Hãy sưu tầm một bản án sơ thẩm của Tòa án có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp về xác định người thừa kế theo quan điểm của nhóm bản án đó chưa phù hợp với quy định của pháp luật, giải quyết các yêu cầu ở cuối:
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM
MÔN: LUẬT DÂN SỰ I
ĐỀ SỐ 18: Hãy sưu tầm một bản án sơ thẩm của Tòa án có liên quan đến
việc giải quyết tranh chấp về xác định người thừa kế theo quan điểm của nhóm bản án đó chưa phù hợp với quy định của pháp luật, giải quyết các yêu
cầu ở cuối:
Bản án số: 05/2020/DS-ST
Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Ngày 12/03/2020.
V/v: “Tranh chấp thừa kế tài sản”
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
I- TÓM TẮT BẢN ÁN 3
1.Nội dung 3
2 Ý kiến của các bên 3
3.Quyết định của tòa án 4
II- ĐIỂM CHƯA HỢP LÍ CỦA BẢN ÁN 5
III- QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC PHÙ HỢP VỚI QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT 7
IV-KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 3I- TÓM TẮT BẢN ÁN.
1.Nội dung
Theo lời kể của bà Trần Thị Ánh H(nguyên đơn) là con của ông Huỳnh Văn B và
bà Trần Thị L (bà L chết ngày 20/02/2014) Bà Trần Thị L và ông Huỳnh Văn B sống chung với nhau từ trước năm 1961 nhưng không đăng ký kết hôn Quá trình chung sống, bà L và ông B có 06 người con gồm: bà Huỳnh Ánh N, bà Huỳnh Thị Ánh Đ, ông Huỳnh Anh V, ông Huỳnh Tấn Đ, bà Trần Thị Ánh H và Huỳnh Anh N(bị đơn) Ngoài những người con kể trên bà L không còn người thừa kế nào khác
Từ năm 1976 thì bà L và ông B không còn sống chung với nhau nữa Về di sản bà
L chết để lại gồm: Thửa đất số 116, tờ bản đồ số 12, diện tích 4.755m2 và thửa đất
số 70, tờ bản đồ số 51, diện tích 2.589,3 m2 , đất tọa lạc tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương Do bà Trần Thị L chết không để lại di chúc và di sản của bà chưa được phân chia
2 Ý kiến của các bên
- Nguyên đơn bà Trần Thị Ánh H: Ngày 06/01/2020, nguyên đơn có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với thửa đất số 116, tờ bản đồ số 12, diện tích 4.755m2 Nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết đối với phần đất diện tích 2.589,3m2 , đất thuộc thửa đất số 70 thành 06 phần, mỗi người một phần bằng nhau và nguyên đơn không tranh chấp tài sản trên đất Chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện bao gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khai sinh các con, chứng minh nhân dân, giấy chứng tử bà Trần Thị L, tờ tường trình quan hệ nhân thân
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn là ông Nguyễn Quang T trình bày: Hiện nay, diện tích đất do ông Huỳnh Anh N quản lý, vì ông sinh sống với mẹ trên phần đất
từ trước đến nay Bị đơn đồng ý chia diện tích đất trên cho các đồng thừa kế Tuy nhiên yêu cầu được trích 20% giá trị vì ông có công sức đóng góp trong việc duy trì, tăng giá trị thửa đất, là người gìn giữ kê khai và hợp thức hóa quyền sử dụng
Trang 4đất Sau khi trích 20% giá trị, diện tích còn lại sẽ được chia cho các đồng thừa kế Tại phiên tòa, ông N yêu cầu chia di sản thừa kế thành 8 phần trong đó có 01 phần cho ông Huỳnh Văn B, ông Huỳnh Anh N 02 phần, những người con còn lại chia cho mỗi người 01 phần
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Ánh N, bà Huỳnh Thị Ánh Đ, ông Huỳnh Anh V cũng có cùng quan điểm cho rằng: Đối với ông Huỳnh Văn B là cha của nhưng đã bỏ các con từ những năm 1976, không quan tâm hay phụ nuôi các con nên Huỳnh Ánh N, bà Huỳnh Thị Ánh Đ, ông Huỳnh Anh V không đồng ý chia cho ông Huỳnh Văn B phần di sản Bà Huỳnh Ánh N, bà Huỳnh Thị Ánh Đ, ông Huỳnh Anh V đồng ý chia di sản bà Trần Thị L thành 7 phần, ông N 02 phần, các con còn lại mỗi người một phần
3 Quyết định của tòa án
- Ông Huỳnh Anh N được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 2.589,3m2 , đất thuộc thửa số 70, tờ bản đồ số 51, tại phường P, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 828504 do Ủy ban nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 04/8/2010 mang tên bà Trần Thị L, cùng toàn bộ tài sản có trên đất
- Ông Huỳnh Anh N có trách nhiệm thanh toán cho ông Huỳnh Văn B, bà Huỳnh Ánh N, bà Huỳnh Thị Ánh Đ, bà Trần Thị Ánh H, ông Huỳnh Anh V và ông Huỳnh Tấn Đ (do bà Huỳnh Văn B làm đại diện hợp pháp) mỗi người số tiền là: 972.733.000 đồng
- Ông Huỳnh Anh N có trách nhiêm liên hệ với cơ quan Nhà nứớc có thẩm quyền
để làm thủ tục chỉnh lý biến động trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG
828504 do Ủy ban nhân dân thị xã Thủ Dầu Một cấp ngày 04/8/2010 từ tên bà Trần Thị L sang tên ông Huỳnh Anh N
II- ĐIỂM CHƯA HỢP LÍ CỦA BẢN ÁN
Hiện nay, do pháp luật vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh nên dẫn đến việc nhiều vụ xét xử sơ thẩm có một số điểm bất hợp lí cần sửa và thậm chí có một số còn bị huỷ Sau khi xem xét và tìm hiểu về Bản án số: 05/2020/DS-ST ngày 12/03/2020
Trang 5về việc: “Tranh chấp thừa kế tài sản” thì chúng tôi nhận thấy có điểm chưa hợp lí như sau :
Theo như các thông tin mà các đương sự cho biết về tài sản mà bà Trần Thị L để lại di sản gồm: Thửa đất số 116, tờ bản đồ số 12, di n tích 4.755m2 và thửa đất số
70, tờ bản đồ số 51, diện tích 2.589,3 m2 , đất tọa lạc tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương Do bà L chết không để lại di chúc và di sản bà L chưa được phân chia Theo nhận định của tòa án: Ông B và bà L sống chung với nhau từ trước năm
1961 nhưng không đăng kí kết hôn Đến năm 1976, hai người không còn sống chung nữa và cũng chưa xác định được đã ly hôn hay chưa Đến ngày 20/2/2014 bà
L chết và không để lại di chúc nên di sản được chia theo pháp luật Và theo quyết định của Toà Án, do chưa xác định được ông B và bà L đã ly hôn hay chưa nên tính tại thời điểm mở thừa kế thì hàng thừa kế thứ nhất của bà L có 7 người gồm: Ông Huỳnh Văn B, bà Huỳnh Ánh N, bà Huỳnh Thị Ánh Đ, bà Trần Thị Ánh H, ông Huỳnh Anh V, ông Huỳnh Anh N và ông Huỳnh Tấn Đ và khi chia thừa kế thì cũng chia cho 07 người là thừa kế thứ nhất của bà L bao gồm cả ông Huỳnh Văn
B Vì vậy, Ông Huỳnh Anh N có trách nhiệm thanh toán cho ông Huỳnh Văn B, bà Huỳnh Ánh N, bà Huỳnh Thị Ánh Đ, bà Trần Thị Ánh H, ông Huỳnh Anh V và ông Huỳnh Tấn Đ (do bà Huỳnh Văn B làm đại diện hợp pháp) mỗi người số tiền là: 972.733.000 đồng (chín trăm bảy mươi hai triệu bảy trăm ba mươi ba ngàn đồng)
Tuy nhiên thì theo chúng tôi đây là một nhận định sai vì ông B không có quyền được hưởng di sản của bà L Để chứng minh quan điểm của mình thì chúng tôi có những lập luận như sau:
Theo các đương sự thống nhất: Bà Trần Thị L và ông Huỳnh Văn B sống chung với nhau từ trước năm 1961 nhưng không đăng ký kết hôn và từ năm 1976 ông B đã không còn chung sống với bà L và chưa rõ đã làm thủ tục ly hôn hay chưa Theo Khoản 2 Điều 44 của 123/2015/NĐ-CP cũng đã có quy định rằng “Đối với trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03 tháng
01 năm 1987 mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích và tạo điều kiện để đăng ký kết hôn Quan hệ hôn nhân được công nhận kể từ ngày các bên xác lập
Trang 6quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng Thẩm quyền, thủ tục đăng ký kết hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 17 và Điều 18 của Luật Hộ tịch”
Vì vậy trong trường hợp này thì ông B và bà L có quan hệ hôn nhân với nhau là hôn nhân thực tế nên cả 2 đều có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, săn sóc nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ, nuôi dạy con cái, lao động sản xuất, xây dựng gia đình hoà thuận, hành phúc theo điều 13 của luật hôn nhân và gia đình năm 1959
Tuy nhiên, theo nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày là ông B đã bỏ bà L và các con để rời đi từ những năm 1976 Thời gian ông B bỏ đi đến lúc bà L qua đời vào năm 2014 là 38 năm Trong 38 năm này thì không thấy được động thái giúp đỡ chăm sóc hay nuôi dưỡng của ông B dành cho
bà L và 6 người con của mình, ông đã không thực hiện việc chăm lo về vật chất và tinh thần cho vợ và các con Vì vậy ta thấy được rằng ông B đã không hoàn thành nghĩa vụ chăm sóc, thương yêu, nuôi dưỡng của một người chồng đối với vợ mình
và cũng như của một người cha với các con Đồng thời ông B để lại cho bà L một mình vất vả, khổ sở nuôi dưỡng 6 người con trưởng thành, không có chút nào chia
sẻ gánh nặng với bà L trong chuyện này Với những lí do trên, ta cũng thấy được rằng ông B đã vi phạm điểm b khoản 1 điều 643 của bộ luật dân sự năm 2005 là
“Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản” nên ông không có quyền được hưởng di sản bà L để lại Vì vậy, di sản của bà L để lại chỉ được chia cho 6 hàng thừa kế thứ nhất gồm: bà Huỳnh Ánh N, bà Huỳnh Thị Ánh
Đ, bà Trần Thị Ánh H, ông Huỳnh Anh V, ông Huỳnh Anh N và ông Huỳnh Tấn Đ
III- QUAN ĐIỂM CỦA NHÓM VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC PHÙ HỢP VỚI QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT.
Nhóm em đồng tình với việc giải quyết vụ việc phù hợp theo quy định của pháp luật, cụ thể là giải quyết vụ việc theo khoản 5 điều 26, điều 244 của Bộ luật
Tố tụng dân sự Việt Nam số: 92/2015/QH13, Điều 633, 634, 635, 685 Bộ luật dân
sự 2005, Điều 166 Luật đất đai năm 2013 Đặc biệt:
Trang 7+ Căn cứ vào Điều 633 BLDS 2005 - Thời điểm, địa điểm mở thừa kế Khi người
có tài sản chết là thời điểm mở thừa kế Điều này giúp xác định khi nào tài sản sẽ bắt đầu được thừa kế
+ Căn cứ vào Điều 634 – Di sản Di sản phải là tài sản riêng của người chết hoặc phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác Tài sản phải được kiểm tra và đảm bảo hợp pháp mới có đem ra phân chia
+ Căn cứ vào Điều 635 – Người thừa kế Việc xác định đúng người thừa kế là một yếu tố vô cùng quan trọng trong những vụ án tranh chấp về tài sản thừa kế Chỉ khi xác định đúng được người thừa kế thì tài sản mới được phân chia một cách công bằng
+ Căn cứ vào Điều 685 – BLDS 2005 Việc phân chia bằng hiện vật cho các đương
sự trong trường này là rất khó vì vậy việc định giá hiện vật là hợp lý
+ Căn cứ Điều 166 Luật đất đai năm 2013 - Quyền chung của người sử dụng đất, chủ sở hữu sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất Điều này sẽ đảm bảo lợi ích của chủ sở hữu và được pháp luật bảo vệ một cách đầy đủ
Theo đúng quy định về trình tự, thủ tục chúng em thấy rằng vụ việc này cần giải quyết theo các bước sau:
+ Xét về di sản bà L để lại : là thửa đất số 70, tờ bản đồ số 51, diện tích 2.589,3m2, tọa lạc tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương Bà L chết không
để lại di chúc và phần đất trên cũng chưa được phân chia Hiện nay, diện tích đất
do ông Huỳnh Anh N quản lý, sử dụng vì ông N sinh sống cùng mẹ trên phần đất này từ trước đến nay Bị đơn đồng ý chia diện tích đất trên cho các đồng thừa kế Ông N yêu cầu được trích 20% giá trị vì ông N có công sức đóng góp rất lớn trong việc duy trì và làm tăng giá trị của thửa đất, đồng thời là người gìn giữ kê khai và hợp thức hóa quyền sử dụng đất trên Sau khi trích 20% giá trị, diện tích còn lại sẽ được chia cho các đồng thừa kế
+ Xét về hàng thừa kế: Các đương sự thống nhất: Bà Trần Thị L và ông Huỳnh Văn B sống chung với nhau từ trước năm 1961 nhưng không đăng ký kết hôn; quá
Trang 8trình chung sống, bà L và ông B có 06 người con gồm: Bà Huỳnh Ánh N, bà Huỳnh Thị Ánh Đ, bà Trần Thị Ánh H, ông Huỳnh Anh V, ông Huỳnh Anh N và ông Huỳnh Tấn Đ, bà L không có con riêng, không có con nuôi Cha của bà Trần Thị L là ông Trần Văn V (chết năm 2007) và mẹ của bà Trần Thị L là bà Phạm Thị
Đ (chết năm 2005) Như vậy, việc các đương sự thống nhất về quá trình chung sống của bà L và ông B, cũng thống nhất về các con chung, con riêng và cha mẹ của bà L và ông B là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự
Với những phân tích chúng em trình bày ở câu 2, ông B đã vi phạm điểm b
Khoản 1 Điều 643 BLDS năm 2005 là “Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ
nuôi dưỡng người để lại di sản” nên ông không có quyền được hưởng di sản bà L
để lại Vì vậy, di sản của bà L để lại chỉ được chia cho 6 hàng thừa kế thứ nhất gồm: bà Huỳnh Ánh N, bà Huỳnh Thị Ánh Đ, bà Trần Thị Ánh H, ông Huỳnh Anh
V, ông Huỳnh Anh N và ông Huỳnh Tấn Đ
+ Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, thống nhất ông N là người sinh sống từ nhỏ cùng với bà L trên diện tích đất này; tại thời điểm Ủy ban nhân dân thị
xã T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà L thì bà L đã 70 tuổi, không còn đủ sức khỏe để có thể tự canh tác, quản lý, sử dụng; ông N mới là người trực tiếp quản lý, sử dụng Sau khi bà L chết thì ông N là người tiếp tục quản lý, sử dụng làm tăng giá trị quyền sử dụng đất cho đến nay Do đó, cần tính công sức đóng góp cho ông N là 10% tài sản trước khi chia khối tài sản này, điều này phù hợp với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khi đề nghị chia cho ông N
02 kỷ phần tương đương với công sức đóng góp của ông N
Tài sản của bà L để lại là quyền sử dụng đất có diện tích là 2.589,3m2 (trong đó
có 160m2 đất ở đô thị; 778,4m2 đất ao và 1.659,9m2 đất nông nghiệp), đất có giá trị cụ thể như sau:
+ 160m2 (đất ở đô thị) x 4.000.000 đồng/1m2 = 640.000.000 đồng;
+ 778,4m2 (đất ao) x 2.500.000 đồng/1m2 = 1.946.000.000 đồng;
+ 1.659,9m2 (đất nông nghi p) x 3.000.000 đồng/1m2 = 4.979.700.000 đồng Tổng cộng, tài sản bà L để lại có giá trị 7.565.700.000 đồng
Trang 9Trước khi chia di sản, ông N nhận được phần tài sản có giá trị là: 7.565.700.000 đồng x 10% = 756.570.000 đồng cho công sức đóng góp của mình Phần tài sản còn lại dùng để chia có giá trị là: 7.565.700.000 đồng - 756.570.000 đồng = 6.809.130.000 đồng Như phân tích ở trên thì phần tài sản của bà L còn lại sau khi trừ đi công sức đóng góp của ông N, được chia đều cho 06 người thừa kế gồm bà Huỳnh Ánh N, bà Huỳnh Thị Ánh Đ, bà Trần Thị Ánh H, ông Huỳnh Anh V, ông Huỳnh Anh N và ông Huỳnh Tấn Đ và mỗi người được nhận phần tài sản có giá trị là: 6.809.130.000 đồng : 6 = 1.134.855.00 đồng (một tỉ một trăm ba mươi tư triệu tám trăm năm lăm đồng)
+ Đối với việc phân chia cụ thể khối tài sản trên: Xét, ông N và bà L là người trực tiếp canh tác, sử dụng toàn bộ diện tích đất này từ khi ông N còn nhỏ, sau khi
bà L được cấp giấy chứng nhận quy n sử dụng đất vào năm 2010 thì bà L đã 70 tuổi không còn sức khỏe để canh tác, ông N là người trực tiếp canh tác, sử dụng ổn định cho đến nay Qua xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện: Phần đất ông N đang quản lý, sử dụng hiện có nhà ở của ông N, nhà này cũng là nơi thờ cúng bà L Ngoài ra, trên đất còn có dãy nhà trọ được ông N xây dựng từ năm 2018, tại thời điểm xây dựng các đồng thừa kế cũng không ý kiến gì Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều đã có chỗ ở ổn định, ông Huỳnh Tấn Đ hiện vẫn chung sống với ông N tại căn nhà trên đất Bên cạnh đó, sau khi bà L chết thì những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan này cũng không ai có đơn khởi kiện hay ý kiến khiếu nại về việc ông N quản lý, sử dụng diện tích đất do bà L để lại Vì vậy, giao cho ông N được quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất 2.589,3m2 Ông N có trách nhiệm thanh toán cho các đồng thừa kế giá trị tài sản mà họ được nhận là phù hợp Cụ thể, ông N phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Huỳnh Ánh N, bà Huỳnh Thị Ánh Đ, bà Trần Thị Ánh H, ông Huỳnh Anh V và ông Huỳnh Tấn Đ (do ông Huỳnh Văn B làm đại diện hợp pháp) mỗi người giá trị phần tài sản thừa
kế được nhận là: 1.134.855.00 đồng (một tỉ một trăm ba mươi tư triệu tám trăm năm lăm đồng)
Trang 10IV-KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
Thông qua việc tìm hiểu và phân tích bản án số 05/2020/DS-ST ngày 12 tháng 3 năm 2020 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản”, nhóm chúng tôi xin được đề xuất, kiến nghị hoàn thiện một số quy định pháp luật như sau:
1 Đề nghị bổ sung điều kiện khách quan trong việc xem xét mối quan hệ giữa những người có quyền và nghĩa vụ liên quan Trong bản án trên mặc dù ông B và
bà L đã sống chung với nhau trước năm 1961 và được công nhận là kết hôn thực tế theo khoản a điều 3 nghị quyết 35/2000/NĐ-QH10 về việc thi hành luật hôn nhân gia đình nhưng tòa chỉ dựa vào căn cứ là kết hôn thực tế mà không xem xét rằng thực tế ông B đã bỏ bà L mà không hoàn thành nghĩa vụ của một người chồng, người cha vì vậy việc tòa chia di sản cho ông B là ko khách quan và không phù hợp với thực tế Xét thấy lỗ hổng trong việc nhận định của tòa án do việc phụ thuộc vào hồ sơ thụ lí vụ án từ ban đầu và cứng nhắc trong việc áp dụng văn bản pháp luật mà bỏ qua những tiểu tiết trong cuộc sống, vì vậy cần bổ sung thêm điều khoản về trách nhiệm của những người có thẩm quyền cần xét xử một cách thận trọng và có lý có tình
2 Khoản 2 Điều 685 BLDS 2005, kiến nghị bổ sung thêm hậu quả sau khi bán
và trường hợp nào phải bán di sản Ở đây luật mới chỉ dừng lại ở việc dự liệu trường hợp bán di sản, nhưng trên thực tế giải quyết tranh chấp thừa kế, không phải lúc nào cũng phải bán di sản mà đôi khi xảy ra trường hợp sẽ có người nhận bằng hiện vật và có người nhận thừa kế bằng giá trị
3 Kiến nghị bổ sung thêm điều kiện về trách nhiệm của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc Điều 669 này quy định “Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này: 1 Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng 2