Đề số 8I. Khái quát về bản thể luận và triết học cổ điển Đức1. Khái niệm bản thể luậnBản thể luận là một bộ môn nghiên cứu các khái niệm về thực tại và bản chất của sự tồn tại. Trong triết học, bản thể luận xuất phát từ tiếng Hy Lạp Οντολογία có nghĩa là “bộ môn nghiên cứu về sự tồn tại và hình thành nên cở sở của bộ môn siêu hình học. Bản thể luận tìm cách mô tả phạm trì tồn tại và các mối quan hệ của phạm trù tồn tại để xác định nên thực thể và các kiểu thực thể bên trong khuôn khổ của tồn tại.Bản thể luận hình thức là một bộ môn triết học chủ yếu giải quyết vấn đề sử dụng từ ngữ một cách chuẩn xác để làm tốt vai trò mô tả thực tại hay thực thể. Bản thể luận luôn phải chỉ rõ những từ ngữ nào dùng để chỉ những thực thể nào, những từ ngữ nào không, tại sao và phạm trù kết quả như thế nào. Bản thể luận nhờ đó trở thành nền tảng cho nhiều chuyên ngành triết học khác.Cần khẳng định rằng, bản thể luận là bộ phận cơ bản nhất của siêu hình học. Tên gọi “bản thể luận” chỉ xuất hiện lần đầu tiên ở thế kỷ XVII, trong “Lexicon philosophicum” (Bách khoa thư triết học) của triết gia R.Goclenius được xuất bản tại Phrăngphuốc (Đức) vào năm 1613(1). Muộn hơn một chút, thuật ngữ này cũng đã xuất hiện trong các tác phẩm của A.Calovius (xuất bản tại Rostock, năm 1636) và của J.B. du Hamel (xuất bản tại Pari, năm 1687). Năm 1656, J.Clauberg cũng đã sử dụng thuật ngữ này trong “Siêu hình học” được xuất bản tại Amsterdam. Thuật ngữ này được phổ biến rộng rãi trong triết học sau khi C.Vônphơ (C.Wolff) sử dụng nó để chỉ một bộ phận căn bản của siêu hình học, bên cạnh vũ trụ luận, tâm lý học và thần học.Như vậy, tên gọi “bản thể luận” chỉ xuất hiện vào thế kỷ XVII, nhưng tư tưởng bản thể luận đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử triết học, ngay từ thời Cổ đại. Nói một cách chung nhất, bản thể luận được hiểu là học thuyết về tồn tại và khái niệm “tồn tại” là một trong các khái niệm cơ bản của triết học phương Tây. Khái niệm này liên hệ mật thiết và hữu cơ với quá trình hình thành triết học phương Tây tới mức chính nó, chính sự lí giải về nó đã tạo thành bản chất của phương pháp tư duy triết học Tây Âu. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu lịch sử bản thể luận, lịch sử các quan niệm, học thuyết triết học về tồn tại, về khái niệm tồn tại là con đường duy nhất để làm sáng tỏ nội dung của khái niệm này. Chỉ thông qua đó, chúng ta mới có thể có được nội dung các nguyên tắc, cách tiếp cận bản thể luận.2. Một số vấn đề cơ bản trong bản thể luậnMột luận đề cơ bản của bản thể luận là: Cái gì tồn tại?. Các nhà triết học khác nhau có các câu trả lời khác nhau cho cùng một câu hỏi trên.Một cách tiếp cận chung của bản thể luận là chia các thực thể hiện có thành các nhóm được gọi là các “phạm trù”. Các luận đề cơ bản thường được đề cập trong bản thể luận gồm: Tồn tại là gì? Tồn tại có phải là một thuộc tính? Khi nói một vật nào đó không tồn tại thì điều đó có ý nghĩa gì? Liệu tồn tại có phải đúng là điều khẳng định hay đã được xác nhận? Liệu các câu diễn tả một vật nào đó tồn tại hay không tồn tại có đúng là một mệnh đề khẳng định hay xác nhận? Một đối tượng hữu hình là gì? Có ai có thể diễn tả sự tồn tại của một vật thể hữu hình hay nói rằng một đối tượng tồn tại thì có ý nghĩa gì? Khi nói một đối tượng vô hình tồn tại thì điều đó có ý nghĩa gì? Cái gì cấu thành nên sự đồng nhất của một đối tượng? Khi nào đối tượng không tồn tại được xem như sự đối lập với thay đổi? Những đặc điểm nào của một đối tượng là cơ bản, được xem xét trong sự đối lập với các thuộc tính ngẫu nhiên của một đối tượng? Các thuộc tính hay các quan hệ của một đối tượng là thế nào, chúng có liên hệ như thế nào với bản thân đối tượng? Tại sao chúng ta lại ở đây? Tại sao lại có một cái gì đó tồn tại chứ không có cái “không có gì”?
Trang 1Đề số 8
I Khái quát về bản thể luận và triết học cổ điển Đức
1 Khái niệm bản thể luận
Bản thể luận là một bộ môn nghiên cứu các khái niệm về thực tại vàbản chất của sự tồn tại Trong triết học, bản thể luận xuất phát từ tiếng Hy
Lạp Οντολογία có nghĩa là “bộ môn nghiên cứu về sự tồn tại và hình thành
nên cở sở của bộ môn siêu hình học Bản thể luận tìm cách mô tả phạm trì tồntại và các mối quan hệ của phạm trù tồn tại để xác định nên thực thể và cáckiểu thực thể bên trong khuôn khổ của tồn tại
Bản thể luận hình thức là một bộ môn triết học chủ yếu giải quyếtvấn đề sử dụng từ ngữ một cách chuẩn xác để làm tốt vai trò mô tả thực tạihay thực thể Bản thể luận luôn phải chỉ rõ những từ ngữ nào dùng để chỉnhững thực thể nào, những từ ngữ nào không, tại sao và phạm trù kết quảnhư thế nào Bản thể luận nhờ đó trở thành nền tảng cho nhiều chuyênngành triết học khác
Cần khẳng định rằng, bản thể luận là bộ phận cơ bản nhất của siêu hìnhhọc Tên gọi “bản thể luận” chỉ xuất hiện lần đầu tiên ở thế kỷ XVII, trong
“Lexicon philosophicum” (Bách khoa thư triết học) của triết gia R.Gocleniusđược xuất bản tại Phrăngphuốc (Đức) vào năm 1613(1) Muộn hơn một chút,thuật ngữ này cũng đã xuất hiện trong các tác phẩm của A.Calovius (xuất bảntại Rostock, năm 1636) và của J.B du Hamel (xuất bản tại Pari, năm 1687).Năm 1656, J.Clauberg cũng đã sử dụng thuật ngữ này trong “Siêu hình học”được xuất bản tại Amsterdam Thuật ngữ này được phổ biến rộng rãi trongtriết học sau khi C.Vônphơ (C.Wolff) sử dụng nó để chỉ một bộ phận căn bảncủa siêu hình học, bên cạnh vũ trụ luận, tâm lý học và thần học
Như vậy, tên gọi “bản thể luận” chỉ xuất hiện vào thế kỷ XVII, nhưng
tư tưởng bản thể luận đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử triết học, ngay từthời Cổ đại Nói một cách chung nhất, bản thể luận được hiểu là học thuyết vềtồn tại và khái niệm “tồn tại” là một trong các khái niệm cơ bản của triết học
Trang 2phương Tây Khái niệm này liên hệ mật thiết và hữu cơ với quá trình hìnhthành triết học phương Tây tới mức chính nó, chính sự lí giải về nó đã tạothành bản chất của phương pháp tư duy triết học Tây Âu Chính vì vậy màviệc nghiên cứu lịch sử bản thể luận, lịch sử các quan niệm, học thuyết triếthọc về tồn tại, về khái niệm tồn tại là con đường duy nhất để làm sáng tỏ nộidung của khái niệm này Chỉ thông qua đó, chúng ta mới có thể có được nộidung các nguyên tắc, cách tiếp cận bản thể luận.
2 Một số vấn đề cơ bản trong bản thể luận
Một luận đề cơ bản của bản thể luận là: Cái gì tồn tại? Các nhà triết
học khác nhau có các câu trả lời khác nhau cho cùng một câu hỏi trên
Một cách tiếp cận chung của bản thể luận là chia các thực thể hiện cóthành các nhóm được gọi là các “phạm trù” Các luận đề cơ bản thường được
đề cập trong bản thể luận gồm:
- Tồn tại là gì? Tồn tại có phải là một thuộc tính? Khi nói một vật nào
đó không tồn tại thì điều đó có ý nghĩa gì? Liệu tồn tại có phải đúng là điềukhẳng định hay đã được xác nhận? Liệu các câu diễn tả một vật nào đó tồn tạihay không tồn tại có đúng là một mệnh đề khẳng định hay xác nhận?
- Một đối tượng hữu hình là gì? Có ai có thể diễn tả sự tồn tại của mộtvật thể hữu hình hay nói rằng một đối tượng tồn tại thì có ý nghĩa gì?
- Khi nói một đối tượng vô hình tồn tại thì điều đó có ý nghĩa gì?
- Cái gì cấu thành nên sự đồng nhất của một đối tượng? Khi nào đốitượng không tồn tại được xem như sự đối lập với thay đổi?
- Những đặc điểm nào của một đối tượng là cơ bản, được xem xéttrong sự đối lập với các thuộc tính ngẫu nhiên của một đối tượng? Cácthuộc tính hay các quan hệ của một đối tượng là thế nào, chúng có liên hệnhư thế nào với bản thân đối tượng?
- Tại sao chúng ta lại ở đây? Tại sao lại có một cái gì đó tồn tại chứkhông có cái “không có gì”?
3 Triết học cổ điển Đức
Triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử
tư tưởng Tây Âu và thế giới cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX Đây là đỉnh
Trang 3cao của thời kì triết học cổ điển phương Tây, đồng thời có ảnh hưởng to lớntới triết học hiện đại.
3.1 Khái quát hoàn cảnh ra đời
Đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã được thiếtlập ở một số nước Tây Âu như Italia, Anh, Pháp… đem lại một nền sản xuấtphát triển chưa từng có trong lịch sử, tỏ ra ưu việt hơn hẳn so với tất cả cácchế độ xã hội trước đó Những thành tựu kinh tế và văn hoá thời nay mà đỉnhcao là Cách mạng công nghiệp ở Anh càng khẳng định sức mạnh của conngười trong nhận thức và cải tạo thế giới Cùng với Cách mạng tư sản Pháplàm rung chuyển cả châu Âu, chúng đánh dấu sự mở đầu của nền văn minhcông nghiệp trong lịch sử nhân loại
Trong khi ở nhiều nước Tây Âu đang có những thay đổi nhảy vọt nhưvậy, thì nước Đức cho đến đầu thế kỷ XIX vẫn là một quốc gia phong kiến lạchậu Liên bang Đức chỉ tồn tại về hình thức, thực tế đất nước còn phân thànhnhiều tiểu vương quốc tách biệt nhau Tình trạng đó gây nhiều trở ngại đốivới sự phát triển của đất nước Năm 1822, cả nước Đức mới chỉ có hai máyhơi nước Nông nghiệp bị đình đốn Triều đình vua Phổ Phriđrích Vinhem(1770 - 1840) vẫn ngoan cố tăng cường quyền lực và duy trì chế độ quân chủphong kiến thối nát, cản trở đất nước phát triển theo con đường tư bản chủnghĩa, cả đất nước bao trùm bầu không khí bất bình của đông đảo quần chúng.Như Ph.Ăngghen nhận xét, có thể coi đây là một trong những thời kì yếu hènnhất trong lịch sử nước Đức
Tuy lạc hậu về kinh tế và chính trị, nước Đức thời kì này đạt được sựphát triển chưa từng có về triết học, văn hoá và nghệ thuật Đây là quê hươngcủa nhiều nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thế giới như Hécđơ, Gớt,Sinlơ, Cantơ… Họ một mặt tiếp thu những di sản tư tưởng và văn hoá Đứctruyền thống, kế thừa các quan niệm của Nicôlai Kuzan, Lépnít… mặt khác,được cổ vũ to lớn của tư tưởng Khai sáng và văn hóa Pháp thế kỷ XVIII.Cách mạng tư sản Pháp (1789 - 1794) là hậu thuẫn thực tiễn thức tỉnh giai cấp
Trang 4tư sản Đức đấu tranh vì một trật tự xã hội mới ở Đức Thể hiện nguyện vọng
đó của giai cấp tư sản, các tác phẩm của Gớt, Sinlơ, Cnatơ Phíchtơ…, đềutoát lên một tinh thần phẫn nộ chống lại sự trì trệ và bất công của xã hội Đứcthời đó
Thêm vào đó, những tiến bộ đáng kể của khoa học, nhất là các ngànhkhoa học tự nhiên ngày càng chứng tỏ sự hạn chế của phương pháp tư duysiêu hình thống trị trong tư tưởng Tây Âu suốt thế kỷ XVII - XVIII Việc phátminh ra điện và cách sử dụng điện năng góp phần tạo ra bước nhảy vọt trong
sự phát triển của sản xuất từ công trường thủ công tới công nghiệp cơ khí,đồng thời chứng thực những phát triển đầu tiên của khoa học về sự bảo toàn
và biến hoá năng lượng và vật chất của vũ trụ Phát minh của Lavoarê ra ôxy
và bản chất của sự cháy đã đánh đổ thuyết nhiên tố, mở ra giai đoạn phát triểnmới của hoá học Những công trình nghiên cứu của Lamác, Linnơ, việc pháthiện ra tế bào của Lơvenhúc… đòi hỏi phải có cách lí giải mới về bản chấtcủa sự sống
Bối cảnh lịch sử đó ở Tây Âu và nước Đức đặt trước các nhà triếthọc nhiều vấn đề: Siêu hình học thế kỷ XVII (với các đại biểu chính nhưĐềcáctơ, Xpinôza, Lépnít…) từng đóng vai trò to lớn trong việc phát triển
tư duy lí luận và hệ thống hoá tri thức con người đã không còn đáp ứngđược nhu cầu phát triển của thực tiễn và tư tưởng Tây Ẩu thế kỷ XVIII, khi
mà hàng loạt các khoa học đã đủ sức phát triển tách ra khỏi cái nôi triết họccủa mình, trở thành những lĩnh vực nghiên cứu độc lập Ngay từ cuối thế
kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, xuất hiện nhiều xu hướng xét lại siêu hình học
và các giá trị tư tưởng truyền thống Tuy nhiên, triết học Tây Âu Phụchưng và cận đại (ngay cả triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII) từng làngọn cờ lí luận của giai cấp tư sản trong thời kì bình minh đầy tính cáchmạng của nó, về cơ bản, vẫn chưa thoát khỏi quan niệm cơ học về thế giới,đồng thời bất lực trong việc lí giải bản chất của thực tiễn xã hội đang diễn
ra cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX
Trang 5Tóm lại, giờ đây cần có cách nhìn mới về các hiện tượng tự nhiên vàtiến trình lịch sử nhân loại, cần có quan niệm mới về khả năng và hoạt độngcủa con người Và triết học cổ điển Đức ra đời nhằm đáp ứng với những sứmạng lịch sử đó của không chỉ riêng nước Đức, mà cả phương Tây nói chung.
3.2 Một số đặc điểm căn bản của triết học cổ điển Đức
Triết học cổ điển Đức gồm một số đặc điểm căn bản sau:
Thứ nhất, đây là thế giới quan và ý thưc hệ của giai cấp tư sản Đức cuối
thế kỷ XVII - nửa đầu thế kỷ XIX Hầu hết các đại biểu của nó như Cantơ,Hêghen… đều xuất thân từ những tầng lớp thượng lưu trong xã hội Nhậnthấy sự trì trệ của xã hội Đức phong kiến thời đó, được sự cổ vũ của giai cấp
tư sản nhiều nước nhất là cách mạng tư sản Pháp (1789 - 1794), họ thể hiệnnguyện vọng tiến bộ của giai cấp tư sản đấu tranh vì một trật tự xã hội mới
ở Đức, nhằm đem lại sự thịnh vượng, phồn vinh và thống nhất đất nước.Cho nên “cũng giống như ở Pháp hồi thế kỷ XVIII, cách mạng triết họcĐức hồi thế kỷ XIX cũng đi trước cuộc cách mạng chính trị” Nhưng khácvới giai cấp tư sản Pháp vốn triệt để cách mạng, giai cấp tư sản Đức ngay
từ đầu đã muốn thoả hiệp với tầng lớp phong kiến quý tộc Phổ đang thốngtrị thời đó, giữ lập trường cải lương trong việc giải quyết những vấn đềphát triển đất nước Phản ánh sự nhu nhược đó của giai cấp tư sản, chẳnghạn, Hêghen, bất chấp phương pháp biện chứng của mình khẳng định sựphát triển tất yếu của hiện thực, vẫn ca ngợi, tô vẽ cho nhà nước Phổ phongkiến đang thối nát, với những bất công và tệ nạn xã hội của nó Và nóichung, trong thế giới quan của các nhà triết học cổ điển Đức thể hiện khá
rõ mâu thuẫn giữa tính cách mạng và khoa học về tư tưởng với sự bảo thủ,cải lương về lập trường chính trị - xã hội
Nhưng, điều đó không làm lu mờ sứ mạng lịch sử mà triết học cổ điểnĐức thực hiện là đem lại một cách nhìn mới về thực tiễn xã hội và tiến trìnhlịch sử nhân loại Vì vậy, đặc điểm thứ hai của nó là đặc biệt đề cao vai tròtích cực của hoạt động con người, thực hiện bước ngoặt trong lịch sử tư tưởng
Trang 6triết học phương Tây từ chỗ chủ yếu bàn về những vấn đề bản thể luận, nhậnthức luận đến chỗ coi con người như một chủ thể hoạt động là nền tảng vàđiểm xuất phát của mọi vấn đề triết học Dĩ nhiên, để tài con người đã đượcbàn đến ngay từ triết học cổ đại Xôcrát đã hiểu triết học là tự ý thức của conngười về chính bản thân mình Kế tục tư tưởng đó và khuynh hướng đề caocon người từ thồi Phục hưng, Cantơ, nhà sáng lập ra triết học cổ điển Đức, lầnđầu tiên hiểu con người là chủ thể, đồng thời là kết quả quá trình hoạt độngcủa mình, khẳng định hoạt động thực tiễn cao hơn lí luận Bản thân lịch sử làphương thức tồn tại của con người Mỗi cá nhân hoàn toàn làm chủ vận mệnhcủa mình Tư tưởng đó được Hêghen phát triển thêm, khẳng định con người làsản phẩm của một thời đại lịch sử nhất định, vì vậy, mang bản chất xã hội.
Trước những thành tựu khổng lổ về kinh tế - xã hội và văn hoá mànhân loại đạt được trong thời kì bình minh đầy tính cách mạng của chủ nghĩa
tư bản, các nhà triết học cổ điển Đức từ Cantơ đến Hêghen đều đề cao sứcmạnh trí tuệ và hoạt động con người tới mức cực đoan Họ thần thánh hoá conngười tới mức coi con người là chúa tể của tự nhiên, bản thân giới tự nhiêncũng chỉ là kết quả hoạt động của con người Quan niệm duy tâm đó càngđược củng cố bởi sự thống trị mạnh mẽ của tôn giáo trong xã hội Đức thời đócũng như sự thoả hiệp của giai cấp tư sản với ý thức hệ phong kiến Tuy vậy,cần phải nhận thấy một trong những thành tựu cơ bản của triết học cổ điểnĐức là, thứ nhất, khẳng định tư duy và ý thức chỉ có thể phát triển trongchừng mực con người nhận thức và cải tạo thế giới Con người là chủ thể,đồng thời là kết quả của toàn bộ nên văn minh do chính mình tạo ra; thứ hai,nghiên cứu tiến trình lịch sử của nhân loại, cũng như toàn bộ mối quan hệ
“con người tự nhiên” như một quá trình phát triển biện chứng
Vì thế, đặc điểm thứ ba của triết học cổ điển Đức là nó dựa trên mộtcách nhìn biện chứng về thế giới hiện thực Trước những bước phát triển như
vũ bão của khoa học và thực tiễn xã hội ở châu Âu cuối thế kỷ XVIII - nửađầu thế kỷ XIX cho thấy hạn chế của bức tranh cơ học về thế giới, các nhà
Trang 7triết học cổ điển Đức tiếp thu những tư tưởng biện chứng trong các di sản triếthọc truyền thống từ thời cổ đại, xây dựng phép biện chứng trở thành mộtphương pháp luận triết học trong việc nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và
xã hội Với giả thuyết vân tinh nổi tiếng về sự hình thành vũ trụ và cách nhìnmới về con người, Cantơ, theo nhận xét của Ph.Ăngghen, là người chọc lỗthủng đầu tiên vào quan niệm siêu hình về tự nhiên thống trị trong khoa học
và triết học suốt thế kỷ XVI - XVII Hêghen đã phát hiện ra những quy luật vàcác phạm trù cơ bản của phép biện chứng, xây dựng nó trở thành một khoahọc về sự phát triển của tất thảy mọi sự vật và tư tưởng Ý nghĩa thực sự vàcách mạng của triết học Hêghen “là ở chỗ nó đã vĩnh viễn kết liễu tính tối hậucủa những kết quả của tư tưởng và của hành động con người Theo Hêghen,chân lý mà triết học có nhiệm vụ phải nhận thức, không còn là một tập hợpnhững nguyên lý giáo điều có sẵn , từ nay, chân lý nằm trong chính ngay quátrình nhận thức, trong sự phát triển lịch sử lâu dài của khoa học” Dù dướihình thức duy tâm, triết học cổ điển Đức đã đưa lại cho chúng ta phương pháp
tư duy biện chứng, một phương pháp tư duy mà sau này, khi đã được C.Mác
và Ph.Ăngghen cải tạo, thì nó trở thành "linh hồn của chủ nghĩa Mác”
Với cách nhìn biện chứng bao quát toàn bộ hiện thực, nhiều nhà triếthọc cổ điển Đức có ý đồ hệ thống hoá toàn bộ những tri thức và thành tựu mànhân loại đạt được từ trước tới giờ Và đây là đặc điểm thứ tư của triết học cổđiển Đức Tiếp thu những tinh hoa của siêu hình học thế kỷ XVII trong việcphát triển tư duy lí luận và hệ thống hoá toàn bộ tri thức con người, các nhàtriết học, từ Cantơ tới Hêghen đều có ý đồ xây dựng một hệ thống triết họcvạn năng của mình làm nền tảng cho toàn bộ thế giới quan con người, khôiphục lại quan niệm coi triết học là khoa học của các khoa học Họ thể hiện sựuyên bác không chỉ về triết học mà còn về các lĩnh vực khoa học tự nhiên,pháp quyển, lịch sử… Dĩ nhiên, quan niệm đó hiện nay không phù hợp,nhưng về phương diện lịch sử, nó đáp ứng nhu cầu của khoa học cần hệ thốnghoá toàn bộ tri thức con người mà các nhà Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII lànhững người khởi xướng trong bộ Bách khoa toàn thư của mình
Trang 8Trên đây là những đặc điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức Luậnđiểm của C.Mác coi đây là "lí luận của người Đức về cách mạng tư sảnPháp”, một mặt, cho thấy đặc trưng riêng của triết học Đức so với triết họcPháp thế kỷ XVIII, dù giữa chúng có sự kế thừa to lớn; mặt khác, khẳng địnhgiá trị tư tưởng vĩ đại của triết học cổ điển Đức Phân tích từng đại biểu cụ thểcủa nó giúp ta hiểu thêm điều đó.
II Vấn đề bản thể luận trong triết học cổ điển Đức (minh chứng qua một số đại diện triết học tiêu biểu)
1 Triết học Kant (Cantơ)
Immanuel Kant sinh ngày 22 tháng 4 năm 1724 tại Königsberg; mấtngày 12 tháng 2 năm 1804 tại Königsberg, được xem là một trong những triếtgia quan trọng nhất của nước Đức, hơn nữa là một trong những triết gia lớnnhất của thời kỳ cận đại (Neuzeit), của nền văn hóa tân tiến và của nhiều lĩnhvực nhân văn khác Triết học I.Kant được chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ tiềnphê phán và thời kỳ phê phán: Thời kỳ tiền phê phán (1745 - 1769) I.Kantchủ yếu nghiên cứu các vấn đề toán học, cơ học, thiên văn học Bên cạnhnhững quan niệm duy vật thời kỳ này tư tưởng của ông còn xuất hiện sự bếtắc trong việc tìm kiếm và giải quyết các vấn đề triết học Lối thoát cho sự bếtắc này được ông giải quyết trong “thời kỳ phê phán” Thời kỳ phê phán(1770 - 1804), nếu trước đây I.Kant thừa nhận con người có khả năng nhậnthức thế giới, thì giờ đây ông lại cho rằng con người không nhận thức đượcthế giới – bất khả tri, trước đây ông đề cao trí tuệ thì nay ông lại đề cao tínngưỡng I.Kant phủ nhận khả năng nhận thức bản chất của sự sống, ông chorằng thực thể và tinh thần, hiện thực và tư tưởng là hai lĩnh vực hoàn toànkhác nhau, không có liên quan gì với nhau Từ đó, I.Kant hoài nghi khả năngnhận thức thế giới nói chung của con người Với phương châm “thời đạichúng ta là thời đại phê phán đích thực mà mọi thứ đều phải phục tùng”,I.Kant đề ra nhiệm vụ cho triết học của mình là phê phán hệ thống siêu hìnhhọc cũ, đặt ngược lại một số vấn đề mà môn khoa học này tưởng như đã giảiquyết xong, I.Kant tập trung toàn bộ sức lực và thời gian để thực hiện nhiệm
Trang 9vụ mà cả cuộc đời ông đặt ra cho mình là xây dựng một hệ thống triết họcmới Về tác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy” Học thuyết "Triết học siêunghiệm" (Transzendentalphilosophie) của Kant đã đưa triết học Đức bước vàomột kỉ nguyên mới "Danh tiếng của ông đã đẩy lùi những gì đi trước vàobóng tối và toả sáng lên trên những gì đi sau", như nhận xét của triết sử gia J.Hirschberger.
“Der Charakter eines wahren Philosophen ist der, daß er nichts thut, als die Natürlichen Kräfte und Fähigkeiten zu exercieren, und zwar durch die nachforschende Untersuchung der Kritik.” - J.Hirschberger
Tạm dịch:
“Đặc điểm của một triết gia chân chính là ở chỗ ông ta không làm gì ngoài việc vận dụng sức mạnh và khả năng tự nhiên, cụ thể là qua việc nghiên cứu sự phê phán.”
Điểm mấu chốt và tập trung trong triết học Cantơ và xác định bản chấtcủa con người, giải quyết những vấn đề của cuộc sống và hoạt động thực tiễncủa con đường Do đó, trong hệ thống triết học của mình, Cantơ đặt ra và tìmlời giải đáp cho bốn câu hỏi lớn Các câu hỏi được tập trung làm rõ trong bộ
ba sách hệ thống triết học của ông:
Một là: “Tôi có thể nhận thức được gì?” Câu hỏi này được trả lời trongtác phẩm “Phê phán lý tính thuần túy”, viết năm 1781
Hai là: “Tôi nên làm gì?” Câu hỏi này được trả lời trong tác phẩm “Phêphán lý tính thực tiễn”, viết năm 1788
Ba là: “Tôi có thể hy vọng được gì?” Câu hỏi này được trả lời trong tácphẩm “Phê phán năng lực phán đoán”, viết năm 1790
Bốn là: “Con người là gì?” Câu hỏi này được trả lời trong từng phầncủa cả ba tác phẩm trên
Vấn đề bản thể luận theo đó cũng được bàn đến trong cả ba tác phẩmcũng như trong quá trình trả lời bốn câu hỏi lớn của ông Song chúng có thểkhái quát ở một số nội dung sau đây:
Quan điểm “vật tự nó”
Trang 10Quan điểm này trong triết học Kant đi sâu vào lí giải “hiện tượng” và
“thế giới hiện tượng”
Theo I.Kant "hiện tượng chỉ là vỏ ngoài hời hợt, chỉ là ảo tượng", thế
giới hiện tượng là sự biểu hiện bề ngoài (hiện tượng) của thế giới vật tự nó;
Là thế giới của kinh nghiệm; Nhận thức của chúng ta là nhận thức thế giớinày – Hiện tượng luận
I.Kant lấy cảm giác làm tiêu chuẩn để phân ranh giới giữa những đốitượng mà ta có thể tri thức (các hiện tượng), và những thực tại vượt quá khảnăng tri thức của ta (các vật tự nó), I.Kant cho rằng tất cả các trực giác của tachỉ là những biểu tượng của các hiện tượng, có nghĩa là chúng ta chỉ tri thứcvạn vật theo như chúng xuất hiện trước cảm giác của chúng ta, còn bản chấtsâu xa bên trong của chúng tự nó như thế nào thì chúng ta không thể biếtđược, mỗi sự vật hiện tượng tự nó tồn tại, con người có cố gắng đi tìm cái bảnchất đích thực của nó thì cũng không bao giờ tìm hiểu hết được, càng cố gắng
đi tìm thì con người càng trở nên bất lực mà thôi Không gian và thời gian lànhững mô thức thuần túy của tri giác của chúng ta, cảm giác thường nghiệm
là chất liệu nói chung Các mô thức là thường nghiệm còn cảm giác củachúng ta là hậu nghiệm Mặc dù cảm giác của chúng ta có tiến đến mức nào đinữa thì chúng ta vẫn không thể nào nhận thức hết được bản chất của sự vật,bởi vì chúng ta không thể nào hiểu được "Vật tự nó" Tất cả những gì mà conngười chúng ta được nhận biết nơi giác quan chỉ là những hiện tượng mà thôi,chúng ta chỉ có khả năng nhận biết được cái vỏ bề ngoài của sự vật, bởi vìchúng ta phải thừa nhận rằng không có giác quan bên trong nào hết và chủ thểcủa các giác quan bên trong ấy chỉ được giác quan đó biểu tượng như là mộthiện tượng mà thôi, chứ ở đây không phải là trực giác trí tuệ
Do quan niệm: từ cảm giác, qua kinh nghiệm của chúng ta mà thế giớihiện tượng thể hiện ra như nó đang tồn tại; hay có thể nói, hiện tượng chính làphương thức mà nhờ đó “các sự vật” khách quan biểu hiện trong kinh nghiệmcủa chúng ta, cho nên I.Kant còn gọi “thế giới hiện tượng” này là “thế giới
Trang 11kinh nghiệm” I.Kant đã luận giải về sự phân biệt mọi đối tượng thành "vật tựnó" và "hiện tượng", thế giới thành "thế giới vật tự nó" và "thế giới hiệntượng" Ông cho rằng các sự vật trong giới tự nhiên thuộc thế giới hiện tượng,chúng có liên quan đến kinh nghiệm cảm tính, đến trực quan sinh động củacon người, đó là nơi mà con người cảm giác được sự tồn tại của chúng Đây làthế giới khả giác, khả nghiệm; bằng tri giác, cảm tính, thông qua hình thứctiên nghiệm của không gian – thời gian, con người có thể nhận thức được nó.I.Kant cho rằng cảm giác đem lại cho chủ thể nhận thức những tài liệu cảmtính lộn xộn Nhờ có năng lực tiên thiên của không gian, tức là hình thức trựcquan mang tính chủ quan của con người (năng lực định hình hay cảm nhận,xác định đối tượng trong một khuôn hình, vị trí hay giới hạn nào đó) mà cácđối tượng (bên ngoài tác động lên con người) được quy về các hình hài cótính xác định (như nó vốn có trong thực tế) Nhờ năng lực tiên thiên của thờigian (năng lực cảm nhận xác định các sự kiện diễn ra bên trong và bên ngoàitheo một trật tự liên tục trước sau) mà các ấn tượng, các trạng thái hỗn độn –
đa dạng được đưa vào một trật tự, sắp xếp theo thứ tự liên tục trước sau, kếtiếp nhau
Thế giới hiện tượng - hay những ánh xạ của "Vật tự nó" là thế giới nằmgiữa "Vật tự nó" và cái Tôi chủ thể nhận thức, nó là cái biểu hiện bề ngoài của
"Vật tự nó" mà con người cảm giác được thông qua cácgiác quan của mình.Như vậy, thế giới hiện tượng là những gì biểu hiện ra bên ngoài mà con người
có thể nhận biết được Đó là thế giới mà con người có thể nắm bắt được bằnggiác tính của mình Thế giới đó theo I.Kant là phần biểu hiện bề ngoài của thếgiới "Vật tự nó", là thế giới không nằm trong "điểm mù" của lý tính conngười và cũng không nằm trong "giải tần mờ" của lý tính, mà nó hiện hữu ratrước mắt chúng ta, con người có thể dễ dàng nhận biết bằng giác quan thôngthường, thế giới hiện tượng hàng ngày tác động lên các giác quan của conngười và chính nó lại giúp con người có thể nhận biết nó một cách dễ dàng.Thế giới ấy chỉ là một phần biểu hiện nhỏ của thế giới bí ẩn "Vật tự nó" mà
Trang 12con người không thể nhận thức được Thế giới "Vật tự nó" vô cùng vô tận, vìthế con người đang ngày càng muốn đi sâu tìm hiểu để hiểu được bản chấtcủa nó là gì.
Phép biện chứng tiên nghiệm
Không “nêu lại phép biện chứng” mà các nhà siêu hình thế kỉ XVII –XVIII đã đưa vào lãng quên, không chỉ làm triết học cũ thoát khỏi thứ triết líhão huyền, I.Kant đã tạo ra trong hệ thống triết học duy tâm tiên nghiệm củamình một hình thức mới của phép biện chứng – phép biện chứng tiên nghiệm
Siêu hình học Kant – học thuyết về các mối quan hệ
Khi xác định lại một cách có phê phán những quan niệm truyền thống
về lý tính, về khả năng nhận thức của con người, I.Kant coi nhiệm vụ phêphán của “lý tính tư biện thuần túy” là “thay đổi phương pháp nghiên cứutrước đây trong siêu hình học” Ông đã đưa ra một thứ siêu hình học mới –siêu hình học tiên nghiệm mà nói một cách ước lệ, nó được coi như họcthuyết về các mối quan hệ
Sự độc đáo trong siêu hình học Kant chủ yếu được xác định bởi sựthống nhất hữu cơ giữa hiện tượng học và bản thể luận “Phê phán lý tính: củaKant trước hết nhằm phi bản thể luận hóa bản chất siêu nghiệm của Thượng
đế Ông đi tới kết luận rằng đằng sau khái niệm Thượng đế không ẩn náu mộtthực tại, một bản chất nào cả Với cách tiếp cận đó, I.Kant hy vọng siêu hìnhhọc tiên nghiệm của ông sẽ lý giải được những vấn đề mà siêu hình họctruyền thống không lý giải được Song, chính sách tiếp cận đó cũng lại đặt ranhững trở ngại cho việc làm sáng tỏ nội dung bản thể luận của siêu hình họctheo kiến giải của chính ông Tuy nhiên, với các tiếp cận đó, I.Kant đã cónhững đóng góp đảng kể vào việc phát triển nội dung bản thể luận triết học.Ông cho rằng để phát triển nội dung bản thể luận triết học thì trước hết, chúng
ta phải tạo ra một hệ thống khái niệm có khả năng mô tả cấu trúc nội tại củabản thể luận Thực hiện mục đích đó, I.Kant không dừng lại ở việc phân tíchkhả năng cảm tính mà tiếp tục nghiên cứu tư duy, trí lực của con người Ông
Trang 13đòi hỏi ở các tri thức khoa học và triết học sự hoàn hảo tuyệt đối, coi như là lýtưởng của tri thức con người Điều đó cho thấy bản thể luận trong siêu hìnhhọc tiên nghiệm của I.Kant khác với mọi bản thể luận trong siêu hình họctruyền thống Nó là thứ bản thể luận, trong đó con người được quan niệmkhông phải với tư cách là chủ thể riêng biệt mà là chủ thể xã hội tiên nghiệm.
Về con người
Một câu hỏi luôn được đặt ra trước loài người nói chung và các nhà tư
tưởng nói riêng là: Con người từ đâu đến, nó sẽ đi về đâu, cái gì đang đợi nó
và tương lai của nó như thế nào? I.Kant là một trong những đại biểu xuất sắc
nhất trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã đề xuất nhiều ý tưởng có ý nghĩa tolớn đối với việc tiếp cận vấn đề muôn thuở trên
Kế thừa một cách chọn lọc những thành tựu triết học của các thế hệ đitrước, khi vạch ra những hạn chế trong lý luận về con người của họ, I.Kantphê phán tư tưởng tính ưu tiên của loài đối với cá thể Ông xem xét loài dướidạng bản chất xã hội; những quyền lợi của loài là những quyền lợi hàng đầu
có tính quyết định đối với cá thể Ở đây, ông đề xuất tư tưởng về sự thốngnhất của loài người: “tất cả mọi người trên trái đất, về bản chất, đều thuộc mộtloài…, ngay đến vẻ ngoài của con người cũng có những cái không thể phânbiệt được sự khác nhau” Nguyên nhân của sự khác nhau ở các chủng tộcngười là sự tác động đa dạng của các điều kiện sống tự nhiên – vật chất khácnhau Kant đã chứng minh rằng tính xã hội của loài người được hình thành do
sự vận động của các trạng thái tự nhiên – sinh học của các cá thể ở mỗi thế
hệ, dần dần qua quá trình phát triển ý thức của các thế hệ mà các hình thái đạođức và cuối cùng là lý tưởng xã hội được phát triển
Nghiên cứu xã hội loài người, Kant phân ra bốn mức độ hay bốn bướcphát triển Bước đầu tiên là lịch sử loài người đó là “bước chuyển từ trạng tháitồn tại thuần túy động vật sang trạng thái có tính người, từ sự lệ thuộc vào bảnnăng sang sự chỉ đạọ của lý trí…” Bước chuyển thứ hai từ khi lý trí trở thànhyếu tố có vai trò trọng yếu trong đời sống, khi các tình cảm thuần túy được bổ
Trang 14sung thêm chất tư tưởng, các nhu cầu có tính động vật trở thành tình yêu, cáccảm giác, sự dễ chịu trở thành sự cảm nhận cái đẹp đầu tiên trong conngười…” Bước thứ ba được thể hiện như “sự chờ đợi có tính lý trí tới tươnglai” Và cuối cùng, bước cuối cùng được thể hiện bằng lý trí Đó là bước quyếtđịnh nâng con người vượt lên trên thế giới động vật.
Tư tưởng về động lực phát triển của lịch sử thế giới do Kant đề xuấtcũng có ý nghĩa to lớn Theo ông, động lực thúc đẩy lịch sử thế giới khôngchỉ là toàn bộ những hành động của cá nhân mà là một hệ thống gồm các bộphận của nó là vô số các thế hệ tạo nên một loài bất tử Các tư chất tự nhiêncủa mỗi cá thể, khuynh hướng vận động có tính lý trí của nó được phát triểnhoàn toàn không ở trong cá thể mà trong loài người: bởi mỗi cá thể chỉ là cáihữu hạn sẽ bị tiêu vong, chỉ có các thế hệ mới có thể lưu truyền các di sản chonhau, làm cho các tư chất vốn có trong loài được bảo tồn và ngày càng đượcphát triển Chỉ có lao động là nhân tố trường tồn tự khẳng định con người vàtạo nên nền văn hóa, văn minh, những cái tạo ra động lực tiến bộ cơ bản củalịch sử
Kant cho rằng, nếu nhu cầu ở con vật là không thay đổi thì ở conngười chúng luôn luôn biến đổi, lớn lên, làm thành chất kích thích thúc đẩy
xã hội phát triển Sự phát triển mọi tư chất vốn có trong loài người theoKant, chỉ có được trong tương lai của xã hội công dân có pháp chế phổbiến Đó là xã hội phát triển ở trình độ cao được đặc trưng bằng tự do caonhất đối với mọi người
Kant có cách tiếp cận con người với tư cách một thực thể xã hội đượcphát triển các năng lực của mình phù hợp với tư tưởng cá nhân hài hòa, tự do,bình đẳng Năng lực của con người, theo Kant, không thể được bộc lộ ở bênngoài cộng đồng người Chỉ trong cộng đồng, con người mới trở nên hạnhphúc, vì chỉ ở đó, người này mới có thể đem lại điều thiện cho người kia Làmột nhà tư tưởng sâu sắc, Kant luôn có cái nhìn tới tương lai, tin tưởng vàotương lai loài người Đồng thời, ông cũng tin tưởng vào sự tiến bộ vô tận của
Trang 15xã hội và vai trò hoạt động cải tạo của con người với tư cách là chủ thể củathế giới, bởi con người về bản chất là một thực thể hoạt động, tích cực.
Ý nghĩa to lớn của việc nghiên cứu vấn đề con người của Kant là ở chỗ,ông đã: Thứ nhất, quan tâm đặc biệt tới những điều kiện tự nhiên – vật chấtcủa sự nảy sinh và phát triển xã hội; Thứ hai, xây dựng học thuyết về vai tròcủa tính mâu thuẫn xã hội và tính đối kháng như là động lực của tiến trìnhlịch sử;Thứ ba, tin vào tiến bộ xã hội và thắng lợi của yếu tố đạo đức trongcon người; Thứ tư xem mục đích của lịch sử là xây dựng một xã hội côngbằng và con người hạnh phúc, phát triển hài hòa Các quan điểm của Kant vềtiến trình lịch sử là một trong những bước tiến lớn lao trên con người xâydựng lý thuyết biện chứng về sự phát triển
2 Triết học Hegel (Hêghen)
2.1 Tiểu sử
Georg Wilhem Friedrich Hegel sinh ngày 27/8/1770 trong một gia đìnhviên chức Nhà nước tại Stuttgart, thuộc lãnh địa Württemberg, miền tây namnước Đức Ông là anh cả trong gia đình có ba anh em Hegel được nuôidưỡng trong một môi trường Tin Lành ngoan đạo Mẹ ông đã dạy tiếng Latincho ông từ rất sớm
Năm 1776, ông theo học trung học tại trường Stuttgart Năm 1788,Hegel theo học tại trường dòng Tin Lành thuộc Đại học Tübinger Tại đây,ông kết bạn với nhà thơ Friedrich Hölderlin và triết gia trẻ sau này FriedrichWilhelm Joseph Schelling Cả ba đã có nhiều chia sẻ lẫn nhau và chịu ảnhhưởng tư tưởng của nhau
Từ 1793 – 1797, sau khi tốt nghiệp trường Tübinger, Hegel đi dạy tưtại Bern (Thụy Điển) và Frankurt Năm 1799, cha ông qua đời Được thừa kế
di sản từ người cha, ông từ bỏ việc dạy tư Năm 1801, Hegel đến Jena và làmviệc với tư cách một giảng viên, sau đó trở thành Giáo sư Tại đây, ông đã
hoàn thành một trong những tác phẩm quan trọng nhất của ông – Hiện tượng học về tinh thần (“Phenomenology of Spirit” – 1807).
Trang 16Năm 1806, Pháp chiếm đóng thành phố Jena Tháng 03/1807, Hegelđến Bamberg và làm Biên tập cho tờ báo Bamberger Zeitung Tháng 11/1808,Hegel làm Hiệu trưởng một trường dòng ở Nuremberg trong tám năm (đến1816) Tại đây, ông đã đưa tác phẩm Hiện tượng học về tinh thần vào giảngdạy Trong thời gian này, ông xuất bản tác phẩm chính yếu thứ hai của ông:Khoa học về Logic (3 tập vào các năm 1812, 1813, 1816).
Năm 1816, Hegel đến Đại học Heidelberg Ngay sau đó, năm 1817,
ông cho xuất bản Đại cương Bách khoa thư về khoa học triết học (The
Encyclopedia of the Philosophical Sciences in Outline) dưới hình thức tómlược triết học của ông để giảng dạy tại Heidelberg
Năm 1818, Hegel đến dạy tại Đại học Berlin và đến đây làm Chủ tịchTriết học (bỏ trống từ sau khi Fichte qua đời năm 1814) Năm 1821, ông choxuất bản tác phẩm Triết học pháp quyền (1821) Ông gắn bó ở đây và qua đờivào ngày 14/11/1831 vì bệnh dịch tả
Nhưng năm tháng cuối đời, Hegel tập trung giảng dạy về mỹ học, lịch
sử triết học, triết học tôn giáo, triết học lịch sử Các ghi chú giảng bài của ông
và các ghi chú bổ sung của sinh viên được xuất bản sau khi ông qua đời: Mỹhọc (1835 – 1838), NhữnG bài giảng về lịch sử triết học (1833 – 1836),Những bài giảng về triết học tôn giáo (1832), Nhữn bài giảng về triết học lịch
sử (1837)
Ngoài ảnh hưởng mạnh mẽ tư tưởng Hy Lạp (Parmenides), Hegel cònđọc các tác phẩm của triết gia Hà Lan Baruch Spinoza, văn hào Pháp JeanJacques Reussau và các triết gia Đức Immanuel Kant, Johan Gottlieb Fichte,Schelling Dù ông thường xuyên bất đồng với những triết gia này nhưng ảnhhưởng của họ trong các tác phẩm của ông là rất rõ ràng
2.2 Một số vấn đề bản thể luận nổi bật trong triết học Hegel
Tư tưởng về nguồn gốc thế giới
Hegel là nhà duy tâm khách quan, ông cho rằng khởi nguyên của thếgiới không phải là vật chất mà là “ý niệm tuyệt đối” hay “tinh thần thế giới”
Trang 17Ông coi tinh thần thế giới là cái có trước, vật chất với tính cách dường như là
sự thể hiện, sự biểu hiện cụ thể của tinh thần thế giới, là cái có sau; tinh thần
là đấng sáng tạo ra vật chất Tính phong phú, đa dạng của thế giới hiện thực làkết quả của sự vận động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối Tinh thần thế giới –
ý niệm tuyệt đối tồn tại vĩnh viễn và chứa đựng dưới dạng tiềm năng tất cảcủa mọi hiện tượng tự nhiên và xã hội Nó là nguồn gốc và động lực của mọihiện tượng tự nhiên và xã hội
Tinh thần thế giới hay ý niệm tuyệt đối trong quá trình phát triển của nódiễn ra qua các giai đoạn khác nhau, ngày càng thể hiện đầy đủ nội dung bêntrong nó Đầu tiên nó phát triển trong bản thân nó, sau đó thế hiện dưới hìnhthức tự nhiên – thế giới vô cơ, hữu cơ và con người, tiếp nữa thể hiện dướihình thức nhà nước, nghệ thuật, tôn giáo và triết học Theo hệ thống củaHegel, toàn bộ thế giới muôn màu, muôn vẻ là sản phẩm của sự phát triển tựnhiên của ý niệm với tính cách là lực lượng sáng tạo, là tổng hòa của mọi hìnhthức khác nhau của sự biểu hiện ý niệm Bởi vậy, học thuyết của Hegel coitính thứ nhất là tinh thần, tính thứ hai là vật chất do ý niệm tuyệt đối và tinhthần thế giới sinh ra và quyết định, là một sự “tồn tại” khác của tinh thần saukhi trải qua giai đoạn “tồn tại khác” ấy, ý niệm tuyệt đối hay tinh thần thế giớimới trở lại “bản thân mình” và đó là giai đoạn cao nhất, giai đoạn tột cùng,được Hegel gọi là “tinh thần tuyệt đối” Đó cũng chính là sự thể hiện riêng vềmặt triết học những lời khẳng định của tôn giáo rằng Thượng đế sáng tạo rathế giới
Có thể nói, trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, Hegel chỉlặp lại những điều mà các nhà duy tâm trước đó đã nói, song cái mới tronghọc thuyết của ông chính là chỗ ông xem xét tinh thần thế giới, ý niệm tuyệtđối là một quá trình phát triển không ngừng, và ông là một nhà triết học hoànchỉnh phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng của ý niệm tuyệt đối, tinhthần thế giới với tính cách là cơ sở đầu tiên và nguồn gốc của mọi tồn tại
Tư tưởng biện chứng của Hegel