hội Việt Nam, các phong trào đấu tranh chống Pháp diễn ra sôi nổi Mụctiêu của các cuộc đấu tranh ở thời kì này đều hướng tới giành độc lập cho dân tộc, nhưng trên các lập trường giai cấpkhác nhau nhằm khôi phục chế độ phong kiến, hoặc thiết lập chế độ quân chủ lập hiến, hoặc cao hơn là thiết lập chế

độ cộng hòa tư sản Các phong trào đấu tranh diễn ra với các phương thức và biện pháp khác nhau: bạo động hoặc cảicách; với quan điểm tập hợp lực lượng bên ngoài khác nhau: dựa vào Pháp để thực hiện cải cách, hoặc dựa vào ngoạiviện để đánh Pháp… nhưng cuối cùng các cuộc đấu tranh đều thất bại

Sự thất bại của các phong trào yêu nước, chống thực dân Pháp cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX đã chứng tỏcon đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản đã bế tắc Cách mạng Việt Nam lâm vào tìnhtrạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối, về giai cấp lãnh đạo Nhiệm vụ lịch sử đặt ra là phải tìm một con đườngcách mạng mới, với một giai cấp có đủ tư cách đại biểu cho quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, có đủ uy tín và nănglực để lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ đi đến thành công

Cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức cộng sản đã nhận thức được sự cần thiết

và cấp bách phải thành lập một Đảng cộng sản thống nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào cộng sản ở ViệtNam Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức và chủ trì hội nghị hợp nhất Đảng tại Hương Cảng, Trung Quốc từ ngày 6-1 đếnngày 7-2-1930 Hội nghị đã quyết định hợp nhất 3 tổ chức Đảng (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sảnĐảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng sản Việt Nam Hội nghị thông qua các văn kiện: Chánhcương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng Vì vậy, Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3-2 hàng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng

Hội nghị hợp nhất các tổ chức Đảng cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng Cộng sản duy nhất, theo mộtđường lối chính trị đúng đắn đã tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và hành động của phong trào cách mạng

cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Việc thành lập Đảng là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử công nhân và của cách mạng Việt Nam, chứng tỏ giaicấp vô sản nước ta trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về vai trò lãnh đạo vàđường lối trong phong trào cách mạng Việt Nam Từ đây, cách mạng Việt Nam đã thuộc quyền lãnh đạo tuyệt đốicủa giai cấp công nhân mà đội tiên phong là Đảng cộng sản

Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và việc ngay từ khi ra đời, Đảng đã có Cương lĩnh chính trị xácđịnh đúng đắn con đường cách mạng là giải phóng dân tộc theo phương hướng cách mạng vô sản, chính là cơ sở đểĐảng Cộng sản Việt Nam vừa ra đời đã nắm được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam; giải quyếtđược tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra đầu thế kỷ XX, mở racon đường và phương hướng phát triển mới cho đất nước Việt Nam Chính đường lối này là cơ sở đảm bảo cho sựtập hợp lực lượng và sự đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc cùng chung tư tưởng và hành động để tiến hành cuộccách mạng vĩ đại giành những thắng lợi to lớn sau này Đây cũng là điều kiện cơ bản quyết định phương hướng pháttriển, bước đi của cách mạng Việt Nam trong suốt 86 năm qua

Từ năm 1858 đến năm 1930, sau hơn 70 năm nhân dân Việt Nam kế thừa truyền thống bất khuất, kiên cườngchống ngoại xâm, trước sự xâm lược của thực dân Pháp, các thế hệ người Việt Nam yêu nước, với nhiều khuynhhướng cứu nước khác nhau và dù ở giai tầng nào cũng đã sẵn sàng xả thân vì nền độc lập dân tộc Nhưng tất cả cácphong trào yêu nước trước khi có Đảng, dưới ngọn cờ phong kiến điển hình như phong trào của Trương Định,Nguyễn Trung Trực, cho đến Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu; dưới ngọn cờ dân chủ tư sản như Phan Bội Châu,Phan Châu Trinh cho đến con đường cứu nước của Việt Nam Quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính,Phạm Tuấn Tài đều lâm vào bế tắc

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với cương lĩnh chính trị đầu tiên đã đáp ứng khát vọng giải phóng dân tộccủa nhân dân Việt Nam, do vậy, chỉ 15 năm sau đi theo đường lối cách mạng của Đảng, dân tộc Việt Nam đã làm nên

kỳ tích vĩ đại trong Cách mạng Tháng Tám 1945, làm thay đổi cả vận mệnh dân tộc, thay đổi cả thân phận của ngườidân Việt Nam

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam Đó là sự phản ánh quy luật ra đời và cội nguồnsức mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào đặc điểm củadân tộc Việt Nam, là thành quả của bản lĩnh, trí tuệ và sự nhạy bén chính trị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ ChíMinh trong công cuộc vận động thành lập một chính đảng vô sản ở Việt Nam-một nước thuộc địa nửa phong kiến

Trang 4

Với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận khăng khít của cáchmạng vô sản thế giới.

Liên hệ thực tế:

Dưới sự lãnh đạo của Đảng trong suốt thời gian qua, đất nước đã vượt qua tình trạng một nước nghèo, kémphát triển; đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng trưởng kinh tế khá; phát triển kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa với những nhận thức rõ và đầy đủ hơn vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,văn minh

Ta có thể thấy rõ vai trò lãnh đạo của Đảng trong tình hình Covid 19 từ năm 2020 đến nay, nhiều nước trênthế giới rơi vào khủng hoảng trầm trọng, số người nhiễm bệnh và tử vong ngày càng nhiều và chưa hề có dấu hiệudừng lại Nhưng Việt Nam ta, dù chưa phải là 1 nước phát triển nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng và niềm tin củanhân dân với Đảng và nhà nước, tình hình Covid 19 ở Việt Nam luôn trong tầm kiểm soát, người dân sống trong yênbình, hạnh phúc

Vì vậy, ta hoàn toàn có thể có niềm tin vào 1 Việt Nam phát triển hơn nữa, sánh vai cường quốc năm châunhư hy vọng của Lãnh tụ Hồ Chí Minh

Câu 3: Tại sao nói Cương lĩnh chính trị đầu tiên do NAQ soạn thảo là cương lĩnh đúng đắn và sáng tạo, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính dân tộc, tính giai cấp và tính nhân văn?

● Hoàn cảnh ra đời

Năm 1929, bối cảnh trong nước và quốc tế có diễn biến phức tạp Các phong trào công nhân và phong tràoyêu nước phát triển mạnh Trong đó giai cấp công nhân thật sự trở thành một lực lượng tiên phong Ở nước ta, ba tổchức cộng sản lần lượt xuất hiện đã thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển Song cả ba tổ chức đều hoạt độngriêng rẽ, công kích lẫn nhau, tranh giành ảnh hưởng trong quần chúng Điều đó gây trở ngại lớn cho phong trào cáchmạng Với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc về Hương Cảng (Trung Quốc) Triệu tập hộinghị thống nhất các tổ chức cộng sản họp từ ngày 6/1 đến ngày 7/2/1930 Đồng thời tuyên bố thành lập Đảng Cộngsản Việt Nam Hội nghị thông qua chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng do Nguyễn ÁiQuốc soạn thảo Gọi chung là cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

Tuy hết sức ngắn gọn, vắn tắt nhưng CLCT đầu tiên của Đảng đã kết hợp nhuần nhuyễn quan điểm dân tộc vàgiai cấp, thấm đượm tính dân tộc và thời đại

Đảng đã thể hiện trình độ tư duy sâu sắc và sáng tạo: vừa vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác-Lênin vào cáchmạng Việt Nam, vừa đáp ứng chính xác những yêu cầu khách quan của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ

Trước nhất, tính đúng đắn và khoa học của Cương lĩnh thể hiện ở việc xác định đúng mục tiêu và con đường

của cách mạng Việt Nam, đó là “làm cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để tiến lên chủ nghĩa cộng

sản chính” Sự lựa chọn xuất phát từ việc xác định đúng đắn các mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam và nhận thức

đúng xu thế phát triển của thời đại

1.Cương lĩnh đầu tiên của Đảng xác định rõ nước ta là một xứ thuộc địa, nửa phong kiến và phân tích những

chính sách kìm hãm sự phát triển kinh tế và thủ đoạn độc quyền khai thác thuộc địa của tư bản Pháp, gây nên nhữnghậu quả tai hại, cản trở sự phát triển độc lập của kinh tế Việt Nam Nông dân bị tước đoạt ruộng đất, nhiều người bịlâm vào nạn thất nghiệp Tình hình đó đưa đến mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa một bên là dân tộc ta với một bên

là đế quốc Pháp và tay sai của chúng Bên cạnh đó, còn nổi lên mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam - mà đa số lànông dân - với bọn địa chủ phong kiến chung quanh vấn đề ruộng đất, người dân cày hoàn toàn phụ thuộc vào địachủ, bị trói chặt vào mảnh ruộng của giai cấp địa chủ và bị bóc lột với tô thuế nặng nề

Từ hai mâu thuẫn cơ bản trên cho thấy rằng nguyện vọng tha thiết và cấp bách của dân tộc lúc này chính làđánh đổ đế quốc để giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do và đánh đổ phong kiến để giành dân chủ, giành ruộng đấtcho người cày Chỉ có giải quyết hai mâu thuẫn này thì xã hội Việt Nam mới thoát khỏi áp bức, bóc lột, phát triển đilên Muốn giải quyết mâu thuẫn đó, nhân dân Việt Nam phải làm "tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng

để đi tới xã hội cộng sản"

Như vậy, cương lĩnh cũng đã xác định rõ mục tiêu cuối cùng của cách mạng Việt Nam không chỉ dừng lại ởgiai đoạn hoàn thành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mà phải thực hiện tiếp cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa,đưa cả nước đi lên CNXH, CNCS

2 Việc giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụ chống đế quốc và nhiệm vụ chống phong kiến là vấn đề phứctạp Cương lĩnh chính trị cũng đã nêu rõ mặc dù cả 2 nhiệm vụ phải được tiến hành đồng thời và khắng khít với nhau,song về chỉ đạo chiến lược, Đảng xác định phải đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, với khẩu hiệu "Tổquốc trên hết" Điều này xuất phát từ hoàn cảnh xã hội nước ta là xã hội thuộc địa, mâu thuẫn giai cấp tuy có sâu sắcnhưng mâu thuẫn chủ yếu nhất, bức xúc nhất vẫn là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với bọn thực dân xâm lượcPháp cùng bọn tay sai của chúng giành lại độc lập, tự do, dân chủ cho toàn dân tộc Việc xác định đúng kẻ thù chủ

Trang 5

yếu và nhiệm vụ chủ yếu để nắm vững ngọn cờ dân tộc để tập hợp lực lượng, phát huy cao độ sức mạnh dân tộcnhưng không coi nhẹ những nhiệm vụ giải phóng giai cấp là một những tư tưởng đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta bắtnguồn từ việc khéo kết hợp yếu tố dân tộc với yếu tố giai cấp để xem xét vấn đề xã hội.

3 Cương lĩnh xác định rõ cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải dựa trên lực lượng cách mạng

là liên minh công - nông làm nòng cốt, trong đó giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo nhưng đồng thời phải lôi kéo,tập họp cả những người yêu nước ở tầng lớp tiểu tư sản, trí thức, trung nông và lợi dụng, trung lập phú nông, trung vàtiểu địa chủ, tư sản dân tộc Sự phân chia giai cấp tư sản, địa chủ ra thành những nhóm đối tượng khác nhau để cóchính sách đối xử phù hợp, tranh thủ lôi kéo những người có lòng yêu nước, trung lập những người có thể trung lậpnhằm làm suy yếu kẻ thù và cương quyết trừng trị đối với kẻ thù là thể hiện sự nhận thức và đánh giá đúng của Đảng

ta đối với mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp trong xã hội, mỗi dân tộc trong cộng đồng, thừa nhận tính tích cực và sự đónggóp của họ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước

4 Cương lĩnh đầu tiên khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọithắng lợi của cách mạng Việt Nam Đảng cộng sản Việt Nam ra đời mở đầu thời đại mới trong lịch sử nước ta, thờiđại giai cấp công nhân và đảng tiên phong của nó đứng vị trí trung tâm, kết hợp mọi phong trào yêu nước và cáchmạng, quyết định nội dung, phương hướng phát triển của xã hội Việt Nam

5 Cương lĩnh khẳng định cách mạng Việt Nam phải tiến hành bằng bạo lực cách mạng của quần chúng, đểđánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, rồi dựng ra Chính phủ công nông binh chứ không phải bằng conđường cải lương Chiến thắng của cách mạng tháng 8-1945, Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 và Chiến dịch HồChí Minh năm 1975 cho thấy sự chọn lựa phương pháp sử dụng bạo lực cách mạng là hoàn toàn đúng đắn để đánh đổbọn đế quốc và tay sai, giành độc lập dân tộc

6 Cương lĩnh khẳng định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, đứng trong mặttrận cách mạng của các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân thế giới mà đội quân tiên phong của mặt trận này làLiên Xô Sự bóc lột thuộc địa không chỉ là một nguồn sống của bọn tư bản mà còn là cái “nền móng” của chủ nghĩa

đế quốc Do đó, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc không những phải trở thành bộ phận khắng khít của cuộc cáchmạng vô sản mang tính toàn cầu mà còn có vai trò là một trào lưu lớn của cách mạng trong thế kỷ này Tư tưởng này

là cơ sở cho sự phát triển chính sách đoàn kết quốc tế của Đảng ta Chính sách đó luôn được bổ sung, hoàn thiện và làmột nguồn tăng thêm sức mạnh lớn hơn sức mạnh vốn có của ta, là một nhân tố thắng lợi của cách mạng Việt Nam

Ngoài ra, do sớm nhận thức được sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng xãhội trong cách mạng vô sản ở nước thuộc địa, coi trọng độc lập tự chủ, tự lực tự cường của từng quốc gia, việc đặt tênĐảng là Đảng Cộng sản Việt Nam (chứ không phải là Đảng Cộng sản Đông Dương theo hướng chỉ đạo của Quốc tếCộng sản) là hoàn toàn đúng đắn xuất phát từ sự hiểu biết đúng đắn về tình hình, đặc điểm, tâm lý dân tộc của banước Đông Dương (Việt Nam, Cao Miên, Lào) và theo quan điểm Lênin: các dân tộc bị lệ thuộc sau khi độc lập đượctách ra để xây dựng độc lập dân tộc và có quyền tự quyết

● Kết luận

Với tính đúng đắn, cách mạng, khoa học và sáng tạo, Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã trở thành ngọn cờ đoàn kết,tập hợp, quy tụ mọi tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dântộc để đi tơid CNXH Thực tiễn đã chứng minh, mọi thắng lợi của CMVN trong hơn 75 năm qua đều gắn liền vớitính đúng đắn của CLCT đầu tiên của Đảng, với những luận điểm sáng tạo, cách mạng, khoa học của lãnh tụ Nguyễn

Ái Quốc-Vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc VN

● Liên hệ thực tế

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời đến nay đã khẳng định sự đúng đắn của Cương lĩnh chínhtrị đầu tiên Đi theo Cương lĩnh ấy, trong suốt 85 năm qua dân tộc Việt Nam đã thay đổi cả vận mệnh của dân tộc,thay đổi cả thân phận của người dân và từng bước khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Thực hiện đường lối chiến lược được hoạch định trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, Việt Nam từmột xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủnghĩa; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã rakhỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có quan hệ quốc tế rộngrãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới

Câu 4: Vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc (1930-1945)

1 Phong trào cách mạng 1930-1931

Cao trào cách mạng 1930 - 1931 và khôi phục phong trào 1932-1935

Trang 6

Đầu năm 1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với tổ chức chặt chẽ và cương lĩnh chính trị đúng đắn, nắmquyền lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam, quy tụ lực lượng và sức mạnh toàn dân tộc Việt Nam, kịp thờilãnh đạo nhân dân bước vào một thời kỳ đấu tranh mới Đây là nguyên nhân chủ yếu và có ý nghĩa quyết định, bởi vìnếu không có sự lãnh đạo của Đảng thì tự bản thân những mâu thuẫn giai cấp xã hội chỉ có thể dẫn tới những cuộcđấu tranh lẻ tẻ, tự phát, mà không thể trở thành một phong trào tự giác trên quy mô rộng lớn được.

Từ tháng 1 đến 4/1930, bãi công của công nhân nổ ra liên tiếp ở các đồn điền Phú Riềng, Dầu Tiếng, nhà máysợi Nam Định, nhà máy diêm và nhà máy cưa Bến Thuỷ…

Tháng 5/1930, phong trào phát triển thành cao trào Ngày 1/5/1930 lần đầu tiên nhân dân Việt Nam kỉ niệmngày Quốc tế Lao động Khắp nơi diễn ra các hình thức đấu tranh phong phú Tiêu biểu nhất là cuộc tổng bãi côngcủa công nhân khu công nghiệp Bến Thủy - Vinh (8/1930)

Trong nửa sau năm 1930, phong trào tiếp tục nổ ra ở nhiều nơi Chính quyền thực dân bị tê liệt, tan rã ở nhiềunơi Chính quyền cách mạng được thành lập ở nhiều vùng nông thôn thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh

Tháng 9-1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng gửi thông tri cho Xứ ủy Trung kỳ vạch rõ chủ trương bạođộng riêng lẻ trong vài địa phương lúc đó là quá sớm vì chưa đủ điều kiện Trách nhiệm của Đảng là phải tổ chức

quần chúng chống khủng bố, giữ vững lực lượng cách mạng, "duy trì kiên cố ảnh hưởng của Đảng, của Xô viết trong

quần chúng, để đến khi thất bại thì ý nghĩa Xô viết ăn sâu vào trong óc quần chúng và lực lượng của Đảng và Nông hội vẫn duy trì”.

Khi chính quyền Xô viết ra đời, thực dân Pháp tập trung lực lượng đàn áp, kết hợp sử dụng bạo lực với nhữngthủ đoạn lừa bịp về chính trị Phong trào cách mạng bị tổn thất nặng nề Mặc dù vậy, cao trào cách mạng năm 1930-

1931 có ý nghĩa lịch sử quan trọng đối với cách mạng Việt Nam, đã khẳng định trong thực tế quyền lãnh đạo và nănglực lãnh đạo cách mạng của giai cấp vô sản mà đại biểu là Đảng ta; ở chỗ nó đem lại cho nông dân niềm tin vữngchắc vào giai cấp vô sản, đồng thời đem lại cho đông đảo quần chúng công nông lòng tự tin ở sức lực cách mạng vĩđại của mình ” Sự lãnh đạo của Đảng và khối liên minh công nông là những nhân tố chiến lược đảm bảo thắng lợicủa cách mạng Việt Nam

Xô viết Nghệ – Tĩnh là mẫu hình chính quyền cách mạng đầu tiên ở Việt Nam, một chính quyền nhà nước củadân, do dân, vì dân Các Xô viết được thành lập và thực thi những chính sách tiến bộ chứng tỏ rằng Xô viết Nghệ –Tĩnh là đỉnh cao của phong trào cách mạng 1930 – 1931

Trước tình hình đó, tháng 6/1932, Trung ương Đảng ra chương trình hành động nhằm củng cố, phát triển tổchức đảng và quần chúng cách mạng chuẩn bị mọi mặt cho Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Đảng

Tháng 4/1935, Tỉnh ủy lâm thời Nghệ An mở Hội nghị đại biểu tại làng Hậu Luật (Diễn Châu) để quán triệt,phổ biến Nghị quyết Đại hội lần thứ nhất của Đảng và quyết định đổi tên tờ báo “Chuông cách mạng” thành báo “Tựcứu” và in các văn kiện của Đại hội để huấn luyện cho các cấp bộ đảng Ngày 13/9/1936, tại làng Đông Chữ (NghiLộc), Tỉnh ủy lâm thời Nghệ An và Huyện ủy Nghi Lộc họp đề cử Ban Chấp hành thống nhất của Đảng bộ Nghệ An.Ban Chấp hành thống nhất đề ra các nhiệm vụ: Củng cố và phát triển Đảng, củng cố các chi bộ cơ sở, tổ chức ra các

cơ quan cho thích hợp với điều kiện bí mật Mỗi cấp bộ phải có 2 mối giao thông liên lạc Thâu phục quảng đại quầnchúng để khuyếch trương thanh thế đòi quyền lợi, củng cố và phát triển các tổ chức quần chúng

Hội nghị hợp nhất 2 hệ thống tổ chức đảng đã tạo ra sự thống nhất cao trong chỉ đạo phong trào Nhờ vậy,cách mạng trong tỉnh dần vượt qua thời kỳ thoái trào, tiến tới một cao trào cách mạng mới: Cao trào cách mạng 1936-

1939

Vai trò lãnh đạo của Đảng:

Đảng bộ đã đề ra được những khẩu hiệu đấu tranh sát đúng, phù hợp với nguyện vọng và quyền lợi thiết thânhàng ngày của các tầng lớp nhân dân nên đã tạo được những phong trào đấu tranh sôi nổi khắp thành thị và nôngthôn Hình thức và phương pháp linh hoạt có tổ chức chặt chẽ, phối hợp giữa nông dân và công nhân, khéo kết hợpgiữa đấu tranh kinh tế với đấu tranh chính trị, nâng cao ý thức cách mạng của quần chúng Đó là sự liên minh tự giác

có tổ chức giữa hai giai cấp chủ lực của cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng bộ

Phong trào dân chủ (1936 - 1939)

Tháng 7/1935, Đại hội VII Quốc tế Cộng sản chỉ ra kẻ thù nguy hiểm của nhân dân thế giới là chủ nghĩa phátxít, đề ra nhiệm vụ chống chủ nghĩa phát xít và chiến tranh, giành dân chủ hòa bình (nguy cơ chiến tranh thế giớiđang gần, cần phải đấu tranh ngăn chặn), cho nên giai cấp công nhân quốc tế phải thống nhất hàng ngũ của mình vàlập Mặt trận nhân dân rộng rãi với các giai cấp và các tầng lớp khác trong nhân dân để hoàn thành nhiệm vụ trướcmắt

Trong nước, Ban Chấp hành Trung ương chủ trương lập Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương (sau đổithành Mặt trận Dân chủ Đông Dương) nhằm tập hợp rộng rãi lực lượng; đồng thời quyết định các hình thức tổ chức

và phương pháp đấu tranh từ bí mật hợp pháp sang đấu tranh công khai hợp pháp, nửa hợp pháp để phát triển tổ chứcĐảng và Mặt trận, mở ra thời kỳ mới cho cách mạng

Trang 7

Tại Nghệ An, việc tập hợp rộng rãi lực lượng cách mạng là một yêu cầu cấp bách Trước mắt là phải tổ chứccho được một cuộc Đông Dương đại hội tại Vinh để vận động các cựu chính trị phạm và những người có cảm tìnhvới cách mạng đến dự nhằm đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ Ngày 20/9/1936, Đông Dương đại hội tỉnh Nghệ Anđược tổ chức tại thành phố Vinh Đại hội đã cử đoàn đại biểu đi dự Đại hội Đông Dương toàn xứ Trung Kỳ tại Huế.

Đó là thắng lợi đầu tiên của phong trào đấu tranh hợp pháp ở Nghệ An trong thời kỳ 1936-1939

Ngày 5/10/1936, Tỉnh ủy họp và quyết định thành lập Ủy ban hành động để chỉ đạo phong trào, thành lập Nhàxuất bản xuất bản “Tập sách tiến bộ” tại Vinh, ra Tờ báo “Dân nghèo”, lập các nghiệp đoàn, các hội ái hữu, làm cácbản “dân nguyện” đòi quyền dân sinh, dân chủ Nổi bật là sự kiện “đón Gô đa” ngày 23/7/1937 tại sân bay Vinh.Đảng bộ tỉnh đã tổ chức mit tinh, biểu dương lực lượng và đưa yêu sách về dân sinh, dân chủ Nhờ vậy, phong tràođấu tranh đòi dân sinh, dân chủ phát triển mạnh mẽ tại các xí nghiệp, nhà máy, địa phương

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về lập Mặt trận thống nhất Dân chủ Đông Dương nhằm tập hợprộng rãi lực lượng chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, cơm áo, hòa bình, Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức Đại hộithảo luận các chỉ thị của Trung ương và giao trách nhiệm cho mọi cấp bộ đảng phải nhận rõ vấn đề để củng cố sựđoàn kết, thống nhất trong Đảng bộ

Tình hình có nhiều biến động, tháng 4/1938, Đại hội Đảng bộ Nghệ An (khóa II) được tổ chức tại làng ĐôngChữ (xã Nghi Trường, huyện Nghi Lộc) với trên 30 đại biểu đại diện cho gần 200 đảng viên của 50 chi bộ thuộc 09huyện Đại hội nhận định: “Từ ngày hệ thống tổ chức đảng được phục hồi, tất cả các tầng lớp nhân dân từ thành thịđến nông thôn đều hăng hái tham gia “hoặc gián tiếp, hoặc trực tiếp, hoặc tự động” Các phong trào cách mạng

“chứng tỏ đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương đưa ra là đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng

quần chúng” Đại hội quyết định đẩy mạnh củng cố các tổ chức Đảng và các tổ chức quần chúng, tổ chức đấu tranh

dưới nhiều hình thức Đại hội đã bầu Ban Chấp hành mới gồm 7 đồng chí Đồng chí Nguyễn Đức Dương được bầulàm Bí thư và bầu 3 đại biểu đi dự Đại hội thành lập Liên ủy Thanh - Nghệ - Tĩnh

Đầu năm 1938, hiểm họa chiến tranh bao trùm thế giới Sau Hội nghị Trung ương Đảng (29/3/1938), Đảng cónghị quyết riêng về vấn đề phòng thủ Đông Dương nhằm phát động một phong trào quần chúng đề cao cảnh giác,chống âm mưu xâm lược của phát xít Nhật; chống sự đầu hàng, thỏa hiệp của đế quốc Pháp đối với phát xít Nhật

Thực hiện chủ trương đó của Đảng, Tỉnh ủy mở cuộc vận động ủng hộ cuộc đấu tranh chống Nhật của nhândân Trung Hoa và đòi phòng thủ Đông Dương Nhiều cuộc đấu tranh công khai đã được tổ chức và giành được kếtquả khả quan như Kỷ niệm Quảng Châu công xã, phụ nữ tổ chức gánh hàng ngày xuân, chống dự án tăng thuế, tổchức đám tang đồng chí Siêu Hải đã giành được những kết quả đáng kể Sau các phong trào trên, thực dân Pháp bắtđầu ngăn cấm các hoạt động công khai hợp pháp của quần chúng Để đối phó với tình hình, từ ngày 09 đến ngày11/9/1939, Tỉnh ủy họp và quyết định chuyển hướng hoạt động và tổ chức Ngày 12/9/1939, Khâm sứ Trung Kỳ ralệnh cấm hội họp, cấm tuyên truyền cộng sản, cấm lưu hành các sách báo tiến bộ Phong trào vận động dân chủchấm dứt tại đây

Dù mới trải qua thời kỳ bị thực dân Pháp và phong kiến tay sai khủng bố trắng khốc liệt nhưng chỉ sau mộtthời gian ngắn, hệ thống tổ chức đảng và tổ chức quần chúng cách mạng đã nhanh chóng được phục hồi Thời kỳ1936- 1939, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Nghệ An, phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ đã đạt được nhữngkết quả nhất định Dù phong trào chưa phát triển mạnh bằng các nơi khác trong cả nước nhưng thực sự đã xây dựngđược một đội quân chính trị to lớn, hàng ngũ quần chúng đủ mọi tầng lớp đã được giác ngộ; đây là một bước chuẩn bịrất quan trọng cho Cách mạng tháng Tám năm 1945 tại Nghệ An

Vai trò lãnh đạo của Đảng

Phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo, diễn ra trên quy mô rộng lớn, lôi cuốn đôngđảo quần chúng tham gia, với những hình thức tổ chức và đấu tranh phong phú; buộc chính quyền thực dân phảinhượng bộ một số yêu sách về dân sinh, dân chủ

Mặc dù khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (9-1939), thế lực phản động thuộc địa đàn áp cách mạng.Cuộc vận động dân chủ kết thúc, nhưng vẫn có ý nghĩa lịch sử to lớn:

•Quần chúng được tổ chức, giác ngộ và rèn luyện qua thực tiễn đấu tranh, trở thành lực lượng chính trị hùnghậu của cách mạng

•Đội ngũ cán bộ, đảng viên có sự phát triển về số lượng và trưởng thành

•Đảng thêm trưởng thành một bước về chỉ đạo chiến lược và tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm quý báu

Phong trào giải phóng dân tộc 1939 - 1945

Thời kỳ 1939- 1945, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An phải đương đầu với nhiều thử thách: cùng một lúc chốngách thống trị, áp bức của thực dân phản động Pháp, phát xít Nhật và bè lũ tay sai của chúng; đồng thời, phải đối phóvới âm mưu, thủ đoạn chống phá phong trào cách mạng vô cùng thâm độc của địch: Về chính trị: chúng thi hànhchính sách phát xít, giải tán các tổ chức đảng, cấm đoán các hoạt động tiến bộ Tăng cường lực lượng quân sự và bộmáy tay sai, sử dụng bọn chỉ điểm phản động phá hoại các tổ chức cách mạng Về kinh tế: Thực hiện chính sách kinh

Trang 8

tế thời chiến, vơ vét của cải phục vụ chiến tranh Về văn hóa: Xóa bỏ mọi thành quả tiến bộ giành được trong thời

kỳ 1936- 1939, tước đoạt mọi quyền tự do dân chủ; đặc biệt là chúng sử dụng tên phản bội nguy hiểm đã từng giữchức vụ cao nhất trong Đảng bộ

Trước tình hình trên, Đảng chủ trương rút vào hoạt động bí mật, chuyển trọng tâm công tác về nông thôn đểphát triển lực lượng, chuyển hướng đấu tranh giành độc lập dân tộc, yêu cầu thống nhất lãnh đạo phong trào

Tỉnh ủy Nghệ An do đồng chí Nguyễn Đức Dương làm Bí thư, thực hiện chủ trương khôi phục tổ chức Đảng

và tổ chức quần chúng cách mạng, xuất bản các tài liệu hướng dẫn công tác củng cố tổ chức và xây dựng phong tràocách mạng theo yêu cầu mới, ra tờ báo “Cởi ách” thay báo “Tân tiến”

Giữa lúc phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân cả nước dâng dâng cao, tình hình có một số thay đổi

Ở Nghệ An, khởi nghĩa Rạng- Đô Lương (14/1/1941) do Đội Cung chỉ huy thất bại; Đầu năm 1941, lãnh tụ Nguyễn

Ái Quốc về nước trực tiếp chỉ đạo phong trào Tháng 5/1941, Người triệu tập Hội nghị Trung ương 8 và hoàn thiệnviệc chỉ đạo chuyển hướng chiến lược; từ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ sang đấu tranh giành độc lập dân tộc, lậpMặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), các tổ chức quần chúng yêu nước chống đế quốc ởtrong Mặt trận Việt Minh đều lấy tên là Hội Cứu quốc Ngày 19/5/1941, Mặt trận Việt Minh ra đời Cùng với việcthành lập Mặt trận Việt Minh, Đảng khẩn trương chuẩn bị lực lượng vũ trang và các điều kiện cho tổng khởi nghĩa

Từ tháng 5/1941 đến đầu năm 1942, tổ chức Đảng ở Nghệ An liên tiếp bị địch bao vây, tấn công, nhiều đồngchí chủ chốt của Tỉnh ủy bị bắt Hoạt động của Đảng bộ Nghệ An bị gián đoạn

Cuối năm 1944, không khí chuẩn bị khởi nghĩa đã sục sôi trong cả nước Ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp.Ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương ra chỉ thị: “Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, nêu caokhẩu hiệu: “Đánh đuổi phát xít Nhật” Thời cơ ngàn năm có một đang đến gần

Khi đã có tình thế cách mạng trực tiếp, tại Nghệ An, các cấp bộ Đảng chưa kịp phục hồi, Việt Minh liên tỉnhNghệ Tĩnh (mà nòng cốt là những đảng viên cộng sản kỳ cựu ở hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh vừa ra khỏi nhà tù đếquốc) do Nguyễn Xuân Linh đứng đầu chủ trương thành lập Ban Vận động Việt Minh liên tỉnh Nghệ - Tĩnh và cáccấp bộ Việt Minh đã nhạy bén chớp thời cơ lãnh đạo phong trào, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền

Tháng 6/1945, đồng chí Nguyễn Xuân Linh đem Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”của Trung ương về chỉ đạo thực hiện ở hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh Ban Chấp ủy Việt Minh liên tỉnh được thành lập,thống nhất chỉ đạo phong trào, chống lại các luận điệu bịp bợm của địch như chiêu bài “Ái quân, ái quốc”, “Đại ĐôngÁ”, đồng thời tích cực chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền

Ngày 10/6/1945, Việt Minh liên tỉnh phát truyền đơn kêu gọi khởi nghĩa và được quần chúng 2 tỉnh hưởngứng mạnh mẽ (từ tháng 5 đến tháng 7/1945, ở Nghệ An, riêng các phủ huyện đồng bằng đã có 262 cuộc đấu tranh)

Để giải quyết khó khăn do nạn đói cuối năm 1944 và đầu năm 1945 để lại, đồng thời khích lệ tinh thần của nhân dân,Mặt trận Việt Minh đã phát động phong trào phá kho thóc của giặc Nhật để cứu đói và chuẩn bị lực lượng khởi nghĩagiành chính quyền

Ngày 26/7/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng gửi thư cho Xứ ủy Trung Kỳ kêu gọi chuẩn bị khởi nghĩagiành chính quyền

Ngày 8/8/1945, Việt Minh Nghệ - Tĩnh tổ chức đại hội đại biểu gấp rút chuẩn bị mọi mặt cho tổng khởi nghĩa.Đại hội khai mạc tại làng Châu Sơn, xã Phú Mỹ (nay là xã Hưng Châu, huyện Hưng Nguyên) với 40 đại biểu Đại hội

đã bầu Ban Chấp hành chính thức gồm 7 đồng chí do đồng chí Nguyễn Xuân Linh làm Bí thư

Tình hình chuyển biến mau lẹ, Chính phủ Nhật chuẩn bị đầu hàng Đồng minh, Ban Thường vụ Việt MinhNghệ Tĩnh đã kịp thời lập Ủy ban khởi nghĩa và phát động khởi nghĩa giành chính quyền trong tỉnh

Ngày 15/8/1945, Nhật đầu hàng đồng minh, chớp thời cơ thuận lợi đó, Ủy ban khởi nghĩa Nghệ - Tĩnh phátlệnh Tổng khởi nghĩa Trưa ngày 21/8/1945, chính quyền địch tại thành phố Vinh buộc phải tuyên bố đầu hàng cáchmạng Chính phủ cách mạng lâm thời tỉnh Nghệ An do đồng chí Lê Viết Lượng làm chủ tịch, đồng chí Nguyễn Tàilàm Phó Chủ tịch và 5 ủy viên đã ra mắt quần chúng nhân dân Khởi nghĩa kết thúc thắng lợi nhanh chóng mà không

hề đổ máu Sau khi Vinh giành chính quyền, các huyện khác trong tỉnh lần lượt giành thắng lợi: Quỳnh Lưu (18/8),Diễn Châu (221/8), Nghĩa Đàn (22/8), Nam Đàn, Thanh Chương, Anh Sơn (23/8), Nghi Lộc, Yên Thành (25/8)

Nguyên nhân thắng lợi

– Nguyên nhân khách quan:

Chiến thắng của quân Đồng minh trong cuộc chiến tranh chống phát xít tạo cơ hội thuận lợi cho nhân dânViệt Nam đứng lên Tổng khởi nghĩa

– Nguyên nhân chủ quan:

+ Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn, từng trải qua những cuộc đấu tranh kiên cường,bất khuất cho độc lập, tự do Vì vậy, khi Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh phất cao cờ cứu nướcthì toàn dân nhất tề đứng lên cứu nước, cứu nhà

+Có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là Hồ Chí Minh, đã đề ra đường lối đúng đắn,sáng tạo Đảng đã có quá trình chuẩn bị lâu dài, chu đáo, rút kinh nghiệm qua thực tiễn đấu tranh, đặc biệt là lãnh đạo

Trang 9

chuẩn bị lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng trong giai đoạn vận động giải phóng dân tộc

1939 – 1945 Các cấp bộ Đảng và Việt Minh từ Trung ương đến địa phương linh hoạt, sáng tạo chỉ đạo khởi nghĩa,chớp thời cơ phát động quần chúng nổi dậy giành chính quyền

Vai trò của Đảng và bài học kinh nghiệm

- Về chỉ đạo chiến lược: Đảng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam, nắm bắtdiễn biến tình hình thế giới và trong nước để thay đổi chủ trương cho phù hợp; giải quyết đúng mối quan hệ giữa hainhiệm vụ độc lập dân tộc và cách mạng ruộng đất, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu

-Về xây dựng lực lượng: Tập hợp, tổ chức đoàn kết lực lượng cách mạng trong một mặt trận dân tộc thốngnhất rộng rãi, tạo nên sức mạnh toàn dân, phân hoá và cô lập cao độ kẻ đế quốc và tay sai để đánh đổ chúng

-Về phương pháp cách mạng: Sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng, kết hợp lực lượng chính trị với lựclượng vũ trang, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đi từ khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kíchcục bộ ở nông thôn, tiến lên chớp đúng thời cơ tổng khởi nghĩa ở cả nông thôn và thành thị, đập tan bộ máy chínhquyền của đế quốc và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng

-Về xây dựng Đảng: Luôn kết hợp giữa tổ chức và đấu tranh, làm cho đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng

và tổ chức, đủ năng lực và uy tín lãnh đạo cách mạng thành công

Câu 5 Tính chất, ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm của Cuộc CMT8 năm 1945

1 Hoàn cảnh lịch sử và diễn biến

Từ tháng 4/1945 trở đi, cao trào kháng Nhật, cứu nước diễn ra mạnh mẽ, phong phú về nội dung và hình thức.Tháng 8/1945, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào (Tuyên Quang) khẳng định: “Cơ hội rất tốtcho ta giành độc lập đã tới” và quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền từ tay phát xít Nhật vàtay sai trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương; đề ra ba nguyên tắc bảo đảm tổng khởi nghĩa thắng lợi, đó là:tập trung, thống nhất, kịp thời

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đồng loạt vùng dậy, tiến hành tổngkhởi nghĩa, giành chính quyền Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc tổng khởi nghĩa đã nhanh chónggiành thắng lợi hoàn toàn, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội (19/8/1945), Huế (23/8/1945), Sài Gòn (25/8/1945).Chính quyền trong cả nước đã thuộc về nhân dân Vua Bảo Đại xin thoái vị để “được làm dân tự do của một nướcđộc lập”

Quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam được khẳng định trong Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ ChíMinh công bố ngày 2/ 9/1945 đã đặt cơ sở pháp lý quan trọng, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

2 Đánh giá kết quả, thành tựu

Nguyên nhân thắng lợi

- Về nguyên nhân khách quan: Chiến thắng của quân Đồng minh trong cuộc chiến tranh chống phát xít tạo cơ hộithuận lợi cho nhân dân Việt Nam đứng lên Tổng khởi nghĩa

- Về nguyên nhân chủ quan: dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn, từng trải qua những cuộc đấutranh kiên cường, bất khuất cho độc lập, tự do Cuộc cách mạng có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương,đứng đầu là Hồ Chí Minh, đã đề ra đường lối đúng đắn, sáng tạo Đảng đã có quá trình chuẩn bị lâu dài, chu đáo, rútkinh nghiệm qua thực tiễn đấu tranh, đặc biệt là lãnh đạo chuẩn bị lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứđịa cách mạng trong giai đoạn vận động giải phóng dân tộc 1939 – 1945

Tính chất

CMT8 năm 1945 là “1 cuộc CM giải phóng dân tộc mang tính chất dân chủ mới, nó là 1 bộ phận khắng khít

của CM dân tộc dân chủ nhân dân VN”

Trước hết, CMT8 1945 là 1 cuộc CM giải phóng dân tộc điển hình, thể hiện ở:

Thứ nhất, tập trung hoàn thành nhiệm vụ hàng đầu của CM là giải phóng dân tộc, tập trung giải quyết mâuthuẫn chủ yếu của xã hội VN lúc đó là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với đế quốc xâm lược và tay sai; đáp ứngđúng yêu cầu khách quan của lịch sử và ý chí, nguyện vọng độc lập tự do của quần chúng nhân dân

Thứ hai, lực lượng CM bao gồm toàn dân tộc, đoàn kết chặt chẽ trong mặt trận Việt Minh với những tổ chứcquần chúng mang tên “cứu quốc”, động viên đến mức cao nhất mọi lực lượng dân tộc lên trận địa CM Cuộc tổngkhởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là sự vùng dậy của lực lượng toàn dân tộc

Thứ ba, thành lập chính quyền nhà nước “của chung toàn dân tộc” theo chủ trương của Đảng, với hình thứccộng hòa dân chủ, chỉ trừ tay sai của đế quốc và những kẻ phản quốc

“CMT8 VN là 1 cuộc CM giải phóng dân tộc Mục đích của nó là làm cho dân tộc VN thoát khỏi ách đế quốc, làm

cho nước VN thành 1 nước độc lập tự do” Nhưng CMT8 1945 còn có tính chất dân chủ.

Trang 10

Một là, CM giải phóng dân tộc VN là 1 bộ phận của phe dân chủ chống phát xít “Nó chống lại phát xít Nhật

và bọn tay sai phản động, và nó là 1 bộ phận của cuộc chiến đấu vĩ đại của các lực lượng dân chủ, tiến bộ trên thế giới chống phát xít xâm lược.”

Hai là, CM đã giải quyết 1 số quyền lợi cho nông dân Do CMT8, 1 phần ruộng đất của đế quốc và Việt gian

đã bị tịch thu, địa tô được tuyên bố giảm 25%, 1 số nợ lưu cữu được xóa bỏ

Ba là, cuộc CM đã xây dựng chính quyền nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở VN, xóa bỏ chế độ quân chủphong kiến Các tầng lớp nhân dân được hưởng quyền tự do, dân chủ

Tuy nhiên tính chất dân chủ của CMT8 chưa được đầy đủ và sâu sắc do “chưa làm CM ruộng đất, chưa thực

hiện khẩu hiệu người cày có ruộng”, “chưa xóa bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất, chưa xóa bỏ tàn tích phong kiến và nửa phong kiến để cho công nghiệp có điều kiện phát triển mạnh”… quan hệ giữa địa chủ và nhân dân

nói chung vẫn như cũ

CMT8 1945 dưới sự lãnh đạo của Đảng mang đậm tính nhân văn, hoàn thành 1 bước hết sức cơ bản trong sựnghiệp giải phóng con người ở VN khỏi mọi sự áp bức về mặt dân tộc, sự bóc lột về mặt giai cấp và sự nô dịch vềmặt tinh thần

Ý nghĩa lịch sử

Đối với Việt Nam, Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đập tan xiềng xích nô lệ của chủ nghĩa đế quốc tronggần một thế kỷ, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế ngót nghìn năm, lập nên nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa, nhà nước của nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, giải quyết thành công vấn đề cơ bản của một cuộccách mạng xã hội là vấn đề chính quyền

Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ bước lên địa vị người chủ đấtnước, có quyền quyết định vận mệnh của mình

Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa trở thành một quốc gia độc lập có chủ quyền, vươn lên cùng các dântộc trên thế giới đấu tranh cho những mục tiêu cao cả của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xãhội

Đảng Cộng sản Đông Dương từ chỗ phải hoạt động bí mật trở thành một đảng cầm quyền

Từ đây, Đảng và nhân dân Việt Nam có chính quyền nhà nước cách mạng làm công cụ sắc bén phục vụ sựnghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới trong tiến trình lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập

tự do và hướng tới chủ nghĩa xã hội

Về mặt quốc tế, Cách mạng tháng Tám là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc lần đầu tiên giành thắng lợi

ở một nước thuộc địa, đã đột phá một khâu quan trọng trong hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, mở đầu thời

kỳ suy sụp và tan rã của chủ nghĩa thực dân cũ

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám không chỉ là chiến công của dân tộc Việt Nam mà còn là là chiến côngchung của các dân tộc thuộc địa đang đấu tranh vì độc lập tự do, vì thế nó có sức cổ vũ mạnh mẽ phong trào giảiphóng dân tộc trên thế giới

Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn, sáng tạo của Đảng và tưtưởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh Nó chứng tỏ rằng: một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sảnlãnh đạo hoàn toàn có khả năng thắng lợi ở một nước thuộc địa trước khi giai nhân ở “chính quốc” lên nắm chínhquyền

Cách mạng Tháng Tám đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về cáchmạng giải phóng dân tộc

Bài học kinh nghiệm

- Về chỉ đạo chiến lược: Đảng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam, nắm bắt diễn biếntình hình thế giới và trong nước để thay đổi chủ trương cho phù hợp; giải quyết đúng mối quan hệ giữa hai nhiệm vụđộc lập dân tộc và cách mạng ruộng đất, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu

-Về xây dựng lực lượng: Tập hợp, tổ chức đoàn kết lực lượng cách mạng trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộngrãi, tạo nên sức mạnh toàn dân, phân hoá và cô lập cao độ kẻ đế quốc và tay sai để đánh đổ chúng

-Về phương pháp cách mạng: Sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng, kết hợp lực lượng chính trị với lực lượng

vũ trang, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đi từ khởi nghĩa từng phần và chiến tranh du kích cục bộ

ở nông thôn, tiến lên chớp đúng thời cơ tổng khởi nghĩa ở cả nông thôn và thành thị, đập tan bộ máy chính quyền của

đế quốc và tay sai, thiết lập chính quyền cách mạng

-Về xây dựng Đảng: Luôn kết hợp giữa tổ chức và đấu tranh, làm cho đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổchức, đủ năng lực và uy tín lãnh đạo cách mạng thành công

Trang 11

3 Liên hệ, vận dụng thực tế

Nhờ sự chuẩn bị kĩ lưỡng và chớp thời cơ chính xác, Đảng ta đã nhiều lần giành thắng lợi trong suốt chiều dàiđấu tranh giành độc lập Nổi bật nhất là trong đại thắng mùa Xuân năm 1975, Đảng ta đã liên tiếp có những quyếtđịnh sáng suốt và kịp thời để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trong đó có việc giải phóng các đảo trongquần đảo Trường Sa trước khi đánh bại hoàn toàn chế độ Sài Gòn

Thời gian qua, toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập quốc tế là một diễn biến khách quan mang tính tất yếu.Đảng ta đã biến nó thành cơ hội khi chuẩn bị một tâm thế sẵn sàng hội nhập, bắt đầu từ kinh tế, rồi dần là văn hóa,thể thao… cho đến chính trị Việt Nam đã gia nhập ASEAN, trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO), ứng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc… Vị thế, vai trò và uy tín của nước tatrên trường quốc tế ngày càng được nâng cao

Hiện nay, dịch Covid-19 đã và đang gây nhiều thiệt hại cho nền kinh tế thế giới nhưng cũng có thể tạo ra một

số cơ hội Cùng với sự tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã có sựchuyển dịch địa bàn đầu tư và quy mô đầu tư, họ đã và đang chọn điểm đến là Việt Nam Nước ta có thể nắm bắt cơhội này để thúc đẩy phát triển đất nước trên tinh thần chuẩn bị các điều kiện cần thiết và hấp dẫn để “lót ổ đón đạibàng” như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo

Vì vậy, việc nắm bắt và vận dụng thời cơ của Cách mạng tháng Tám vẫn là bài học lớn của Đảng, của đấtnước trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay và mai sau!

CHƯƠNG 2:

ĐẢNG LÃNH ĐẠO HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN, HOÀN THÀNH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1945-1975)

Câu 6 Vì sao nói sau CMT8 năm 1945 Việt Nam rơi vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc?

Sau ngày tuyên bố độc lập, lịch sử Việt Nam bước sang một chặng đường mới với nhiều thuận lợi căn bản và khókhăn chồng chất

Thuận lợi ở trong nước là Việt Nam trở thành quốc gia độc lập, tự do; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ,

bị áp bức trở thành chủ nhân của chế độ dân chủ mới Đảng Cộng sản trở thành Đảng cầm quyền lãnh đạo cách mạngtrong nước Đặc biệt, việc hình thành hệ thống chính quyền cách mạng với bộ máy thống nhất từ cấp Trung ương đến

cơ sở, ra sức phục vụ lợi ích của Tổ quốc, nhân dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng của nền độc lập, tự do, là trung tâm của khối đại đoàn kết dân tộcViệt Nam Quân đội quốc gia và lực lượng Công an; luật pháp của chính quyền cách mạng được khẩn trương xâydựng và phát huy vai trò đối với cuộc đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài, xây dựng chế độ mới

(Khó khăn)

Khó khăn là trên thế giới phe đế quốc chủ nghĩa nuôi dưỡng âm mưu mới “chia lại hệ thống thuộc địa thếgiới”, ra sức tấn công, đàn áp phong trào cách mạng thế giới, trong đó có cách mạng Việt Nam Do lợi ích cục bộ củamình, các nước lớn, không có nước nào ủng hộ lập trường độc lập và công nhận địa vị pháp lý của Nhà nước ViệtNam Dân chủ Cộng hòa Việt Nam nằm trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc, bị bao vây cách biệt hoàn toàn vớithế giới bên ngoài Cách mạng ba nước Đông Dương nói chung, cách mạng Việt Nam nói riêng phải đương đầu vớinhiều bất lợi, khó khăn, thử thách hết sức to lớn và rất nghiêm trọng

Khó khăn ở trong nước là hệ thống chính quyền cách mạng mới được thiết lập, còn rất non trẻ, thiếu thốn, yếukém về nhiều mặt; hậu quả của chế độ cũ để lại hết sức nặng nề, sự tàn phá của nạn lũ lụt, nạn đói năm 1945 rấtnghiêm trọng Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa tiếp quản một nền kinh tế xơ xác, tiêu điều, công nghiệp đìnhđốn, nông nghiệp bị hoang hóa, 50% ruộng đất bị bỏ hoang; nền tài chính , ngân khố kiệt quệ, kho bạc trống rỗng;các hủ tục lạc hậu, thói hư, tật xấu, tệ nạn xã hội chưa được khắc phục, 95% dân số thất học, mù chữ, nạn đói, nạn đóicuối năm 1944 đầu năm 1945 làm 2 triệu người dân chết đói Thách thức lớn nhất, nghiêm trọng nhất lúc này là âmmưu, hành động quay trở lại thống trị Việt Nam một lần nữa của thực dân Pháp Ngày 2-9-1945, quân Pháp đã trắngtrợn gây hấn, bắn vào cuộc mít tinh mừng ngày độc lập của nhân dân ta ở Sài Gòn – Chợ Lớn

Từ tháng 9-1945, theo thỏa thuận của phe Đồng minh, 2 vạn quân đội Anh - Ấn đổ bộ vào Sài Gòn để làmnhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật thua trận ở phía Nam Việt Nam Quân đội Anh đã trực tiếp bảo trợ, sử dụng độiquân Nhật giúp sức quân Pháp ngang nhiên nổ súng gây hấn đánh chiếm Sài Gòn – Chợ Lớn vào rạng sáng ngày 23-9-1945, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ 2 của thực dân Pháp ở Việt Nam

Trang 12

Ở Bắc vĩ tuyến 16, theo thỏa thuận Hiệp ước Potsdam (Đức), từ cuối tháng 8-1945, hơn 20 vạn quân đội của TưởngGiới Thạch tràn qua biên giới kéo vào Việt Nam dưới sự bảo trợ và ủng hộ của Mỹ với danh nghĩa quân đội Đồngminh vào giải giáp quân đội Nhật, kéo theo là lực lượng tay sai Việt Quốc, Việt Cách với âm mưu thâm độc “diệtCộng, cầm Hồ”, phá Việt Minh Trong khi đó, trên đất nước Việt Nam vẫn còn 6 vạn quân đội Nhật Hoàng thua trậnchưa được giải giáp.

Tình hình đó đã đặt nền độc lập và chính quyền cách mạng non trẻ của Việt Nam trước tình thế “như ngàn cântreo sợi tóc”, cùng một lúc phải đối phó với nạn đói, nạn dốt và bọn thù trong, giặc ngoài

Câu 7 Hãy chứng minh thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) là kết quả của

cuộc chiến tranh nhân dân: “toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính”.

Từ cuối tháng 10-1946, tình hình chiến sự ở Việt Nam ngày càng ngày căng thẳng do nguy cơ một cuộc chiếntranh giữa Việt Nam và Pháp tăng dần Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân Việt Nam tiếp tục kiềm chế, kiên trìthực hiện chủ trương hòa hoãn và bày tỏ thiện chí hòa bình, nhân nhượng nhằm tìm kiếm con đường hòa bình bảo vệ,giữ gìn toàn vẹn nền độc lập, tự do của Việt Nam, đồng thời cố gắng cứu vãn mối quan hệ Việt - Pháp đang ngàycàng xấu đi và ngăn chặn một cuộc chiến tranh nổ ra quá sớm và không cân sức với Pháp Nhiều lần, Chủ tịch HồChí Minh, thay mặt Chính phủ Việt Nam, đã gửi điện văn, thư từ cho Chính phủ, Thủ tướng Pháp song đều khôngđược hồi đáp; con đường ngoại giao với đại diện Pháp tại Hà Nội cũng không đưa đến kết quả tích cực vì phía Phápchỉ muốn “dùng biện pháp quân sự để giải quyết mối quan hệ Việt - Pháp” Bộ chỉ huy quân đội Pháp ở Việt Nam đãbộc lộ rõ thái độ bội ước, tiếp tục đẩy mạnh tăng cường bình định ở các tỉnh Nam Bộ, xúc tiến tái lập Nam Kỳ tự trị;gây hấn, khiêu khích, gây xung đột quân sự, lấn chiếm nhiều vị trí ở nơi đóng quân ở Bắc Bộ Việt Nam; đặt lại nềnthống trị ở Campuchia và Lào, chia rẽ ba nước Đông Dương

Từ cuối tháng 11-1946 đến ngày 16 và 17-12-1946, Pháp liên tiếp có những hành động gây hấn với ta, tấncông vũ trang đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, tiếp đó đánh chiếm trái phép ở Đà Nẵng, Hải Dương, tấn công cácvùng tự do của ta ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ , hậu thuẫn cho lực lượng phản động xúc tiến thành lập “Chính phủCộng hòa Nam Kỳ” và triệu tập Hội nghị Liên bang Đông Dương; quân đội Pháp ở Hà Nội ngang nhiên tấn côngđánh chiếm trụ sở Bộ Tài chính, Bộ Giao thông công chính của ta; bắn đại bác gây ra vụ thảm sát đồng bào Hà Nội ởphố Yên Ninh và Hàng Bún Ngày 18-12, đại diện Pháp ở Hà Nội đơn phương tuyên bố cắt đứt mọi liên hệ với Chínhphủ Việt Nam, đưa liên tiếp ba tối hậu thư đòi phía Việt Nam giải giáp; giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu, đòi độcquyền thực thi nhiệm vụ kiểm soát, giữ gìn an ninh, trật tự của thành phố… Đến ngày 19-12-1946, thiện chí hòa bìnhcủa Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã bị thực dân Pháp thẳng thừng cự tuyệt Vì vậy, Đảng và nhân dân Việt Namchỉ còn một sự lựa chọn duy nhất là cầm súng đứng lên đấu lại thực dân Pháp xâm lược để bảo vệ nền độc lập vàchính quyền cách mạng; bảo vệ những thành quả của cuộc Cách mạng tháng Tám vừa giành được

Ngày 12-12-1946, Trung ương ra chỉ thị Toàn dân kháng chiến Ngày 18-12-1946, Hội nghị Ban thường vụTrung ương Đảng (mở rộng) đã đánh giá mức độ nghiêm trọng của tình hình, kịp thời đề ra chủ trương đối phó vàquyết định phát động toàn dân, toàn quốc tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược với tinh thần “thà hy sinhtất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toànquốc kháng chiến, khẳng định quyết tâm sắt đá của nhân dân ta quyết kháng chiến đến cùng để bảo vệ nền độc lập, tự

do

Quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh,thực hiện mệnh lệnh của Chính phủ, bắt đầu từ 20 giờ ngày 19-12-1946, dưới sự chỉ đạo của các cấp ủy đảng, nhândân Hà Nội và ở các đô thị từ Bắc vĩ tuyến 16 trở ra đã đồng loạt nổ súng, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ

Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng ta được hình thành, bổ sung, phát triển qua thực tiễncách mạng Việt Nam trong những năm từ 1945-1947 Nội dung cơ bản của Đường lối là: dựa trên sức mạnh toàn dân,tiến hành kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính Đường lối đó được thể hiện tậptrung ở các văn bản: Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc (25-11-1945), Chỉ thị Tình hình và chủ trương (3-3-1946), Chỉthị Hòa để tiến (9-3-1946), Chỉ thị Toàn dân kháng chiến (12-12-1946), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủtịch Hồ Chí Minh (19-12-1946), tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của đồng chí Trường Chinh (8-1946),

Mục tiêu của cuộc kháng chiến là đánh để thực dân Pháp xâm lược, giành nền độc lập, tự do, thống nhất hoàntoàn, vì nền tự do dân chủ và góp phần bảo vệ hòa bình thế giới…

Kháng chiến toàn dân là đem toàn bộ sức dân, tài dân, lực dân; động viên toàn dân tích cực tham gia kháng

chiến Xây dựng sự đồng thuận, nhất trí của cả nước, đánh địch ở mọi nơi, mọi lúc, “mỗi người dân là một chiến sĩ,

mỗi làng xã là một pháo đài, mỗi đường phố là một mặt trận” Trong đó Quân đội nhân dân làm nòng cốt cho toàn

dân đánh giặc

Kháng chiến toàn diện là đánh địch trên mọi lĩnh vực, mọi mặt trận không chỉ bằng quân sự mà cả về chínhtrị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, ngoại giao, trong đó mặt trận quân sự, đấu tranh vũ trang giữ vai trò mũi nhọn, mangtính quyết định Động viên và phát huy cho được mọi tiềm năng, sức mạnh của dân tộc, mọi nguồn lực vật chất, tinhthần trong nhân dân, phục vụ kháng chiến thắng lợi

Trang 13

Kháng chiến lâu dài là tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng Trường kỳ kháng chiến là một quá trình vừađánh tiêu hao lực lượng địch vừa xây dựng, phát triển lực lượng ta, từng bước làm chuyển biến so sánh lực lượng trênchiến trường có lợi cho ta; lấy thời gian là lực lượng vật chất để chuyển hóa yếu thành mạnh Kháng chiến lâu dàinhưng không có nghĩa là kéo dài vô thời hạn mà phải luôn tranh thủ, chớp thời cơ thúc đẩy cuộc kháng chiến có bướcnhảy vọt về chất, thắng từng bước để đi đến thắng lợi cuối cùng.

Kháng chiến dựa vào sức mình là chính, là sự kế thừa tư tưởng chiến lược trong chỉ đạo sự nghiệp cách mạnggiải phóng dân tộc, giành chính quyền của lãnh tụ Hồ Chí Minh Phải lấy nguồn nội lực của dân tộc, phát huy nguồnsức mạnh vật chất, tinh thần của nhân dân ta làm chỗ dựa chủ yếu, nguồn lực chủ yếu của cuộc chiến tranh nhân dân.Trên cơ sở đó, để tìm kiếm, phát huy cao độ và có hiệu quả sự ủng hộ, giúp đỡ tinh thần và vật chất của quốc tế khi

có điều kiện Lấy độc lập, tự chủ về đường lối là yếu tố quan trọng hàng đầu

Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và đường lối kháng chiến của Đảng là hoàn toàn đúng đắn, trở thành ngọn

cờ dẫn đường, chỉ lối, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiến lên Đường lối đó được nhân dân ủng hộ,hưởng ứng trong suốt quá trình kháng chiến và trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định thắng lợi củacuộc kháng chiến chống Pháp

Tổ chức, chỉ đạo cuộc kháng chiến từ năm 1947 đến năm 1950

Ngày 6-4-1947, Ban Chấp hành Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị cán bộ Trung ương, nhấn mạnh việc mởrộng mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp, củng cố chính quyền nhân dân ở vùng địch tạm chiếm, phátđộng chiến tranh du kích, đẩy mạnh công tác ngoại giao và tăng cường công tác xây dựng Đảng với việc mở đợt pháttriển đảng viên mới “Lớp tháng Tám”

Trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, Đảng tiếp tục chủ trương đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất, tựcấp, tự túc lương thực, đảm bảo đời sống cho bộ đội và nhân dân Duy trì phong trào bình dân học vụ, dạy và học củacác trường phổ thông các cấp Tìm hướng đi tranh thủ sự ủng hộ, đồng tình của lực lượng tiến bộ và nhân dân thếgiới đối với cuộc kháng chiến, đặt cơ quan đại diện ở Thái Lan, Miến Điện, cử các đoàn đại biểu đi dự hội nghị quốctế…

Về quân sự, Thu Đông 1947, Pháp đã huy động khoảng 15000 quân tiến công lên vùng ATK Việt Bắc, hòngbắt gọn Chính phủ Hồ Chí Minh Để đối phó với cuộc tấn công của địch lên Việt Bắc, ngày 5-10-1947, Ban Thường

vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp Sau 75 ngày đêm chiến đấuliên tục, oanh liệt, đến ngày 21-12-1947, quân và dân ta lần lượt bẻ gãy tất cả các mũi tiến công nguy hiểm của giặcPháp, ta đã bảo toàn được cơ quan đầu não và cứ địa kháng chiến, đánh bại âm mưu, kế hoạch đánh nhanh, thắngnhanh của thực dân Pháp Đầu năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh phong quân hàm Đại tướng cho đồngchí Võ Nguyên Giáp cùng 1 Trung tướng và 9 Thiếu tướng Sự kiện đó là bước phát triển mới của cuộc kháng chiến

Từ năm 1948, tình hình quốc tế có những chuyển biến có lợi cho các lực lượng cách mạng và tác động tích cực đốivới cuộc kháng chiến của nhân dân ta Phát huy thắng lợi, Đảng chủ trương tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàndiện để làm thất bại âm mưu kéo dài, mở rộng chiến tranh “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánhngười Việt” của thực dân Pháp

Trên mặt trận ngoại giao, Đảng và Chính phủ chủ trương tích cực tranh thủ mở rộng quan hệ ngoại giao vớicác nước trong phe xã hội chủ nghĩa

Đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi 1951-1954

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng họp từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951, tại xã Vinh Quang (nay làKim Bình), huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Đại hội được tiến hành trong bối cảnh Liên Xô lớn mạnh vượt bậc

về mọi mặt, các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu bước vào công cuộc xây dựng cơ sở vật chất cho xã hội chủ nghĩa.Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho hòa bình và phong trào cáchmạng Cách mạng Lào và Campuchia cũng có những chuyển biến tích cực Lợi dụng tình thế khó khăn của Pháp, Mỹ

đã can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương Ở trong nước, cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã giành được nhiềuthắng lợi quan trọng Điều kiện lịch sử đó đặt ra cho Đảng Cộng sản Đông Dương các yêu cầu bổ sung và hoàn chỉnhđường lối cách mạng phù hợp với mỗi nước ở Đông Dương để đưa kháng chiến đi đến thắng lợi

Đảng ra hoạt động công khai; lấy tên là Đảng lao động Việt Nam Đại hội đã nghiên cứu và thảo luận Báo cáochính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh; báo cáo chính trị đã tổng kết phong trào cách mạng thế giới và cách mạng ViệtNam trong nửa đầu thế kỷ XX, dự báo những triển vọng tốt đẹp của nửa thế kỷ sau; rút ra bài học trong 21 năm hoạtđộng của Đảng

Báo cáo của Tổng Bí thư Trường Chinh đã trình bày toàn bộ đường lối cách mạng Việt Nam Đó là đường lốicách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội Nội dung cơ bản của báo cáo được phản ánh trongChính cương của Đảng Lao động Việt Nam được đại hội thông qua, gồm các nội dung quan trọng sau đây:

- Xác định tính chất của xã hội Việt Nam lúc này có 3 tính chất: dân chủ nhân dân , một phần thuộc địa vànửa phong kiến Ba tính chất đó đang đấu tranh lẫn nhau Cuộc kháng chiến để giải quyết mâu thuẫn giữa chế độ dânchủ nhân dân với các thế lực phản động chính là chủ nghĩa đế quốc xâm lược Đối tượng đấu tranh chính của ViệtNam hiện nay là chủ nghĩa đế quốc xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, và phong kiến phản động

Trang 14

- Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam được xác định là: “đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và

thống nhất thật sự cho dân tộc; xóa bỏ những tàn tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng; phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội” Những nhiệm vụ đó có mối quan hệ khăng khít

với nhau, nhưng nhiệm vụ chính lúc này là tập trung đấu tranh chống xâm lược, hoàn thành công cuộc giải phóng dântộc

- Đặc điểm của cách mạng Việt Nam là cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới tiến triển thành cách mạng xã hộichủ nghĩa

- Động lực của cách mạng Việt Nam là toàn dân, được xác định gồm có bốn giai cấp: giai cấp công nhân, giaicấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản và tư sản dân tộc, ngoài ra còn có những thân sĩ yêu nước và tiến bộ Trong đó lấynền tảng là giai cấp công nhân, nông dân và lao động trí óc; giai cấp công nhân đóng vai trò là lực lượng lãnh đạocách mạng Việt Nam

- Chính cương cũng nêu ra triển vọng phát triển của cách mạng Việt Nam nhất định sẽ tiến lên chủ nghĩa xãhội

- Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trải qua các giai đoạn phát triển tương ứng với những nhiệm vụ trung tâm

đó là: hoàn thành giải phóng dân tộc; xóa bỏ tàn tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện người cày có ruộng,hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân; tiến tới xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện CNXH

Nội dung của chính cương còn nêu ra 15 chính sách lớn của Đảng trong giai đoạn hiện tại nhằm tiếp tục đẩymạnh kháng chiến đến thắng lợi và đặt cơ sở kiến thiết quốc gia, thực hiện chế độ dân chủ nhân dân ở Việt Nam, làmtiền đề tiến lên chủ nghĩa xã hội

Đại hội đã bầu Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng, Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư

Đại hội II thành công là một bước tiến mới của Đảng về mọi mặt, là “Đại hội kháng chiến kiến quốc”, “thúcđẩy kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và xây dựng Đảng Lao động Việt Nam” Tuy nhiên Đại hội cũng có hạnchế, khuyết điểm về nhận thức là mắc vào tư tưởng “tả” khuynh, giáo điều, rập khuôn máy móc, đưa cả lý luậnXtalin, tưởng Mao Trạch Đông vào làm “nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng”

Kết hợp đấu tranh quân sự và ngoại giao kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến

Cuối tháng 9-1953, Bộ Chính trị họp bàn về nhiệm vụ quân sự Đông Xuân 1953-1954 và đã thông qua chủ trương tácchiến Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ Ngày 7-5-1954, Chiến dịch ĐiệnBiên Phủ toàn thắng

Trên mặt trận ngoại giao, từ cuối năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: mở đường cho chiến tranh ngoạigiao Ngày 7-5-1954, khi Điện Biên Phủ thất thủ, Chính phủ Pháp đồng ý triệu tập Hội nghị Giơnevơ bàn về chấmdứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương Hội nghị Giơnevơ thông qua Bản Tuyên bố cuối cùng về vấn đề lậplại hòa bình ở Đông Dương có chữ ký của các bên (riêng phía đại biểu Mỹ không ký) Đây là văn bản pháp lý quốc tếđầu tiên công nhận các quyền dân tộc cơ bản nhân dân ba nước Đông Dương

Ý nghĩa lịch sử và kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo kháng chiến chống Pháp và can thiệp Mỹ

a Ý nghĩa thắng lợi của cuộc kháng chiến

Trong cuộc kháng chiến trường kỳ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã bảo vệ và phát triển tốt nhấtcác thành quả của cuộc Cách mạng tháng Tám; củng cố, phát triển chế độ dân chủ nhân dân trên tất cả các lĩnh vựcchính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; mang đến niềm tin vào sức sống và thắng lợi tất yếu của cuộc kháng chiến Thắnglợi của cuộc kháng chiến đưa đến việc giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tạo tiền đề về chính trị - xã hội để Đảng quyếtđịnh đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam thắng lợi cũng có tính lan tỏa rộng lớn trong khu vực và mang tầm vócthời đại sâu sắc, có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ ở các châu lục Á,Phi, Mỹ La tinh

b Kinh nghiệm của Đảng về lãnh đạo kháng chiến

Một là, đề ra đường lối đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn lịch sử của cuộc kháng chiến ngay từ những ngàyđầu Đường lối cơ bản là “kháng chiến và kiến quốc”; kháng chiến toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh là chính.Hai là, kết hợp chặt chẽ và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ cơ bản vừa kháng chiến vừa kiếnquốc, chống đế quốc và chống phong kiến Kháng chiến đi đôi với kiến quốc, chống đế quốc và chống phong kiến,xây dựng hậu phương - căn cứ địa vững chắc luôn là những nhiệm vụ cơ bản, cùng đồng hành và là nội dung chủyếu, xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cuộc kháng chiến của Đảng Lao động Việt Nam

Ba là, ngày càng hoàn thiện phương thức lãnh đạo, tổ chức điều hành cuộc kháng chiến phù hợp với đặc thù của từnggiai đoạn

Bốn là, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kíchmột cách thích hợp, đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhiệm vụ chính trị - quân sự của cuộc kháng chiến

Năm là, coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn của Đảng; nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với cuộckháng chiến trên tất cả mọi lĩnh vực, mặt trận

Trang 15

Câu 8 Tại sao Đại hội III (1960) của Đảng được xem là Đại hội hoàn chỉnh đường lối chiến lược cách mạng hai miền Nam Bắc

Tháng 9-1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà Nội Trong diễn văn khaimạc, Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bìnhthống nhất nước nhà” Đại hội đã bầu Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Đảng, Lê Duẩn làm Bí thư thứ nhất

Về đường lối chung của cách mạng Việt Nam, trên cơ sở phân tích tình hình và đặc điểm nước ta, Đại hội xácđịnh nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là phải thực hiện đồng thời hai chiến lược cách mạngkhác nhau ở hai miền: Một là, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Hai là, tiến hành cách mạng dântộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước

Về mục tiêu chiến lược chung, Đại hội cho rằng cho rằng, cách mạng ở miền Bắc và cách mạng ở miền Namthuộc hai chiến lược khác nhau, có mục tiêu cụ thể riêng, song trước mắt đều hướng vào mục tiêu chung là giảiphóng miền Nam, hòa bình, thống nhất đất nước

Về vị trí, vai trò, nhiệm vụ cụ thể của từng chiến lược cách mạng ở mỗi miền, Đại hội nêu rõ: Cách mạng xãhội chủ nghĩa ở miền Bắc có nhiệm vụ xây dựng tiềm lực và bảo vệ căn cứ địa của cả nước, hậu thuẫn cho cách mạngmiền Nam, chuẩn bị cho cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội về sau, nên giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triểncủa toàn bộ cách mạng Việt Nam và đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà Còn cách mạng dân tộc dân chủ nhândân ở miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đếquốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dântrong cả nước

Về hòa bình thống nhất Tổ quốc, Đại hội chủ trương (hay phương châm) kiên quyết giữ vững đường lối hòabình để thống nhất nước nhà, vì chủ trương đó phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của nhân dân cả nước ta cũng nhưcủa nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới Song ta phải luôn luôn đề cao cảnh giác, chuẩn bị sẵn sàng đối phó vớimọi tình thế Nếu đế quốc Mỹ và bọn tay sai liều lĩnh gây ra chiến tranh hòng xâm lược miền Bắc, thì nhân dân cảnước ta sẽ kiên quyết đứng lên đánh bại chúng, hoàn thành độc lập và thống nhất Tổ quốc

Về triển vọng của cách mạng, Đại hội nhận định cuộc đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà là nhiệm

vụ thiêng liêng của nhân dân cả nước ta Đó là một quá trình đấu tranh cách mạng gay go, gian khổ, phức tạp và lâudài chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng ở miền Nam Thắng lợi cuối cùng nhất định thuộc về nhân dân ta,Nam Bắc nhất định sum họp một nhà

Về xây dựng chủ nghĩa xã hội, xuất phát từ đặc điểm của miền Bắc, trong đó, đặc điểm lớn nhất là từ một nềnkinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, Đạihội xác định rằng, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là một quá trình cải biến cách mạng về mọi mặt Đó

là quá trình đấu tranh gay go giữa hai con đường, con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa trên tất

cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa và kỹ thuật nhằm đưa miền Bắc từ một nền kinh tế chủ yếu dựatrên sở hữu cá thể về tư liệu sản xuất tiến lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể,

từ nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa

Tuy vẫn còn một số hạn chế trong đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhận thức về con đường đi lênchủ nghĩa xã hội còn giản đơn, chưa có dự kiến về chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội;song thành công cơ bản, to lớn nhất của Đại hội lần thứ III của Đảng là đã hoàn chỉnh đường lối chiến lược chungcủa cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, đường lối tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ hai chiến lược cáchmạng khác nhau ở hai miền: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miềnNam, nhằm thực hiện mục tiêu chung trước mắt của cả nước là giải phóng miền Nam, hòa bình thống nhất Tổ quốc

9 Hiệp định Paris là kết quả của quá trình “vừa đánh vừa đàm” và là cơ hội lớn cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi đến thắng lợi hoàn toàn Ý kiến của anh/chị về nhận định trên

I- Tình hình dẫn tới Hội nghị Paris

Cuối năm 1964 đầu năm 1965, trước những đòn tiến công mãnh liệt của quân và dân miền nam, cả về quân sự

và chính trị, chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ đã phá sản - ngụy quân và ngụy quyền Sài Gòn đứng trướcnguy cơ sụp đổ Ðể hòng cứu vãn tình thế, Mỹ thay đổi chiến lược, từ "chiến tranh đặc biệt" chuyển thành "chiếntranh cục bộ", thực chất là Mỹ hóa cuộc chiến tranh Một mặt, Mỹ ồ ạt đưa quân chiến đấu vào miền nam; mặt khác,tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân chống lại miền bắc

Từ đầu năm 1965 đến cuối năm 1967, chúng đã đổ vào miền nam từ 18.000 quân lên 480.000 quân Mục tiêuchiến lược của "chiến tranh cục bộ" là đánh bại cách mạng miền nam trong vòng 25 - 30 tháng để đến cuối năm 1967,

Mỹ có thể ca khúc khải hoàn và rút hết quân về nước Ðồng thời với quá trình leo thang chiến tranh, chính quyềnJohnson rêu rao cái gọi là cuộc vận động "ngoại giao hòa bình", đòi "miền bắc đình chỉ thâm nhập người và dụng cụchiến tranh vào miền nam" và "đàm phán không điều kiện" với Mỹ

Ðảng ta nhận định: Mỹ buộc phải Mỹ hóa cuộc chiến tranh là vì chúng đang ở trong thế bị động về chiến

Ngày đăng: 10/12/2021, 11:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w