Bài viết đã tổng hợp các nghiên cứu được xuất bản trong khoảng 10 năm trở lại đây, chúng tôi đã tổng hợp và chọn lọc được tất cả 28 nghiên cứu đã được công bố có liên quan trực tiếp đến lạm dụng lời nói và mối quan hệ của trải nghiệm này với rối loạn cảm xúc ở nạn nhân.
Trang 1LẠM DỤNG BẰNG LỜI NÓI TRONG GIA ĐÌNH
VÀ RỐI LOẠN CẢM XÚC Ở NẠN NHÂN:
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Tóm tắt
Lạm dụng bằng lời nói là việc sử dụng lời nói hoặc nhận xét gây ra sự đau khổ, hạ thấp, sỉ nhục, đe dọa, thể hiện sự thiếu tôn trọng đối với người khác Lạm dụng bằng lời nói diễn ra một cách công khai hoặc ẩn, bằng chứng của hành vi này có thể không rõ ràng như các hình thức lạm dụng khác, nhưng ở nạn nhân vẫn tồn tại tổn thương về mặt tinh thần, là nguy cơ cho những vấn
đề sức khỏe tâm thần nghiêm trọng hơn Bài viết phân tích mối quan hệ giữa trải nghiệm bị lạm dụng bằng nói trong gia đình và các rối loạn cảm xúc, cụ thể là rối loạn lo âu và rối loạn trầm cảm ở nạn nhân dựa trên các kết quả nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam Bài viết đã tổng hợp các nghiên cứu được xuất bản trong khoảng 10 năm trở lại đây, chúng tôi đã tổng hợp
và chọn lọc được tất cả 28 nghiên cứu đã được công bố có liên quan trực tiếp đến lạm dụng lời nói và mối quan hệ của trải nghiệm này với rối loạn cảm xúc ở nạn nhân Kết quả cho thấy lạm dụng bằng lời nói thường đi kèm với các hình thức lạm dụng khác (ví dụ như lạm dụng thể chất và lạm dụng tình dục), trải nghiệm bị lạm dụng bằng lời nói góp phần gây nên rối loạn trầm cảm và rối loạn lo âu ở nạn nhân.
Từ khóa: lạm dụng bằng lời nói, rối loạn lo âu, rối loạn trầm cảm, rối loạn
cảm xúc
* Contact: phpi1881@gmail.com
Trang 2VERBAL ABUSE IN FAMILY SETTINGS AND EMOTIONAL DISORDERS IN VICTIMS: RESEARCH OVERVIEW Abstract
Verbal abuse is the use of words or remarks that cause distress, humiliation, humiliation, threats, or lack of respect for another person Verbal abuse is open or hidden, the evidence of this behavior may not be as clear as other forms of abuse, but the victim still has trauma, which is a risk for more serious mental health problems Based on study findings from across the world and
in Vietnam, this paper examines the link between verbal abuse experiences
in the family and emotional disorders, especially anxiety disorders and depressive disorders in victims The paper summarizes 28 studies published
in the last ten years The findings demonstrate that verbal abuse is frequently occurring with other types of abuse (e.g., physical or sexual abuse), verbal abuse experiences contribute to the victim’s depression and anxiety disorders.
Keywords: verbal abuse, anxiety disorder, depressive disorder, emotional
disorders
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Trên thế giới, theo thống kê có khoảng 40 triệu trẻ em bị lạm dụng mỗi năm với các hình thức như bỏ bê, lạm dụng thể chất, lạm dụng cảm xúc, lạm dụng tình dục, v.v (Butchart & Harvey, 2006) Một trong những hình thức lạm dụng đó là lạm dụng bằng lời nói, hình thức lạm dụng này có thể có ảnh hưởng lớn hơn đến tâm lý của nạn nhân khi đặt trong so sánh với lạm dụng thể chất hoặc lạm dụng tình dục (Gadit, 2011; Tencer, 2002)
Lạm dụng bằng lời nói được xem như một trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu Theo CDC (2010), trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu bao gồm lạm dụng lời nói, thể chất hoặc tình dục, cũng như rối loạn chức năng gia đình Lạm dụng bằng lời nói là một hình thức lạm dụng về mặt cảm xúc hoặc lạm dụng về mặt tâm lý nhằm gây ra sự sỉ nhục, gièm pha hoặc sự sợ hãi tột độ theo nhận thức của nạn nhân (Teicher & Samson, 2013; Sharon, 2015) Lạm dụng bằng lời nói là việc sử dụng ngôn ngữ xúc phạm, tiêu cực
để làm tổn thương người khác Lạm dụng bằng lời nói có thể ẩn chứa sự
Trang 3gây hấn, thường thông qua những lời lăng mạ được ngụy trang dưới dạng nhận xét quan tâm Lạm dụng bằng lời nói có thể công khai hoặc giấu diếm, nhưng nó luôn liên quan đến việc kiểm soát và thao túng nạn nhân (Sharon, 2015) Lạm dụng bằng lời nói được định nghĩa là bất kỳ lời nói hoặc nhận xét nào nhằm mục đích gây ra sự đau khổ, hạ thấp, sỉ nhục, đe dọa hoặc thiếu tôn trọng một cá nhân (Brennan, 2001; Howells-Johnson, 2000), dẫn đến cảm giác tự ti, vô giá trị và lòng tự trọng bị hạ thấp, mục tiêu thấp (Goldberg & Goldstein, 2000) Trong phạm vi bài viết này, nạn nhân của lạm dụng bằng lời nói trong gia đình là những người đã từng có trải nghiệm bị lạm dụng bằng lời nói trong khoảng thời thơ ấu ở quá khứ hoặc đang bị lạm dụng bằng lời nói trong hiện tại gây ra bởi cha mẹ hoặc người chăm sóc Các nghiên cứu đã cho thấy tính chất dai dẳng và cảm nhận chủ quan của trẻ đối với hành vi lạm dụng Ví dụ, theo nghiên cứu của Huong Thanh Nguyen & cộng sự (2010), gần như tất cả trẻ được hỏi đều đã từng bị bố mẹ la mắng, hành vi lạm dụng bằng lời nói có được trẻ coi là ngược đãi hay không còn có phần tùy thuộc vào sự nhận diện, cảm nhận chủ quan của trẻ Ví dụ, theo Ney & cộng sự (1986), có những trẻ tin rằng hành vi lạm dụng bằng lời nói của cha mẹ là do lỗi của trẻ.
Quan niệm về hành vi lạm dụng nói chung và lạm dụng bằng lời nói nói riêng cũng có những khác biệt ở những nền văn hóa khác nhau Ví
dụ, một nghiên cứu tại Tây Ban Nha cho thấy lạm dụng lời nói trong các gia đình gốc Tây Ban Nha là phổ biến Khi đưa ra định nghĩa về lạm dụng bằng lời nói, một trong những khách thể nghiên cứu là phụ nữ gốc Tây Ban Nha nói rằng, “đây là điều bình thường trong một gia đình gốc Tây Ban Nha, không có gì sai” Điều này đã đặt ra một câu hỏi đối với các kết quả nghiên cứu, bởi khi tồn tại quan niệm điều này dường như là bình thường như vậy, mọi người sẽ không báo cáo về lạm dụng bằng lời nói (Lani, 2018) Lạm dụng bằng lời nói cũng được được chấp nhận về mặt văn hóa trong xã hội Trung Quốc (Ji & Finkelhor, 2015) và được chỉ ra bởi những câu tục ngữ, chẳng hạn như “đánh và mắng là biểu tượng của tình
yêu thương” (“beating and scolding are an emblem of love”) và “roi vọt làm một đứa con ngoan ngoãn” (“the rod makes an obedient son”) Các giá trị
văn hóa truyền thống bắt nguồn từ các nguyên tắc Nho giáo đòi hỏi con cái để bày tỏ lòng hiếu thảo và sự kính trọng với người lớn tuổi Trẻ bị coi
là “ngang tàng” hoặc “không vâng lời” khi không tuân thủ hướng dẫn của
Trang 4cha mẹ hoặc không đáp ứng được mong đợi của cha mẹ Trong các tình huống, trừng phạt thể chất và lạm dụng lời nói được sử dụng rộng rãi như một hình thức kỷ luật, được coi là “cần thiết” để nuôi dạy con cái, và được coi là một dấu hiệu cho thấy sự quan tâm chăm sóc của cha mẹ (Ni, 2018; Zhu & Tang, 2011) Các bậc cha mẹ không do dự thừa nhận hành vi ngược đãi con cái của họ, có thể cho thấy điều đó là bình thường hóa ở Trung Quốc (Ni & cộng sự , 2017) Hay một ví dụ khác là ở Thái Lan, lạm dụng thể chất trẻ em được chấp nhận như một phương pháp truyền thống để kỷ
luật trẻ em Có một câu tục ngữ cổ của Thái Lan, “Nếu bạn yêu con bò của bạn, hãy buộc nó lại; nếu bạn thương con, đánh chúng” (“If you love your
cow, tie it up; if you love your child, beat them”) Câu tục ngữ nêu gương văn hóa tín ngưỡng và các giá trị khuyến khích lạm dụng và bảo tồn việc
sử dụng nó của văn hóa Thái (Rerkswattavorn, 2019)
Nghiên cứu hiện tại cho thấy rằng lạm dụng bằng lời nói có thể có ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của nạn nhân (Gadit, 2011; Tencer, 2002) Không chỉ có vậy, mức độ ảnh hưởng là nhiều so với lạm dụng thể chất hoặc tình dục (Vissing & cộng sự, 1991) Di chứng về sức khỏe tâm thần của việc tiếp xúc với lạm dụng lời nói bởi cha mẹ tương đương với lạm dụng tình dục không do gia đình và chứng kiến bạo lực gia đình (Choi & cộng sự, 2009) Trong một nghiên cứu trường diễn, 80% thanh niên bị lạm dụng lời nói đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán cho ít nhất một rối loạn tâm thần ở độ tuổi 21 (Leslie & cộng sự, 2010)
Với một đứa trẻ, việc mắng chửi, chế giễu có thể sẽ không gây nên những phản ứng tức thời như lạm dụng thể chất Tuy nhiên, hệ quả để lại lại nghiêm trọng hơn Theo thời gian, trẻ giảm lòng tự trọng, sự tự tin
ở cả hiện tại và tương lai (Thomason, 2018) Việc cha mẹ sử dụng những lời lăng mạ và chỉ trích có thể gây ra các vấn đề hướng nội ở tuổi vị thành niên bằng cách ảnh hưởng đến sự phát triển của cách nhận thức tự đánh giá về bản thân với cái nhìn tiêu cực về bản thân (Sachs-Ericsson & cộng
sự, 2006; Miller-Perrin, Perrin, & Kocur, 2009; Ney, Moore, McPhee, & Trought, 1986) Thanh thiếu niên có thể có sự nhận thức tiêu cực về bản thân do những gì mà người chăm sóc nói về các em (ví dụ: “Con thật ngu ngốc”); điều này có thể khiến các em cảm thấy mình vô dụng và thật sự kém cỏi (Sachs Ericsson & cộng sự, 2006)
Trang 5Bài viết này được thực hiện với mong muốn cung cấp một bức tranh thực trạng mối quan hệ giữa trải nghiệm bị lạm dụng bằng lời nói và rối loạn cảm xúc ở nạn nhân qua các nghiên cứu đã được công bố, từ đó góp phần nâng cao hiểu biết về vấn đề này, cũng như đưa ra một số khuyến nghị cho các nghiên cứu trong tương lai.
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này tổng hợp công trình nghiên cứu đã xuất bản trong vòng 10 năm trở lại đây (2011-2021), với những nội dung liên quan đến lạm dụng bằng lời nói và rối loạn cảm xúc nhằm tìm hiểu thực trạng lạm dụng lời nói trên thế giới và Việt Nam Các từ khóa được sử dụng để tìm
kiếm là: “Adverse childhood experiences, childhood trauma, childhood abuse, child abuse, verbal abuse, emotional abuse, psychological abuse, anxiety disorder, depression, emotional problems, emotional disorder, emotional distress, psychological problems, internalizing problems, mental health, mental illness, mental disorder, consequences of child abuse, lạm dụng, lạm dụng cảm xúc, bạo lực gia đình, bạo hành trẻ, sức khỏe tâm thần của trẻ, vấn đề hướng nội, vấn đề cảm xúc, trầm cảm, lo âu” trong cơ sở dữ
liệu Google Scholar Cách tìm kiếm là cộng gộp hai thành phần: (1) các từ khóa liên quan đến lạm dụng bằng lời nói, (2) các từ khóa liên quan đến rối loạn cảm xúc
Sau khi tìm kiếm, chúng tôi đã tổng hợp và chọn lọc được tất cả 28 bài báo đã được công bố liên quan trực tiếp đến lạm dụng lời nói và mối quan
hệ của trải nghiệm này với rối loạn cảm xúc ở nạn nhân Các bài báo đều được xem trước và được chọn đưa vào tổng quan này dựa trên các tiêu chí: (1) bài báo được xuất bản trong 10 năm trở lại đây (2011-2021), (2) bài báo được viết bằng ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt, (3) bài báo có kết quả cho thấy mối quan hệ trực tiếp giữa trải nghiệm bị lạm dụng bằng lời nói (gây ra bởi cha mẹ hoặc người chăm sóc) trong gia đình với rối loạn trầm cảm và/hoặc lo âu ở nạn nhân, (4) bài báo được xuất bản trên các tạp chí khoa học, luận văn, luận án trong và ngoài nước, (5) nạn nhân của lạm dụng bằng lời nói trong gia đình được đề cập trong bài báo là những người đã từng có trải nghiệm bị lạm dụng lời nói trong quá khứ hoặc đang trải nghiệm lạm dụng lời nói trong hiện tại bởi cha mẹ hoặc người chăm sóc, (6) thiết kế nghiên
Trang 6cứu: nghiên cứu tương quan hoặc nghiên cứu nhân quả Các bài báo được loại trừ không đưa vào bài viết này nếu: (1) những nghiên cứu không đề cập đến lạm dụng lời nói hoặc những hình thức lạm dụng khác (cảm xúc, tâm lý,…) không bao gồm trong đó hình thức lạm dụng bằng lời nói, những rối loạn khác không phải là rối loạn trầm cảm và lo âu, (2) thiết kế nghiên cứu: các nghiên cứu tổng quan, (3) hình thức lạm dụng bằng lời nói được nghiên cứu diễn ra trong bối cảnh không phải trong gia đình, người gây lạm dụng không phải là cha mẹ hoặc người chăm sóc.
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông qua tìm kiếm, tổng hợp 28 nghiên cứu liên quan, kết quả từ các nghiên cứu cho thấy:
Thứ nhất, về mẫu nghiên cứu, các nghiên cứu đã được tiến hành trên các nhóm mẫu đa dạng, từ mẫu cộng đồng cho đến mẫu lâm sàng, ở các lứa tuổi khác nhau, với nhiều tình trạng khác nhau Chẳng hạn, xét về mẫu trong cộng đồng, các nghiên cứu đã thu thập dữ liệu trên các nhóm với lứa tuổi khác nhau như trẻ vị thành niên, thanh thiếu niên, người trưởng thành Đối với mẫu lâm sàng, một số nghiên cứu đã thu thập dữ liệu trên nhóm bệnh nhân có vấn đề về sức khỏe tâm thần, chẳng hạn như nghiện chất, có các rối loạn trầm cảm, v.v Không chỉ có vậy, trong các nghiên cứu đó còn thu thập dữ liệu từ những người khỏe mạnh và tiến hành so sánh với nhóm lâm sàng Một số nhóm ở tình trạng khác cũng được tìm hiểu qua các nghiên cứu, chẳng hạn như bệnh nhân trước phẫu thuật béo
phì, phụ nữ mang thai, sau sinh, người có thu nhập thấp, v.v (xem thêm bảng 1).
Thứ hai, về mặt phương pháp đa số các nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, cụ thể là điều tra bằng bảng hỏi, thang đo (27/28 nghiên cứu) bởi phương pháp này đơn giản, dễ khái quát vấn đề, mang tính chủ động cao, có thể điều tra được trên diện rộng về mặt địa lý và một số lượng lớn khách thể nghiên cứu trong thời gian ngắn Ngoài ra, có 1/28 nghiên cứu có sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính như phỏng vấn sâu cùng kết hợp cùng phương pháp điều tra bảng hỏi
Thứ ba, lạm dụng bằng lời nói thường đi kèm với các hình thức lạm dụng khác (ví dụ như lạm dụng thể chất và lạm dụng tình dục), làm tăng
Trang 7thêm khó khăn cho nạn nhân khi cố gắng tìm người để được trợ giúp, để báo cáo về việc bị lạm dụng bằng lời nói, sự khác biệt về mặt văn hóa giữa các nước cũng là một điểm hạn chế lớn khi lạm dụng bằng lời nói cũng được coi là hành vi bình thường, được chấp nhận trong văn hóa của một
số quốc gia Rất ít trẻ bị đánh đập mà không chịu sự mắng nhiếc của cha mẹ (Wang & Kenny, 2014) Lạm dụng bằng lời nói có thể khó xác định
và đánh giá tác động, nhưng nó được cho là nhiều hơn phổ biến hơn lạm dụng thể chất (Bennetts, 2006; Hutchinson & Mueller, 2008) và có hậu quả lâu dài hơn bất kỳ hình thức lạm dụng nào khác Nghiên cứu của Sachs-Ericsson, Kendall và Taylor (2011) các mẫu nghiên cứu cho thấy 4% báo cáo lạm dụng tình cảm, 2,6% báo cáo lạm dụng thể chất và 2,4% bị lạm dụng tình dục Lạm dụng bằng lời nói có thể trở thành một hình thức kiểm soát và kỷ luật trẻ em ngày càng thường xuyên do nhận thức về lạm dụng thân thể ngày càng gia tăng Lạm dụng bằng lời nói có thể có tác động lớn hơn vì trẻ bị lạm dụng gặp khó khăn hơn trong việc tự vệ
Thứ tư, những đứa trẻ là nạn nhân của lạm dụng có nguy cơ phát triển các triệu chứng vấn đề sức khỏe tâm thần như rối loạn stress sau sang chấn, rối loạn nhân cách ranh giới, ái kỷ, rối loạn ám ảnh cưỡng bức, rối loạn nhân cách hoang tưởng, lòng tự trọng thấp, rối loạn lo âu, và trầm cảm (Bennetts, 2006; Brennan, 2001; Choi & cộng sự, 2009; Polcari & cộng
sự, 2014; Teicher & cộng sự, 2006; Teicher & cộng sự, 2010; Tomada & cộng sự, 2011) Các nghiên cứu cho thấy trải nghiệm bị lạm dụng về lời nói liên quan đến rối loạn cảm xúc như rối loạn trầm cảm và rối loạn lo âu
ở người bị lạm dụng (xem thêm bảng 1) Cụ thể, sự sỉ nhục là một yếu tố
dự báo trầm cảm (Collazzoni, 2015) Nạn nhân có thể ngày càng trở nên nhạy cảm với các mối đe dọa xã hội và có các dấu hiệu lo âu (Collazzoni, 2014) Những người từng bị lạm dụng bằng lời nói khi còn nhỏ sẽ tự phê bình bản thân nhiều hơn khi trưởng thành và dễ mắc các rối loạn trầm cảm và lo âu hơn 1,6 lần những người không bị lạm dụng (Sachs-Ericsson
& cộng sự, 2006) Những người trong nhóm bị lạm dụng bằng lời nói có mức độ lo âu, trầm cảm, buồn và tức giận cao hơn những người không có trải nghiệm này 48% nạn nhân của lạm dụng lời nói có tiền sử rối loạn cảm xúc và 24% có tiền sử rối loạn lo âu (Tomoda, 2011) Những người
bị lạm dụng lời nói có khả năng bị rối loạn lo âu cao hơn 6.57 lần so với những người không bị lạm dụng lời nói (Thomason, 2018) Thanh thiếu
Trang 8niên bị mẹ lạm dụng bằng lời nói ở mức độ cao cho thấy ở các em có nhiều triệu chứng trầm cảm hơn, không phân biệt giới tính hoặc trạng thái kinh
tế xã hội (Donovan & Brassard, 2011; Moore & Pepler, 2006) Một nghiên cứu đã báo cáo rằng những người bị trầm cảm có khả nguy cơ bị lạm dụng bằng lời nói trong 12 tháng cao gấp ba lần so với những người không bị lạm dụng (DiClemente, 2005) Trầm cảm cũng đóng vai trò như một dấu hiệu cảnh báo các vấn đề sức khỏe tâm thần khác đi kèm như thấp lòng tự trọng, tự đánh giá về hình ảnh của bản thân thấp, có các hành vi chống đối
xã hội và tự tử (DiClemente, 2005; Hardt, Johnson, Courtney, & Sareen, 2006) Rối loạn trầm cảm thường liên quan đến ý định tự tử và cố gắng tự
tử đặc biệt là ở tuổi vị thành niên (Sternberg, 1993) Do đó, khi làm việc với bệnh nhân có rối loạn cảm xúc như trầm cảm, nhà chuyên môn cần đánh giá đầy đủ tiền sử của người đó với thông tin về các vấn đề về mối quan hệ và các trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu của người đó, bởi vì những vấn đề này có thể đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của hành vi trầm cảm và tự sát của bệnh nhân Một người bị lạm dụng bằng lời nói có thể tiềm ẩn sự bất lực, tuyệt vọng và sự ức chế dai dẳng, có thể dẫn đến ý định tự tử (Hardt, 2006)
Ngoài ra, so sánh mối quan hệ giữa trải nghiệm bị lạm dụng bằng lời nói và rối loạn cảm xúc ở nạn nhân, nghiên cứu của Gibb (2003) cho thấy lạm dụng cảm xúc thời thơ ấu có liên quan nhiều hơn đối với các triệu chứng và chẩn đoán trầm cảm hơn là các triệu chứng của rối loạn lo âu
IV KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Qua đó, các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy trải nghiệm bị lạm dụng về lời nói có thể là nguy cơ tiềm ẩn góp phần phát triển rối loạn cảm xúc như rối loạn trầm cảm và rối loạn lo âu ở nạn nhân Tuy nhiên, qua việc tìm kiếm, thu thập và tổng hợp tài liệu, số lượng nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam còn hạn chế
Các kết quả nghiên cứu trước đây cho thấy rằng cần có thêm những nghiên cứu tìm hiểu về vai trò của lạm dụng trong sự phát triển và duy trì các rối loạn cảm xúc như rối loạn lo âu và trầm cảm Đi kèm với đó,
để tìm hiểu mối quan hệ nhân quả, các nghiên cứu trường diễn cũng cần được thực hiện để có thể tìm ra được các yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ
Trang 9ảnh hưởng đến mối quan hệ này Điều này rất cần thiết và quan trọng bởi kết quả nghiên cứu sẽ mang lại đóng góp có ý nghĩa cho quá trình hỗ trợ rối loạn cảm xúc ở những người đã từng có trải nghiệm bị lạm dụng Ngoài ra, lạm dụng trẻ em là vấn đề toàn cầu và có nguồn gốc sâu xa từ văn hóa, kinh tế, tập quán/chuẩn mực xã hội Do đó để giải quyết vấn đề này đòi hỏi chúng ta phải hiểu rõ về hành vi này trong các bối cảnh văn hóa, môi trường khác nhau cũng như các nguyên nhân và hệ quả của hành
vi đó trong các bối cảnh văn hóa, môi trường này (Runyan, 2002) Về mặt phương pháp, các nghiên cứu có thể cân nhắc sử dụng thêm các phương pháp thu thập dữ liệu định tính để khai thác sâu hơn các trải nghiệm bị lạm dụng
Như đã trình bày ở trên, các hình thức lạm dụng nói chung và lạm dụng bằng lời nói nói riêng của bố mẹ/người chăm sóc đối với trẻ có thể diễn ra dai dẳng trong quá khứ, đây là một trong những yếu tố liên quan đến sự xuất hiện của rất nhiều những rối loạn về mặt cảm xúc và các vấn
đề sức khỏe tâm thần khác ở trẻ khi trưởng thành Hạn chế của bài viết này nằm ở phạm vi về nội dung chỉ tập trung vào mối quan hệ giữa lạm dụng bằng lời nói trong gia đình, trải nghiệm bị lạm dụng bằng lời nói chỉ
là một trong số các yếu tố dự báo dẫn đến các khó khăn/rối loạn đó Các nghiên cứu đã cho thấy có rất nhiều biến số khác dự báo cho sự xuất hiện của các vấn đề sức khỏe tâm thần nói chung và các rối loạn cảm xúc nói riêng không được đề cập tới trong bài viết này Nghiên cứu trước đây đã cho thấy có nhiều yếu tố nguy cơ khác đối với sức khỏe tâm thần, chẳng hạn như vấn đề gen, các vấn đề về sức khỏe thể chất hoặc tâm thần của trẻ hoặc thành viên trong gia đình, trải nghiệm bạo lực, lạm dụng và bỏ bê, những khiếm khuyết/khó khăn trong môi trường tâm lý xã hội hoặc giáo dục, sử dụng chất, v.v (Kieling & cộng sự, 2011)
Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trường Đại học Giáo
dục, với đề tài mã số QS.NH.21
Trang 10Bảng 1
Phương pháp nghiên cứu
Mức độ bị lạm dụng bằng lời nói tương quan thuận với mức độ vấn đề hướng nội (bao gồm trầm cảm, lo âu)
Wang & Kenny