1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tương quan giữa khoảng nhớ xuôi, khoảng nhớ ngược và các biến nhân khẩu học ở sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

11 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về khoảng nhớ xuôi và khoảng nhớ ngược giữa các nhóm sinh viên theo biến giới tính; có sự khác biệt đáng kể trong khoảng nhớ xuôi của sinh viên giữa khối ngành học tự nhiên và khối ngành xã hội; khoảng nhớ xuôi dự báo 10.2% sự biến thiên của khoảng nhớ ngược. Nghiên cứu này còn một số hạn chế và chúng tôi đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trang 1

TƯƠNG QUAN GIỮA KHOẢNG NHỚ XUÔI,

KHOẢNG NHỚ NGƯỢC VÀ CÁC BIẾN NHÂN KHẨU HỌC

Ở SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nhan Thị Lạc An* 1 , Nguyễn Thị Minh Duyên 1 ,

Lê Huỳnh Đức 1 , Nguyễn Tấn Phát 1

Tóm tắt

Khoảng nhớ, bao gồm khoảng nhớ xuôi và khoảng nhớ ngược, được sử dụng rộng rãi để tìm hiểu khả năng trí nhớ làm việc bằng lời nói (Walshaw & cộng sự, 2010) Nghiên cứu này tìm hiểu khoảng nhớ xuôi, khoảng nhớ ngược, tương quan giữa hai khoảng nhớ và sự khác biệt về giá trị trung bình khoảng nhớ theo giới tính và biến ngành học ở sinh viên bằng cách sử dụng công cụ là Digit Span Test Mẫu nghiên cứu là sinh viên (n = 120) đến từ các trường trực thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về khoảng nhớ xuôi và khoảng nhớ ngược giữa các nhóm sinh viên theo biến giới tính; có sự khác biệt đáng kể trong khoảng nhớ xuôi của sinh viên giữa khối ngành học

tự nhiên và khối ngành xã hội; khoảng nhớ xuôi dự báo 10.2% sự biến thiên của khoảng nhớ ngược Nghiên cứu này còn một số hạn chế và chúng tôi đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp theo.

Từ khóa: khoảng nhớ, khoảng nhớ xuôi, khoảng nhớ ngược

1 Đại học KHXH&NV – ĐHQG-HCM

* Liên hệ: nhanlacan@hcmussh.edu.vn

Trang 2

CORRELATION BETWEEN DIGIT SPAN FORWARD, DIGIT SPAN BACKWARD AND DEMOGRAPHIC

VARIABLES IN STUDENTS OF THE NATIONAL

UNIVERSITY OF HO CHI MINH CITY

Abstract

Digit span, which includes the digit span forward and digit span backward, is widely used to understand verbal working memory abilities (Walshaw et al., 2010) This study investigated the digit span forward, digit span backward, the correlation between the digit span forward and digit span backward, and compares the difference in the means of digit span by gender and major among students by using a tool called Digit Span Test The research sample was students (n = 120) from the National University of Ho Chi Minh City Research results showed that there is no significant difference between the performance of digit span forward and backward between groups of students according to the gender variable; there is a significant difference between the performance of digit span backward in students from the natural sciences and the social sciences; the digit span forward predicted 10.2% of the variation

of the digit span backward This study has some limitations and we suggest future research directions.

Keywords: digit span, digit span forward, digit span backward

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trí nhớ là sự ghi lại, lưu giữ và truy xuất kiến thức; bao gồm tất cả những kiến thức thu được từ kinh nghiệm – những thực tế đã biết – những

sự kiện được ghi nhớ và những kỹ năng đã đạt được và áp dụng Trí nhớ có thể được quan sát dựa trên các hành vi công khai, chẳng hạn như khi học sinh nhớ lại thông tin từ các bài đọc trước đó để trả lời các câu hỏi trong bài kiểm tra hoặc trong các hoạt động ít được quan sát hơn, như sự phát triển và thay đổi của tế bào thần kinh Theo Ramachandran (2002), trí nhớ không phải là một cấu trúc đơn nhất mà thay vào đó phản ánh một số khả năng nhận thức riêng biệt có thể được phân loại theo một số chiều kích khác nhau Chúng ta có thể mô tả đặc điểm bộ nhớ dựa trên lượng thời gian trôi qua giữa các lần trình bày và nhớ lại thông tin (ví dụ: trí nhớ ngắn

Trang 3

hạn và dài hạn) hoặc bản chất của thông tin được ghi nhớ (ví dụ: hình ảnh

và lời nói), các quá trình nhận thức làm nền tảng cho những yêu cầu này (ví dụ: truy xuất và lưu giữ) (Ramachandran, 2002)

Trí nhớ ngắn hạn (short-term memory – STM) hay còn được gọi là trí nhớ tức thời (immediate memory) nói đến việc nhớ lại thông tin mà không trì hoãn, ngay sau khi thông tin được trình bày Nghiên cứu về trí nhớ ngắn hạn cho thấy cấu trúc này không chỉ lưu giữ thông tin một cách thụ động mà bao gồm cả chuyển giao thông tin vào trong trí nhớ dài hạn (long term memory – LTM) và ngược lại (Goldstein, 2014a) Điều đó cho thấy tính năng động trong vai trò của trí nhớ ngắn hạn và sự tương tác của trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn Trí nhớ ngắn hạn được đặc trưng bởi khả năng hạn chế rõ rệt về số lượng và thời gian thông tin có thể được ghi nhớ Ví dụ, hầu hết mọi người có thể nhớ không quá bảy chữ số ngẫu nhiên

và trí nhớ ngắn hạn thường có đặc điểm tri giác Các lỗi trong bộ nhớ ngắn hạn đối với các từ thường phản ánh âm thanh của từ hơn là nghĩa của từ (Goetz & Goetz, 2007a) Một trong những cách thức đo lường thời gian lưu trữ của trí nhớ ngắn hạn là dựa trên khoảng nhớ (digit span) – số lượng mục mà chúng ta có thể nhớ Miller (1956) đã đưa ra bằng chứng rằng sức chứa trung bình trong STM là từ năm tới chín dữ liệu (items) (trích dẫn theo Goldstein, 2014a) Khoảng nhớ cũng được đưa vào như là một phần của trắc nghiệm trí thông minh (Kreutzer & cộng sự, 2010) Khoảng nhớ, bao gồm khoảng nhớ xuôi và khoảng nhớ ngược, được sử dụng rộng rãi

để hiểu khả năng trí nhớ làm việc bằng lời nói (Walshaw & cộng sự, 2010) Nghiên cứu về khoảng nhớ tại Việt Nam đã có một số kết quả, trong

đó chủ yếu tập trung vào khoảng nhớ từ Nghiên cứu của Trần Thị Thu Mai (2004) cho thấy khoảng nhớ từ của học sinh tiểu học chưa cao (trung bình 4.7 từ) Một nghiên cứu khác về khoảng nhớ từ của học sinh trung học cơ sở tại Kiên Giang (lớp 6, 7) cho thấy khả năng ghi nhớ từ của học sinh nằm trong khoảng 7±2, tương đương với người trưởng thành (Dư Thống Nhất, 2014) Ngoài chủ đề nghiên cứu về khoảng nhớ từ, những nghiên cứu về chủ đề trí nhớ còn có hướng nghiên cứu thích nghi công cụ trong đo lường, đánh giá trí nhớ Ví dụ như thang đo lường trí tuệ mới – 2 (NEMI – 2), trong đó có bài tập nhắc lại số đo lường trí nhớ ngắn hạn khi cần giải quyết tình huống (Castro, 2015) Trắc nghiệm WSIC-IV phiên bản tiếng Việt đo lường 4 năng lực cơ bản là trí tuệ lỏng, trí tuệ kết tinh, trí nhớ ngắn hạn và tốc độ xử lý (Dang & cộng sự, 2012) Một hướng nghiên

Trang 4

cứu khác về đề tài trí nhớ là dùng phiên bản chuyển ngữ của trắc nghiệm Pictogramme (nhìn hình nhớ từ), trắc nghiệm trí nhớ của Wechsler (Trần Thành Nam & cộng sự, 2007) Như vậy, nghiên cứu về khoảng nhớ số tại Việt Nam còn thiếu vắng, đặc biệt là trên khách thể sinh viên

Do đó, trong nghiên cứu này, chúng tôi đưa ra mục tiêu là tìm hiểu mối tương quan giữa khoảng nhớ xuôi và khoảng nhớ ngược của sinh viên

và các biến nhân khẩu (giới tính, ngành học) Giả thuyết được đưa ra là (1)

có sự khác biệt về khoảng nhớ của sinh viên nam và sinh viên nữ; và (2) có

sự khác biệt về khoảng nhớ của sinh viên khối ngành khoa học xã hội, nhân văn và sinh viên khối ngành khoa học tự nhiên.

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng một thiết kế định lượng, cắt ngang tại một thời điểm nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa các biến

2.2 Công cụ nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng Digit Span Test đo lường trí nhớ ngắn hạn Trắc nghiệm này được xây dựng bởi Leibniz (1646-1716), đây là bài kiểm tra tâm lý để đánh giá trí nhớ làm việc và khả năng lưu giữ, ghi nhớ một lượng thông tin được giới hạn trong một khoảng thời gian ngắn (Wechsler, 1997) (trích dẫn bởi Kreutzer & cộng sự, 2010) Trong trắc nghiệm khoảng nhớ, khoảng nhớ xuôi được xem là đo lường khoảng nhớ hay bao nhiêu lượng thông tin được giữ trong tâm trí (mind), trong khi khoảng nhớ ngược được xem là kiểm tra thao tác về mặt tinh thần, hai quá trình này phản ánh các quá trình nhận thức riêng biệt (Kreutzer & cộng sự, 2010)

Bài tập đo lường khoảng nhớ trong nghiên cứu này sử dụng tiểu trắc nghiệm trí nhớ ngắn hạn trong WSIC-IV phiên bản tiếng Việt (Dang & cộng sự, 2012) Trắc nghiệm này yêu cầu nghiệm thể nghe chuỗi các chữ

số và sau đó đọc lại các chữ số theo thứ tự xuôi hoặc ngược Trắc nghiệm khoảng nhớ bao gồm 2 bộ, một bộ kiểm tra khoảng nhớ xuôi (đọc lại chuỗi chữ số được nghe theo thứ tự xuôi), một bộ kiểm tra khoảng nhớ ngược (đọc lại chữ số theo thứ tự ngược lại với những gì đã nghe) Mỗi bộ bao

Trang 5

gồm các chuỗi chữ số, chuỗi đầu tiên bao gồm 3 chữ số, chuỗi thứ hai bao gồm 4 chữ số cứ vậy cho đến khi nghiệm thể không thể nghe được và yêu cầu dừng lại Hệ số tin cậy Cronbach’s alpha cho cả bài kiểm tra là 0.93 (Gignac & cộng sự, 2017)

2.3 Quy trình thu thập dữ liệu

Dữ liệu sẽ được thu thập qua bảng hỏi theo hình thức trực tuyến

và trực tiếp Người tham gia được thu thập thông tin về nhân khẩu học thông qua Google Biểu mẫu, sau đó được hẹn để thực hiện trực tiếp bài trắc nghiệm tâm lý thông qua Digit Span Test Thời gian làm bài kiểm tra khoảng 20 – 30 phút Cách thức tính điểm dựa trên số lượng chữ số có trong chuỗi cuối cùng trong các chuỗi liên tục nghiệm thể ghi lại chính xác so với những gì được nghe tính từ chuỗi 3 chữ số trở đi (khoảng nhớ) Bài kiểm tra được thực hiện hai lần, với chuỗi khoảng nhớ xuôi và khoảng nhớ ngược

2.4 Mô tả mẫu

Mẫu nghiên cứu được sử dụng là mẫu ngẫu nhiên, người tham gia trắc nghiệm là sinh viên thuộc các trường đại học trực thuộc Đại học Quốc

gia TP HCM (n = 120; nam = 60; nữ = 60) Trong đó 50% thuộc khối

ngành tự nhiên và còn lại thuộc khối ngành xã hội Người tham gia trắc nghiệm nhận được lời mời trên mạng xã hội và tình nguyện tham gia vào nghiên cứu Quy trình thực hiện được giải thích rõ ràng và thông tin cá nhân được cam kết bảo mật

2.5 Xử lý và phân tích số liệu 

Chúng tôi sử dụng phần mềm thống kê SPSS 20.0 để phân tích dữ liệu Để kiểm tra các giả thuyết đã đặt ra, chúng tôi sử dụng kiểm định phi tham số, phân tích tương quan và phân tích hồi quy đơn biến

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Khoảng nhớ xuôi và khoảng nhớ ngược của sinh viên đại học

Kết quả thống kê cho thấy khoảng nhớ xuôi của mẫu nghiên cứu nằm trong khoảng nhớ từ 4 đến 12 (ĐTB = 7.47; ĐLC = 1.72) trong khi đó

khoảng nhớ ngược là 2 đến 9 (ĐTB = 5.68; ĐLC = 1.62)

Trang 6

Bảng 1 Khoảng nhớ xuôi và ngược và đặc điểm mẫu

Khoảng nhớ xuôi và khoảng nhớ ngược của sinh viên nam lần lượt là 7.42 và 5.70; khoảng nhớ xuôi và ngược của sinh viên nữ lần lượt là 7.52

và 5.67 Sinh viên khối ngành tự nhiên có trung bình khoảng nhớ xuôi là 8.02; trung bình khoảng nhớ ngược là 5.58; trong khi đó, sinh viên khối ngành khoa học xã hội có khoảng nhớ xuôi trung bình là 6.92; trung bình khoảng nhớ ngược là 5.78

Hình 1 Biểu đồ phân bố khoảng nhớ xuôi và khoảng nhớ ngược

Do khoảng nhớ có phân phối không chuẩn nên nhóm nghiên cứu sử dụng kiểm định Mann-Whitney để so sánh giá trị trung bình khoảng nhớ xuôi và khoảng nhớ ngược giữa các nhóm sinh viên theo biến giới tính và biến ngành học

Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về giá trị trung bình khoảng nhớ

xuôi giữa hai nhóm sinh viên nam và nữ (U = 1739.5, p = 746, z = -.324); khoảng nhớ ngược giữa nam và nữ (U = 1781.5, p = 922, z = -.098); khoảng nhớ ngược theo ngành học (U = 1595, p = 275, z = -1.091)

Kết quả cũng cho thấy có sự khác biệt về giá trị trung bình khoảng nhớ

xuôi giữa các nhóm sinh viên theo biến ngành học (U = 1171.5, p = 001,

z = -3.362).

Trang 7

3.2 Tương quan giữa khoảng nhớ xuôi và khoảng nhớ ngược, khoảng nhớ xuôi và ngành học

Kết quả phân tích tương quan Pearson r cho thấy, hai biến khoảng

nhớ xuôi và khoảng nhớ ngược có mối tương quan thuận với nhau,

r(120) = 32, p < 001 Kiểm tra tương quan giữa khoảng nhớ xuôi và ngành học cũng cho thấy có tương quan thuận r(120) = 33, p < 001.

Mô hình hồi quy tuyến tính đơn giản đã được tính toán để dự đoán khoảng nhớ ngược dựa trên khoảng nhớ xuôi Một phương trình hồi quy

có ý nghĩa đã được tìm thấy (F(1,118) = 13.453, p = 000), với R2 = 102 Như vậy, khoảng nhớ xuôi có thể giải thích 10.2% sự biến thiên của khoảng nhớ ngược

Hình 2 Mô hình hồi quy tuyến tính đơn biến giữa

khoảng nhớ ngược và khoảng nhớ xuôi

IV BÀN LUẬN

Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá dung lượng trong trí nhớ ngắn hạn của sinh viên đại học và mối quan hệ của nó với những biến

khác Các giả thuyết đã được đặt ra như sau: (1) Có sự khác biệt về khoảng nhớ của sinh viên nam và sinh viên nữ (2) Có sự khác biệt về khoảng nhớ của sinh viên khối ngành khoa học xã hội, nhân văn và sinh viên khối ngành khoa học tự nhiên Kết quả nghiên cứu cho thấy khoảng nhớ xuôi và

Trang 8

khoảng nhớ ngược của sinh viên mẫu khảo sát lần lượt là từ 4 đến 12; 2 đến

9 Kết quả khoảng nhớ trong nghiên cứu này cho thấy có phổ rộng hơn

so với khoảng nhớ đề xuất của Miller (1956), tác giả này đã đưa ra “con số diệu kỳ” là bảy cộng trừ hai, tức là khoảng nhớ xuôi trung bình nằm trong

khoảng 5 đến 9 dữ liệu (trích dẫn theo Kreutzer & cộng sự, 2010) Kết quả của chúng tôi tương đồng hơn với kết quả thu được từ nghiên cứu trên nhóm mẫu lớn tại Mexico trong độ tuổi từ 16 đến 96 tuổi, đó là khoảng nhớ xuôi nằm trong khoảng từ 3 đến 9, khoảng nhớ ngược từ 2 đến 8 (Ostrosky‐Solís & Lozano, 2006)

Kết quả thống kê cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về khoảng nhớ xuôi và khoảng nhớ ngược giữa sinh viên nam và sinh viên nữ trong mẫu được khảo sát Giả thuyết 1 đã bị bác bỏ Một nghiên cứu phân tích tổng hợp đã báo cáo thành tích của bài kiểm tra số học (cụ thể là bài tính nhẩm) trong các bài kiểm tra trí thông minh dành cho trẻ em và thanh thiếu niên cho thấy có sự khác biệt về giới Kết quả khác biệt về giới trong bài kiểm tra tính nhẩm không đồng nhất với sự khác biệt về giới trong khoảng nhớ Lý giải cho điều này, tác giả cho rằng tính nhẩm là thước đo dung lượng trí nhớ hoạt, trong khi đó, khoảng nhớ là thước đo của trí nhớ ngắn hạn (Lynn & Irwing, 2008) Nữ giới có xu hướng thực hiện tốt hơn nam giới về các nhiệm vụ trí nhớ bằng lời, trong khi ngược lại với nhiệm

vụ về trí nhớ không gian (Loprinzi & Frith, 2018) Trong khi đó, nghiên cứu của Solianik và cộng sự (2016) tìm thấy kết quả là không có sự khác biệt ý nghĩa về trí nhớ làm việc giữa nam và nữ, cũng như về khoảng nhớ của hai giới này

Nghiên cứu này cho thấy có sự khác biệt về khoảng nhớ xuôi giữa sinh viên khối ngành tự nhiên và khối ngành xã hội Giả thuyết 2 đã được chứng minh Điều này có thể lý giải về thói quen học tập và ghi nhớ của sinh viên thuộc khối ngành tự nhiên so với khối ngành xã hội Theo nghiên cứu của Grégoire và van der Linden (1997), trong đó so sánh khoảng nhớ xuôi và khoảng nhớ ngược của nhóm mẫu trong độ tuổi từ 16 đến 79 tuổi,

có sự khác biệt đáng kể về thành tích trí nhớ ngắn hạn (khoảng nhớ xuôi

và ngược) liên quan đến tuổi; trong khi đó, biến tuổi và trình độ học vấn

dự báo ít hơn 18% cho khoảng nhớ xuôi và ít hơn 17% cho khoảng nhớ ngược Nghiên cứu khác trên mẫu trong độ tuổi từ 16 đến 89 cũng cho thấy học vấn và độ tuổi là yếu tố dự báo đáng kể cho thành tích của khoảng

Trang 9

nhớ (Hester & cộng sự, 2004) Nghiên cứu của nhóm Ostrosky‐Solís và Lozano (2006) cho thấy có sự khác biệt về khoảng nhớ xuôi và ngược giữa các nhóm tuổi và trình độ học vấn Tuy nhiên, chưa thấy có nghiên cứu nào đề cập đến lĩnh vực học tập mà nghiệm thể đang theo học

Kết quả thống kê cho thấy có tương quan giữa khoảng nhớ xuôi và khoảng nhớ ngược của sinh viên mẫu khảo sát Nghiên cứu phân tích tổng hợp trên các nghiên cứu về trí nhớ bằng lời cho thấy có tương quan giữa nhớ vị trí xuôi và ngược; nhưng hệ số tương quan giữa khoảng nhớ xuôi

và khoảng nhớ ngược của nhiều nghiên cứu là chưa đồng nhất (Redick & Lindsey, 2013) Nghiên cứu phân tích tổng hợp của Donolato và cộng sự (2017) cũng cho thấy có sự khác biệt rõ ràng giữa khoảng nhớ xuôi và nhớ ngược bằng lời; trong đó có những nghiên cứu khoa học thần kinh cho thấy với nhiệm vụ nhớ vị trí ngược đòi hỏi phải huy động nguồn lực nhận thức lớn hơn Nghiên cứu tương quan giữa thành tích khoảng nhớ xuôi và khoảng nhớ ngược từ trắc nghiệm Wechsler cho thấy tương quan ở mức vừa phải (r = 0.4) (Gignac & cộng sự, 2018) Kết quả của nghiên cứu hiện tại cho thấy khoảng nhớ xuôi càng tăng thì khoảng nhớ ngược càng lớn, khoảng nhớ xuôi có thể giải thích 10.2% sự biến thiên của khoảng nhớ ngược, yếu tố dự báo này là không đáng kể

V KẾT LUẬN

Nghiên cứu này đã cho thấy khoảng nhớ xuôi và khoảng nhớ ngược của sinh viên mẫu khảo sát lần lượt trải dài từ 4 đến 12 và từ 2 đến 9 Kết quả cho thấy không có sự khác biệt về khoảng nhớ xuôi và ngược liên quan đến giới tính; trong khi đó, có sự khác biệt đáng kể giữa khoảng nhớ xuôi của sinh viên học ngành xã hội và tự nhiên

Có mối tương quan thuận giữa khoảng nhớ xuôi và khoảng nhớ ngược, giữa khoảng nhớ xuôi và ngành học Trong đó khoảng nhớ xuôi có thể giải thích 10.2% sự biến thiên của khoảng nhớ ngược, nghĩa là khoảng nhớ xuôi càng tăng thì khoảng nhớ ngược càng lớn Tuy nhiên, yếu tố dự báo này là yếu và không đáng kể

Nghiên cứu này có nhiều hạn chế như: chưa phân tích đến các biến liên quan đến lỗi trí nhớ ngắn hạn, thời gian phản ứng của nghiệm thể, các biến liên quan đến sự chú ý và chức năng điều hành… để cho thấy rõ đặc

Trang 10

điểm của biến dung lượng trong trí nhớ ngắn hạn Tuy nhiên, đây là một nghiên cứu có điểm mới về khối ngành học ảnh hưởng đến trí nhớ ngắn hạn, đưa ra một góc nhìn về sự khác biệt trong khối ngành học Nghiên cứu đề xuất trong tương lai là tìm hiểu rõ hơn các lỗi sai trong bài tập kiểm tra khoảng nhớ và so sánh với nhóm có dung lượng trí nhớ ngắn hạn thấp,

so sánh trên các nhóm độ tuổi khác nhau và làm rõ hơn về sự khác biệt giữa các ngành nghề

TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu Tiếng Việt

Castro Dana (2015) Thăm khám tâm lý trong thực hành lâm sàng – công cụ đánh

giá trí thông minh và nhân cách của trẻ em và người lớn NXB Tri thức,

Hà Nội.

Dư Thống Nhất (2014) Dung lượng trí nhớ từ của học sinh lớp 6, 7 ở một số

trường trung học cơ sở tỉnh Kiên Giang Tạp chí Khoa học ĐHSP TPHCM,

62, 78-86.

Trần Thị Thu Mai (2004) Khảo sát dung lượng trí nhớ ở học sinh tiểu học Tạp

chí Tâm lý học, 3, 28-34.

Trần Thành Nam & Nguyễn Sinh Phúc (2007) Phân tích kết quả pictogram trên

nhóm bệnh nhân Tâm thần phân liệt Tạp chí Tâm lý học, 8(101), 28-35.

Tài liệu tiếng Anh

Dang, H M., Weiss, B., Pollack, A., & Nguyen, M C (2011b) Adaptation of the Wechsler Intelligence Scale for Children-IV (WISC-IV) for Vietnam

Psychological Studies, 56(4), 387-392

https://doi.org/10.1007/s12646-011-0099-5

Donolato, E., Giofrè, D., & Mammarella, I C (2017) Differences in Verbal and Visuospatial Forward and Backward Order Recall: A Review of

the Literature Frontiers in Psychology, 8 https://doi.org/10.3389/

fpsyg.2017.00663

Gignac, G E., Kovacs, K., & Reynolds, M R (2018) Backward and forward serial

recall across modalities: An individual differences perspective Personality

and Individual Differences, 121, 147-151 https://doi.org/10.1016/j.

paid.2017.09.033

Gignac, G E., Reynolds, M R., & Kovacs, K (2017) Digit Span Subscale Scores May Be Insufficiently Reliable for Clinical Interpretation: Distinguishing

Ngày đăng: 10/12/2021, 10:05

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm