Đề tài: Tư tưởng triết học Nho giáo và ảnh hưởng của nó đến Việt Nam PHẦN I: MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trung Quốc được coi là một trong bốn cái nôi văn hóa của nhân loại, trong đó có nhiều tư tưởng triết học được bảo tồn lâu đời và có sức ảnh hưởng đến tận ngày nay. Tại Việt Nam, trong suốt quá trình Bắc Thuộc kéo dài cũng đã chịu sự tác động, ảnh hưởng từ những tư tưởng ấy, trong đó tư tưởng triết học Nho gia được xem là có sự tác động mạnh mẽ nhất đến thói quen, tập tục, lối sống của nước ta. Trong quá trình du nhập, tồn tại và phát triển ở Việt Nam, Nho giáo đã góp phần to lớn trong việc kiến tạo bộ mặt văn hoá Việt Nam. Đặc biệt, chúng ta không thể không nói tới con người Việt bởi con người với các giá trị tinh thần, đạo đức, thẩm mỹ… chính là biểu hiện rõ nhất của cái gọi là Văn hoá của một dân tộc. Lịch sử sản xuất, đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt đã hình thành các giá trị đạo đức cho người Việt nhưng không thể phủ nhận vai trò của Nho giáo. Nếu sản xuất và đấu tranh giữ nước là thực tiễn hình thành các giá trị đạo đức truyền thống của người Việt thì Nho giáo chính là hệ thống lý luận làm cho các giá trị đạo đức đó được khái quát lại, thâu tóm lại một cách sâu sắc, có tính tự giác và trở thành chuẩn mực cho các thế hệ người Việt. Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập, tư tưởng Nho giáo vẫn còn hiện hữu và còn nguyên vẹn giá trị. Sau đây, tôi xin đi vào làm rõ về lịch sử hình thành, phát triển của Nho giáo và ảnh hưởng, tác động của nó đến Việt Nam trong thời kỳ hiện nay. 2. Mục đích nghiên cứu Trong suốt quá trình lịch sử, nhiều tư tưởng triết học ra đời và có giá trị đến tận ngày nay, tuy nhiên, trước bối cảnh xu hướng lối sống hiện đại đang lên ngôi, nhiều giá trị tư tưởng dần bị lãng quên, trong đó có tư tưởng triết học Nho gíao. Tiểu luận này đi nghiên cứu, làm rõ về lịch sử hình thành, phát triển của Nho giáo và tác động tích cực, tiêu cực của Nho giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay.
Trang 1Đề tài: Tư tưởng triết học Nho giáo và ảnh hưởng của nó đến Việt Nam
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trung Quốc được coi là một trong bốn cái nôi văn hóa của nhânloại, trong đó có nhiều tư tưởng triết học được bảo tồn lâu đời và có sứcảnh hưởng đến tận ngày nay Tại Việt Nam, trong suốt quá trình BắcThuộc kéo dài cũng đã chịu sự tác động, ảnh hưởng từ những tư tưởng
ấy, trong đó tư tưởng triết học Nho gia được xem là có sự tác động mạnh
mẽ nhất đến thói quen, tập tục, lối sống của nước ta
Trong quá trình du nhập, tồn tại và phát triển ở Việt Nam, Nhogiáo đã góp phần to lớn trong việc kiến tạo bộ mặt văn hoá Việt Nam.Đặc biệt, chúng ta không thể không nói tới con người Việt bởi con ngườivới các giá trị tinh thần, đạo đức, thẩm mỹ… chính là biểu hiện rõ nhấtcủa cái gọi là " Văn hoá của một dân tộc" Lịch sử sản xuất, đấu tranhdựng nước và giữ nước của dân tộc Việt đã hình thành các giá trị đạo đứccho người Việt nhưng không thể phủ nhận vai trò của Nho giáo Nếu sảnxuất và đấu tranh giữ nước là thực tiễn hình thành các giá trị đạo đứctruyền thống của người Việt thì Nho giáo chính là hệ thống lý luận làmcho các giá trị đạo đức đó được khái quát lại, thâu tóm lại một cách sâusắc, có tính "tự giác" và trở thành chuẩn mực cho các thế hệ người Việt
Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập, tư tưởng Nho giáo vẫn còn hiệnhữu và còn nguyên vẹn giá trị Sau đây, tôi xin đi vào làm rõ về lịch sửhình thành, phát triển của Nho giáo và ảnh hưởng, tác động của nó đếnViệt Nam trong thời kỳ hiện nay
Trang 2Trong suốt quá trình lịch sử, nhiều tư tưởng triết học ra đời và cógiá trị đến tận ngày nay, tuy nhiên, trước bối cảnh xu hướng lối sống hiệnđại đang lên ngôi, nhiều giá trị tư tưởng dần bị lãng quên, trong đó có tưtưởng triết học Nho gíao Tiểu luận này đi nghiên cứu, làm rõ về lịch sửhình thành, phát triển của Nho giáo và tác động tích cực, tiêu cực củaNho giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay.
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài: “Tư tưởng triết học Nho giáo và ảnh hưởng của nó đến ViệtNam” là một đề tài hấp dẫn, có tính thực tế cao Tuy nhiên, với khả nănghiểu biết và kinh nghiệm của bản thân còn nhiều hạn chế, bởi vậy trongtiểu luận này, tôi xin phép chỉ nêu khái quát quá trình phát triển của Nhogiáo và phân tích sự tác động của Nho giáo đến Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Dựa vào điều kiện thực tế và nền tảng nguyên lý học thuyết củachủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm chỉ đạo củaĐảng cộng sản Việt Nam, người làm tiểu luận áp dụng chủ yếu nhữngphương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu văn bản
- Phương pháp phân tích tài liệu
- Phương pháp lập luận
5 Kết cấu tiểu luận
Tiểu luận bao gồm 3 phần, 3 chương, 14 tiết và danh mục tài liệutham khảo
Trang 3PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM, LỊCH SỬ HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC NHO GIÁO
1.1 Khái niệm về Nho giáo
Nho giáo được gọi là đạo Nho hay còn được gọi cách khác là đạoKhổng Nho giáo là một hệ thống đạo đức, triết học xã hội, triết học giáodục và triết học chính trị do Khổng Tử khởi xướng và được các môn đồcủa ông phát triển với mục đích xây dựng một xã hội thịnh trị
1.2 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển Nho giáo
Vào thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc (Thế kỷ VII – II trước côngnguyên) xã hội Trung Quốc đang bước vào thời kỳ biến động về chính trị,
xã hội đang chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phongkiến Bên cạnh đó, đồ sắt xuất hiện, tạo nên cuộc cách mạng về công cụlao động, thúc đẩy kinh tế phát triển Ngành nông nghiệp có một bướctiến phát triển mạnh, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp có nhiềuchuyển biến vượt bậc Trước sự phát triển đó, mẫu thuẫn xã hội dần trởnên gay gắt, giai cấp quý tộc mâu thuẫn với giai cấp thương nhân, địa chủ
và giai cấp thống trị mâu thuẫn với nhân dân lao động Nội tại trong giaicấp thống trị đã chứa đựng mâu thuẫn không thể điều hòa được, vua Chuchỉ tồn tại trên danh nghĩa, chiến tranh giữa các nước chư hầu sảy ra liênmiên do tranh dành đất đai, bành trướng lãnh thổ Đạo đức xã hội dần suythoái, đảo lộn gây ra tình cảnh nhân dân đói khổ vì chiến tranh Đứngtrước tình hình đó, giới tri thức đua nhau tìm ra tư tưởng, phương pháp đểlập lại trật tự xã hội, có hàng trăm học thuyết ra đời Trong đó, Nho giađược coi là một trong những tư tưởng có sức ảnh hưởng nhất
Dựa trên những cơ cấu và sự tụ tập Nho giáo đã phổ biến lâu đời
Trang 4bà tổ tiên, Nho giáo đã trở thành hệ thống tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất
ở Trung Quốc, cùng tồn tại với Phật giáo và Lão giáo qua nhiều thế kỷ.Nho giáo do Khổng Tử sáng lập và được mở rộng bởi hai học trò củamình là Mạnh Tử và Tuân Tử vào thế kỷ thứ IV và III trước CN Vàonăm 221 trước CN, mở đầu thời đại đế quốc, nhà Tần đàn áp nhữngngười theo Đạo Nho không chút thương xót, thực hiện chính sách “Đốtsách trôn Nho” Nhưng đế chế này chỉ tồn tại 15 năm, triều đại kế tiếp,nhà Hán lại nâng cao Nho giáo hơn bất kỳ tông phái nào khác, biến nó trởthành quốc giáo Vào triều đại nhà Hán, đạo Nho trở thành cơ sở giáo dụccủa Trung Quốc, một vị trí mà nó nắm giữ cho đến đầu thế kỷ 20 Sự sụp
đổ của nhà Hán vào cuối thế kỷ thứ 2 trước CN và thời kỳ hỗn loạn xảy
ra sau đó đem lại sự suy sụp tạm thời vận mệnh của Nho giáo Nó cũng bịthử thách trong những thế kỷ tiếp theo sau đó vì Phật giáo và Lão giáođem lại khuynh hướng tâm linh đối với đời sống của mọi người mà Nhogiáo không hỗ trợ được Tuy nhiên, Nho giáo đáp lại bằng cách mở ramột số phong trào phục hưng ở các triều đại Đường và Tống (thế kỷ VII-XIII CN) với sự thành công vang dội, phong trào này được người PhươngTây biết đến là “Tân Nho giáo” do Chu Hy diễn giải, được chính quyềnchấp nhận như là một học thuyết chính thống và được tồn tại lâu dài ở cáctriều đại nhà Minh và nhà Thanh (thế kỷ XIV–XX) Sau khi thiết lập nềnCộng Hòa Trung Quốc vào năm 1912, phong trào cộng sản đối nghịchvới Nho giáo nên nó được xem là kẻ thù của sự tiến bộ Tuy thế, trongnhững năm gần đây, chính quyền Trung Quốc trở nên thoải mái hơn, chủyếu do bởi mối liên kết mật thiết của Nho giáo với hệ thống gia đình và
nó đặt nặng về kỷ luật và trật tự xã hội Mặc dù ngày nay chế độ phongkiến và đế quốc đã bị quét sạch nhưng giáo lý của đạo Nho vẫn còn tácđộng vào tâm hồn của người dân Trung Quốc
Nho giáo về cơ bản được chia ra làm 3 giai đoạn phát triển chính,
đó là Nho giáo nguyên thủy, Nho giáo thời Hán và Nho giáo thời Tống
Trang 5Về Nho giáo nguyên thủy Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệuđính và giải thích bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ,Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc Về sau Kinh Nhạc bị thất lạcnên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh Sau khi Khổng Tửmất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ Họctrò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựavào lời thầy mà soạn ra sách Đại học Sau đó, cháu nội của Khổng Tử làKhổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung Đến thời ChiếnQuốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chépthành sách Mạnh Tử Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nhogiáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổnggiáo hay "tư tưởng Khổng-Mạnh" Từ đây mới hình thành hai khái niệm,Nho giáo và Nho gia Nho gia mang tính học thuật, nội dung của nó cònđược gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo Ở Nho giáo, VănMiếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lýchính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành.
Đến đời Hán (Hán Nho), Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ
Ký Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụthống nhất đất nước về tư tưởng Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tưtưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt haingàn năm Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán Nho Điểm khác biệt sovới Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấpthống trị, Thiên Tử là con trời, dùng "lễ trị" để che đậy "pháp trị"
Đến đời Tống (Tống Nho), Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi
Lễ Ký và cùng với Luận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư Lúc đó, TứThư và Ngũ Kinh là sách gối đầu giường của các nhà Nho Nho giáo thời
kỳ nay được gọi là Tống Nho, với các tên tuổi như Chu Hy (thường gọi làChu Tử), Trình Hạo, Trình Di (Ở Việt Nam, thế kỷ thứ XVI, Nguyễn
Trang 6Tây gọi Tống Nho là "Tân Khổng giáo" Điểm khác biệt của Tống Nhovới Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố "tâm linh" (lấy từ Phậtgiáo) và các yếu tố "siêu hình" (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạoquan lại và cai trị.
1.3 Các đại biểu tiêu biểu
1.3.1 Khổng Tử
Khổng Tử còn có tên khác là Khổng Phu Tử (551 – 479 TCN) làmột nhà tư tưởng triết học nổi tiếng Trung Quốc, ông sinh ra trong mộtgia đình quý tộc nghèo, sa sút ở nước Lỗ, đã từng được giữ nhiều chứcquan khác nhau Do không được trọng dụng, ông cùng học trò đi sang cácnước chư hầu khác, truyền bá và muốn áp dụng học thuyết của mình vàotrị nước Sau 14 năm không thành, ông đành quay về quê viết sách, dạyhọc
Về tác phẩm, ông cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng lớn,đặc biệt là giá trị về đạo đức Trong đó có một số tác phẩm tiêu biểu như:thi, thư, lễ, nhạc, dịch, Xuân Thu, các tác phẩm này được học trò của ôngtập hợp lại làm thành cuốn Luận ngữ
Triết học của ông nhấn mạnh vào việc trị quốc bằng đạo đức, theoông chính trị phải là chính đáng, thẳng thắn, phải cai trị ngay thẳng.Quyền lực nhà nước phải được tập trung vào tay vua, vua phải là người tudưỡng bản thân, tuân theo lễ nêu gương sáng để cai trị thiên hạ, sử dụngđạo đức để trị quốc bình thiên hạ Gắn liền với tư tưởng trị quốc là họcthuyết về nhân, lễ, chính danh Tư tưởng của ông được coi là tư tưởng lớntrong thời đại Trung Quốc bấy giờ và hiện tại vẫn được lưu trữ tại Họcviện
1.3.2 Mạnh Tử
Trang 7Mạnh Tử (372–289 trước công nguyên; có một số tài liệu khác ghilà: 385– 303/302 TCN) là nhà triết học Trung Quốc và là người tiếp nốiKhổng Tử Mạnh Tử, tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư, sinh vào đời vuaLiệt Vương, nhà Chu, quê gốc ở đất Trâu, thuộc nước Lỗ, nay là thànhphố Trâu Thành, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc Ông mồ côi cha, chịu sựnuôi dạy nghiêm túc của mẹ là Chương thị (người đàn bà họ Chương).Chương thị sau này được biết tới với cái tên Mạnh mẫu (mẹ của MạnhTử) Mạnh mẫu đã ba lần chuyển nhà để Mạnh Tử được ở trong môitrường xã hội tốt nhất cho việc học tập, tu dưỡng Thời niên thiếu, Mạnh
Tử làm môn sinh của Tử Tư, tức là Khổng Cấp, cháu nội của Khổng Tử
Vì vậy, ông chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các tư tưởng Khổng giáo Mạnh
Tử là đại biểu xuất sắc của Nho giáo thời chiến quốc, thời kỳ nở rộ cácnhà tư tưởng lớn với các trường phái như Pháp gia, Du thuyết, Nho gia,Mặc gia (thời kỳ bách gia tranh minh) và cũng là thời kỳ mà các tậpđoàn phong kiến tranh giành, xâu xé lẫn nhau gây ra các cuộc chiến tranhliên miên, dân tình vô cùng khổ sở
Tư tưởng của Mạnh Tử phát triển thêm tư tưởng của Khổng Tửnhưng ông không tuyệt đối hóa vai trò của ông vua như Khổng Tử, ôngchủ trương dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh, ông cũng là ngườiđưa ra thuyết tính thiện của con người rằng con người sinh ra đã là thiệnrồi nhân chi sơ bản tính thiện, tư tưởng này đối lập với thuyết tính ác củaTuân Tử rằng nhân chi sơ bản tính ác Ông cho rằng "kẻ lao tâm trị ngườicòn người lao lực thì bị người trị" Học thuyết của ông gói gọi trong cácchữ "Nghĩa", "Trí", "Lễ", "Tín" Ông đem học thuyết của mình đi truyền
bá đến vua chúa các nước chư hầu như Tề Tuyên Vương (nước Tề), ĐằngVăn Công (nước Đằng), Lương Huệ Vương (nước Nguỵ) nhưng khôngđược áp dụng Về cuối đời ông dạy học và viết sách, sách Mạnh Tử củaông là một trong những cuốn sách quan trọng của Nho giáo Ông được
Trang 8xem là ông tổ thứ hai của Nho giáo và được hậu thế tôn làm "Á thánhMạnh Tử" (chỉ đứng sau Khổng Tử).
1.3.3 Tuân Tử
Tuân Tử (313 TCN – 235 TCN) là một nhà Nho, nhà tư tưởng củaTrung Hoa vào cuối thời Chiến Quốc Tuân Tử tên Huống , tự Khanh,cũng tự Tôn Khanh Đời Hán đặt tên sách của Tuân Tử là "Tôn KhanhTử", sang thời Đường mới đổi lại xưng hô "Tuân Tử" Tuân Tử ngườinước Triệu, sanh vào năm nào không được rõ, chỉ biết "Niên giám TuânTử", bắt đầu ghi chép sự tích của Người từ năm Triệu Huệ Văn Vươngnguyên niên, và mất vào năm thứ 25 Sở Khảo Liệt Vương Đại để là,trước 40 tuổi, Tuân Tử chuyên tâm về việc trau dồi học vấn, khoảngtrước sau 50 tuổi đi du hành qua các nước, từ 60 tuổi trở đi, những nămđầu làm huyện lệnh Lan Lăng của nước Sở, những năm sau thì mở lớpdạy học, y như Khổng Tử, Mạnh Tử thuở trước Đúng vào năm 50 tuổi,Tuân Tử đến nước Tề Tuy được người Tề hết sức kính nể, đã trước sau
ba lần cử làm "Tế tửu” , một danh hiệu vinh dự trong buổi "quốc yến",nhưng rốt cuộc chẳng được trọng dụng Sau khi rời Tề sang Tần, Tuân Tửđược gặp tể tướng Phạm Tuy Lúc đó Tần là một cường quốc, thường ỷthế mạnh đe dọa chư hầu Phạm Tuy hỏi cảm nghĩ của khách ra sao, đốivới Tần Đáp lại câu hỏi đó, trước hết, Tuân Tử ca ngợi Tần là một nước
có tập tục tốt, núi non đẹp, hơn nữa là quan lại dốc lòng vì dân, triều đìnhlàm việc mau mắn Nhưng tiếp theo thì vuốt mặt chẳng nể mũi, thẳng lờiphê bình nước Tần hãy còn khiếm khuyết đạo Nho Chiếu theo tiêu chuẩncủa Tuân Tử thì, thiếu đạo Nho tức là thiếu Lễ nghĩa, mà lễ nghĩa là linhhồn của quốc gia Tuân Tử khen điều hay, chê điều dở của Tần một cáchthẳng thắn, chẳng ngại mếch lòng ai như vậy là thái độ nhận chân nghiêmtúc, phải là phải, trái là trái của con người Nho học Song cũng vì thế, nênTuân Tử đã thiếu dịp may thi thố tài đức, thực hiện lý tưởng chính trị của
Trang 9mình, đành phải trở về cố quốc Ở Triệu là nơi nước nhà, Tuân Tử từngbiện luận phép dụng binh với Lâm Vũ Quân, trước mặt Triệu Hiếu ThànhVương Lâm Vũ Quân dựa vào nguyên tắc "xuất kỳ bất ý, công kỳ bất bị"của Tôn Tử binh pháp, cho ràng kẻ dùng binh giỏi, bao giờ cũng "quyềnmưu thế lợi " và "công đoạt biến trá", nghĩa là không từ bỏ bất cứ thủđoạn gian trá nào Ngược lại, Tuân Tử có quan điểm khác hẳn, Ngườinhấn mạnh kẻ giỏi về quân sự là biết "thiện phụ dân", tức là dựa vào sứcmạnh của dân một cách hiệu quả Tuân Tử cho rằng, được dân ủng hộmới nắm chắc phần thắng, cho nên "thiện phụ dân", là cái vốn quý nhấtcủa người điều khiển chiến tranh Tiếc thay, ngay tại bản quốc cũngkhông đắc chí Tuân Tử lại tái xuất ngoại, sang nước Sở Tại Sở, Tuân Tửđược Xuân Thân Quân bổ làm huyện lệnh huyện Lan Lăng, rồi từ đó định
cư luôn tại chỗ, không trở về cố quốc nữa Vào những năm cuối đời, lúctuổi về già, Tuân Tử đã mở trường tư thục dạy học và viết sách, sáng lập
ra học phái Lan Lăng, tạo dựng phong khí thư hương cho xứ này Từ đó,học trò Lan Lăng hay lấy chữ "Khanh" đặt tự, để kỷ niệm thầy Tuân Tử.Người đời sau hay hiểu một cách tổng quát là, lúc về già, Khổng Tử cùngMạnh Tử đều cáo lão về vườn, lập ngôn và trước tác Thật ra, bảo trọngKhổng - Mạnh lập ngôn là đúng, nhưng viết sách vị tất đã đúng
Trong thời gian ở Lan Lăng, chẳng những đã lập ngôn, mà còn lậpthư Ba mươi ba thiên trong cuốn sách mà Tuân Tử đã viết, là một bộ tácphẩm, có hệ thống tư tưởng hoàn chỉnh nhất của phái Nho học thời Chu -Lân Tuy rằng, trong triết lý tư tưởng của Tuân Tử, có một số khác biệtvới Khổng - Mạnh, nhưng về lập trường căn bản của Người đối với thế
sự, nhất là thái độ khẳng định giá trị lý tưởng chính trị của nhà Nho, thìchẳng có khác gì với Khổng - Mạnh Có lẽ cũng vì thế mà cuộc đời củaTuân Tử cũng chẳng khác chi mấy, so với Khổng Tử và Mạnh Tử
Trang 10CHƯƠNG 2: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC TRONG NHO GIÁO
2.1 Quan niệm về vũ trụ và giới tự nhiên
Quan niệm về Vũ trụ của Nho giáo được nói rõ trong Kinh Dịch,giải thích Vũ trụ căn cứ trên thuyết Âm Dương và Ngũ Hành “Dịch hữuThái cực, thị sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượngsinh Bát Quái.” Đạo Dịch có Thái Cực, Thái Cực sanh ra Hai Nghi : Nghi
Âm và Nghi Dương; Hai Nghi sanh ra Bốn Tượng là : Thái Âm, TháiDương, Thiếu Âm, Thiếu Dương; Bốn Tượng sanh ra Tám Quẻ là : Càn,Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài
Thoạt đầu tiên, Vũ trụ ra thế nào ? Cứ như những ý tưởng củangười xưa thì lúc đầu vũ trụ chỉ là một khối mờ mịt hỗn độn, tức là đờiHỗn mang Trong cuộc Hỗn mang ấy, có cái Lý vô hình rất linh diệu, rấtcương kiện, gọi là Thái Cực Song Thái Cực huyền bí vô cùng, không thểbiết được bản thể của Lý ấy như thế nào Ta tuy không biết rõ cái chântánh và cái chân tướng của Lý ấy, song ta có thể xem sự biến hóa của vạnvật mà biết được cái động thể của Lý ấy Cái động thể của Lý ấy pháthiện ra bởi 2 cái thể khác nhau là : Động và Tĩnh Động là Dương, Tĩnh
là Âm Dương đến cực độ thì lại biến ra Âm; Âm lên đến cực độ thì lạibiến ra Dương Hai thể ấy cứ theo liền nhau, rồi tương đối điều hòa vớinhau để biến hóa mà sanh ra Trời Đất và vạn vật Vậy, khởi điểm của TạoHóa là do 2 cái tương đối Âm và Dương mà Đạo Trời Đất cũng khởi đầubởi sự biến hóa của 2 tương đối ấy
Theo quan niệm này thì Đạo Trời Đất lúc đầu rất giản dị, sau mớibiến hóa dần dần đến chỗ phức tạp, càng biến hóa thì càng phức tạp, thiênhình vạn trạng Đó là “Nhứt bổn tán vạn thù”, cái Nhứt bổn ấy là TháiCực, nhưng dầu phức tạp đến đâu, rồi cuối cùng cũng qui về một, ấy là
“Vạn thù qui nhứt bổn”
Trang 11Đức Khổng Tử cho rằng cái Lý Thái Cực rất huyền vi mầu nhiệm,
mà tri thức con người thời đó khó đạt tới, nên Ngài không chú trọng xéttới, mà chỉ chú trọng cái động thể của nó, tức là Luật Biến hóa của TrờiĐất, tức Luật DỊCH Ngài thấy Đạo Dịch chi phối vạn vật, phù hợp vớihiện thực “Dịch không xa sự thật, mà đạo Dịch biến đổi luôn, không ởnhất định chỗ nào, lưu truyền khắp cả vũ trụ” Bỏ cái bản thể mà nghiêncứu cái động thể của Lý Thái Cực là một quan niệm rất thực tiễn, và đócũng là khởi điểm cho thuyết tùy thời của Đạo Nho
Như vậy, trong quan niệm về thế giới, Khổng Tử đã từ quan niệm
về đạo, thiên lý mang tính chất duy vật chất phác và biện chứng tự phátchuyển sang quan điểm số mệnh, thiên mệnh duy tâm thần bí Đây làbước lùi trong tư tưởng của ông
2.2 Quan niệm về đạo đức
Nho giáo sinh ra trong thời kỳ đất nước loạn lạc, vị trí bị đánh tráo,các mối quan hệ mâu thuẫn, đạo đức suy đồi, ngoài ra, Khổng Tử luyếntiếc chế độ xã hội cũ đang trên đường suy tàn, bởi vậy ông cho rằng đểduy trì chế độ xã hội cũ cần dùng đạo đức để trị vì Theo ông “Đạo” làquy luật chuyển biến, tiến hóa của trời đất, vạn vật Đối với con người,
“Đạo” là đường đi đúng đắn, cần phải noi theo để xây dựng mối quan hệlành mạnh, tốt đẹp
Trong Luận Ngữ chúng ta thấy hầu như mọi tư tưởng, mọi luận bàncủa thầy trò Khổng Tử đều xoay quanh đường lối "Đức trị", vậy trước hết
ta hãy xem Khổng Tử đã quan niệm về "Đức" như thế nào" Với Khổng
Tử đạo đức là gốc của con người, nói đến con người trước hết là nói đếnđạo đức Đúng như thiên "Học Nhi" - sách Luận ngữ đã viết: "Làm người
có nết hiếu, đễ thì ít ai dám xúc phạm bề trên Không thích xúc phạm bềtrên mà thích làm loạn thì chưa từng có Người quân tử chăm chú vào
Trang 12việc gốc, gốc mà vững thì đạo đức sinh ra Hiếu, đễ là cái gốc của đứcnhân "
Trước thời Khổng Tử đã xuất hiện khái niệm quân tử "Nhưng thời
đó nó trỏ cái địa vị trong xã hội, chứ không trỏ cái phẩm tính con người.Người có phận cao (tối đại đa số ở trong giai cấp quý tộc) cai trị dân, cóđức hay không đều gọi là quân tử" Đến thời mình, Khổng Tử đã đề ranhững tiêu chuẩn về tài đức, về tư cách phẩm chất để thành người quân tửđáng được nắm quyền trị dân, nhờ đó tiếng quân tử không còn thuần tuýchỉ người cầm quyền như trước nữa, mà chủ yếu là có nghĩa chỉ người cóđức dù họ cầm quyền hay không
Với Khổng Tử, hiếu, lễ là gốc của đạo đức Làm người trước hếtphải có hiếu nghĩa, phải đền ơn sinh thành Chính vì vậy ông từng mắng
Tể Dư là bất nhân, bất hiếu không nhớ công cha mẹ bồng bế ba năm, màmuốn rút thời gian để tang từ ba năm xuống một năm: "Dư là đứa bấtnhân? Đứa trẻ sinh ra, sau ba năm cha mẹ mới thôi bồng bế Dư nó cóđược cha mẹ bồng bế trong ba năm hay không?" Khổng Tử đề cao đứchiếu bởi vì làm người phải có lòng kính yêu cha mẹ và người thân trongnhà, thì mới biết yêu thương người ngoài, yêu thương đồng loại Và làmngười theo Khổng Tử trước hết phải có "đức", tu dưỡng "đức" rồi mớihọc văn Đạo hiếu quan trọng như vậy, nhưng như thế nào là hiếu?Khổng Tử trả lời Tử Du về đạo hiếu như sau: "Ngày nay người ta chohiếu là có thể nuôi cha mẹ, nhưng đến chó ngựa kia người ta cũng nuôi,nếu không kính cha mẹ thì có khác gì?" Như vậy, theo Khổng Tử, hiếuđức không phải chỉ là nuôi dưỡng cha mẹ mà là chăm sóc, nuôi dưỡngcha mẹ với sự thành kính, sự yêu thương thật sự
Mặc dù coi trọng hiếu đức như vậy nhưng quan niệm của Khổng
Tử không khắt khe, nghiệt ngã, một chiều mà rất đúng mực "Thờ cha mẹ,nên nhỏ nhẹ khuyên can; nếu thấy cha mẹ không theo ý mình thì vẫncung kính mà không xúc phạm cha mẹ; tuy khó nhọc, lo buồn nhưng
Trang 13không được oán hận" Có thể nói quan niệm này của Khổng Tử nếu đặttrong bối cảnh xã hội hiện đại vị tất đã lỗi thời mà vẫn gợi lên cho chúng
ta nhiều suy nghĩ
Sau hiếu, lễ, nói đến "đức" là nói đến tính thiện Khổng Tử quanniệm: "Bản tính tốt chẳng phải học tập theo cổ nhân mà cũng tốt, nhưngkhông đạt được mức tinh vi của đạo" Người có "đức", có tính thiện thì
"thấy việc thiện thì vội vàng như đuổi theo không kịp, thấy việc bất thiệnthì như nhúng tay vào nước sôi" Nhưng điều chủ yếu "đức" không phảichỉ là thiện đức mà là hành động Khổng Tử nói: "Biết đạo lý không bằngthích nó, thích nó không bằng vui làm theo nó" và "nghe được điều nghĩa
mà không làm theo, có lỗi mà không sửa đổi đó là những mối lo của ta".Như vậy, đức là lời nói đi đôi với việc làm đúng như Khổng Tử đã nói:
"Người xưa thận trọng lời nói, sợ sẽ xấu hổ nếu nói mà không làm được"
và "Người quân tử chậm chạp (thận trọng) về lời nói, mà mau mắn vềviệc làm"
Trong "Luận ngữ", chúng ta thấy Khổng Tử nói rất nhiều đến
"đức", nhất là "đức" của người cầm quyền Song đáng chú ý là Khổng Tửquan niệm về "đức" không phải như một cái gì biệt lập mà là trong sựthống nhất chặt chẽ không tách rời với tri thức, tài năng Quan niệm nàythực sự nhất quán từ Khổng Tử đến các môn đệ của ông Với Khổng Tửthì "chất phác thẳng thắn văn nhã thì là người quê mùa; văn nhã thẳngthắn chất phác thì là người chép sử (giữ việc văn thư); văn và chất đềunhau mới là người quân tử" Là người hết sức coi trọng đạo đức như vậyđương nhiên, trong hoạt động của mình Khổng Tử bao giờ cũng hành xửtheo đúng những chuẩn mực đạo đức mà ông tôn thờ, coi trọng và ra sứctuyên truyền nó trong xã hội, cho dù đời ông như chúng ta biết hết sứclong đong, lận đận Khổng Tử cho rằng: "Người có đức thì không cô độc,tất có người đồng đạo kết bạn với mình như ở đâu thì có láng giềng ở đó"