1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật và đạo đức báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân trong luật báo chí năm 2016

15 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 30,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử. Báo chí ở nước ta là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân. Trong hoạt động báo chí, có rất nhiều vấn đề thu hút được sự quan tâm của mọi người, trong đó đặc biệt có liên quan đến các quyền của các công dân, các nhà báo trong Báo chí. Do vậy đapps ứng những vấn đề mới đó, Luật báo chí đã có những quy định mới nhằm đáp ứng được với những đòi hỏi của thực tế khách quan trong hoạt động của các nhà báo và các tờ báo trong cả nước trong giai đoạn hiện nay cũng như trong thời gian tới. Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân là một trong những nội dung cơ bản và quan trọng trong các quyền của mỗi một công dân trong đất nước Việt Nam cũng như đóng góp một phần không hề nhỏ nhằm giúp cho thực tiễn hoạt động báo chí của nước ta có được những căn cứ nhằm có thể giải quyết các vấn đề trong thực tiễn khách quan. Xuất phát từ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn do vậy em đã lựa chọn đề tài: “Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân trong Luật Báo chí năm 2016” để làm đề tài tiểu luận kết thúc môn với mong muốn sẽ làm rõ được những vấn đề về quy định cũng như những điểm mới trong Luật báo chí năm 2016.  

Trang 1

MỞ ĐẦU

Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định

kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử

Báo chí ở nước ta là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân

Trong hoạt động báo chí, có rất nhiều vấn đề thu hút được sự quan tâm của mọi người, trong đó đặc biệt có liên quan đến các quyền của các công dân, các nhà báo trong Báo chí Do vậy đapps ứng những vấn đề mới đó, Luật báo chí đã có những quy định mới nhằm đáp ứng được với những đòi hỏi của thực tế khách quan trong hoạt động của các nhà báo và các tờ báo trong cả nước trong giai đoạn hiện nay cũng như trong thời gian tới

Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân là một trong những nội dung cơ bản và quan trọng trong các quyền của mỗi một công dân trong đất nước Việt Nam cũng như đóng góp một phần không hề nhỏ nhằm giúp cho thực tiễn hoạt động báo chí của nước ta có được những căn cứ nhằm có thể giải quyết các vấn đề trong thực tiễn khách quan

Xuất phát từ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn do vậy em đã lựa

chọn đề tài: “Quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân trong Luật Báo chí năm 2016” để làm đề tài tiểu luận kết thúc môn với mong muốn sẽ

làm rõ được những vấn đề về quy định cũng như những điểm mới trong Luật báo chí năm 2016

Trang 2

NỘI DUNG

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT BÁO CHÍ NĂM 2016

1 Khái niệm, chức năng, nhiệm vụ của báo chí

Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định

kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử

Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí đó là:

Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội -nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - -nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân

Báo chí có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân;

Tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước

và thế giới theo tôn chỉ, Mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của Nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa;

Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền

tự do ngôn luận của Nhân dân;

Phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội;

Trang 3

Góp phần giữ gìn sự trong sáng và phát triển tiếng Việt, tiếng của các dân tộc thiểu số Việt Nam;

Mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, hữu nghị, hợp tác, phát triển bền vững

2 Khái quát về Luật Báo chí 2016

Luật Báo chí 2016 được Quốc hội khoá XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 5-4-2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2017 Luật Báo chí mới sẽ tạo hành lang pháp lý quan trọng cho sự phát triển bền vững của sự nghiệp báo chí cách mạng Việt Nam, đóng góp ngày càng xứng đáng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Luật Báo chí mới gồm 6 chương, 61 điều, tăng 25 điều so với Luật Báo chí năm 1999 Cụ thể, Luật Báo chí 2016 có 32 điều xây dựng mới và sửa đổi, bổ sung 29 điều Về kết cấu, Luật Báo chí mới bỏ chương Quản lý nhà nước về báo chí, thay đổi kết cấu chương III (Nhiệm vụ quyền hạn của báo chí), chương IV (Tổ chức báo chí và nhà báo) của Luật Báo chí năm 1999 thành chương III (Tổ chức báo chí) và chương IV (Hoạt động báo chí)

So với Luật Báo chí trước đây, Luật Báo chí 2016 có nhiều điểm mới

cơ bản, gồm: Quy định về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; đối tượng thành lập cơ quan báo chí; quyền tác nghiệp của báo chí; đạo đức nghề nghiệp của người làm báo; liên kết trong hoạt động báo chí; hoạt động kinh doanh dịch vụ của cơ quan báo chí; cải chính và xử lý

vi phạm trong lĩnh vực báo chí

Về quy định quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân: Luật Báo chí mới đã kết cấu Chương II với 4 điều quy định cụ thể về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân, trong đó quy định công dân có quyền: Sáng tạo tác phẩm báo chí; cung cấp thông tin cho báo chí; phản hồi thông tin trên báo chí; tiếp cận thông tin báo chí; liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; in và phát hành

Trang 4

báo in; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp

và các tổ chức, cá nhân khác

Về đối tượng thành lập cơ quan báo chí: Ngoài các đối tượng thành lập

cơ quan báo chí theo luật trước đây, Luật Báo chí mới đã bổ sung một số đối tượng được thành lập tạp chí khoa học, như: Cơ sở giáo dục đại học theo quy định của Luật Giáo dục đại học; tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tổ chức dưới hình thức Viện Hàn lâm, Viện theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ; bệnh viện từ cấp tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư hoặc tương đương trở lên

Về quyền tác nghiệp của báo chí: Ngoài những quy định của Luật Báo chí cũ, Luật Báo chí 2016 quy định cụ thể về trách nhiệm cung cấp thông tin cho báo chí của cơ quan, tổ chức, người có trách nhiệm; những thông tin cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có quyền từ chối cung cấp thông tin cho báo chí Đặc biệt, để bảo vệ nguồn tin báo chí và quyền tác nghiệp của nhà báo, so với luật trước đây, Luật Báo chí mới đã quy định giới hạn việc cơ quan báo chí, nhà báo chỉ phải tiết lộ người cung cấp thông tin khi có yêu cầu bằng văn bản của Viện trưởng Viện KSND, Chánh án TAND cấp tỉnh và tương đương trở lên cần thiết cho việc điều tra, xét xử tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng Đồng thời, Viện trưởng Viện KSND, Chánh án TAND cấp tỉnh và tương đương trở lên có trách nhiệm tổ chức bảo vệ người cung cấp thông tin sau khi tên của họ được tiết lộ

Về quy định đạo đức người làm báo: Cùng với quy định rõ quyền hạn, nghĩa vụ đối với nhà báo, Luật Báo chí mới còn bổ sung, luật hoá những quy định bắt buộc về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo nhằm nêu cao vai trò, trách nhiệm công dân của người làm báo; trong đó quy định Hội Nhà báo Việt Nam có nhiệm vụ ban hành và tổ chức thực hiện quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo; nhà báo có nghĩa vụ tuân thủ quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo

Trang 5

Về quy định liên kết trong hoạt động báo chí: Luật Báo chí mới bổ sung quy định về liên kết trong hoạt động báo chí, trong đó quy định cụ thể lĩnh vực, nội dung các cơ quan báo chí được phép liên kết với cơ quan báo chí khác, pháp nhân, cá nhân có đăng ký kinh doanh phù hợp với lĩnh vực liên kết theo quy định của pháp luật; thời lượng tối đa được phép liên kết trong kênh phát thanh, kênh truyền hình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông và kênh thời

sự - chính trị tổng hợp; thời lượng tối đa mà cơ quan báo nói, báo hình có hoạt động liên kết sản xuất toàn bộ kênh phát thanh, kênh truyền hình Cơ quan báo chí chủ động thực hiện, chịu trách nhiệm mà không phải xin phép

cơ quan quản lý nhà nước về báo chí, nhằm cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ quan báo chí

Về hoạt động kinh doanh dịch vụ của cơ quan báo chí: Luật Báo chí mới quy định mở hơn Luật Báo chí trước đây về hoạt động kinh doanh, dịch

vụ của cơ quan báo chí, thể hiện tại điểm c khoản 2 điều 21 quy định: Nguồn thu của cơ quan báo chí gồm thu từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ của cơ quan báo chí, các đơn vị trực thuộc cơ quan báo chí

Về những hành vi bị cấm trong hoạt động báo chí: Điều 9 Luật Báo chí mới quy định cụ thể hơn, rõ ràng hơn một số hành vi bị cấm trong hoạt động báo chí so với Luật Báo chí cũ, có bổ sung một số hành vi như: Thông tin quy kết tội danh khi chưa có bản án của tòa án, thông tin ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của trẻ em, thông tin về những chuyện thần bí gây hoang mang trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội và sức khỏe của cộng đồng Mặt khác, những hành vi cấm đăng, phát thông tin quy định tại khoản 1, khoản 2 điều 9 đã có sự tương thích với các quy định tại Bộ Luật hình sự năm 2015, các hành vi bị cấm khác đã tương thích với Bộ Luật Dân sự và các luật khác, bảo đảm tính khả thi trong thực tế

Về cải chính và xử lý vi phạm: Nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị báo chí thông tin sai sự thật, Luật Báo chí

Trang 6

mới đã bổ sung một số quy định mới về cải chính như: Báo chí điện tử, ngoài việc đăng, phát lời cải chính, xin lỗi còn phải gỡ bỏ ngay thông tin sai sự thật đã đăng, phát Các cơ quan báo chí, trang thông tin điện tử tổng hợp đã đăng, phát thông tin của cơ quan báo chí khác có nội dung phải cải chính, xin lỗi cũng phải thực hiện đăng lại nội dung cải chính, xin lỗi của cơ quan báo chí vi phạm

Luật Báo chí mới đã pháp điển hóa quy định tại các Nghị định của Chính phủ để đưa vào luật, đồng thời bổ sung một số quy định mới để điều chỉnh hoạt động báo chí, cụ thể là các quy định về: Chính sách của Nhà nước

về phát triển báo chí; thay đổi cơ quan chủ quản của cơ quan báo chí; hoạt động hợp tác của báo chí Việt Nam với nước ngoài; hoạt động báo chí của báo chí nước ngoài, cơ quan đại diện nước ngoài, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam; bảo vệ nội dung các chương trình phát thanh, chương trình truyền hình, báo điện tử; phản hồi thông tin

Cùng với Luật Baoas chí, ngày 16-12-2016, Hội Nhà báo Việt Nam đã công bố 10 điều quy định đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam Quy định này cũng chính thức có hiệu lực thi hành cùng Luật Báo chí mới, bắt đầu từ 1-1-2017

Trang 7

Chương 2: QUYỀN TỰ DO NGÔN LUẬN TRONG

LUẬT BÁO CHÍ NĂM 2016 2.1 Quy định của Luật Báo chí về quyền tự do ngôn luận

Luật Báo chí năm 2016 có rất nhiều điểm mới đáng chý ý đối với các nội dung được quy định, trong đó một trong những điểm mới, nổi bật được đề cập tại Luật Báo chí năm 2016 là việc khẳng định và đưa ra quy định luật pháp để công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo chí

Tại Luật Báo chí năm 2016, trong Chương II về Quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân tại Điều 11 - Quyền tự di ngôn luận trên báo chí của công dân đã quy định về vấn đề này đó là:

1 Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới

2 Tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

3 Góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác

2.2 Phân tích các nội dung về quyền tự do ngôn luận

Với Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999, quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí là một trong các cơ sở, một trong các yếu

tố bảo đảm xây dựng “quy định chế độ báo chí” Với Luật Báo chí năm 2016 (có hiệu lực từ ngày 1-1-2017), việc khẳng định quyền tự do ngôn luận trên báo chí đã được xây dựng thành điều luật cụ thể, đó là: “Điều 1 Phạm vi Điều chỉnh: Luật này quy định về quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; tổ chức và hoạt động báo chí; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia và có liên quan đến hoạt động báo chí; quản

lý nhà nước về báo chí” Đây là một điểm mới, một bước tiến quan trọng để luật hóa quyền tự do ngôn luận trên báo chí; từ đó xác lập các nội dung luật pháp tương ứng nhằm vừa tạo điều kiện, vừa bảo đảm để quyền tự do ngôn

Trang 8

luận trên báo chí được tổ chức, quản lý một cách dân chủ, công bằng, văn minh, phù hợp với yêu cầu của tiến trình xây dựng, phát triển đất nước

Điểm mới và bước tiến trong Luật Báo chí 2016 đó chính là cụ thể hóa một nội dung quan trọng của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 28-11-2013 tại

Kỳ họp thứ 6, được khẳng định tại Điều 25: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” Với tính cách “luật cơ bản” của quốc gia, Hiến pháp là cơ sở để xây dựng, ban hành các luật, pháp lệnh, nghị quyết, các văn bản thuộc hệ thống pháp luật Nhà nước

Như vậy, sự ra đời Luật Báo chí năm 2016 (cũng như các Luật Báo chí ban hành trước đó) đều dựa trên một nội dung quan trọng của Hiến pháp Nội dung này hoàn toàn tương thích với các điều ước quốc tế mà Nhà nước Việt Nam tham gia ký kết Như: Điều 19 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền Liên hợp quốc (Tuyên ngôn) khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến Quyền này bao gồm sự tự do giữ quan điểm không có sự can thiệp và sự tự do tìm kiếm, tiếp nhận, chia sẻ những ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện truyền thông nào và không có biên giới”

Đồng thời khoản 2 Điều 29 Tuyên ngôn cũng khẳng định: “Trong khi thực hiện các quyền và quyền tự do cho cá nhân mọi người chỉ phải tuân thủ các hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận, tôn trọng đối với các quyền và quyền tự do của những người khác, đáp ứng được những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng, phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”; hoặc khoản 2 Điều 19 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc (Công ước) khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự

do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia”, đồng thời khoản 3 Điều 19

Trang 9

Công ước cũng khẳng định: “Việc hành xử quyền tự do phát biểu quan điểm (ghi ở khoản 2 nói trên) đòi hỏi đương sự phải có các bổn phận, trách nhiệm đặc biệt Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu: a Tôn trọng các quyền tự do và thanh danh của người khác; b Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý”

Như vậy, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam cùng Tuyên ngôn, Công ước đều khẳng định quyền tự do ngôn luận của công dân, đồng thời thống nhất nguyên tắc coi thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân phải

do “pháp luật quy định”, “phải tuân thủ những hạn chế do luật định”, “có thể

bị giới hạn bởi pháp luật” Vì thế tự do ngôn luận là một quyền hiến định, do Hiến pháp đặt ra và không thể thay đổi Trong lĩnh vực báo chí, khẳng định quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trên báo chí là một mặt của vấn

đề, mặt khác là phải xây dựng, ban hành các điều luật bảo đảm những quyền này được thực hiện một cách dân chủ, phù hợp với yêu cầu ổn định và phát triển xã hội, có tác động tích cực đến sự phát triển của con người

Chương II Luật Báo chí năm 2016 đưa ra những quy định cụ thể Điều

11 của Luật quy định công dân có quyền tự do ngôn luận trên báo chí, thể hiện qua nội dung chủ yếu: phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác

Tuy nhiên, quyền tự do ngôn luận nói chung, quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trên báo chí nói riêng, không phải là các quyền không

có giới hạn, mà như đã trình bày ở phần trên, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam và các văn bản liên quan của Liên hợp quốc đều đặt các quyền này trong khuôn khổ pháp luật, và bị giới hạn trong các nguyên tắc không được gây hại, không được xúc phạm, không được xung đột với các quyền khác của Nhà nước, của công dân,

Trang 10

Ví dụ, trong khi thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí nói riêng, công dân phải tuân thủ Điều 15 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam, trong đó khoản 2 khẳng định: “Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác” và khoản 4 khẳng định: “Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” Và đó là cơ sở để Điều

9 Luật Báo chí năm 2016 có quy định cụ thể về các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động báo chí để hạn chế các hành vi lạm quyền của báo chí, sử dụng báo chí đăng tải nội dung xấu độc, tiêu cực, làm phương hại đến Nhà nước, nhân dân, tổ chức xã hội, lịch sử dân tộc, chủ quyền của đất nước, quan hệ quốc tế, tín ngưỡng - tôn giáo, quyền trẻ em, danh dự và uy tín của công dân,

Từ các nội dung trên, có thể nói Luật Báo chí năm 2016 đã tạo khung pháp lý rộng nhưng nghiêm khắc, bảo hộ mạnh mẽ bằng các định chế cần và

đủ để công dân thực hiện quyền tự do báo chí và quyền tự do ngôn luận trên báo chí; để các cơ quan báo chí và nhà báo có thể tự do tác nghiệp trong khuôn khổ luật định Đây là một phương diện quan trọng thể hiện tính chất dân chủ, công bằng, văn minh trong tổ chức, quản lý xã hội của Nhà nước Việt Nam, đồng thời cũng là một bằng chứng chứng minh hệ thống pháp luật

ở Việt Nam đã và đang ngày càng hoàn thiện, phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phù hợp với trình độ phát triển của thế giới hiện đại Đồng thời đây cũng là cơ sở để bác bỏ luận điệu mà các thế lực thù địch và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí vẫn thường sử dụng để vu cáo, vu khống, bịa đặt về vấn đề tự do báo chí ở Việt Nam

Tự do ngôn luận trên báo chí thuộc các quyền cơ bản của con người trong một xã hội phát triển Song thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí như thế nào lại là vấn đề cần đề cập một cách cụ thể, căn cứ vào sự lựa chọn con đường phát triển của mỗi quốc gia và hệ thống luật pháp của quốc gia ấy, cùng với các tiêu chí của nền văn hóa mà trực tiếp

Ngày đăng: 09/12/2021, 23:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w