Bài viết đề cập đến vấn đề tự tử ở người trẻ qua góc nhìn của tâm lý học để làm căn cứ cho việc tìm kiếm, xây dựng và phát triển một số mô hình can thiệp chuyên biệt nhằm có những hỗ trợ phù hợp, kịp thời cho người làm tâm lý, chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe tâm thần cho học sinh – sinh viên trong bối cảnh học đường.
Trang 1ĐỐI DIỆN VỚI VẤN ĐỀ TỰ TỬ CỦA HỌC SINH – SINH VIÊN QUA GÓC NHÌN
NGƯỜI LÀM TÂM LÝ TRONG BỐI CẢNH HỌC ĐƯỜNG
Nguyễn Lê Minh Trang 1 , Phạm Hải Lâm 1
Tóm tắt
Hai năm làm việc trong vai trò nhà tâm lý (NTL) học đường cho chúng tôi gặp nhiều trường hợp liên quan đến vấn đề tự tử của học sinh, một số mới nảy sinh ý nghĩ, số khác đã lên kế hoạch, có trường hợp cố gắng tự tử và thậm chí đã tự tử (gần đây)… Đối diện với vấn đề này, có rất nhiều khó khăn đã nảy sinh trong chúng tôi (cả góc độ công việc lẫn cá nhân) Chúng tôi nhận
ra rằng vấn đề tự tử ở người trẻ (chủ yếu là học sinh-sinh viên ở độ tuổi 15-21) trong bối cảnh học đường ở Việt Nam cần được bàn luận một cách nghiêm túc và chuyên sâu hơn cho những người làm tâm lý học đường Bài viết hướng đến việc chia sẻ trải nghiệm của bản thân trong quá trình làm việc với học sinh có ý định tự tử trên cơ sở của phương pháp nghiên cứu phân tích và tổng hợp tài liệu Chúng tôi sẽ đề cập đến vấn đề tự tử ở người trẻ qua góc nhìn của tâm lý học để làm căn cứ cho việc tìm kiếm, xây dựng và phát triển một số mô hình can thiệp chuyên biệt nhằm có những hỗ trợ phù hợp, kịp thời cho người làm tâm lý, chịu trách nhiệm chăm sóc sức khỏe tâm thần cho học sinh – sinh viên trong bối cảnh học đường.
Từ khóa: tự tử, học sinh-sinh viên, nhà tâm lý học đường, bối cảnh học
đường, tự thuật, tường thuật
1 CERM – Phòng Tham vấn tâm lý, giáo dục & định hướng nghề nghiệp
Trang 2FACING THE PROBLEM OF STUDENTS’S SUICIDE –
A SCHOOL PSYCHOLOGIST’S PERSPECTIVES IN
A SCHOOL CONTEXT Abstract
Suicide among young people in general and students (across academic stages, predominantly among the age of 15 to 21) in specific in Vietnam needs to be discussed seriously and investigated at deeper levels by school psychologists That is what we have observed, learnt, and come to realise from my two years working as the school psychologist The suicidal cases that we have been exposed to vary from ideating, to planning, to attempting, and to committing The experiences remain rather uneasy for me, personally and professionally This paper aims to share my experiences when working with students with suicidal ideation, along with the elaborative literature and empirical evidence used to deepen my understanding More particularly, suicide among young people will be discussed from the psychological standpoint This approach shall serve as the foundational reference for the adaptation and development
of especially, dedicated intervention models which aims to provide on-time and appropriate support for school psychologists who are responsible for taking care of students’ mental health in different education settings.
Keywords: suicide, student, school psychologist, school context,
autoethnography, narrative
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới WHO (2019), cứ 100 người chết thì có hơn một người trong số đó tự tử Tại Việt Nam, tỷ lệ trung bình các vụ tự tử là 7.5 vụ trên 100.000 người Điều đáng lưu ý, tự tử là nguyên nhân cao thứ tư dẫn đến cái chết trong nhóm người độ tuổi 15 – 19 tuổi Không thể phủ nhận, tự tử là một vấn đề đáng được quan tâm hiện nay Tuy vậy, ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều các nguồn tài liệu thống kê, đánh giá liên quan đến chủ đề tự tử (hay cố gắng tự tử) WHO cho rằng do tính nhạy cảm của chủ đề tự tử (hoặc yếu tố pháp luật), có thể dẫn tới tình trạng báo cáo thiếu và phân loại sai nguyên nhân tử vong liên quan đến tự tử so với hầu hết các nguyên nhân khác (WHO, 2021)
Trang 3Tự tử cũng là vấn đề xuất hiện ở mọi lứa tuổi và tuổi vị thành niên không phải là ngoại lệ (WHO, 2021) Trong quá trình làm việc tại trường học với vai trò là một NTL học đường, chúng tôi đã trực tiếp và gián tiếp làm việc với các trường hợp học sinh có ý nghĩ tự tự, một số đã lên kế hoạch và đã có trường hợp tự tử Những cảm xúc bối rối, lo lắng luôn sống
dậy trong chúng tôi mỗi khi có học sinh đến nói với chúng tôi rằng “em
nghĩ đến việc tự tử” hay “em muốn chết đi cho rồi” Thậm chí, khi nghe tin
tức về việc học sinh nơi chúng tôi làm việc đã tự tử, chúng tôi đã vô cùng khó khăn để làm việc với chính mình trong cả khía cạnh cá nhân (hối tiếc, bất lực, bế tắc) lẫn sự hỗ trợ ở khía cạnh chuyên môn (đơn độc, căng thẳng,
quá tải) Hoang mang với hàng loạt câu hỏi tự đặt ra cho bản thân:”Tôi đã
làm gì vậy? Tôi đang làm gì thế? Tôi phải làm gì đây?”… Để rồi, khi tìm
kiếm các tài liệu liên quan đến chủ đề tự tử, nhất là tự tử ở người trẻ trong bối cảnh học đường tại Việt Nam, chúng tôi mất khá nhiều thời gian và lần nữa lại gặp khó khăn để tìm thấy một số nghiên cứu, số liệu thống kê về chủ đề này vì hầu như không có tài liệu hướng dẫn thống nhất chính thức
và chi tiết dành cho NTL học đường trong việc phòng ngừa, can thiệp, hỗ trợ khi thân chủ (học sinh) có ý nghĩ tự tử hoặc đã tự tử
Qua đó, chúng tôi nhận ra rằng, vấn đề tự tử ở người trẻ trong bối cảnh học đường ở Việt Nam cần được bàn luận một cách nghiêm túc và chuyên sâu hơn với những người làm tâm lý học đường Ở bài báo cáo này, đối tượng người trẻ là học sinh – sinh viên được đề cập chủ yếu trong độ tuổi từ 15 – 21 tuổi
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu: việc trực diện với vấn đề tự tử của học sinh –
sinh viên từ góc nhìn người làm tâm lý trong bối cảnh học đường
2.2 Khách thể nghiên cứu: người làm tâm lý trong bối cảnh học đường
với thâm niên 2 năm làm việc qua 6 trường hợp liên quan đến vấn đề
tự tử của học sinh
2.3 Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu định tính với phương pháp tự
thuật (auto-ethnography) và kể câu chuyện/tường thuật (narrative) được sử dụng cùng với phương pháp nghiên cứu tài liệu
Trang 4Phương pháp tự thuật và câu chuyện kể là một công cụ mạnh mẽ vì
nó rút ra từ những trải nghiệm cá nhân để thông tin cho chúng ta về thực
tế sống động của những cá nhân (Faust, 2017) Nghiên cứu này có thể có ý nghĩa trong việc hiểu các quá trình đau buồn trong bối cảnh lâm sàng của tâm lý học đường Bằng cách định vị mình vừa là người kể chuyện, vừa là nhân vật chính của câu chuyện này, chúng tôi có thể mang đến không gian đối thoại cho những người đã hoặc sẽ chia sẻ trải nghiệm tương tự như chúng tôi Trong phương pháp tự thuật và kể lại câu chuyện, tác giả của câu chuyện gợi mở cách kể ở ngôi thứ nhất, khiến họ trở thành khách thể nghiên cứu và do đó phá vỡ sự tách biệt thông thường giữa nhà nghiên cứu
và đối tượng nghiên cứu; câu chuyện kể thường tập trung vào một trường hợp duy nhất và do đó vượt lên mối quan tâm truyền thống của nghiên cứu từ khái quát hóa các trường hợp đến tổng quát hóa trong một trường hợp (Belbase, Luitel, & Taylor, 2008)
Bên cạnh đó, nhằm mục đích liên kết, sắp xếp, xác định tính tương thích của các tài liệu, từ đó có cái nhìn lý thuyết đầy đủ hơn về chủ đề người làm tâm lý trong bối cảnh học đường đối diện thế nào trước vấn đề
tự tử của học sinh trung học – sinh viên, đồng thời cũng nhằm tìm kiếm những xu hướng, trường phái, cách lý giải về chủ đề; xác định tính hữu ích cùng phạm vi vận dụng của tài liệu để đối chiếu thực tế trải nghiệm của bản thân, phương pháp nghiên cứu được chúng tôi sử dụng ở đây là phân tích và tổng hợp tài liệu, trong đó:
• Tổng hợp tài liệu là phương pháp liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin từ tài liệu từ các tài liệu thu thập được nhằm tạo ra một cách hiểu đầy đủ và sâu sắc về chủ đề nghiên cứu;
• Phân tích tài liệu là phương pháp nghiên cứu tài liệu về một chủ đề bằng cách tách chúng thành từng bộ phận, từng mặt, từng vấn đề
để hiểu chúng một cách sâu sắc, tìm thông tin phục vụ cho chủ đề nghiên cứu
III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Từ trải nghiệm thực tế của bản thân, chúng tôi đã nghiên cứu một số tài liệu liên quan và thấy rằng, tự tử đã được nghiên cứu trong và ngoài nước dưới rất nhiều góc nhìn khác nhau, khám phá những nguyên nhân
Trang 5dẫn đến tự tử từ đó đưa ra những mô hình, giải pháp dựa trên các góc nhìn này (Hoin và cộng sự, 2020; Nguyễn và cộng sự, 2019; Hannon và cộng sự, 2019) Trong bài viết này, ý nghĩa của từ “tự tử” và “tự sát” là tương đồng
3.1 Đối diện với vấn đề tự tử ở học sinh
3.1.1 Vấn đề tự tử của học sinh
Theo các tài liệu về tự tử phổ biến, “nỗi đau sâu sắc về tinh thần”,
“tiếng kêu cứu” là những cụm từ thường được nhắc đến Tuy nhiên tự tử là một vấn đề phức tạp và khó có thể chỉ diễn tả được chỉ trong cụm từ “kêu
cứu” hay “nỗi đau”.
Theo APA – Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, tự tử được định nghĩa là:
“hành vi cố ý giết chính mình” và nguyên nhân phổ biến của tự tử được đề
cập là do trầm cảm, những rối loạn tâm thần (APA, 2021) Tổ chức Y tế
Thế giới cũng có định nghĩa tương tự, nhấn mạnh rằng tự tử là “một vấn đề
sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng” (WHO, 2021) Một số chi tiết liên quan
khác như: 1) xuất hiện ở mọi lứa tuổi, giới tính và sắc tộc; 2) là một hành vi phức tạp,… Vì thế không đơn giản để hiểu và cho rằng tự tử xuất phát từ bất kỳ một nguyên nhân đơn lẻ nào Thay vào đó, có một số yếu tố có thể khiến một người có nguy cơ cao hơn trong việc cố gắng tự tử như rối loạn sức khỏe tâm thần, người có tiền sử gia đình có người tự sát, bạo lực trong gia đình, sử dụng vũ khí (Erps, K H., 2020)
Theo trình bày của UNICEF Việt Nam (2017), nguy cơ dẫn đến tự tử bao gồm một số yếu tố như về nhân khẩu học, là nữ, sinh sống ở vùng đô thị hoặc là người nhập cư; về lịch sử gia đình có thể kể đến yếu tố tiền sử có người thân tự sát, mâu thuẫn gia đình; áp lực học tập đối với kỳ vọng của cha mẹ, bắt nạt học đường cũng được đề cập đến (UNICEF Việt Nam, 2017) Và rất dễ dàng để có thể tìm thấy được những thông tin liên quan đến các vụ việc tự tử ở học sinh những năm gần đây qua báo chí truyền thông
Qua đó, có thể thấy, tự tử dường như luôn là một vấn đề nóng của xã hội nhưng vẫn có sự e dè trong cách nhìn nhận và tiếp cận Một mặt khác, qua những khái niệm phổ biến về tự tử trên, tự tử được nhìn nhận là một hành vi Nếu nhìn nhận tự tử chỉ dưới góc độ hành vi mà bỏ qua các góc
độ như ý nghĩ, kế hoạch thì những giải pháp hướng đến sẽ tập trung mọi
Trang 6nguồn lực để “bằng cách nào đó, ngăn chặn hành vi tự tử” Rồi để có cách thức “ngăn chặn kịp thời”, chúng ta nỗ lực đi tìm nguyên nhân Tuy nhiên, việc nhận biết được nguyên nhân không phải là kim chỉ nam để hỗ trợ một học sinh trong bối cảnh học đường, đang có ý định tử tự Bởi lẽ, tự tử là một vấn đề phức tạp và đa nguyên nhân Một hay một vài nguyên nhân dẫn đến tự tử không thể lý giải cho tất cả các nguyên nhân khiến học sinh
có vấn đề tự tử Do đó việc xác định “đóng khung” nguyên nhân và từ đó đưa ra những biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn trên diện rộng khó mang lại hiệu quả đầy đủ trong bối cảnh học đường Ở một khía cạnh khác, nếu chỉ nhìn tự tử dưới góc độ là hành vi như một điều gì đó có thể quan sát được, có thể những thời điểm ai đó trong trường học quan sát được những hành vi tự tử của học sinh đã là thời điểm quá muộn để can thiệp, hỗ trợ Minh chứng là đã xảy ra những vụ việc học sinh tự tử thương tâm, nhắc nhở chúng tôi – NTL làm việc trong bối cảnh học đường cần nghiêm túc nhìn nhận vấn đề tự tử ở học sinh có chọn lọc từ góc độ tâm lý học chuyên sâu chứ không chỉ là sử dụng các tài liệu, hướng dẫn được đưa ra từ những góc độ quản lý, giáo dục mang tính khái quát, tức thời
3.1.2 Những góc nhìn đa chiều về tự tử
Tự tử là một vấn đề được rất nhiều ngành nghề quan tâm và có những nghiên cứu chuyên sâu về nó Dưới đây sẽ đề cập một số góc nhìn về tự tử nói chung, hay tự tử trong bối cảnh học đường nói riêng
Nhóm các nhà nghiên cứu Hàn Quốc đã sử dụng nguồn dữ liệu của
Bộ Giáo dục trong nước năm 2018-2019, được báo cáo bởi giáo viên về quan sát của họ đối với học sinh đã tự tử để nghiên cứu đưa ra các nguy
cơ tự tử của 173 học sinh qua báo cáo của giáo viên, từ đó giúp trường học phát triển các chiến lược can thiệp và ngăn chặn tự tử hiệu quả Nghiên cứu sử dụng phương pháp Autopsy psychological (tạm dịch: khám nghiệm dựa trên dấu vết tâm lý của đối tượng) – là cách thức để nghiên cứu tính phức tạp của tự tử thông qua việc xem xét quá trình, tình trạng (tâm lý) của học sinh trong một khoảng thời gian nhất định trước khi tự tử bằng cách đánh giá dựa trên bản báo cáo và lời khai của giáo viên để dự đoán nguyên nhân tự tử Các nhà nghiên cứu phân loại học sinh thành ba nhóm biểu hiện nguy cơ: 1) im lặng; 2) có rủi ro môi trường; 3) trầm cảm Kết quả cho thấy nhóm thứ nhất chiếm đa số trong các vụ tự tử của học sinh
Trang 7Tuy nhiên nhóm này lại không được giáo viên quan sát và nhận ra những dấu hiệu nguy cơ Hai nhóm còn lại với các chỉ báo “có rủi ro môi trường”,
“trầm cảm” được giáo viên quan sát và nhận ra dễ dàng hơn như những hành vi bộc phát, lệch lạc, thường bị phạt tại trường học ở nhóm học sinh
“có rủi ro môi trường”; học sinh ở nhóm “trầm cảm” thường đã từng được chẩn đoán trầm cảm, từng cố tự tử, có tương tác kém trong mối quan hệ với giáo viên,… (Hoin K & cs, 2020) Với mục tiêu giúp trường học phát triển các chiến lược can thiệp và ngăn chặn tự tử hiệu quả, chỉ với 173 báo cáo sử dụng hoàn toàn từ dữ liệu từ quan sát từ giáo viên, nghiên cứu còn một số hạn chế như trong kết quả đã tìm được số liệu chứng minh rằng học sinh ở nhóm “im lặng” chiếm đa số các vụ tự tử ở học sinh lại không được phát hiện bởi giáo viên Cho thấy, dù giáo viên là lực lượng đông đảo trong nhà trường nhưng về trách nhiệm, vai trò, đây không phải là lực lượng chính để thực hiện các biện pháp phòng ngừa, can thiệp/hỗ trợ tâm
lý cho học sinh có dấu hiệu tử tự Nghiên cứu còn thiếu sót trong việc mô
tả sâu, toàn cảnh về chân dung tâm lý của một học sinh có nguy cơ tự tử, những nguy cơ được đề cập đến chỉ là những biểu hiện quan sát được, từ
đó dẫn đến nhận định về nguyên nhân xuất phát từ phía gia đình nhưng chưa có đủ cơ sở đến kết luận Vì vậy, từ những lý do trên, khó có thể xây dựng được một chương trình phòng ngừa tự tử hiệu quả hay ngăn chặn học sinh tự tử kịp thời
Một nghiên cứu khác được thực hiện tại Việt Nam trên 661 học sinh 15-19 tuổi từ 3 trường trung học phổ thông tại Hà Nội về tự tử năm 2019, phân tích dữ liệu từ khảo sát hành vi nguy cơ của giới trẻ để tìm hiểu về thực trạng của vấn đề tự tử và trầm cảm, đồng thời tìm hiểu mối liên hệ giữa hành vi tự tử và tình trạng trầm cảm (Nguyễn và cộng sự, 2019) Từ góc nhìn của y tế cộng đồng, nghiên cứu đã sử dụng 2 thang đo là The
Youth Risk Behavior System Surveillance – YRBSS (tạm dịch là Hệ thống
giám sát hành vi rủi ro của thanh thiếu niên) – mục đích để giám sát các
hành vi nguy cơ của thanh thiếu niên và Modified Depression Scale – MDS
(tạm dịch là Thang đo trầm cảm) – dùng để đo lường triệu chứng trầm cảm
trong vòng 30 ngày Nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ học sinh có ý nghĩ tự tử cao
và trầm cảm là một trong những dự báo chính cho ý nghĩ tự tử ở học sinh Tuy nhiên, những bàn luận số liệu của nghiên cứu vẫn chỉ dựa trên nhận
định chung, chưa đủ cơ sở để kết luận, ví dụ như “trầm cảm là một trong
Trang 8những nguyên nhân chính dẫn tới tự tử và áp lực để đạt được thành tích học tập cao có thể là thủ phạm chính gây trầm cảm ở học sinh trung học”,
“những yếu tố liên quan đến mối quan hệ như bị bắt nạt trực tiếp hoặc qua
mạng cũng có liên quan đáng kể đến suy nghĩ tự tử”… (Nguyễn và cộng sự,
2019) Đồng thời, có sự bất nhất trong mục tiêu đề ra và giải pháp tương ứng khi một mặt, mục tiêu nghiên cứu hướng đến phát triển các dịch vụ chăm sóc tâm lý trong trường học nhằm phát hiện sớm các rối loạn tâm thần và ngăn ngừa các hành vi tự sát cho học sinh, mặt khác giải pháp lại hướng tới việc điều chỉnh những quy định trong nhà trường hoặc tăng cường tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa để củng cố mối quan hệ giữa
học sinh và giáo viên Vậy nên, khi mà tự tử là một hành vi phức tạp, rất
khó để có thể giải thích bởi nguyên nhân đơn lẻ nào, nếu chỉ nhìn từ góc
độ số liệu thống kê sẽ rất khó để NTL học đường hiểu về bản chất của tự
tử cũng như có những cách thức can thiệp phù hợp.
Như một số nghiên cứu nêu trên đã chỉ ra thực trạng qua những con
số, chú trọng lý giải nguyên nhân dựa trên những thang đo tự khai của học sinh, hoặc từ báo cáo của giáo viên, cán bộ quản lý,… Thông thường, những kết luận, giải pháp mang nặng tính tức thời, cấp bách, thiếu yếu tố nâng đỡ chiều sâu và lâu dài cho học sinh Rõ ràng vẫn còn nhiều hạn chế
về góc nhìn chuyên môn của NTL học đường trước vấn đề tự tử, cũng như trải nghiệm của họ khi đối mặt với những vấn đề của học sinh, và cả những khó khăn chưa được lên tiếng, dù rằng đã có đa dạng những điều cần lưu tâm từ góc nhìn của tâm lý học về vấn đề tự tử nói chung Đơn cử là:Trong Mô hình Biodyne của NTL Janet Cummings và Nicholas Cummings, tự tử được xem xét qua một quá trình ba giai đoạn: 1) ý định
tự tử; 2) Kế hoạch tự tử; 3) Tự tử/Hành vi tự tử Ở từng giai đoạn, họ quan sát diễn biến tâm lý của người đó và có những biện pháp can thiệp hay hỗ trợ tâm lý hiệu quả
– Giai đoạn 1 là giai đoạn bắt đầu có những suy nghĩ về tự tử nhen nhóm cho đến dần nhiều lên qua những suy nghĩ “gia đình sẽ tốt hơn nếu không có tôi”, hay ám ảnh bởi âm nhạc u ám (tức là chơi
đi chơi lại cùng một bài hát buồn) hoặc bày tỏ suy nghĩ về cái chết,
tự tử, đau đớn, và thể hiện sự vô vọng thông qua nghệ thuật, nhưng vẫn chưa bắt đầu hình thành một kế hoạch nào cụ thể Lúc này, nỗi
Trang 9sợ hãi tự tử vẫn lớn hơn ý muốn tự tử nhưng nếu không được hỗ trợ hiệu quả, người đang có ý muốn tự tử sẽ tiến đến giai đoạn 2.– Đây là giai đoạn họ đau khổ, vật lộn với chính những cảm xúc khó khăn của mình, đôi khi sẽ dừng nói ra với những người xung quanh, tình trạng của họ sẽ ngày càng trầm trọng hơn, họ sẽ quyết định tự tử hay không, và nếu sự đau khổ kéo dài dai dẳng và nặng
nề hơn nữa, họ sẽ tiến đến ý định tự tử như cách duy nhất, cũng là lúc họ chuyển qua giai đoạn 3
– Khi giai đoạn ý thức về việc mình muốn kết thúc cuộc sống dừng lại với quyết định mình sẽ chết, họ sẽ rơi vào trạng thái “auto-pilot” – họ đột nhiên tốt lên, nhưng nhiều NTL và người xung quanh không nhận ra, đây là lúc họ không còn vật lộn với quyết định có nên tự tử hay không Những nghiên cứu cho thấy, những người
“auto-pilot” có khả năng cao sẽ tự tử trong vòng 48 giờ Bất kỳ giai đoạn nào cũng vô cùng quan trọng trong việc hiểu và hỗ trợ kịp thời cho người có mong muốn tự sát, bên cạnh đó quan sát những dấu hiệu trầm cảm của họ là việc của những NTL bắt buộc phải làm (Cummings, 2017)
Học thuyết tâm lý học liên cá nhân về hành vi tự tử (The psychological theory of suicidal behavior) của NTL lâm sàng Thomas Joiner, một trong những học thuyết đang được áp dụng phổ biến hiện
interpersonal-nay để nghiên cứu về tự tử (Joiner, 2009) Theo Joiner, con người nảy sinh
mong muốn được chết khi đồng thời “lưu” giữ sâu trong tâm trí của họ hai trạng thái tâm lý sau đây đủ lâu và có khả năng để tự tử, đó là:
– Cảm giác là gánh nặng/thấp kém: Họ có nhận thức rằng ai đó cảm
thấy họ là gánh nặng, có thể là gia đình, bạn bè,… Họ cảm nhận rằng cái chết của họ còn ý nghĩa hơn cả cuộc sống họ đang có với gia đình, bạn bè, xã hội, v.v
– Cảm giác ít thuộc về/bị xã hội xa lánh: họ trải nghiệm cảm giác
vắng mặt hoặc mất đi các mối quan hệ có ý nghĩa Họ bị xa lánh hoặc không còn cảm thấy thuộc về, có giá trị trong mối quan hệ ý nghĩa nào đó
– Có khả năng để tự tử có thể hiểu là có được khả năng tự gây thương
tích chết người: khi liên tục trải qua những sự kiện, hành vi gây đau
Trang 10đớn, việc sợ hãi và đau đớn sẽ trở thành thói quen, như một tiền đề dẫn đến nỗ lực tự tử của một người Những người đã từng có nỗ lực
tự tử trước đó có khả năng cao thực hiện hành vi tự tử Kể cả việc tiếp xúc với nỗi đau và thương tích của người khác cũng có thể tạo
ra khả năng tự tử
Một góc nhìn khác của tâm lý học từ Aaron Beck – cha đẻ của lý thuyết
nhận thức cho rằng sự vô vọng (hopelessness) là một động lực mạnh mẽ
hơn cả đối với những người có ý định tự tử Đó là cách một người tự xác
định tình trạng của mình là không còn bất cứ giải pháp nào cho đau khổ
họ đang gặp phải, họ không thể chịu đựng sự đau khổ ấy thêm được và tự
tử là cách duy nhất giải quyết được vấn đề (Beck, 1963) Khi một cá nhân
tích lũy những hình mẫu tiêu cực, nó sẽ quyết định cách họ nhìn nhận hay tiếp thu và từ đó lý giải qua lăng kính cá nhân những thông tin mới xuất hiện Trong trường hợp cá nhân có ý định tự tử, những hình mẫu này làm tăng thêm cảm giác vô vọng và làm mất dần đi sự hiện diện ý nghĩa của những thông tin tích cực, có lợi Theo Beck, trầm cảm cũng được giải thích dựa trên sự vô vọng Ông đã phát triển liệu pháp nhận thức hành vi trong can thiệp tự tử với niềm tin là khi nhận thức cá nhân thay đổi, hành vi cũng
sẽ thay đổi
Trong một cách tiếp cận khác, Maltsberger và Buie (1980) trình
bày về những “huyễn tưởng tự tử” xung quanh các lý giải về sự giải thoát
(riddance), sự trả thù (revenge) và sự tái sinh (rebirth)
– Về sự giải thoát (hoặc trừ khử) liên quan đến tự tử, trong đương sự
diễn ra một cuộc đấu tranh giữa các thành phần của bản ngã, nơi mà
“cơ thể” bị nhìn nhận như kẻ tấn công, kẻ tra tấn và cần bị tiêu diệt,
bị giết chết để bảo vệ cái “tôi thực sự” Tự tử, lúc này có thể được hiểu
là một nỗ lực của bản thân để thoát khỏi một phần không thể chấp nhận được của chính mình trong tâm trí, phải loại trừ phần đó đi Cần lưu ý là với phân tích trên, sẽ không liên quan gì đến việc giải thoát bản thân khỏi những khó khăn, bế tắc từ bên ngoài
– Về sự trả thù (hoặc trừng phạt) liên quan đến đến tự tử, đương sự
có thể bằng cách nào đó biết được những tác động của hành vi (tự tử) của mình lên người khác, từ đó, đương sự sẽ có được một lời cầu xin tha thứ