Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu sự phát triển hình ảnh bản thân (HABT) của vị thành niên sống trong trung tâm bảo trợ xã hội trong giai đoạn từ tháng 02/2017 đến tháng 3/2019 thông qua hai trường hợp điển hình. Mời các bạn tham khảo!
Trang 1SỰ PHÁT TRIỂN HÌNH ẢNH BẢN THÂN CỦA
VỊ THÀNH NIÊN SỐNG TRONG TRUNG TÂM
BẢO TRỢ XÃ HỘI – NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP
Nguyễn Hồng Xuân Nguyên1, Kiều Thị Thanh Trà*1
Tóm tắt
Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu sự phát triển hình ảnh bản thân (HABT) của vị thành niên sống trong trung tâm bảo trợ xã hội trong giai đoạn từ tháng 02/2017 đến tháng 3/2019 thông qua hai trường hợp điển hình Trong nghiên cứu này, sự phát triển HABT được đánh giá trên ba chiều kích, bao gồm nội dung, cấu trúc và tính chất của HABT bằng cách sử dụng các công cụ tương ứng là trắc nghiệm TST (Manfred Kuhn & Thomas McPartland; dẫn theo Nguyễn Thị Phương Hoa, 2016), thang đo cấu trúc HABT của Singelis (Singelis, 1994) và trắc nghiệm tranh vẽ Draw a story (Silver, 2007) Trường hợp thứ 1 cho thấy quá trình phát triển HABT một cách mạnh mẽ, nỗ lực khắc phục nghịch cảnh, khó khăn bên ngoài và bên trong, khẳng định HABT một cách rõ nét và tràn đầy năng lượng Ngược lại, trường hợp thứ 2 lại cho thấy sự phát triển một sơ đồ kém thích nghi, xu hướng trốn chạy thực tại bằng cách khép kín bản thân, thoả mãn nhu cầu qua những mộng tưởng trong quá trình xây dựng HABT Kết quả phân tích
2 trường hợp này đã minh hoạ cho hai khuynh hướng phát triển đối lập về HABT của vị thành niên sống trong trung tâm bảo trợ xã hội và cho phép gợi
ý một số định hướng nghiên cứu tiếp theo về đặc điểm nhân cách của nhóm khách thể này.
Từ khoá: sự phát triển, hình ành bản thân, vị thành niên sống trong trung
tâm bảo trợ xã hội, nghiên cứu trường hợp
1 Trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 2THE DEVELOPMENT OF SELF-IMAGE AMONG
ADOLESCENTS IN SOCIAL CENTER – A CASE STUDY Abstract
The article aimed to identify the development of self-image among adolescents living in social centers from February 2017 to March 2019 through two typical cases In this study, the development of self-image was assessed through three dimensions, including the content, structure and properties of self-image by using the TST test (Manfred Kuhn & Thomas McPartland; according to Nguyen Thi Phuong Hoa, 2016), the Singelis scale (Singelis, 1994) and the Draw a story drawing test (Silver, 2007) The 1 st case showed a strong and positive self-image’s development In contrast, the 2 nd case presented the development of a maladaptive self-image The analysis
of these two cases illustrated 2 opposing trends in self-image’s development among adolescents living in social centers and also suggested some directions for further research on personality among these specific subjects 1
Keywords: development, self-image, adolescents in social center, case study
I ĐẶT VẤN ĐỀ
HABT và sự phát triển HABT (như một thành tố của nhân cách) đã được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Vào nửa đầu thế kỷ XX, Sullivan
đã dùng khái niệm sự nhân cách hóa để nói về hình ảnh bản thân Ông cho rằng khi đứa trẻ phát triển ngày càng tăng các dạng thức kinh nghiệm phức tạp hơn để ứng phó với môi trường xung quanh, đồng thời chúng cũng đang phát triển các kiểu kỳ vọng của xã hội Mỗi kiểu kỳ vọng được học tập lúc đầu được đặc trưng cho cho một cá nhân được gọi là sự nhân cách hóa lại cá nhân đó Một sự nhân cách hóa quan trọng đặc biệt là bản thân và HABT là sự hợp nhất “cái tôi” tốt, “cái tôi” xấu và không phải
“cái tôi” (Sullivan, 1949) Theo Rogers, Kuiper và Kirker (1977), HABT là hình ảnh trong tâm trí tương đối khó thay đổi, bao gồm những đặc điểm
mà người khác có thể nhận biết dựa trên những suy nghĩ, đánh giá của người khác về cá nhân và những đặc điểm do cá nhân đó tự nhận ra về bản
1 Liên hệ: kieuthithanhtra@gmail.com
Trang 3thân thông qua những trải nghiệm của mình hoặc chiêm nghiệm những đánh giá của người khác (Roger, Kuiper, & Kirker, 1977) Bàn về HABT, Sharma cho rằng HABT là sự nhận thức của cá nhân về chính mình, là những suy nghĩ về bản thân được hình thành qua năm tháng Những nhận thức về bản thân đó có thể mang màu sắc rất tích cực, giúp cá nhân cảm thấy tự tin trong suy nghĩ và hành động, nhưng HABT cũng có thể trở nên tiêu cực, làm cho cá nhân cảm thấy nghi ngờ về khả năng và ý nghĩ của mình (Sharma, 2008) Tương tự, Maltz quan niệm HABT là cách thức
cá nhân khái niệm hóa trong tâm trí về kiểu dạng bản thân là người như thế nào Mỗi cá nhân đều vẽ bức tranh tâm thần về bản thân mình và bức tranh này có khuynh hướng ổn định theo thời gian (Maltz, 2008)
Dưới góc độ phát triển, Montemayor và Eisen (1977) đã mô tả những thay đổi về HABT ở trẻ từ 10 đến 18 tuổi, cụ thể: một số nội dung trong hình ảnh bản thân giảm đi cùng tuổi tác như hành động, thích hay không thích, đặc điểm thể chất, ngoại hình, giới tính, vật sở hữu,…; ngược lại, một số nội dung được mô tả ngày càng nhiều theo độ tuổi bao gồm vai trò,
vị trí của cá nhân trong gia đình, mối quan hệ liên cá nhân, phong cách cá nhân, niềm tin, tính cách,… (Montemayor, & Eisen, 1977) Theo tiến trình phát triển, HABT của cá nhân sẽ được hình thành từ ngoài vào trong, tức HABT liên cá nhân sẽ được hình thành trước rồi mới đến HABT nội cá nhân Ban đầu, các em dựa vào đánh giá của người khác (đặc biệt là những người có uy tín, gần gũi với các em), dần dần các em sẽ hình thành khả năng độc lập, phân tích và đánh giá bản thân Một HABT trọn vẹn là khi
có sự cân bằng, thống nhất giữa bên ngoài và bên trong, giữa HABT nội cá nhân và HABT liên cá nhân Bên cạnh đó, HABT của cá nhân có thể thay đổi theo hướng tích cực – lành mạnh hoặc tiêu cực – không lành mạnh Theo Hu và Yang (1999), HABT tích cực nhấn mạnh sự tự chấp nhận đối với cả những ưu điểm và hạn chế của bản thân, mong muốn phát huy ưu điểm và khắc phục hạn chế, thể hiện lòng tự tôn (self-esteem) và khẳng định được bản sắc cũng như giá trị cá nhân HABT tiêu cực phản ánh suy nghĩ thua kém, thất bại của cá nhân khi luôn luôn so sánh bản thân với người khác, không xác định được giá trị cũng như bản sắc phù hợp với nhân cách của chính mình Khuynh hướng phát triển hình ảnh bản thân đặc biệt quan trọng ở giai đoạn vị thành niên vì nó gần như ảnh hưởng đến cấu thành nhân cách cũng như toàn bộ đời sống tâm lý – xã hội của
Trang 4cá nhân sau này Khuynh hướng này chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm cả chủ quan lẫn khách quan; đồng thời, có thể có nhiều xáo trộn trong giai đoạn vị thành niên (Hattie, 1992; Markus & Kitayama, 1991)
Kết quả nghiên cứu về sự phát triển HABT trên 31 vị thành niên sống trong TTBTXH trên địa bàn TP HCM trong giai đoạn 2017-2019 ghi nhận một số chuyển biến tích cực, tuy nhiên, có sự không đồng nhất, trong đó, một nhóm vị thanh niên cho thấy khuynh hướng tích cực rõ rệt cả về nội dung, cấu trúc lẫn tính chất HABT, nhóm còn lại không ghi nhận nhiều thay đổi trong quá trình phát triển HABT sau 2 năm (Nguyễn Hồng Xuân Nguyên, 2019)
Với bài viết này, chúng tôi cung cấp kết quả nghiên cứu sự phát triển HABT trong 2 năm của 2 trường hợp bao gồm một trẻ nam 18 tuổi sống tại Mái ấm Ánh sáng Nam (quận 10, TP HCM) và một trẻ nữ 15 tuổi sống tại Trung tâm bảo trợ xã hội Hóc Môn (huyện Hóc Môn, TP HCM) nhằm minh hoạ cho hai khuynh hướng phát triển HABT của vị thành niên sống trong TTBTXH trên địa bàn TP HCM, trong đó, 1 trường hợp đại diện cho
sự phát triển tích cực về HABT, 1 trường hợp đại diện cho khuynh hướng ngược lại Hai trường hợp minh hoạ này có thể giúp cung cấp cái nhìn cụ thể hơn về tính không đồng nhất trong tiến trình phát triển HABT của vị thành niên sống trong TTBTXH, đồng thời cho phép gợi ý một số định hướng nghiên cứu tiếp theo về đặc điểm nhân cách của nhóm khách thể này
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong nghiên cứu này, phương pháp nghiên cứu trường hợp được sử dụng như phương pháp nghiên cứu chủ đạo Thông qua quá trình nghiên cứu hồ sơ và trao đổi với người quản lý và khách thể, được sự đồng ý của khách thể, nhóm nghiên cứu lựa chọn 1 em nam (T.) sinh năm 2001 đến
từ Mái ấm Ánh Sáng Nam (Quận 10) và 1 em nữ (B.) sinh năm 2004 đến
từ trung tâm bảo trợ xã hội Hóc Môn Tuy có khác nhau về quy mô và tổ chức trực thuộc, nhưng chức năng và hoạt động của hai trung tâm đều như nhau Phần lớn trẻ ở các trung tâm là những trẻ em bị bỏ rơi từ khi mới sinh ra hoặc gia đình quá khó khăn, không đủ điều kiện để nuôi dưỡng, trẻ lang thang, cơ nhỡ, Các trung tâm đều có cùng nhiệm vụ, đó là tổ chức hoạt động phục hồi chức năng: lao động sản xuất, trợ giúp các em trong
Trang 5các hoạt động: tự quản, văn hóa, thể thao và các hoạt động khác phù hợp với lứa tuổi và sức khỏe của từng em và phối hợp với các cơ quan, đơn vị
để dạy văn hóa, dạy nghề, giáo dục hướng nghiệp nhằm các em phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, nhân cách, tạo điều kiện cho các em hồi gia (nếu còn gia đình), hoặc vào đời, sống tự lập khi đến tuổi lao động Ở trung tâm, các em sinh hoạt cùng nhau như các thành viên trong gia đình, mọi sinh hoạt và cách xưng hô giữa các em giống như một gia đình thật sự Ngoài thời gian học ở trường và sinh hoạt ở trung tâm, các em còn được các thầy cô tổ chức đi dã ngoại vào các dịp lễ, tết, tham gia các lớp học kỹ năng (học kỳ quân đội hè, trại hè lính cứu hoả,…)
Trong nghiên cứu này, sự phát triển HABT của khách thể được đánh giá trên ba chiều kích, bao gồm nội dung, cấu trúc và tính chất của HABT với các công cụ tương ứng lần lượt là trắc nghiệm TST (Kuhn, & McPartland; dẫn theo Nguyễn Thị Phương Hoa, 2016), thang đo cấu trúc HABT của Singelis (Singelis, 1994) và trắc nghiệm tranh vẽ Draw a story (Silver, 2007) ở hai thời điểm: tháng 02/2017 và tháng 3/2019
a Trắc nghiệm TST (Twenty Statements Test) (Kuhn, & McPartland;
dẫn theo Nguyễn Thị Phương Hoa, 2016)
TST là công cụ do Kuhn và McPartland xây dựng được sử dụng để nghiên cứu về nội dung cái tôi và HABT TS0T là trắc nghiệm dễ thực hiện,
về cơ bản là tương đối phù hợp với các nền văn hóa và không đòi hỏi phải chỉnh sửa, thích nghi (dẫn theo Nguyễn Thị Phương Hoa, 2016) Tùy theo mục đích và đối tượng nghiên cứu, hướng dẫn thực hiện trắc nghiệm có thể được điều chỉnh cho phù hợp Đồng thời, nghiệm thể không bắt buộc
phải viết đủ 20 mệnh đề Trong nghiên cứu này, nghiệm thể được yêu cầu
viết 10 câu về bản thân, bắt đầu bằng “Tôi” hoặc “Tôi là” Người nghiên cứu chỉ yêu cầu viết 10 câu để nghiệm thể tập trung hơn và không mất quá nhiều thời gian Trong quá trình thực hiện, nghiệm thể được hướng dẫn không cần phải suy nghĩ quá lâu, mà hãy viết ngay những suy nghĩ xuất hiện trong đầu
Nội dung HABT của vị thành niên sống trong trung tâm bảo trợ xã hội thông qua trắc nghiệm TST được xem xét trên hai khía cạnh: định tính
và định lượng, cụ thể:
Trang 6• Định tính: các câu trả được đánh giá theo các nhóm nội dung
(Nguyễn Thị Phương Hoa, 2016):
Bảng 1 Bảng mô tả cách đánh giá về mặt nội dung trắc nghiệm TST
Nội dung
không có giá trị Gồm những câu hiển nhiên sai, không phù hợp, câu vô nghĩa (ví dụ: Tôi là con cá, Tôi là quạt máy, Tôi là cha là mẹ,…)
Bản sắc
không rõ ràng
Gồm những câu chung chung như: Tôi là người; Tôi đang
viết,…
Đặc điểm
bên ngoài Gồm những câu mô tả về đặc điểm thể chất (tuổi, giới tính, chiều cao, cân nặng…); đánh giá về đặc điểm ngoại hình (xấu
đẹp, cao thấp, béo gầy…) và những thông tin chung nhất (nơi
ở, tên gọi, cung mệnh…).
Khả năng,
năng lực
Gồm những câu mô tả, đánh giá về khả năng, năng lực của
bản thân như: tôi học giỏi/kém môn Hoá; tôi là học sinh giỏi;
biết bơi, biết nấu ăn, …
Hứng thú,
nhu cầu,
mong muốn
Gồm những câu thể hiện sở thích, hứng thú cá nhân (Tôi
thích ăn kem, thích coi phim hoạt hình, thích ca sĩ Sơn Tùng, thích học Văn, ghét học Toán, ); nhu cầu, mong muốn (Tôi muốn có máy tính, muốn cao lớn…).
Kỳ vọng Gồm những câu về mơ ước nghề nghiệp, tham vọng trong
tương lai như: Tôi muốn trở thành bác sĩ, muốn thành đạt và
kiếm được nhiều tiền…
Yếu tố xã hội Bao gồm những câu về một trong ba mặt sau:
a) Vai xã hội (là học sinh, là trẻ em…) b) Nhóm thuộc về (là học sinh lớp 7, là trẻ mồ côi, là một học
sinh trong Mái ấm…).
c) Thứ bậc hay vị thế trong nhóm (là em út; là anh trai; là đại
ca; có nhiều bạn,…).
Xúc cảm –
tình cảm Bao gồm những câu nói về cảm xúc, tình cảm đối với cá nhân cụ thể hoặc cá nhân có hành vi nào đó (yêu mẹ, ghét
ba, ghét bọn con trai trong lớp, ghét người nói xấu mình…),
các cảm nhận mang tính xúc cảm (là người hạnh phúc, người
bất hạnh) và chủ yếu là những câu nói về trạng thái cảm xúc
chung (hay nóng tính, hay cáu gắt…).
Trang 7Nội dung Mô tả
Hành vi, thái độ
thể hiện
tính cách
a) Hành vi: gồm những câu mô tả hành vi thể hiện đặc điểm
bên trong (như Tôi hay cười, ít nói…) và những câu mô tả hành vi ứng xử với người khác (như Tôi hay giúp đỡ người
khó khăn hơn mình, hay trêu chọc bạn bè…)
b) Thái độ: gồm những câu mô tả thái độ của cá nhân trước
các sự vật, sự việc, tình huống cụ thể (như Tôi thích một mình,
không thích chia sẻ, muốn có ý thức hơn, yêu thiên nhiên…).
Tự đánh giá,
định hướng
giá trị
Bao gồm những câu mô tả mang tính tự đánh giá về đặc điểm
nhân cách, cá tính (tôi là người vui tính/thông minh/tự tin/
hòa đồng/ chăm chỉ…); Định hướng giá trị, quan điểm (Tôi ghét sự giả dối/ người láu cá/ hai mặt/ chơi sau lưng…, Tôi phấn đấu vì tương lai của mình,…)
• Định lượng: Nội dung các câu mô tả, nhận định về bản thân được
cho điểm dựa trên quy ước của trắc nghiệm TST như sau:
Bảng 2 Bảng quy ước điểm số nội dung câu trả lời của trắc nghiệm TST
Nội dung câu trả lời Điểm số quy ước
– Nội dung không có giá trị Loại bỏ, không tính điểm – Bản sắc không rõ ràng 0 điểm
– Khả năng, năng lực
– Hứng thú, nhu cầu, mong muốn
2 điểm
– Kỳ vọng
– Yếu tố xã hội
– Xúc cảm – tình cảm
– Hành vi, thái độ thể hiện tính cách
3 điểm
– Tự đánh giá, định hướng giá trị 4 điểm
Khách thể được yêu cầu viết 10 câu TST, vậy tổng điểm tối đa của phần này sẽ là 40 và điểm tối thiểu là 0
Trang 8b Thang đo cấu trúc HABT của Ted Singelis (Singelis, 1994)
Thang đo cấu trúc HABT của Ted Singelis bao gồm 30 item, trong đó
có 15 item về HABT nội cá nhân (ví dụ như “Tôi luôn làm việc của mình bất kể người khác nghĩ gì”) và 15 item về HABT liên cá nhân (ví dụ như
“Tôi cho rằng việc duy trì mối quan hệ với người khác thì quan trọng hơn
là đạt được thành tích cá nhân”) Thang đo này dựa trên tự đánh giá của
khách thể là chủ yếu Khách thể được yêu cầu đọc cẩn thận từng item và đánh dấu vào ô phù hợp với ý kiến của bản thân (hoàn toàn không đồng ý; không đồng ý, không đồng ý một phần; không có ý kiến, đồng ý một phần, đồng ý; hoàn toàn đồng ý) Điểm số được cho tương ứng với từng lựa chọn như sau:
Bảng 3 Bảng quy ước điểm số dựa trên trắc nghiệm Singelis
Điểm số HABT liên cá nhân, HABT nội cá nhân được tính bằng tổng điểm các câu tương ứng
c Trắc nghiệm tranh vẽ Draw a story (DAS) (Silver, 2007).
Trắc nghiệm tranh vẽ Draw a story (DAS) là một công cụ phóng chiếu,
do Rawley Silver xây dựng nhằm nghiên cứu một số đặc điểm nhân cách của khách thể bao gồm: tính chất xúc cảm – tình cảm; tính chất HABT và tính hài hước Trong nghiên cứu này, trắc nghiệm tranh vẽ DAS chỉ được dùng để đánh giá về tính chất HABT của khách thể
Trắc nghiệm DAS bao gồm 14 hình vẽ cho sẵn Khách thể được yêu cầu: – Chọn ít nhất 2/14 hình vẽ cho sẵn và tưởng tượng một câu chuyện xảy ra dựa trên những hình vẽ đã chọn
Trang 9– Vẽ lại bức tranh thể hiện nội dung câu chuyện, khách thể có thể thay đổi các hình vẽ hoặc thêm vào các chi tiết mới
– Viết tóm tắt và đặt tên cho câu chuyện của mình
– Sau khi khách thể hoàn thành, người nghiên cứu tiếp tục trao đổi thêm để làm rõ nội dung hàm ẩn trong tranh và câu chuyện và ghi chép lại Để xác định HABT trong tranh vẽ, người nghiên cứu thảo luận với trẻ để tránh sự phóng chiếu cảm xúc, suy diễn của chính người nghiên cứu lên bức tranh, đây là phần rất cần thiết để làm cơ
sở cho việc phân tích nội dung tranh ở giai đoạn sau
1
4
2
5
3
7
1 1
6
Hình 1 Hình vẽ mẫu trong trắc nghiệm tranh vẽ DAS
Tính chất HABT thể hiện qua trắc nghiệm tranh vẽ DAS được đánh giá như sau (Silver, 2007):
Bảng 4 Bảng mô tả cách đánh giá HABT dựa trên trắc nghiệm DAS
HABT rất tiêu cực
Chủ thể trong bức tranh rất buồn bã, tuyệt vọng, đau khổ, không được giúp đỡ, bị cô lập, tự sát, gặp những mối nguy hại dẫn đến cái chết.
Trang 10Tính chất Tranh vẽ
HABT tiêu cực Chủ thể trong bức tranh sợ hãi, giận dữ, nản lòng, không thỏa mãn, bị đe dọa, kém may mắn. HABT có màu sắc
tiêu cực
Chủ thể trong bức tranh gặp hoàn cảnh không may, khó khăn, hoặc gần như thất bại.
HABT mơ hồ, nước
đôi, hoặc không
được thể hiện
Chủ thể trong bức tranh không rõ cảm xúc, hành vi Hoặc cùng chủ thể nhưng thể hiện tính nước đôi trong tranh vẽ (ví dụ như vừa vui vừa buồn)
HABT có màu sắc
tích cực Chủ thể trong bức tranh có vẻ đạt được mục tiêu dù vẫn tồn tại yếu tố khó khăn, cản trở HABT tích cực Chủ thể trong tranh có vẻ may mắn, hài lòng nhưng ở thế bị động (ví dụ chủ thể đang xem ti vi, đang ăn kẹo,…)
HABT rất tích cực Chủ thể trong tranh tràn đầy năng lượng, đáng ngưỡng mộ, được yêu hay đạt được mục tiêu, ở thế chủ động
trong tình huống được thể hiện trong tranh.
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Kết quả nghiên cứu trường hợp của khách thể T.
3.1.1 Thông tin cá nhân của khách thể T.
Là một trẻ nam, sinh năm 2001, hiện đang sống tại Mái ấm Ánh Sáng Nam (Quận 10) Tại Mái ấm, T được đánh giá rất tích cực, hòa nhập nhanh và thích ứng tốt với Mái ấm và các bạn sống cùng Thời gian T sống tại mái ấm tính đến năm 2019 là 6 năm; đồng thời, giai đoạn 2017-2019 không ghi nhận bất kỳ biến cố hoặc sang chấn tâm lý đáng kể nào ở T Về hoàn cảnh gia đình, em sống ở mái ấm từ năm 12 tuổi Ba mất sớm, mẹ làm nghề mua ve chai, trước khi được đưa vào mái ấm, em cùng mẹ không
có chỗ ở, sống lang thang khắp TP HCM, tá túc ở vỉa hè, công trường xây dựng, khi nào bị dân phòng đuổi thì chạy Em tâm sự rằng được đưa vào mái ấm là sự kiện có ý nghĩa lớn, như một ngã rẽ chính xác của cuộc đời
em, “vì nếu không được sống trong mái ấm, em sẽ không có giấy tờ tùy thân, không được đi học, phải đi làm sớm, và có khi là còn bị bắt vì người ta tưởng
em là bụi đời giang hồ, không có tương lai Nên được vậy rồi thì em phải
ráng học, không được phụ lòng mọi người, kiếm ra tiền đỡ đần cho mẹ,